Thứ Ba, 4 tháng 2, 2025
“Bộ tinh, tỉnh mạnh” là chủ trương đúng chứ không phải là “đấu đá, thanh trừng”
Trước yêu cầu phát triển của đất nước, việc
sắp xếp tinh gọn bộ máy từ Trung ương đến các địa phương là nhằm giảm biên chế,
tinh gọn bộ máy hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả là yêu cầu cấp thiết,
khách quan. Việc quyết liệt thực hiện tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị được
cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đồng tình ủng hộ, coi đó là bước đột phá mang
tính cách mạng, nhằm sẵn sàng đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn cách mạng mới, đó
là kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tuy nhiên, lợi dụng vấn đề này, các đối tượng
thù địch phản động, phần tử cơ hội chính trị đã cố tình đưa ra những thông tin
sai sự thật, nhằm đánh tráo bản chất, xuyên tạc chủ trương đúng đắn của Đảng
và Nhà nước ta.
Những tiếng “loa rè” khoe bài ca đồng vọng
Thời gian qua, để thực hiện việc tinh giản biên chế, sắp xếp bộ máy hành chính
được Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành và các địa phương thực hiện quyết liệt.
Đặc biệt, ngày 30/12/2024 thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị,
Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao Quyết định về chức năng, nhiệm vụ của 13 cơ quan ban
Đảng, đơn vị ở Trung ương, ngay lập tức các thế lực thù địch đã thông qua các
đài VOA, RFA, BBC, RFI và mạng xã hội của các tổ chức “Việt Tân”, “Nhân dân
hành động”… tuyên truyền cho rằng ý nghĩa việc “tinh gọn bộ máy” thành “Đảng đứng
trên luật pháp”, “Đảng muốn ôm quyền”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số
ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”; “sáp nhập là cách Đảng muốn thanh trừng
phe cánh”, “muốn loại bớt đối thủ nên nhập tỉnh, thành, bộ, ngành lại”; rồi dựng
sân khấu, trường quay, mời diễn giả phản biện, cố tình đưa ra những thông tin
xuyên tạc, sai sự thật nhằm đánh tráo bản chất, làm cho người dân hiểu sai nội
dung giảm biên chế, tinh gọn bộ máy hành chính của Đảng và Nhà nước ta. Còn
trên mạng xã hội, chúng tiến hành các hoạt động cài cắm, lồng ghép thông tin xấu
độc với thông tin chính thống hòng tạo ra sự nhiễu loạn, làm cho người dùng khó
phân biệt đâu là “thật giả”, “đúng sai”, rồi trắng trợn xuyên tạc rằng việc
tinh gọn bộ máy nhằm tạo “lợi ích nhóm”, là “đấu đá, thanh trừng”, củng cố quyền
lực phe này, hạ bệ, cắt vây cánh phe kia, từ đó xuyên tạc là Việt Nam không có
tinh giản biên chế, không có tinh gọn bộ máy, mà đây chỉ là “miếng bánh phân
chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”... Rõ ràng, đây là những quan điểm
sai trái thù địch, luận điệu xuyên tạc, kích động, gây chia rẽ trong nội bộ,
chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta.
Chúng ta đều dễ dàng nhận ra rằng, giống như bệnh cũ tái phát, cứ mỗi khi
đất nước ta có sự kiện chính trị quan trọng, hay những chủ trương, chính sách lớn,
là các đối tượng phản động thù địch, cơ hội chính trị lại xem đó là cơ hội để
chống phá. Đây không phải là lần đầu các thế lực thù địch đưa những thông tin
xuyên tạc, sai sự thật về những chủ trương, quyết sách quan trọng của Đảng, Nhà
nước ta, mà chúng từng ngày, từng giờ thường xuyên chống phá trên không gian mạng.
Qua đó cho thấy, không bao giờ, không khi nào các thế lực thù địch từ bỏ âm mưu
chống phá cách mạng nước ta, đặc biệt là những chủ trương lớn, những vấn đề hệ
trọng của đất nước, thì chúng càng tìm mọi cách để chống phá quyết liệt.
Điển hình là trong thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, sắp xếp bộ
máy hành chính của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch nhận thấy đây là vấn
đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước, thu hút sự quan
tâm đặc biệt của người dân, nên chiêu trò quen thuộc của các thế lực thù
địch là đưa ra thông tin sai lệch để đánh tráo bản chất, khái niệm, bôi nhọ mục
đích, ý nghĩa công cuộc cải cách, tinh gọn bộ máy hành chính. Mục tiêu sâu xa của
các thế lực thù địch, phản động là gây mất ổn định chính trị, xã hội, mất lòng
tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước, châm ngòi dẫn tới rối loạn chính trị-xã
hội, khủng hoảng và sụp đổ, từ đó xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản,
xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta đã dày
công xây dựng.
Tinh gọn bộ máy là quy luật tất yếu của sự
phát triển
Thực tiễn đã chứng minh, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, Đảng ta
luôn xác định công tác tổ chức bộ máy là then chốt của then chốt, quyết định to
lớn tới sự phát triển của đất nước. Kể từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới,
Đảng ta càng xác định tầm quan trọng của việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của
hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Ngay từ Đại hội lần
thứ VI của Đảng, khi tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập
trung bao cấp sang nền kinh tế theo thể chế thị trường, Đảng ta đã xác định, đi
kèm với đổi mới kinh tế phải đổi mới bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước. Đảng đã
liên tục ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi
mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực,
hiệu quả.
Sau gần 40 năm đổi mới cho thấy, hệ thống chính trị của nước ta do Đảng
lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối, đã rất thành công trong tiến trình xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống
chính trị, chúng ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, được khẳng định bằng những kết quả cụ thể
trên nhiều lĩnh vực. Cụ thể, trong giai đoạn 2015- 2021, biên chế trong đơn vị
sự nghiệp công lập giảm 236.000 người (giảm 11,67%). Trong đó, các bộ, ngành giảm
hơn 40.000 người, các địa phương giảm hơn 196.000 người.
Tuy nhiên, việc thực hiện vẫn còn sức ì và bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại.
Bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển, là một trong những
nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn
cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai trên thực tế. Một trong
những lý do chính để tiến hành cải cách bộ máy hành chính là giảm bớt gánh nặng
cho ngân sách quốc gia. Theo số liệu từ Bộ Tài chính, ngân sách chi cho bộ máy
hành chính chiếm khoảng 70% tổng ngân sách chi tiêu thường xuyên của Nhà nước.
Do đó, hơn lúc nào hết, việc cải cách, tinh gọn bộ máy cần sự đột phá, với sự
vào cuộc quyết liệt, quyết tâm cao nhất chứ không thể thấy khó, thấy phức tạp rồi
để tình hình trì trệ kéo dài. Trong bài viết về hệ thống chính trị, Tổng Bí thư
Tô Lâm tiếp tục nêu ra quan điểm “Tinh-gọn-mạnh-hiệu năng-hiệu lực- hiệu quả”.
ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CHIẾN LƯỢC"DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH" ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chủ nghĩa đế quốc cùng các thế lực thù địch luôn coi Việt
Nam là một trọng điểm trong chiến lược "Diễn biến hoà bình" chống chủ
nghĩa xã hội. Từ đầu năm 1950 đến 1975, chủ nghĩa đế quốc dùng hành động quân
sự để xâm lược và muốn biến Việt Nam thành thuộc địa vĩnh viễn của chúng nhưng
cuối cùng đã bị thất bại hoàn toàn. Sau khi sử dụng những đòn tấn công bằng
quân sự để xâm lược Việt Nam không thành công, chúng đã chuyển sang chiến lược
mới như "bao vây cấm vận kinh tế", "cô lập về ngoại giao"
kết hợp với "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ nhằm xoá bỏ chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lợi dụng thời kì nước ta gặp nhiều khó khăn về
kinh tế - xã hội, từ năm 1975 - 1994 do hậu quả của chiến tranh để lại và sự
biến động chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu, các thế lực thù địch càng
ráo riết đẩy mạnh “diễn biến hoà bình” đối với Việt Nam.
Từ năm 1995 đến nay, trước những thắng lợi to lớn của
công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng
Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, thì các thế lực thù địch lại tiếp tục
điều chỉnh thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta. Chúng đã tuyên bố xoá bỏ
"cấm vận kinh tế" và bình thường hoá quan hệ ngoại giao để chuyển sang
thủ đoạn mới, đẩy mạnh hoạt động xâm nhập như : "dính líu",
"ngầm", "sâu, hiểm" nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.
Mục tiêu nhất quán của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực
thù địch trong sử dụng chiến lược "diễn biến hoà bình" đối với Việt
Nam là thực hiện âm mưu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chế độ xã hội
chủ nghĩa, lái nước ta đi theo con đường chủ nghĩa tư bản và lệ thuộc vào chủ
nghĩa đế quốc,... Để đạt được mục tiêu đó, các thế lực thù địch không từ bỏ bất
kì thủ đoạn chống phá nào như sử dụng bạo lực phi vũ trang, bạo lực vũ trang,
kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,...Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù
địch chống phá cách mạng nước ta hiện nay là toàn diện, trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội, tinh vi, thâm độc và nhiều thủ đoạn tinh vi khó nhận
biết, cụ thể:
Thủ đoạn về kinh tế. Chúng muốn chuyển hoá nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam dần dần theo quỹ đạo kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Khích lệ thành phần kinh tế tư nhân phát triển, từng bước làm mất vai trò chủ
đạo của thành phần kinh tế nhà nước. Lợi dụng sự giúp đỡ, viện trợ kinh tế, đầu
tư vốn, chuyển giao công nghệ cho Việt Nam để đặt ra các điều kiện và gây sức
ép về chính trị, từng bước chuyển hoá Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Thủ đoạn về chính trị. Các thế lực thù địch kích động đòi thực hiện chế độ "đa nguyên chính
trị, đa đảng đối lập", "tự do hoá" mọi mặt đời sống xã hội, từng
bước xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam. Chúng tập hợp, nuôi dưỡng các tổ chức, phần tử phản động
trong nước và ngoài nước, lợi dụng các vấn đề "dân chủ", "nhân
quyền", "dân tộc", "tôn giáo" để chia rẽ mối quan hệ
giữa Đảng với nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất đi vai trò
lãnh đạo của Đảng. Tận dụng những sơ hở trong đường lối của Đảng, chính sách
của nhà nước ta, sẵn sàng can thiệp trắng trợn bằng sức mạnh quân sự để lật đổ
chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Thủ đoạn về tư tưởng - văn hoá. Chúng thực hiện nhiều hoạt động nhằm xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh. Phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, ra sức
truyền bá tư tưởng tư sản vào các tầng lớp nhân dân. Lợi dụng xu thế mở rộng
hợp tác quốc tế, du nhập những sản phẩm văn hoá đồi trụy, lối sống phương Tây,
để kích động lối sống tư bản trong thanh niên từng bước làm phai mờ bản sắc văn
hoá và giá trị văn hoá của dân tộc Việt Nam.
Thủ đoạn trong lĩnh vực tôn giáo - dân tộc. Chúng lợi dụng những khó khăn ở những vùng đồng bào
dân tộc ít người, những tồn tại do lịch sử để lại, trình độ dân trí của một bộ
phận đồng bào còn thấp và những khuyết điểm trong thực hiện các chính sách dân
tộc, tôn giáo của một bộ phận cán bộ để kích động tư tưởng đòi li khai, tự
quyết dân tộc.
Lợi dụng chính sách tự do tôn giáo của Đảng, Nhà
nước ta để truyền đạo trái phép để thực hiện âm mưu tôn giáo hoá dân tộc, từng
bước gây mất ổn định xã hội và làm chệch hướng chế độ chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam.
Thủ đoạn trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Các thế lực thù địch lợi dụng xu thế mở rộng, hợp
tác quốc tế, thực hiện xâm nhập, tăng cường hoạt động tình báo thu thập bí mật
quốc gia. Chúng kích động đòi phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực
quốc phòng, an ninh và đối với lực lượng vũ trang. Đối với quân đội và công an,
các thế lực thù địch chủ trương vô hiệu hoá sự lãnh đạo của Đảng với luận điểm
"phi chính trị hoá" làm cho các lực lượng này xa rời mục tiêu chiến
đấu.
Thủ đoạn trên lĩnh vực đối ngoại. Các thế lực thù địch lợi dụng chủ trương Việt Nam mở rộng hội nhập quốc
tế, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới để tuyên truyền và hướng
Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Hạn chế sự mở rộng quan hệ hợp
tác của Việt Nam đối với các nước lớn trên thế giới, tìm cách ngăn cản những dự
án đầu tư quốc tế vào Việt Nam. Đặc biệt, chúng rất coi trọng việc chia rẽ tình
đoàn kết hữu nghị giữa Việt Nam với Lào, Campuchia và các nước xã hội chủ
nghĩa, hạ thấp uy tín của nước ta trên trường quốc tế.
Mục tiêu của chiến lược "Diễn biến hoà bình" mà
các thế lực thù địch tiến hành ở Việt Nam là làm chuyển hoá chế độ xã hội chủ
nghĩa ở nước ta theo con đường tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải nâng cao cảnh giác cách mạng, kịp thời phát
hiện âm mưu bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, dự báo đúng thủ đoạn, quy
mô, địa điểm và thời gian; nắm vững nguyên tắc xử lí trong đấu
tranh chống bạo loạn lật đổ là: nhanh gọn, kiên quyết, linh hoạt, đúng đối
tượng, sử dụng lực lượng và
phương thức đấu tranh phù hợp, không để lan rộng kéo dài. Như
vậy, sẽ làm thất bại âm mưu thủ đoạn trong
chiến lược "Diễn biến hoà bình" của kẻ thù đối với cách mạng Việt
Nam, giữ vững được ổn định chính trị - xã hội của đất nước, tạo môi trường hoà bình để đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bảo vệ vững chắc độc
lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ an ninh quốc
gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích
quốc gia, dân tộc.
Chặn biến tướng trong phong tục, văn hóa Tết
Chặn biến tướng trong phong tục, văn hóa Tết
Tết Nguyên đán không chỉ là ngày lễ quan trọng trong năm mới, đây còn là dịp để người dân tôn vinh những giá trị truyền thống, gắn kết gia đình và xã hội. Tuy nhiên, trong đời sống hiện đại, một số phong tục, văn hóa Tết có nguy cơ bị biến tướng, mai một.
Lạm dụng tín ngưỡng, rình rang lễ lạt
Dịp tháng Chạp, phố Hàng Mã (Hà Nội)-khu phố có nhiều mặt hàng kinh doanh đồ thờ cúng-trở nên nhộn nhịp. Tại đây, nhiều hàng quán bày bán đa dạng các chủng loại, “mặt hàng thời thượng” bằng giấy như: Điện thoại, xe máy, ô tô... để người dân mua về cúng lễ. Hiện tượng trên là một trong những biến tướng về phong tục thường gặp vào dịp cuối năm, khi không ít người dân quan niệm muốn có nhiều tài lộc thì phải bày biện, dâng mâm cao cỗ đầy, sắm nhiều đồ vàng mã.
Tục cúng ông Công, ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp theo phong tục truyền thống mang ý nghĩa cầu mong sự no đủ. Tuy nhiên, phong tục ấy đang bị hiểu sai và có ít nhiều biến tướng về tư duy văn hóa. Từ việc cúng tiễn Táo quân với mâm cỗ, trầu cau, hương hoa, nay nhiều người sắm thêm đủ các loại hàng mã: Quần, áo, nhà lầu, xe hơi... để Táo quân “báo cáo” với Ngọc Hoàng xin cho nhà mình có nhiều lộc. Khi cúng xong, người dân mang tro đốt hàng mã, mang cá ra sông, hồ để thả. Nhiều người thản nhiên vứt cả túi đựng cá làm không ít sông, hồ tràn ngập túi ni lông, giấy, rác làm ô nhiễm môi trường. Phong tục hái lộc đầu xuân vốn mang ý nghĩa cầu may cũng bị biến tướng thành hành vi chặt cây, bẻ cành ở nơi công cộng, gây mất mỹ quan và ý nghĩa văn hóa...
Khi cuộc sống của người dân được cải thiện, nhu cầu tìm về nguồn cội và nhu cầu tâm linh cũng được quan tâm, chú ý hơn. Ở cấp độ làng xã, nhiều hoạt động lễ hội diễn ra sôi động mỗi khi tết đến, xuân về. Hàng nghìn lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng được tổ chức ở khắp nơi. Tuy nhiên, không ít lễ hội truyền thống vào dịp đầu xuân bị biến thành cơ hội kinh doanh, làm cho yếu tố linh thiêng và giá trị văn hóa bị lu mờ. Việc lạm dụng tín ngưỡng khiến một số lễ hội được tổ chức để trục lợi, xuất hiện tại lễ hội những hành vi gây mất trật tự công cộng.
Cùng với đó là việc có quá đông du khách tham gia dẫn tới quá tải, ô nhiễm môi trường. Nhiều người tham gia lễ hội nhưng không hiểu rõ giá trị linh thiêng và ý nghĩa thật sự của các phong tục. Không ít đơn vị và cá nhân chịu ảnh hưởng bởi lợi nhuận, làm mất đi yếu tố văn hóa.
![]() |
| Chợ hoa ngày giáp Tết. Ảnh:Chinhphu.vn |
Ngày 11-12-2024, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW về việc tổ chức Tết Ất Tỵ 2025, trong đó yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm công tác quản lý và tổ chức lễ hội theo quy định. Chỉ thị còn nhấn mạnh tới việc bảo đảm các hoạt động vui xuân, kỷ niệm ngày truyền thống, tổng kết năm, gặp mặt đầu năm... thiết thực, an toàn, tiết kiệm, tránh phô trương, hình thức, lãng phí. Bởi thực tế có không ít cơ quan, đơn vị, địa phương thường có những cuộc lễ lạt rình rang vào dịp tổng kết năm, gặp mặt đầu xuân, kèm theo đó là sự lãng phí tiền bạc, thời gian, công sức.
Thực tế cho thấy, thay vì chú trọng vào những việc làm tri ân thiết thực, không ít cơ quan, đơn vị vẫn nặng về phô trương, hình thức, cốt để "vui vẻ" mỗi dịp lễ, tết.
Mai một giá trị truyền thống
Năm nào cũng vậy, khi thời điểm tết cận kề thì câu chuyện biếu, tặng quà tết là chủ đề được nhiều người quan tâm, bàn luận. Về vấn đề này, Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư ngày 11-12-2024 đã nhấn mạnh: “Tăng cường công tác phòng, chống lãng phí, tiêu cực; không tổ chức thăm, chúc tết cấp trên và lãnh đạo các cấp; không tổ chức đoàn của Trung ương thăm, chúc tết cấp ủy, chính quyền các địa phương; nghiêm cấm việc biếu, tặng quà tết cho lãnh đạo các cấp dưới mọi hình thức...”.
Tặng quà là để thể hiện sự biết ơn, tình cảm quý mến của người tặng, song ý nghĩa truyền thống ấy đã dần bị mai một, thay vào đó là những món quà mang tính vụ lợi. Trong một cuộc trao đổi về chủ đề “Biến tướng quà tết”, PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, cho rằng, quà tết không chỉ là một hiện tượng mà đã trở thành một thói quen. Tuy nhiên, hiện nay quà tết bị biến tướng, nó đã chuyển từ những món quà đơn giản, gửi gắm tình cảm của người tặng sang những món quà đắt tiền mang tính thực dụng, ẩn chứa “thông điệp” nhờ vả.
Cách đây vài năm, tác giả bài viết có quen một người giữ chức vụ khá cao. Khi vừa nhậm chức vào dịp chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, anh bảo: “Có lẽ tôi cần phải thay đổi quan niệm về chuyện nhận quà tết thôi ông ạ, bởi mình đâu có thiếu thốn mà cứ để hết người này tới người khác tới biếu quà...”. Nhưng rồi sau đó, quan niệm, ý tưởng có vẻ chân thành của anh không dễ thành hiện thực, bởi biếu quà tết là một thói quen khó thay đổi; việc biếu, nhận quà tết không phải là bối cảnh của hai người mà đã trở thành câu chuyện của cả xã hội. Nếu người cán bộ kia không nhận quà tết thì những người xung quanh anh sẽ phản ứng thế nào? Họ sẽ nhìn anh ra sao? Nhiều khi họ cũng không thích cái việc “từ chối quà tết để làm gương” của anh, bởi với nhiều người, cả năm họ chỉ trông vào mỗi “khoản” này, và tết chính là dịp mang lại nguồn thu nhập không nhỏ cho họ...
Từ chuyện biến tướng trong việc biếu, nhận quà tết của người lớn, tục lì xì người già và con trẻ cũng có những lệch chuẩn.
Lì xì, mừng tuổi... vốn là một phong tục đẹp, khi mà trong mỗi bao lì xì có một chút tiền lẻ được biếu, tặng, mong người già có thêm sức khỏe, mong con trẻ ngoan ngoãn, khỏe mạnh. Giờ đây, câu chuyện vật chất đã len vào những bao lì xì, khiến không ít gia đình phải dặn kỹ con em mình mỗi khi nhận lì xì thì đừng làm mất mặt người lớn, rằng nhận xong thì chớ có mở ra để... đếm tiền trước mặt khách. Rõ ràng, bao lì xì hiện không còn mang ý nghĩa tượng trưng mà đã mang nặng giá trị vật chất, ảnh hưởng không nhỏ tới quan niệm, hành vi ứng xử của con trẻ, làm mai một giá trị truyền thống.
Nói về giới trẻ hiện nay, nhiều người đặt câu hỏi: Phải chăng giới trẻ đang dần quay lưng với phong tục tết? Vào dịp cuối năm, thấy không ít bạn trẻ lên mạng xã hội ta thán: “Đang yên đang lành, tự dưng lại tết, nghỉ gần chục ngày chẳng biết đi đâu, làm gì”; “Ui, thế là lại tết, ước gì sau một ngày ngủ nướng, thức dậy đã là... mồng 6 tết”. Sở dĩ có hiện tượng trên là do ngày nay, một số người trẻ đã không còn dành thời gian cho các phong tục tết truyền thống như trước. Trên các diễn đàn dành cho dân du lịch, đi phượt..., nhiều bạn trẻ hào hứng bàn bạc, rủ nhau tết này đi du lịch ở đâu, dùng mấy ngày nghỉ tết vào việc gì... Có người rủ nhau xuất ngoại du lịch, có người tính chuyện khoác ba lô đi phượt xuyên Việt.
Trào lưu đi du lịch thay vì đón tết đang trở nên phổ biến không chỉ trong giới trẻ mà còn lan rộng tới các gia đình có điều kiện, dư dả về kinh tế. Nhiều người không còn coi tết là dịp sum vầy mà họ lựa chọn du lịch để tận hưởng kỳ nghỉ tết theo cách riêng. Điều này phản ánh sự thay đổi trong cách sống, quan niệm và nhu cầu giải trí của xã hội hiện đại. Một bộ phận người trẻ lựa chọn đi chơi xa như một hình thức "trốn" tết. Họ xem tết như một kỳ nghỉ để "xả stress" thay vì dành thời gian cho gia đình.
Lối sống, quan niệm ấy đã phần nào khiến ý nghĩa đoàn viên, sum vầy của ngày tết bị xem nhẹ, đồng thời giá trị gắn kết gia đình và xã hội của Tết Nguyên đán cũng đang dần bị mai một.
Tự giác, nêu gương để giữ gìn văn hóa tết
Để ngăn biến tướng và giữ gìn văn hóa tết, rất cần sự làm gương từ các gia đình, trong đó cha mẹ, ông bà phải là những người lan tỏa ý nghĩa văn hóa tết cho con cháu; chú trọng tổ chức tết đơn giản, tiết kiệm, tránh lãng phí, tập trung vào giá trị tinh thần của ngày tết như sự sum vầy, đoàn tụ gia đình và tôn vinh các giá trị văn hóa dân tộc.
Ngoài ra, các địa phương cần tổ chức các hoạt động lễ hội, trò chơi dân gian mang bản sắc truyền thống, không để diễn ra tình trạng nhiều lễ hội “không quản được thì cấm”, thiếu trách nhiệm với văn hóa truyền thống và nhu cầu chính đáng của nhân dân. Để hạn chế những biểu hiện mê tín dị đoan, trục lợi và các hình ảnh phản cảm trong lễ hội, ngành văn hóa-du lịch đã có nhiều nỗ lực thông qua các biện pháp quản lý, tuyên truyền và giám sát chặt chẽ. Tuy nhiên, để xây dựng môi trường lễ hội văn minh, giàu bản sắc văn hóa, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và sự đồng lòng của người dân.
Khắc phục những dấu hiệu lệch chuẩn trong văn hóa tết, cần đẩy mạnh giáo dục văn hóa trong cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, để họ hiểu và trân trọng ý nghĩa thực sự của các phong tục tết. Đồng hành trong việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, cán bộ, đảng viên phải là người tiên phong trong hành động, không tham gia hoặc khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan; không sử dụng ngân sách cho các hoạt động lễ lạt rình rang, gây lãng phí trong dịp tết; tránh tổ chức tiệc tùng, lễ nghi mang tính hình thức hoặc quá mức cần thiết.
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong “Sửa đổi lối làm việc”: “Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong ta đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”. Vì vậy, đạo đức của cán bộ trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa không chỉ là việc thực hiện trách nhiệm công vụ mà còn thể hiện qua lối sống, hành vi và thái độ gương mẫu. Tinh thần tự giác của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có chức, có quyền chính là lá chắn đầu tiên và quan trọng nhất để ngăn chặn biến tướng quà tết, bởi việc biếu, tặng quà tết với mục đích mưu cầu lợi ích không chỉ làm sai lệch ý nghĩa của việc tặng quà mà còn gây bức xúc trong xã hội.
Để làm được điều này, cán bộ, đảng viên phải thực sự nêu gương, tránh tình trạng gắn “mác” văn hóa trong diễn ngôn, nhắc nhiều đến văn hóa trong các lĩnh vực nhưng lại chưa thực tâm hành xử vì văn hóa.
BÙI QUANG HUY
CẦN XỬ LÝ ĐÚNG THÔNG TIN TRÊN MẠNG XÃ HỘI
Phải khẳng định rằng, khi tham gia mạng xã hội,
chúng ta có điều kiện giao lưu, kết bạn, chia sẻ nhanh và rộng rãi hơn quan
điểm của mình tới các vấn đề xã hội mình quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh những
mặt tích cực mà mạng xã hội mang lại, vẫn còn những hạn chế, rủi ro, nguy cơ
tiềm ẩn đe dọa đến lợi ích của người dùng, đặc biệt là tình trạng nhiễu loạn
thông tin, gây mất định hướng tư tưởng, nhận thức và hành động của mỗi cá nhân,
tổ chức.
Phân loại những thông tin xấu, độc trên
mạng xã hội, chúng ta rất dễ nhận thấy có hai loại chính. Loại thứ nhất, do các
phần tử phản động trong nước và nước ngoài cùng những người cơ hội chính trị,
thoái hóa, biến chất, triệt để lợi dụng mạng xã hội đăng tải những thông tin
sai trái, bịa đặt, nhằm nói xấu, bôi nhọ thanh danh của Đảng, Nhà nước và lực
lượng vũ trang... để chống phá cách mạng nước ta. Loại thứ hai, nhiều kẻ xấu
lợi dụng mạng xã hội lập ra nhiều tài khoản facebook để thu thập, nhào nặn,
trộn lẫn thông tin thật, giả, cắt ghép hình ảnh, tán phát, nhằm thu hút, lợi
dụng sự hiếu kỳ của người đọc, nhất là thanh, thiếu niên để lừa đảo, trục lợi,
và đôi khi để thỏa mãn những mong muốn ảo tưởng tầm thường như gây sự chú ý để
nổi tiếng... gây ra nhiều hậu quả khó lường.
Loại thứ nhất là phổ biến và cũng là một trong
những vấn đề nghiêm trọng nhất hiện nay, đó là tình trạng nhiễu loạn thông tin
xuất phát từ hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng, tán phát quan điểm, tư
tưởng sai trái nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang thông qua
mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động, chống đối trong và ngoài nước.
Đáng lo ngại là những tin, bài viết tuyên truyền chống phá trên mạng xã hội có
số lượng và tần suất đăng tải lớn, nội dung đa dạng, phong phú trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội; thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc tinh vi, xảo
quyệt, khó nhận biết, khó phân biệt thật, giả, đã tác động tiêu cực đến tư
tưởng, hành vi của một bộ phận quần chúng nhân dân, nhất là các tầng lớp trí
thức, học sinh, sinh viên, văn nghệ sĩ, thậm chí cả người dân bình thường nhưng
có lập trường tư tưởng không kiên định, vững vàng. Điều này dễ kiểm chứng nhất
khi vừa qua, thông qua mạng xã hội, chúng tổ chức lôi kéo nhiều người tụ tập
rồi kích động bạo lực ở một số địa phương. Hậu quả là nhiều người chỉ thấy được
bộ mặt của kẻ xấu khi các cơ quan chức năng đấu tranh, làm rõ thì đã muộn.
Loại thứ hai cũng rất đáng quan ngại, đó
là kẻ xấu lợi dụng mạng xã hội lập những tài khoản ảo để lừa đảo tiền bạc, mượn
gió bẻ măng, hoặc chia sẻ những thông tin thất thiệt, bịa đặt, thậm chí cắt
ghép không đúng bản chất vấn đề đã gây hoang mang trong đời sống nhân dân, gây
thiệt hại cho không ít tổ chức, cá nhân. Đó là chưa kể đến mặt tiêu cực, là có
số đông người sử dụng mạng xã hội, tuy không có nhiều thông tin nhưng lại thừa
quan điểm và thường xuyên quan tâm đến việc bày tỏ quan điểm đó, chính kiến đó,
mặc dù chưa tìm hiểu sự việc, thậm chí chưa hiểu vấn đề đang diễn ra là gì.
Từ hai loại thông tin trên, chúng ta cần nhận
thức rằng, xét về bản chất, những tài khoản, trang mạng xã hội không có chức
năng thông tin như các cơ quan báo chí chính thống của Đảng, Nhà nước. Mà đã là
thông tin không chính thống thì khoảng cách giữa sự thật và giả dối là rất mong
manh. Do vậy, hơn ai hết, mỗi người sử dụng mạng xã hội cần phải có bản lĩnh
vững vàng, hết sức tỉnh táo khi xem, đọc những thông tin trên mạng xã hội để tự
bảo vệ mình trước những thông tin sai trái, tiêu cực; đồng thời, cần nâng cao ý
thức cảnh giác, sàng lọc thông tin trước khi tiếp cận, nghiên cứu, sử dụng. Nói
cách khác, chúng ta hãy xem, đọc thông tin trên mạng bằng lý trí.
Bên cạnh vấn đề tự thân, vấn đề quản lý và
hạn chế những tác động tiêu cực của mạng xã hội, trong đó có việc phải ngăn
chặn, loại bỏ những thông tin xấu độc, tin giả, tin thất thiệt, tin xúc phạm
danh dự tổ chức cá nhân, vi phạm các quy định khác của pháp luật của các cơ
quan chức năng cũng cần được đẩy mạnh. Do vậy, để định hướng kịp thời dư luận
xã hội bằng những thông tin chính thống, cấp ủy, chỉ huy các cấp, các tổ chức
đoàn thể phải luôn chủ động, nhanh nhạy, linh hoạt trong công tác quản lý con
người; thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính
trị, để mỗi cá nhân biết cách lựa chọn và tiếp nhận thông tin phù hợp, đặc biệt
là thông tin trên mạng xã hội./.
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ “NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM” CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY
Sinh
thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở và yêu cầu mỗi cán bộ,
đảng viên “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính”, nếu không
thì không thể nói ai được. Đây cũng là nội dung phong cách nêu
gương của người cán bộ, đảng viên. Vì vậy, cấp ủy, chỉ huy các cấp
cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cho các đối tượng học tập và làm theo tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó, có việc học tập và làm theo phong
cách Hồ Chí Minh về “nói đi đôi với làm” của cán bộ, đảng viên hiện nay.
Học tập và làm theo phong
cách Hồ Chí Minh về “nói đi đôi với làm” của cán bộ, đảng viên hiện
nay bắt đầu từ việc mỗi cán bộ, đảng viên lấy “nói đi đôi
với làm” là phương châm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động; coi đây
là một trong những tiêu chí quan trọng khi thực hành nêu gương; đồng
thời, là biểu hiện cụ thể, sinh động về bản chất, truyền thống cách mạng
giúp cho cán bộ, đảng viên luôn đứng vững và vượt qua mọi khó khăn, thử
thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Hiện nay, công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập
quốc tế tiếp tục phát triển sâu rộng; việc đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục - đào tạo hiện nay nói riêng; đòi hỏi
cán bộ, đảng viên phải có phẩm chất, năng lực toàn diện đáp ứng tốt với yêu cầu
nhiệm vụ của thực tiễn đặt ra. Do đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách
mạng trong sáng, có năng lực, dám nghĩ, dám nói, dám làm,
dám chịu trách nhiệm; dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động
vì lợi ích chung, thực sự tiên phong, gương mẫu trong thực hiện các
nhiệm vụ. Vì vậy, cán bộ, đảng viên cần học tập và làm theo phong cách Hồ
Chí Minh về “nói đi đôi với làm”, xem đây là biểu hiện
sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tư tưởng và hành động, nhận thức và
việc làm; đồng thời, là nguyên tắc về đạo đức, lẽ sống, phương châm
hoạt động trong thực hiện mọi chức trách, nhiệm vụ được giao. Để học
tập và làm theo có hiệu quả; cán bộ, đảng viên cần tập trung thực hiện một số
nội dung, biện pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, phải nhận
thức và nói đúng cương lĩnh, quan
điểm, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, không được xuyên tạc,
nói sai
Cán bộ,
đảng viên phải nắm vững, nhận thức đúng, nói đúng cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nghị quyết của
Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước trong toàn bộ tiến
trình cách mạng và được cụ thể hóa qua từng thời kỳ, giai
đoạn của cách mạng. Đồng thời, cán bộ, đảng viên cần tuyên
truyền, giáo dục, vận động quần chúng nhận thức và nói đúng cương lĩnh, quan điểm, chính sách của Đảng,
pháp luật Nhà nước, không được xuyên tạc, nói sai. Qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải
tự học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, có niềm
tin vào mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng, dù trải qua những tình
huống khó khăn phức tạp đến đâu, đều tuyệt đối trung
thành với Đảng, sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới đất nước.
Thứ hai, cần thực hiện tốt việc “nói đi đôi với làm”
Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh về
“nói đi đôi với làm”, tức là, lời nói đi đôi với
việc làm, nói được làm được sẽ mang lại những hiệu quả lớn, được nhiều người
hưởng ứng và làm theo. Cán bộ, đảng viên cần nghiên cứu, học
tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao nhận thức về mục tiêu lý tưởng, đạo đức cách
mạng của người cán bộ, đảng viên. Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần
thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, giám sát, quản lý chặt chẽ từng cán bộ,
đảng viên về “nói đi đôi với làm” ở nơi công tác và nơi
cư trú. Nói đi đôi với làm yêu cầu phải đi sâu, đi sát,
kiểm tra, đôn đốc, gắn với kết quả thực hiện
công việc được giao. Đẩy mạnh việc thực
hiện “nói đi đôi với làm” đối với cán bộ, đảng viên chính là
cái gốc tạo nên hiệu quả công việc, niềm tin, uy tín trước tập thể.
Để tránh
việc hứa mà không làm, cán bộ, đảng viên đã nói
thì phải làm, “Nói ít, bắt đầu bằng hành động”; “Tốt nhất là miệng nói, tay
làm, làm gương cho người khác bắt chước”. Thực hiện tốt phương châm “Trên
làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”. Cán bộ làm gương cho cấp dưới, đảng viên làm gương cho quần
chúng noi theo. Lời hứa chỉ có giá trị khi đi liền với việc làm cụ thể. “Làm” ở
đây chính là hành động, là hoạt động thực tiễn, là tổ chức thực
hiện; cần đưa quan điểm, chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật Nhà nước vào cuộc sống, từ việc
nhỏ đến việc lớn đều được thi hành và mang ý nghĩa thiết thực.
Thứ
ba, kiên quyết đấu tranh chống lại việc không đồng nhất giữa nói và làm
Cán bộ,
đảng viên cần đấu tranh chống lại tình trạng “nói không đi đôi với làm”,
“nói một đàng làm một nẻo”, “nói mà không làm”, “nghĩ một đằng, nói một đằng”,
“nói với cấp trên khác, nói với cấp dưới khác”, gây bức xúc trong dư luận,
làm mất niềm tin trước tập thể. Cán bộ, đảng viên cần đấu tranh
chống lại cách nói chung chung, đại khái và khó
hiểu, nói không cụ thể, thiết thực; phải nói đi đôi với
làm, không được nói nhiều làm ít hoặc nói mà không làm.
Những
nội dung, biện pháp trên nằm trong một chỉnh thể thống nhất, nên trong quá
trình thực hiện phải tiến hành đồng bộ mới mang lại hiệu quả thiết thực. Đồng
thời để học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh
về “nói đi đôi với làm” hiệu quả, thiết thực phải
gắn với thực hiện Kết luận số 01
ngày 18/3/2021 của Bộ Chính trị (Khóa XIII) về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị
số 05, gắn với cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng,
xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa
XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Kết luận số 21-KH/TW
ngày 25/10/2021 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XIII) tại Hội nghị lần
thứ Tư về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết
ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SỰ LỰA CHỌN SÁNG SUỐT
Những năm cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam như chìm trong đêm tối, không có đường ra.
Nhiều hào kiệt, chí sĩ yêu nước như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh, Nguyễn Thái Học đã tìm cách tập hợp nhân dân đấu tranh chống lại chế độ
xã hội đương thời. Nhưng tất cả các trào lưu cứu nước đó đều bị kẻ thù thẳng
tay đàn áp và cuối cùng đều bị thất bại.
Thấy rõ sự hạn chế về
con đường cứu nước của các bậc tiền bối, năm 1911, Nguyễn Tất Thành (sau này là
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh) với mẫn cảm chính trị đặc biệt đã quyết định đi
sang phương Tây để tìm con đường cứu nước mới. Một bước ngoặt lớn trong cuộc
đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc là vào năm 1920, Người tham gia sáng
lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Đặc biệt,
khi đọc bản Sơ thảo luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin,
Người đi đến kết luận về con đường cứu nước đúng đắn: Muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc, không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Để cách
mạng thành công, “trước hết phải có Đảng cách mệnh", "Đảng muốn vững
thì phải có chủ nghĩa làm cốt". Sở dĩ Hồ Chí Minh lấy chủ nghĩa Lênin làm
cốt, làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng cách mạng, vì đó
là "chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất".
Từ nhận thức đó, Người đã trực tiếp truyền bá
chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, xúc tiến thành lập Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên, mở các lớp huấn luyện cán bộ đưa về nước làm hạt nhân lãnh đạo các
tổ chức cách mạng. Đó là quá trình chuẩn bị về chính trị, tổ chức, cán bộ để
hình thành các tổ chức cộng sản đầu tiên và dẫn đến Hội nghị hợp nhất các tổ
chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03 tháng 02 năm 1930. Trong bản
Chính cương vắn tắt do Hồ Chí Minh khởi thảo được thông qua tại Hội nghị hợp
nhất Đảng đã xác định: "Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách
mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
Như vậy, ngay từ đầu
vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được Hồ Chí Minh và Đảng
ta lựa chọn đã trở thành tư tưởng cốt lõi, sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ sự
nghiệp cách mạng. Trong đó, giành độc lập dân tộc, đem lại tự do hạnh phúc cho
nhân dân là mục tiêu trước hết, là cơ sở, tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Rõ ràng, sự lựa chọn
chủ nghĩa Mác - Lênin, con đường giải phóng dân tộc, đặt sự nghiệp cách mạng
của nhân dân ta theo phương hướng xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn của lịch sử,
hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của thời đại và thực tiễn Việt
Nam. Sự lựa chọn đó không nằm ngoài ý nguyện của các tầng lớp nhân dân ta trong
cuộc đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh để thoát khỏi cảnh đời mất nước, sống dưới
ách nô dịch của chế độ thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc và từng bước
xây dựng xã hội mới không còn áp bức, bất công và chỉ có chủ nghĩa xã hội mới
có thể bảo vệ vững chắc mọi thành quả của độc lập dân tộc, đem lại cuộc sống ấm
no, hạnh phúc cho nhân dân lao động.
Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã chứng
minh tính đúng đắn của sự lựa chọn đó. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình
của Hồ Chí Minh và Đảng ta, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn ghềnh thác,
đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, qua 20 năm thực
hiện đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cách mạng Việt Nam
tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi
nhanh chóng bộ mặt đất nước, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không
ngừng được cải thiện. Thực tế đó đã khiến bạn bè quốc tế cũng phải ngạc nhiên,
ca ngợi và khâm phục.
Xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta là sự nghiệp đầy khó khăn, gian khổ và diễn ra
không phải trong một sớm, một chiều. Qua thực tiễn đổi mới, quan niệm về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về chặng đường và bước đi
của thời kỳ quá độ ở Việt Nam … dần dần được hình thành trên những nét cơ bản
và ngày càng sáng rõ hơn. Bên cạnh những thành tựu đạt được rất cơ bản, trong
quá trình lãnh đạo và tổ chức thực hiện các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội cũng
còn những vấp váp, sai lầm, khuyết điểm. Tuy nhiên, không thể căn cứ vào những
yếu kém, sai lầm, khuyết điểm đó để võ đoán phê phán chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng sự lựa chọn mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội là lỗi thời, không còn phù hợp với xu thế phát triển
của đất nước và thời đại.
Minh chứng phản bác luận điệu xuyên tạc về chính sách của Đảng, Nhà nước với người Việt Nam ở nước ngoài
Trải qua các thời kỳ cách mạng,
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và đã ban hành, triển khai nhiều chủ trương,
chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài, khẳng định người Việt Nam ở
nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam; là nguồn
lực quan trọng đóng góp cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
hội nhập quốc tế.
Dù ở
bất cứ nơi đâu, đồng bào ta luôn hướng về Tổ quốc, gắn bó máu thịt với cội
nguồn dân tộc. Tuy nhiên, trong thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động
thường xuyên đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ chính sách của Đảng, Nhà
nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài; kích động chống phá, gây chia rẽ
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc.
Những luận điệu bôi nhọ, xuyên tạc
Các thế lực thù địch, phản động, các phần tử chống đối lập
nhiều trang web, tài khoản Facebook, YouTube, Twitter, TikTok, Zalo… tuyên
truyền bịa đặt, bôi nhọ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước với những
luận điệu xuyên tạc như: Nhà nước không giúp gì, chỉ tìm cách khai thác nhân
tài, vật lực của người Việt hải ngoại; việc thành lập các hội, đoàn trong cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cách cho thấy “Đảng Cộng sản Việt Nam đang
tham vọng định hướng chính trị”; cộng sản xâm nhập, phá hoại và lũng đoạn các
cộng đồng, các hội đoàn, các cơ sở thương mại, trường học của người Việt tại
hải ngoại… Đây là những luận điệu xuyên tạc xuất phát từ tư tưởng thù địch nhằm
bóp méo bản chất, ý nghĩa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta trong gắn kết người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc.
Năm 2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
1334/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Phát huy nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài
phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới” (Quyết định 1334). Đây là đề
án quan trọng, qua đó tiếp tục khẳng định đường lối nhất quán của Đảng, Nhà
nước ta trong thực hiện chính sách với người Việt Nam ở nước ngoài. Đề án đã
đem lại hiệu quả tích cực, được kiều bào ta đón nhận và ủng hộ nhiệt thành. Thế
nhưng với âm mưu chống phá, các thế lực thù địch, phản động đăng tải nhiều bài
viết có nội dung xuyên tạc Quyết định 1334.
Có thể kể đến như loạt bài kêu gọi “Vô hiệu hóa Quyết định
1334: Cần hành động có sách lược và có phối hợp”; “Đối phó Quyết định 1334, cần
hành động thiết thực và hiệu quả”; “Cộng đồng người Việt ở nước ngoài hãy đề
cao cảnh giác với chiêu trò của Đảng Cộng sản Việt Nam”; “Bản lên tiếng về chủ
trương mới của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm khai thác người Việt tại hải ngoại”…
Các hội nhóm phản động hải ngoại còn giở trò tổ chức hội thảo, hội luận nhằm
tạo cớ chống phá, rêu rao “vô hiệu hóa Quyết định 1334 của nhà cầm quyền cộng
sản Việt Nam”, “hội luận chính trị chống Quyết định 1334 của cộng sản Việt
Nam”…
Những luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động đưa ra
nhằm mục đích xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách về người Việt Nam ở
nước ngoài của Đảng và Nhà nước ta; phủ nhận những nỗ lực trong việc phát huy
vai trò, củng cố sức mạnh, tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; chống phá những chủ trương
của Đảng, Nhà nước ta trong việc tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc trong
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Mục đích của chúng là chia rẽ khối đại
đoàn kết dân tộc, chống phá chế độ, hạ thấp uy tín của Đảng, cản trở, tiến tới
xoá bỏ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta qua các thời
kỳ đối với người Việt Nam ở nước ngoài
Tiếp nối truyền thống dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh về
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên cơ sở nhận thức đầy đủ hơn về vị trí, vai
trò và những đóng góp tích cực của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Đảng và
Nhà nước ta khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách
rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất và đối mặt với những
thách thức to lớn, Ban Việt kiều Trung ương đã thực hiện những thay đổi quan
trọng về cơ cấu tổ chức, từ một hội đồng liên ngành chuyển thành cơ quan chuyên
trách với những nhiệm vụ cụ thể hơn. Trong bối cảnh kiều bào ngày càng đa dạng
về thành phần, quan điểm chính trị, Ban đã kiên trì thực hiện các chính sách
tập hợp, đoàn kết và bảo vệ cộng đồng.
Năm 1995, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
chính thức trực thuộc Bộ Ngoại giao theo Nghị định số 77/CP, khẳng định vị trí
chiến lược của công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong ngành Ngoại giao. Đặc
biệt, sự ra đời của Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị với chủ trương nhất
quán: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là nguồn
lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam” đã trở thành kim chỉ nam xuyên suốt. Tại
Chương 1, Điều 3, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014
ghi rõ: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc
Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Người gốc Việt Nam định cư ở
nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc
tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang
cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.
Trên cơ sở đó, Ủy ban đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan
liên quan tham mưu, xây dựng, bổ sung, sửa đổi các quy định pháp luật, đề xuất
chủ trương, chính sách mới bảo đảm quyền lợi của kiều bào thiết thực và hiệu
quả. Các quy định pháp luật liên quan đến quốc tịch, xuất nhập cảnh, cư trú;
các Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Nhà ở được sửa đổi với nội dung thông
thoáng hơn, tạo điều kiện cho đồng bào ta ở nước ngoài hưởng những quyền lợi và
nghĩa vụ gần với người trong nước, khuyến khích bà con đầu tư, kinh doanh trong
nước.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã nêu các định
hướng phát triển của đất nước, không chỉ trong giai đoạn 2021-2025 mà cho cả
những thập niên tới, đề ra mục tiêu chiến lược Việt Nam trở thành nước phát
triển, thu nhập cao vào năm 2045. Trong đó, đối với công tác người Việt Nam ở
nước ngoài, Đại hội nêu rõ nhiệm vụ “triển khai toàn diện và mạnh mẽ hơn”. Ngày
12/8/2021, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 12-KL/TW về công tác người Việt
Nam ở nước ngoài trong tình hình mới. Kết luận số 12/KL-TW của Bộ Chính trị
khẳng định vị thế và vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp
xây dựng đất nước ngày càng được củng cố và nâng cao.
Trong những năm qua, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
tiếp tục lớn mạnh cả về lượng và chất khi số người Việt Nam ở nước ngoài ngày một
tăng, vai trò, vị thế và uy tín của kiều bào ta trong xã hội nước sở tại ngày
càng được nâng cao. Ðại bộ phận người Việt Nam ở nước ngoài đều ổn định cuộc
sống, hội nhập sâu rộng vào xã hội nước sở tại trong tất cả lĩnh vực từ chính
trị, kinh tế, đến văn hóa, xã hội, có tiềm lực đáng kể về trình độ khoa học, kỹ
thuật, tiếp tục đóng góp tích cực, là cầu nối quan trọng gắn kết Việt Nam với
thế giới.
Theo thống kê, hiện nay, có khoảng 6 triệu người Việt Nam ở
nước ngoài, sinh sống tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% là ở
các nước phát triển. Kiều bào tiếp tục có nhiều hoạt động hướng về quê hương,
góp phần quan trọng vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo và xây dựng đất
nước. Hằng năm, có khoảng 500 lượt chuyên gia, trí thức kiều bào về nước tham
gia các hoạt động khoa học, công nghệ…Theo thống kê sơ bộ, hiện có khoảng 200
cơ sở dạy và học tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Trong khoảng 3 thập kỷ qua, lượng kiều hối mà kiều bào gửi
về trong nước đạt trên 206 tỷ đô la, tương đương với lượng vốn FDI được giải
ngân trong cùng thời kỳ. Lượng kiều hối này đã góp phần không nhỏ đối với phát
triển kinh tế xã hội của đất nước, thúc đẩy hoạt động thương mại, dịch vụ, sản
xuất, kinh doanh, hỗ trợ và duy trì an sinh xã hội... Bên cạnh đó, Bộ Ngoại
giao đã phối hợp với các ban, bộ, ngành, địa phương tổ chức nhiều hoạt động ý
nghĩa như chương trình Xuân Quê hương, đoàn kiều bào dự Giỗ Tổ Hùng vương, thăm
quân dân huyện đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1, trại hè Việt Nam, ngày Tôn vinh tiếng
Việt… đưa các thế hệ người Việt xa quê trở về Tổ quốc, góp phần vun đắp tình
cảm với quê hương, từ đó thổi bùng khát khao được cống hiến và chung tay góp
sức cho sự phát triển của đất nước. Hiện nay, với hơn 421 dự án FDI với tổng số
vốn đăng ký 1,72 tỷ USD tại 42 trong 63 tỉnh thành, cùng nguồn kiều hối dự báo
đạt khoảng 16 tỷ USD trong năm 2024 là những nguồn lực rất quan trọng cho sự
phát triển của đất nước.
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài còn có đóng góp rất
quan trọng đối với những thành công của hoạt động ngoại giao nhân dân trong
công cuộc đổi mới. Thông qua các hoạt động giao lưu văn hóa, tôn giáo, bà con
kiều bào ta đã và đang góp phần giữ gìn bản sắc và quảng bá những giá trị văn
hóa dân tộc, xây dựng hình ảnh đất nước Việt Nam tươi đẹp, mến khách, thúc đẩy
và giành được sự yêu mến của bạn bè quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín
của Việt Nam trên trường quốc tế. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày
càng khẳng định vai trò, vị thế trong xã hội nước sở tại; nhiều tấm gương trong
lao động, học tập, nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh... đã góp phần làm
rạng danh đất nước, dân tộc Việt Nam khắp năm châu bốn bể.
Ngày 23/8/2024, tại Phủ Chủ tịch, Tổng Bí thư, Chủ tịch
nước Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư) đã tiếp đoàn đại biểu kiều bào tiêu biểu nhân
dịp về nước dự Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ 4, dự
Diễn đàn Trí thức và Chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài năm 2024. Tổng Bí thư,
Chủ tịch nước khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước luôn chào đón, tạo
điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về nước thăm thân, du lịch,
đầu tư sản xuất, kinh doanh; hết sức cầu thị, lắng nghe tâm tư nguyện vọng,
tiếp thu ý kiến đóng góp, hiến kế xây dựng đất nước của bà con. Đảng, Nhà nước
sẽ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các chủ trương, chính sách thu hút, trọng
dụng nhân tài, phát huy tiềm năng, thế mạnh, nguồn lực quý báu của kiều bào
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, đẩy mạnh hợp tác với các
nước để bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài,
hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn, hội nhập và phát triển mạnh
trong đời sống xã hội nước sở tại.
Dù sống ở nước ngoài, nhưng hàng triệu trái tim, khối óc và
dòng máu Lạc Hồng của người Việt Nam luôn hướng về Tổ quốc. Cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài ngày càng gắn bó và hướng về quê hương, thật sự trở thành
một bộ phận không tách rời và một nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc
Việt Nam, đóng góp tích cực cho quá trình xây dựng, bảo vệ, phát triển và hội
nhập của đất nước. Góp phần làm gắn kết hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc
cũng như bác bỏ những luận điệu xuyên tạc khối đại đoàn kết dân tộc, xuyên tạc
chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở
nước ngoài. Những hành động xuyên tạc của các thế lực xấu rõ ràng rất lạc lõng,
bị chính cộng đồng người Việt tại các nước lên án, tẩy chay.
Sưu tầm
