Thứ Tư, 5 tháng 2, 2025

Chính phủ ban hành Nghị quyết đặt mục tiêu tăng trưởng các ngành, lĩnh vực và địa phương để đạt 8% trở lên năm 2025

 

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 05/02/2025 về mục tiêu tăng trưởng các ngành, lĩnh vực và địa phương bảo đảm mục tiêu tăng trưởng cả nước năm 2025 đạt 8% trở lên.

0:00
05/02/2025  23:03
Chính phủ ban hành Nghị quyết đặt mục tiêu tăng trưởng các ngành, lĩnh vực và địa phương để đạt 8% trở lên năm 2025- Ảnh 1.

Nghị quyết nêu rõ, năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tăng tốc, bứt phá, về đích, là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, tiến hành Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và chuẩn bị, củng cố các yếu tố nền tảng, làm tiền đề để nước ta tự tin bước vào kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc, hướng tới thực hiện thắng lợi mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030. Trong khi đó, tình hình thế giới, khu vực dự báo tiếp tục diễn biến rất phức tạp, khó lường; kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, không đồng đều, thiếu vững chắc, rủi ro gia tăng. Nền kinh tế nước ta dự báo duy trì đà tăng trưởng tích cực, có những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn, nhất là từ những yếu tố bất lợi bên ngoài và những hạn chế, bất cập nội tại đã kéo dài nhiều năm, bão lũ, hạn hán, xâm nhập mặn...

Trong bối cảnh đó, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng cả nước năm 2025 đạt 8% trở lên, tạo nền tảng vững chắc để đạt tốc độ tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030, Chính phủ yêu cầu:

1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được giao chủ trì theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu tại Phụ lục I của Nghị quyết này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

a) Theo dõi sát, nắm chắc diễn biến tình hình, phối hợp chặt chẽ, thực hiện đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trên các lĩnh vực; phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành; có tư duy đổi mới, đột phá, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, tổ chức thực hiện kịp thời, linh hoạt, hiệu quả, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu tăng trưởng ngành, lĩnh vực và tăng trưởng GRDP của địa phương tại Phụ lục I và Phụ lục II của Nghị quyết này.

b) Khẩn trương xây dựng kịch bản tăng trưởng của ngành, lĩnh vực hằng tháng, hằng quý; đối với chỉ tiêu tăng trưởng GRDP, chỉ đạo cơ quan chuyên môn phối hợp chặt chẽ với cơ quan thống kê, trên cơ sở số liệu GRDP năm 2024 đã công bố, rà soát, xây dựng kịch bản tăng trưởng GRDP theo ngành cấp 01 và 03 khu vực kinh tế và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm theo từng quý để phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Các bộ, ngành, địa phương gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư kịch bản tăng trưởng trong tháng 02 năm 2025 để tổng hợp, theo dõi.

c) Chủ động thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp theo thẩm quyền và nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể trong trường hợp vượt thẩm quyền, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

d) Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện hằng tháng, hằng quý, cập nhật kịch bản tăng trưởng (nếu có) và kiến nghị, đề xuất giải pháp để đạt được mục tiêu tăng trưởng, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước ngày 25 hằng tháng.

2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương chỉ đạo nghiên cứu, rà soát các nguồn lực, động lực, năng lực mới cho tăng trưởng và giải pháp thực hiện, báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp trong tháng 02 năm 2025 để điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng GRDP của địa phương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đã quyết nghị mục tiêu tăng trưởng thấp hơn mục tiêu tại Nghị quyết này nhằm quán triệt và tổ chức thực hiện đồng bộ, toàn diện, hiệu quả.

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổng hợp, theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện và kiến nghị, đề xuất (nếu có), báo cáo Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ hằng tháng.

4. Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, các cơ quan thông tấn, báo chí, bộ, ngành trung ương và địa phương tổ chức phổ biến, tuyên truyền rộng rãi Nghị quyết này.

5. Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết này theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

Phụ lục I

MỘT SỐ CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC

NĂM 2025

TT

CHỈ TIÊU

Đơn vị

Chỉ tiêu năm 2025

Cơ quan chủ trì theo dõi, đánh giá

1

Tỷ lệ động viên vào NSNN trên GDP

%

16

Bộ TC

2

Tỷ trọng chi đầu tư phát triển/tổng chi NSNN

%

31

Bộ TC

3

Tỷ trọng chi thường xuyên/tổng chi NSNN

%

Dưới 60

Bộ TC

4

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội so với GDP

%

33,5

Bộ KHĐT

5

Tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa

%

12

Bộ CT

6

Thặng dư thương mại hàng hóa

Tỷ USD

30

Bộ CT

7

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

%

9,5

Bộ CT

8

Tốc độ tăng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

%

Khoảng 12

Bộ CT

9

Tăng trưởng thị trường thương mại điện tử B2C

%

20-22

Bộ CT

10

Tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử

%

60-62

Bộ CT

11

Tốc độ tăng tổng điện năng sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống

%

12,5-13

Bộ CT

12

Khách du lịch:

-

Quốc tế

Triệu lượt khách

22-23

Bộ VHTTDL

-

Nội địa

Triệu lượt khách

120-130

Bộ VHTTDL

Phụ lục II

MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG GRDP NĂM 2025

CỦA CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG

TT

Mục tiêu tăng trưởng GRDP 2025 (%)

I

Vùng Đồng bằng sông Hồng

1

Thành phố Hà Nội

8,0

2

Vĩnh Phúc

9,0

3

Bắc Ninh

8,0

4

Quảng Ninh

12,0

5

Hải Dương

10,2

6

Thành phố Hải Phòng

12,5

7

Hưng Yên

8,0

8

Thái Bình

9,0

9

Hà Nam

10,5

10

Nam Định

10,5

11

Ninh Bình

12,0

II

Vùng Trung du và Miền núi phía Bắc

12

Hà Giang

8,0

13

Cao Bằng

8,0

14

Bắc Kạn

8,5

15

Tuyên Quang

9,0

16

Lào Cai

9,5

17

Yên Bái

8,2

18

Thái Nguyên

8,5

19

Lạng Sơn

8,0

20

Bắc Giang

13,6

21

Phú Thọ

8,0

22

Điện Biên

10,5

23

Lai Châu

8,0

24

Sơn La

8,0

25

Hoà Bình

9,0

III

Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ

26

Thanh Hoá

11,0

27

Nghệ An

10,5

28

Hà Tĩnh

8,0

29

Quảng Bình

8,0

30

Quảng Trị

8,0

31

Thành phố Thừa Thiên Huế

8,5

32

Thành phố Đà Nẵng

10,0

33

Quảng Nam

10,0

34

Quảng Ngãi

8,5

35

Bình Định

8,5

36

Phú Yên

8,0

37

Khánh Hoà

10,0

38

Ninh Thuận

13,0

39

Bình Thuận

8,0

IV

Vùng Tây Nguyên

40

Kon Tum

10,0

41

Gia Lai

8,0

42

Đắk Lắk

8,0

43

Đắk Nông

8,0

44

Lâm Đồng

9,0

V

Vùng Đông Nam Bộ

45

Thành phố Hồ Chí Minh

8,5

46

Bình Phước

8,8

47

Tây Ninh

8,0

48

Bình Dương

10,0

49

Đồng Nai

10,0

50

Bà Rịa - Vũng Tàu

10% (trừ dầu thô, khí đốt)

VI

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long

51

Long An

8,7

52

Tiền Giang

8,0

53

Bến Tre

8,0

54

Trà Vinh

8,0

55

Vĩnh Long

8,0

56

Đồng Tháp

8,0

57

An Giang

8,5

58

Kiên Giang

8,0

59

Thành phố Cần Thơ

9,5

60

Hậu Giang

8,8

61

Sóc Trăng

8,0

62

Bạc Liêu

9,0

63

Cà Mau

8,0

THẮT CHẶT MỐI QUAN HỆ ĐẢNG - DÂN

 95 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa đất nước ta ngày càng phát triển vững mạnh, đời sống Nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Đảng đã không ngừng tự đổi mới, dành nhiều thời gian và công sức cho công tác xây dựng Đảng, ban hành nhiều nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; về những điều đảng viên không được làm; về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.

Có thể thấy quyết tâm chính trị rất cao của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với phương châm “không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã có hơn 140 cán bộ, đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trong đó có cả đương chức và đã nghỉ hưu bị thi hành kỷ luật. Đảng cũng chỉ đạo xử lý nhiều vụ án xảy ra từ nhiều năm trước.

Nhân dân phấn khởi về bản lĩnh chính trị, sự vững vàng, kiên định, nhất quán của Đảng. Từ đó tăng thêm niềm tin với Đảng.

Tuy nhiên, vẫn còn một số cấp ủy, tổ chức chưa quan tâm, coi trọng đúng mức việc đổi mới phương thức lãnh đạo, cải cách hành chính trong Đảng chưa đáp ứng yêu cầu. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn yếu. Một số cấp ủy cơ sở, chi bộ chưa thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Công tác kiểm soát quyền lực có mặt còn hạn chế. Còn nhiều cán bộ, đảng viên đùn đẩy, sợ trách nhiệm. Cơ chế phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực còn có mặt hạn chế…

Tự hào về sự lớn mạnh của Đảng 95 năm qua, Nhân dân mong muốn Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện; giàu bản lĩnh, trí tuệ dẫn dắt dân tộc bước vào kỷ nguyên mới. Mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân là quan hệ máu thịt, quyết định sự thành bại của mọi nhiệm vụ cách mạng. Việc thắt chặt quan hệ này chính là phát huy truyền thống, tạo sức mạnh đoàn kết đưa đất nước ta ngày càng phát triển./.

PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA TÀI SẢN SỐ TẠI VIỆT NAM

 Thị trường tài sản số tại Việt Nam đang bùng nổ, trở thành một trong những điểm “nóng” hấp dẫn nhất trên bản đồ toàn cầu, thu hút sự chú ý mạnh mẽ từ giới đầu tư lẫn cộng đồng công nghệ.

Theo Báo cáo năm 2024 của Chainalysis (tổ chức hàng đầu trong phân tích blockchain), Việt Nam xếp thứ 5 thế giới về mức độ quan tâm đến tài sản số, đứng thứ 3 toàn cầu về sử dụng các nền tảng giao dịch quốc tế và xếp thứ 6 về khối lượng giao dịch trên các nền tảng phi tập trung

Ðáng chú ý, ngay cả khi trong nước chưa có khung pháp lý chính thức để điều chỉnh hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ giao dịch tài sản số (VASPs), người Việt Nam vẫn sẵn sàng dấn thân vào thị trường thông qua các nền tảng quốc tế hàng đầu như Coinbase, Binance, Remitano hay các giao thức phi tập trung (DeFi) như SushiSwap, DYDX, Uniswap, Dodo,… Ðiều này minh chứng cho nhu cầu và tiềm năng phát triển vượt trội của lĩnh vực này tại Việt Nam.

Mặc dù vậy, hành lang pháp lý của Việt Nam cho tài sản số hiện vẫn còn mơ hồ, pháp luật hiện hành chưa công nhận tài sản số là tiền tệ hay phương tiện thanh toán, nhưng cũng không cấm sở hữu và giao dịch. Vì vậy, phần lớn dòng vốn nêu trên đang hoạt động ngoài tầm kiểm soát của hệ thống tài chính chính thức, tạo nên một nền kinh tế ngầm khổng lồ.

Thực trạng như vậy không chỉ dẫn đến thất thoát nguồn thu thuế mà còn tiềm ẩn hàng loạt rủi ro về tài chính, pháp lý và an ninh quốc gia. Do đó, theo các chuyên gia, việc gắn kết giao dịch tài sản số với các chính sách thuế sẽ giúp tăng cường nguồn thu.

Khi tài sản số được hợp pháp hóa, được quản lý, Nhà nước có thể áp dụng các loại thuế như thuế thu nhập cá nhân (đối với lợi nhuận từ giao dịch tài sản số), thuế giá trị gia tăng (đối với dịch vụ liên quan) hoặc thuế doanh nghiệp (đối với các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này).

Tài sản số sẽ đóng góp trực tiếp vào GDP Việt Nam thông qua việc thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp công nghệ và mở rộng các dịch vụ tài chính hiện đại. Việc chuyển các giao dịch tài sản số vào khuôn khổ chính thức cũng là yêu cầu cấp bách để phá vỡ vòng luẩn quẩn của nền kinh tế ngầm.

Khi tài sản số được luật pháp công nhận và quản lý, giao dịch sẽ trở nên minh bạch, an toàn hơn, đồng thời hạn chế nguy cơ lừa đảo, gian lận cũng như bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Quan trọng hơn, điều này tạo ra một nền tảng vững chắc để Nhà nước thu thuế từ các hoạt động kinh tế số, tăng cường nguồn thu ngân sách, từ đó đầu tư trở lại vào các lĩnh vực thiết yếu khác như giáo dục hay công nghệ.

Tài sản số và tài sản mã hóa đang mở ra một chương mới cho nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên ch.uyển đ.ổi s.ố và hội nhập toàn cầu. Với khả năng thúc đẩy đổi mới, tạo ra các kênh huy động vốn hiệu quả, kết nối thị trường quốc tế, công cụ này sẽ mang lại lợi ích to lớn cho doanh nghiệp, đồng thời góp phần xây dựng một xã hội hiện đại và bền vững.

Bên cạnh đó, việc phát triển tài sản số cũng là động lực để Việt Nam tận dụng nguồn lực lao động chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ, hạn chế tình trạng chảy máu chất xám và thu hút đầu tư nước ngoài. Ðể hiện thực hóa tiềm năng này, việc xây dựng một khung pháp lý minh bạch, ổn định và phù hợp là yếu tố tiên quyết.

Một hành lang pháp lý rõ ràng cho tài sản số không chỉ bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia mà còn thúc đẩy niềm tin vào công nghệ và thị trường tài sản số. Với những bước đi chiến lược, tài sản số sẽ trở thành một trong những động lực giúp Việt Nam vươn lên trở thành trung tâm công nghệ và tài chính trong khu vực, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế bền vững trong tương lai./.



SẮP XẾP, TINH GỌN TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÁC BỘ, CƠ QUAN NGANG BỘ VÀ CƠ QUAN THUỘC CHÍNH PHỦ: HỢP NHẤT 10 BỘ THÀNH 5 BỘ

 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thông qua phương án sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Theo đó, đối với các cơ quan của Chính phủ, hợp nhất 10 bộ thành 5 bộ. Trong đó, hợp nhất Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính thành Bộ Tài chính; Bộ Xây dựng và Bộ Giao thông vận tải thành Bộ Xây dựng; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Khoa học và Công nghệ thành Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Nội vụ thành Bộ Nội vụ. Thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo trên cơ sở Ủy ban Dân tộc tiếp nhận thêm chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo từ Bộ Nội vụ. Với những bộ, ngành còn lại thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy bên trong./.

95 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG: VƯƠN MÌNH TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

 

Sau 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích trong lịch sử, giờ đây bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khởi đầu bằng sự kiện trọng đại - Đại hội XIV của Đảng./.



Từ 15/2 đến hết năm 2025, cảnh sát giao thông toàn quốc sẽ tập trung xử lý 06 nhóm hành vi:

 - Vi phạm nồng độ cồn, ma túy.

- Vi phạm cơi nới thùng xe, chở hàng quá tải trọng, quá khổ giới hạn, vận chuyển hàng hóa không chằng buộc đúng quy định.

- Vi phạm tốc độ, không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu (vượt đèn đỏ), đi không đúng phần đường, làn đường quy định, đi ngược chiều, tránh vượt, không tuân thủ các quy định về nhường đường tại nơi đường bộ giao nhau.

- Điều khiển xe thành đoàn gây cản trở giao thông, lạng lách, đánh võng… đua xe trái phép, gây rối trật tự công cộng.

- Lái xe kinh doanh vận tải sử dụng điện thoại, thiết bị điện tử khác khi điều khiển phương tiện và việc lắp đặt, hoạt động của thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh lái xe.

- Lứa tuổi học sinh vi phạm trật tự an toàn giao thông.

Bộ Công an.

BỘ QUỐC PHÒNG: CÔNG BỐ QUYẾT ĐỊNH SÁP NHẬP TỔNG CỤC HẬU CẦN, TỔNG CỤC KỸ THUẬT VÀ TỔ CHỨC LẠI THÀNH TỔNG CỤC HẬU CẦN - KỸ THUẬT

 Sáng 5-2, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng tổ chức Lễ công bố Quyết định sáp nhập Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và tổ chức lại thành Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì buổi lễ.

Dự buổi lễ có các đồng chí: Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Vũ Hải Sản, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng; đại biểu thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; đại biểu lãnh đạo các tổng cục, các cơ quan Bộ Quốc phòng.

Tại buổi lễ, ban tổ chức đã công bố Quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc sáp nhập Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và tổ chức lại thành Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật; công bố quyết định trao Quân kỳ Quyết thắng tặng Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật.

Trao Quân kỳ Quyết thắng và phát biểu giao nhiệm vụ cho Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Đại tướng Phan Văn Giang nêu rõ: Thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về điều chỉnh tổ chức, biên chế Quân đội giai đoạn 2025 - 2030 và những năm tiếp theo, Bộ Quốc phòng quyết định sáp nhập Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và tổ chức lại thành Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật.

Đây là sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện tư duy mới, tầm nhìn mới về điều chỉnh tổ chức lực lượng của ngành Hậu cần, Kỹ thuật trong suốt 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. 

Ôn lại truyền thống vẻ vang của hai tổng cục trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Bộ trưởng Phan Văn Giang khẳng định, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật rất vinh dự tiếp nối truyền thống gần 75 năm của Tổng cục Hậu cần và gần 51 năm của Tổng cục Kỹ thuật; xây đắp nên truyền thống "Chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường" và "Tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn, chủ động, sáng tạo, hết lòng phục vụ bộ đội" của hai Tổng cục. 

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, với những chiến công trong tổ chức bảo đảm cho các chiến dịch có quy mô lớn, ngành Hậu cần Quân đội đã bảo đảm một khối lượng lương thực, thực phẩm, vật chất hậu cần khổng lồ, góp phần quan trọng làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". 

Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, công tác hậu cần chiến lược nối liền hậu phương với tiền tuyến, làm tốt việc chi viện và hỗ trợ lẫn nhau. Hậu cần tại chỗ trên chiến trường miền Nam được tổ chức rất sáng tạo, hiệu quả, kết hợp linh hoạt nhiều phương thức, biện pháp bảo đảm hậu cần cho các đơn vị chiến đấu, ngay cả trong điều kiện bị địch bao vây, đánh phá ác liệt.

Đối với ngành Kỹ thuật, ngay từ những ngày đầu kháng chiến, đã nghiên cứu, sản xuất các loại súng bộ binh, đạn, súng cối, đạn pháo và phụ tùng vật tư kỹ thuật với số lượng lớn. Tiếp nhận vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại do các nước bạn giúp đỡ; vận chuyển hàng chục nghìn tấn vũ khí, trang bị và cử hàng trăm cán bộ, nhân viên tham gia các chiến dịch lớn, bảo đảm vũ khí trang bị, bảo đảm kỹ thuật kịp thời cho chiến trường miền Nam.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Tổng cục Kỹ thuật đã chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật, bảo đảm trang bị cho 5 cánh quân chủ lực, với khối lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật rất lớn, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước...

Trong công cuộc đổi mới, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật đã chủ động tham mưu ban hành các nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo công tác hậu cần, công tác kỹ thuật trong tình hình mới.

Phát động và triển khai thực hiện có hiệu quả Phong trào thi đua "Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy" và Cuộc vận động "Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông" trong toàn quân, bảo đảm ngành Hậu cần, Kỹ thuật luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ trưởng Phan Văn Giang yêu cầu Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn về vị trí, ý nghĩa của việc sáp nhập, tổ chức lại 2 tổng cục, về chức năng, yêu cầu nhiệm vụ, từ đó xác định quyết tâm, bứt phá mạnh mẽ, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị.

Tiếp tục làm tốt công tác tham mưu chiến lược với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho toàn quân, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, giữ vững và phát huy thành tích của ngành Hậu cần - Kỹ thuật thời gian qua.

Bộ trưởng Phan Văn Giang yêu cầu Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật nhanh chóng ổn định về tổ chức biên chế, phân công, giao nhiệm vụ cụ thể; kiện toàn tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, các tổ chức quần chúng, triển khai các hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ; xây dựng các tổ chức vững mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị quyết lãnh đạo của Quân ủy Trung ương về công tác hậu cần và công tác kỹ thuật, Chỉ lệnh công tác Hậu cần, Kỹ thuật năm 2025; các đề án, dự án chiến lược... không để việc sáp nhập làm gián đoạn, ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ các nhiệm vụ được giao.

Tăng cường phối hợp với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, công nghệ cao, bảo đảm cho quốc phòng, an ninh, trọng tâm là vũ khí chiến lược, nhằm tăng cường khả năng phòng thủ, bảo vệ đất nước.

Cấp ủy, chỉ huy các cấp làm tốt công tác tư tưởng, chính sách cho cán bộ, chiến sĩ, nhân viên, sẵn sàng nhận và chấp hành nghiêm sự phân công, điều động của tổ chức. Chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, kịp thời tham mưu, đề xuất với Thường vụ Quân ủy Trung ương, thủ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết tốt công tác chính sách, hậu phương cho cán bộ, nhân viên, chiến sĩ.

Nhanh chóng xây dựng, ban hành các quy chế, quy định trên từng mặt công tác; kịp thời, bổ sung, hoàn thiện các phương án tác chiến, duy trì nghiêm nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, chế độ, quy định của đơn vị, sẵn sàng chiến đấu cao. Thực hiện tốt công tác hậu cần, kỹ thuật, quản lý chặt chẽ các trang thiết bị, vật chất, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả.

Khẩn trương làm tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thành công đại hội đảng các cấp theo Chỉ thị của Thường vụ Quân ủy Trung ương. Tập trung xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp thật sự trong sạch, vững mạnh, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và lâu dài; xây dựng và giữ vững ổn định cơ quan, đơn vị, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.

Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, trong điều kiện mới được sáp nhập, tổ chức lại, vừa thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất theo chức năng, nhiệm vụ, vừa phải kiện toàn tổ chức, lực lượng, đòi hỏi Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật phải đoàn kết thống nhất, với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động phải quyết liệt, mới hoàn thành và đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tin tưởng, với khí thế mới, quyết tâm mới, tổ chức mới, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật sẽ hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cán bộ, chiến sĩ toàn quân.

Phát biểu tại buổi lễ, Trung tướng Trần Minh Đức, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật trân trọng cảm ơn sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Thường vụ Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng; sự phối hợp có hiệu quả của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân để Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kỹ thuật trước đây hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Đồng thời, bày tỏ quyết tâm phát huy thành tích xây dựng, chiến đấu và trưởng thành trong những năm qua, giữ vững và tô thắm truyền thống vẻ vang của hai tổng cục trước đây; đoàn kết, nỗ lực phấn đấu để xây dựng Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật xứng đáng là cơ quan tham mưu chiến lược của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.


TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHÍNH PHỦ SAU TINH GỌN SẼ GỒM 14 BỘ VÀ 3 CƠ QUAN NGANG BỘ!

     Phát biểu về sửa Luật Tổ chức chính phủ, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh quan điểm phân cấp, phân quyền mạnh hơn cho Chính phủ để Chính phủ chủ động trong tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

Tiếp tục chương trình Phiên họp thứ 42, sáng 5/2, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi) và 2 dự thảo: Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.

Cơ cấu tổ chức Chính phủ gồm 14 bộ và 3 cơ quan ngang bộ
Theo Tờ trình của Chính phủ, mục tiêu sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ nhằm bổ sung hoàn thiện các quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính phủ; nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước hiệu lực, hiệu quả.

Đồng thời, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, thúc đẩy Chính phủ kiến tạo phát triển, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Dự thảo Luật gồm 5 chương, 35 điều.

Về phương án cơ cấu tổ chức, Chính phủ đề nghị Quốc hội xem xét quyết định cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV gồm 14 bộ và 3 cơ quan ngang bộ.

Cụ thể, thành lập Bộ Tài chính trên cơ sở hợp nhất Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính, cơ bản kế thừa chức năng, nhiệm vụ hiện đang giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính và tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu đối với 18 tập đoàn, tổng công ty nhà nước hiện đang giao Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp quản lý (riêng Tổng Công ty Viễn thông MobiFone chuyển về Bộ Công an).

Thành lập Bộ Xây dựng trên cơ sở hợp nhất Bộ Xây dựng và Bộ Giao thông vận tải, cơ bản kế thừa chức năng, nhiệm vụ hiện đang giao cho Bộ Xây dựng và Bộ Giao thông vận tải; chuyển chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về sát hạch, cấp Giấy phép lái xe cơ giới đường bộ từ Bộ Giao thông vận tải về Bộ Công an.

Thành lập Bộ Nông nghiệp và Môi trường trên cơ sở hợp nhất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ bản kế thừa chức năng, nhiệm vụ hiện đang giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường và tiếp nhận nhiệm vụ quản lý nhà nước về giảm nghèo từ Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

Thành lập Bộ Khoa học và Công nghệ trên cơ sở hợp nhất Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Thông tin và Truyền thông, cơ bản kế thừa chức năng, nhiệm vụ hiện đang giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Thông tin và Truyền thông; chuyển chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý về báo chí, xuất bản từ Bộ Thông tin và Truyền thông sang Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Thành lập Bộ Nội vụ trên cơ sở hợp nhất Bộ Nội vụ và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Bộ Nội vụ hiện nay và chức năng quản lý nhà nước về lao động, tiền lương, việc làm, người có công, an toàn, vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, bình đẳng giới từ Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

Chuyển chức năng quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp từ Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội sang Bộ Giáo dục và Đào tạo; chuyển chức năng quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội, trẻ em, phòng, chống tệ nạn xã hội (riêng nhiệm vụ quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy chuyển sang Bộ Công an) từ Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội sang Bộ Y tế; chuyển nhiệm vụ quản lý nhà nước về giảm nghèo từ Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội sang Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo trên cơ sở Ủy ban Dân tộc hiện nay và tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo từ Bộ Nội vụ và bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về dân tộc.

Chính phủ cũng đề nghị duy trì các bộ, cơ quan ngang bộ sau: Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Tư pháp; Bộ Công Thương; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Ngoại giao; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Y tế; Văn phòng Chính phủ; Thanh tra Chính phủ; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Hoàn thiện quy định về “phân cấp,” “ủy quyền”
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Hoàng Thanh Tùng cho biết Thường trực Ủy ban tán thành việc sửa đổi toàn diện Luật Tổ chức Chính phủ. Thường trực Ủy ban Pháp luật tán thành với nội dung về phân cấp (Điều 7) trong dự thảo Luật nhằm thể chế hóa kết luận của Bộ Chính trị tại Công văn số 13078-CV/VPTW ngày 14/1/2025, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để “tăng cường quyền tự chủ, tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương gắn với nâng cao trách nhiệm giải trình của người đứng đầu, kiểm soát quyền lực chặt chẽ.”

Bên cạnh đó, đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy định về “phân cấp,” “ủy quyền” tại dự thảo Luật, làm rõ chủ thể được phân cấp, cơ chế chịu trách nhiệm của cơ quan được phân cấp để bảo đảm đồng bộ, thống nhất với quy định của dự thảo Luật Tổ chức Chính quyền địa phương (sửa đổi).

Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị bổ sung nguyên tắc phân cấp theo hướng: khi thực hiện phân cấp phải bảo đảm đồng bộ giữa phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn với phân cấp về giải quyết thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan được phân cấp chủ động trong giải quyết công việc, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính gắn với tăng cường trách nhiệm của các cơ quan và nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Đồng thời, cần làm rõ về việc cơ quan nhận phân cấp có thể phân cấp tiếp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới hay không?

Thường trực Ủy ban Pháp luật cũng tán thành phương án cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV như đề nghị của Chính phủ; đề nghị Chính phủ có Kế hoạch triển khai việc sắp xếp tổ chức bộ máy của Chính phủ để kịp thời triển khai các công việc cụ thể ngay khi Quốc hội thông qua Nghị quyết.

Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất
Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhất trí sự cần thiết việc sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ; đề nghị từ nay đến Kỳ họp bất thường lần thứ 9, các cơ quan cần tiếp tục rà soát để bảo đảm phù hợp các quy định của Hiến pháp, pháp luật hiện hành.

“Nên phân cấp, phân quyền mạnh hơn cho Chính phủ để Chính phủ chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hiện nay và tương lai sắp tới để đất nước phát triển. Việc sửa đổi phải đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất các quy định liên quan đến phân cấp, phân quyền của luật này với Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi), Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi)…,” Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.

Về nguyên tắc phân định thẩm quyền (Điều 7), Chủ tịch Quốc hội cho rằng đây là nội dung rất quan trọng, các cơ quan phải bám sát chỉ đạo của cấp có thẩm quyền, phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (tháng 1/2025).

Các nguyên tắc phân định thẩm quyền cơ bản quy định rõ về mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc, với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội; phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan lập pháp, hành pháp; tính toán, xử lý các nội dung còn giao thoa về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan.

Về phân cấp, phân quyền (Điều 8, Điều 9), Chủ tịch Quốc hội nêu rõ việc phân quyền, phân cấp, ủy quyền được thể hiện ở dự thảo Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi) và dự thảo Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, do đó khi sửa đổi hai luật này phải bảo đảm thông suốt, thống nhất, đồng bộ.

Chủ tịch Quốc hội cũng lưu ý đến những điều kiện phân cấp như: tài chính, nguồn nhân lực, thủ tục hành chính, kinh nghiệm quản lý... trong phân cấp, phân quyền, ủy quyền; làm rõ hơn điều kiện, khả năng đáp ứng của cơ quan, tổ chức, người được phân cấp, bảo đảm tính khả thi, tránh trường hợp đùn đẩy trách nhiệm.

“Cùng một luật, một nghị định, thông tư nhưng tại sao có những địa phương làm hết sức quyết liệt, không nói khó nhưng cũng có những địa phương phản ánh là do luật, do nghị định, thông tư,” Chủ tịch Quốc hội nêu.

Đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Chủ tịch Quốc hội lưu ý phải bảo đảm không chồng chéo, không bỏ sót chức năng, nhiệm vụ, một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, liên thông trong quản lý nhà nước.

Bên cạnh đó, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức; tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sắp xếp tổ chức bộ máy./.
Theo TTXVN 
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY!

     Coi trọng con người, chăm lo hết mực hạnh phúc của người dân là những nội dung căn bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng con người. Tư tưởng đó được Đảng ta kế thừa, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhằm đặt tình cảm, niềm tin vào con người, đào tạo, sử dụng con người hợp tình, hợp lý, phát huy nhân tố con người là động lực phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay!

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người mang ý nghĩa, giá trị nhân văn sâu sắc
C. Mác - nhà tư tưởng vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới đã để lại hệ thống di sản lý luận, thực tiễn thấm đẫm giá trị nhân văn sâu sắc về con người và giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công, bảo vệ những quyền cơ bản của con người hướng tới xây dựng xã hội mới tốt đẹp cho con người. C. Mác đã khẳng định: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(1). 

Kế thừa quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê-nin, triết học phương Đông, phương Tây, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, con người là vốn liếng quý báu của dân tộc, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa, càng cần con người “vừa hồng”, “vừa chuyên”. Sinh thời, Người không viết tác phẩm riêng biệt nào bàn về con người, không đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về con người, Người dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng và vận dụng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về con người vào hoạt động thực tiễn. Người đã lý giải vấn đề con người bằng một ngôn ngữ bình dị, dễ hiểu đối với mọi người dân Việt Nam: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”(2). Con người ở đây vừa là mỗi thành viên cụ thể, vừa là những cộng đồng người trong xã hội, giai cấp, dân tộc và cả nhân loại. Trong cộng đồng con người Việt Nam, quan hệ gia đình, anh em, họ hàng bền vững như chất keo, là tình cảm cao quý thiêng liêng nhất, là động lực, sức mạnh giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong thời kỳ dựng nước và giữ nước để phát triển. Hơn nữa, nét độc đáo trong cộng đồng người Việt Nam là đều có tầng văn hóa nguyên thủy, đó là dòng giống con Rồng, cháu Tiên - một hình ảnh văn hóa tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ngay từ buổi đầu lập quốc. 

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Con người ta đẻ ra, ai cũng lớn lên, già đi, rồi chết”(3), “Người ta ai cũng muốn sung sướng mạnh khỏe”(4). Đó là quy luật cuộc sống của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại những suy nghĩ của nhân dân: “Dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời”, “Có thực mới vực được đạo”, nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả”(5). Từ đó, Người luôn đặt mối quan tâm đến cái ăn, cái ở, cái mặc của nhân dân lên hàng đầu, Người viết: “Đầu tiên là công việc đối với con người”(6). Sau khi giành được độc lập tự do cho đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Chính phủ phải quan tâm đến đời sống của nhân dân: “Chúng ta phải thực hiện ngay: 1. Làm cho dân có ăn. 2. Làm cho dân có mặc. 3. Làm cho dân có chỗ ở. 4. Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là bốn điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập và giúp sức được cho tự do độc lập”(7). Người luôn căn dặn “chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân”(8), “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(9). 

Trên quan điểm duy vật biện chứng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cái quyết định đến bản chất con người là yếu tố xã hội, là môi trường giáo dục. Người viết: “Ngủ thì ai cũng như lương thiện, Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền; Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên”(10). Ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “phần nhiều” chứ không phải “chỉ” do giáo dục mà nên, bản chất con người phải dựa trên một nền tảng sinh học nhất định, còn cái xã hội là cái quyết định bản chất con người. Để giáo dục con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa tư tưởng văn hóa phương Đông “nhân trị, đức trị” của Khổng Tử, Mạnh Tử; tư tưởng pháp trị của Tuân Tử, Hàn Phi Tử. Con người, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, còn là sự thống nhất giữa con người cá nhân và con người xã hội. Con người ai cũng có tốt, xấu, hay, dở cũng như năm ngón tay dài, ngắn khác nhau, nhưng Người tin vào những khả năng làm cho con người trở nên tốt đẹp hơn trên cơ sở phát triển cái tốt, cái đẹp, cái thiện, khắc phục và đẩy lùi cái xấu, cái ác, bởi vì, “Con người dù là xấu, tốt, văn minh hay dã man đều có tình”(11). 

Khi đề cập đến con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đề cập đến “người phương Đông”, “người châu Á”, “người châu Âu”..., mà còn đề cập một cách cụ thể hơn đến “người da vàng”, “người da trắng”, “người da đen”, “người Đông Dương”, “người Pháp”, “người Việt Nam”. Người đặc biệt chú ý con người giai cấp, “người bị áp bức”, “người bị bóc lột”, “tên tư bản”, “nhà độc tài”, “công nhân”, “nông dân”, “thợ thuyền”. Người khẳng định, trên thế giới này, chỉ có hai giống người “giống người bóc lột và giống người lao động”, cho nên, Người nhấn mạnh tình hữu ái giai cấp. Chính vì vậy, khi tham gia sáng lập tờ báo Người cùng khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự đặt mình về phía giai cấp lao động, lên tiếng đấu tranh để giải phóng con người khỏi mọi sự tha hóa. Giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa - một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh - luôn là mục tiêu cao nhất, xuyên suốt, trở thành hoài bão phấn đấu suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Phát huy nhân tố con người nhằm mục đích cao nhất bồi dưỡng sức dân để nhân dân yên tâm cống hiến và hưởng thụ
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng đời sống mới, tiến lên xã hội chủ nghĩa đều phải bắt đầu từ con người, từ việc phát huy nhân tố con người: Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “dân là gốc”. Người nói: “Nước lấy dân làm gốc(12)... Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(13). Chủ tịch Hồ Chí Minh không đưa ra quan niệm cụ thể về con người nhưng thực chất, Người đã đề cập đến nhân tố con người một cách toàn diện trong hệ thống tư tưởng của mình. Với phương pháp khái quát hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến nhân tố con người với một số nội dung sau: Một là, coi trọng hoạt động tự giác của con người; hai là, nhân tố con người với tư cách là tổng hòa các phẩm chất, năng lực của con người; ba là, nhân tố con người với những tiêu chí về nhân cách, giáo dục. Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt hoạt động với tổng hòa về phẩm chất, năng lực, giá trị xã hội của con người. Vì vậy, quan tâm, tạo điều kiện để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người là kế sách lâu dài nhằm “khoan thư sức dân”, bồi dưỡng sức dân để họ yên tâm cống hiến và hưởng thụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(14). 

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra hàng loạt biện pháp tác động từ các chính sách về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội,… Người chỉ rõ chính sách của Chính phủ ta: “Đối với dân, chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết như cải thiện đời sống của nhân dân, cứu tế thất nghiệp, sửa đổi chế độ xã hội, phát triển kinh tế, văn hoá, v.v.. Có như thế, dân chúng mới đoàn kết chung quanh chính phủ, mới vì quyền lợi thiết thân của mình mà hy sinh sống chết giết giặc”(15). Để giải quyết mối quan hệ giữa sử dụng đúng và sử dụng khéo con người, trước hết, phải xây dựng con người xã hội chủ nghĩa. Người coi việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược lâu dài, gian khổ, đầy chông gai nhưng cũng hết sức vẻ vang và tự hào; hai là, con người phải có lý tưởng sống cao đẹp, sống vì mọi người và có tinh thần đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng con người và xã hội loài người, đó là con người “hồng thắm”; ba là, con người có đạo đức, trung thực, thẳng thắn, liêm khiết, khiêm tốn, dũng cảm, đó là con người “có đức”. 

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “hồng thắm” và “vừa hồng, vừa chuyên” và “có đức, có tài” phải kết hợp chặt chẽ với nhau và Người chỉ rõ: “Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”(16). Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Trong vấn đề cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng cán bộ càng phải là con người phát triển toàn diện, là người “có đức” và “có tài”, “hồng thắm” và “chuyên sâu”. “Đức” của người cán bộ, đảng viên là đạo đức cách mạng. Người coi đạo đức cách mạng là “nền tảng”, là “cái gốc” của người cán bộ, đảng viên, giúp họ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ. 

Và Người đưa ra tiêu chí để xây dựng và phát huy nhân tố con người: Thứ nhất, xây dựng và phát huy nhân tố con người có đạo đức trong sự phát triển của xã hội. Theo Người, nếu thiếu lòng trung thì nhân cách con người, đặc biệt là con người cách mạng sẽ bị hoen ố. Người dạy hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nếu không có tình thương yêu con người không thể nói đến cách mạng, càng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Đạo đức cách mạng là “đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”(17). Đạo đức cách mạng - đạo đức mới - khác hẳn với đạo đức cũ: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”(18).  

Thứ hai, xây dựng và phát huy nhân tố con người Việt Nam có trí tuệ, tài năng trong sự phát triển của xã hội. Cần phải có trí tuệ, tài năng để nắm bắt bản chất của sự vật, sự việc, nắm bắt được quy luật vận động, biến đổi của thế giới, vận dụng quy luật và sáng tạo trong hoạt động thực tiễn. Trí tuệ, tài năng của con người không phải là một năng lực tự nhiên mà năng lực đó của con người được hình thành, bổ sung và biến đổi qua thực tiễn. Vì vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để có năng lực trí tuệ cao, con người phải trải qua một quá trình học tập văn hóa, khoa học, kỹ thuật, rèn luyện suốt đời, đào sâu suy nghĩ, học hỏi lẫn nhau, phải được tiếp thu và làm chủ khoa học - công nghệ và kỹ thuật hiện đại, phải được sự hướng dẫn tận tình của người thầy có chuyên môn giỏi và phương pháp giảng dạy tốt. 

Thứ ba, phát huy nhân tố con người có sức khỏe tốt, thể lực tốt, tầm vóc tốt. Sức khỏe là một trong những yếu tố cơ bản của con người phát triển toàn diện. Người cho rằng: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ”(19). Sức khỏe tốt, theo Người, là sự lành mạnh, cường tráng về cả thể xác lẫn tinh thần, “... khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe”(20). 

Thứ tư, xây dựng và phát huy nhân tố con người Việt Nam có ý thức thẩm mỹ trong sự phát triển của xã hội. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người phát triển toàn diện không chỉ có đức, trí, thể, mà còn phải có cả ý thức thẩm mỹ. Con người cần phải có ý thức thẩm mỹ để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp trong cuộc sống; để biết rung động và cảm thụ cái đẹp, cái cao cả. 

Như vậy, có thể khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người bao gồm những nội dung cơ bản sau: Một là, khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của con người trong xã hội; hai là, đề ra những chiến lược cơ bản về trồng người cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc; ba là, đề ra những cách thức, biện pháp sử dụng con người trong bộ máy lãnh đạo. 

Tiếp tục thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay
Đảng ta khẳng định: “Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”(21). Điều này cũng được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (ngày 24-1-2021), đó là: “Con người là chủ thể, giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới”(22). Vì vậy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, một trong những yếu tố quan trọng quyết định tạo nên sự đột phá trong các lĩnh vực, ngành, nghề chính là con người và phát huy nhân tố con người một cách toàn diện về đức - trí - thể - mỹ. Mặc dù, thế giới là một chỉnh thể thống nhất về thể chế chính trị, nhưng trình độ phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc có sự khác nhau về nguồn lực con người. Hội nhập quốc tế sâu rộng đã, đang và sẽ đặt ra những yêu cầu ngày càng cao cho việc phát huy nhân tố con người để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của thực tiễn vận động, phát triển của xã hội. Máy móc dù có hiện đại cũng không thể thay thế được nguồn lực con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, hội nhập quốc tế sâu rộng sẽ phát huy mạnh mẽ hơn nữa nhân tố con người, Đảng ta khẳng định: “Phải có cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước; mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân”(23). 

Phát huy nhân tố con người là hoạt động tích cực, chủ động của các cơ quan, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương với các cơ chế, chính sách đúng đắn, phù hợp, hiệu quả ở các lĩnh vực, ngành, nghề khác nhau nhằm khơi dậy tiềm năng, thế mạnh của các tầng lớp nhân dân vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo đúng quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước để giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Theo đó, phát huy nhân tố con người hiện nay trong quá trình hội nhập quốc tế cần tập trung vào: 1- Phát huy ý chí, khát vọng vươn lên, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, làm giàu chính đáng của các tầng lớp nhân dân; ý chí, quyết tâm, không sợ khó khăn, gian khổ, quyết làm bằng được những chương trình, dự án, kế hoạch đã xác định theo đúng quy định của pháp luật. 2- Phát huy tiềm năng, thế mạnh, sở trường của mỗi người vào từng lĩnh vực, hoạt động cụ thể để xây dựng cơ quan, đơn vị, địa phương vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. 3- Phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong quá trình khai thác, sử dụng nhân tố con người để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường, thịnh vượng. 4- Phát huy tính năng động, sáng tạo, tinh thần “7 dám” của mỗi người, nhất là cán bộ, đảng viên, viên chức, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương trong thực hiện các nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước. 5- Phát huy tinh thần, trách nhiệm, ý thức công dân của mỗi tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp cách mạng chung do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là người làm chủ, tất cả vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. 

Những năm qua, phát huy nhân tố con người được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, chú trọng ban hành nhiều văn bản ở các lĩnh vực, hoạt động nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho con người sống, làm việc, cống hiến cho đất nước. Việc xây dựng, khai thác và phát huy nhân tố con người, vai trò, ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm của cá nhân được khẳng định; năng lực sáng tạo của con người được đề cao, qua đó đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước, đặc biệt là việc phát huy tính tích cực xã hội của người lao động trong kinh tế, qua đó thúc đẩy nền sản xuất phát triển mạnh mẽ, mang lại nhiều thành tựu quan trọng về nhiều mặt, “lấy lại niềm tin từng có lúc bị lung lay trong nhân dân và ngày càng củng cố được niềm tin đó, tạo nên sự phấn khởi cho mọi người và được thế giới khâm phục, đánh giá cao”(24).

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, cần nhìn nhận thẳng thắn rằng: Việc sử dụng con người, sử dụng nguồn nhân lực còn lãng phí, chưa hiệu quả, chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa sử dụng và đào tạo…; nhiều người trong độ tuổi lao động không tìm được việc làm, trong số đó có một lực lượng không nhỏ đã qua đào tạo; trong số lao động đã qua đào tạo làm việc không đúng ngành, nghề chuyên môn. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập, đến đời sống mà đó còn là sự lãng phí nguồn tài nguyên quý giá nhất trong mọi nguồn vốn chúng ta đang có để phát triển kinh tế; nhân tố con người chưa được đánh thức, khơi dậy một cách mạnh mẽ, quyết liệt; nhiều cơ chế, chính sách ở từng lĩnh vực, ngành, nghề cụ thể chưa được khai thông, gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Một số cá nhân còn làm ăn phi pháp, bất chấp pháp luật để lại hậu quả nghiêm trọng, gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, gây bức xúc trong xã hội. 

Trong thời gian tới, “tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; khó khăn, thách thức mới xuất hiện, gay gắt, nặng nề hơn so với dự báo, cũng như so với cùng kỳ của một số nhiệm kỳ gần đây… Ở trong nước, kinh tế - xã hội nước ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, rất gay gắt, nặng nề, hầu hết các ngành, các lĩnh vực đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng; vừa phải tập trung giải quyết những vấn đề mới phát sinh, vừa phải giải quyết những yếu kém, tồn đọng kéo dài từ nhiều năm trước để lại; các thế lực xấu, thù địch, phản động tiếp tục lợi dụng tình hình này để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta”(25). Một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc”(26). Vì vậy, để phát huy nhân tố con người phục vụ hữu ích cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần thực hiện một số nội dung, biện pháp chủ yếu sau đây: 

Một là, quán triệt và thực hiện nghiêm túc những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát huy nhân tố con người. Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương nắm chắc, hiểu rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người; từ đó, vận dụng linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả vào từng lĩnh vực, hoạt động cụ thể để khơi dậy tinh thần làm việc trách nhiệm, tận tâm, tận tình của con người. Nhìn nhận, đánh giá đúng con người để bố trí, sắp xếp, bổ nhiệm vào các vị trí công tác và có những cơ chế, chính sách biểu dương, khen thưởng, động viên, bãi nhiệm, xử lý kịp thời. Luôn tôn trọng, lắng nghe ý kiến của tập thể đóng góp vào việc xây dựng cơ quan, đơn vị, địa phương vững mạnh, toàn diện. 

Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Với tinh thần này, cần nâng cao trình độ dân trí của người dân, đặc biệt ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; nội dung giáo dục phù hợp với truyền thống hiếu học của dân tộc, đạo đức chuẩn mực xã hội, vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chú trọng giáo dục, đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, phù hợp với tính chất, yêu cầu, nhiệm vụ của hội nhập quốc tế. Những con người được giáo dục, đào tạo, có tình yêu quê hương, đất nước, có tinh thần dân tộc, vì sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước.
Ba là, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở từng ngành, lĩnh vực cụ thể. Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương ở từng ngành, lĩnh vực cụ thể cần những người có năng lực, chuyên môn cao để giải quyết nhiệm vụ thường xuyên, đột xuất xảy ra trong thực tiễn. Xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ phù hợp với nguồn nhân lực chất lượng cao; mở rộng, tăng cường hợp tác với nước ngoài trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; tuyển dụng, sắp xếp, bổ nhiệm nguồn nhân lực chất lượng cao đúng với trình độ, chuyên môn được đào tạo; tôn trọng, lắng nghe tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, xây dựng môi trường văn hóa giàu giá trị nhân văn để mỗi người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phát huy kiến thức, sở trường đã được học vào thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. 

Bốn là, khơi dậy hệ giá trị văn hóa con người Việt Nam để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương cần tiếp tục động viên các tầng lớp nhân dân giữ gìn và phát huy hệ giá trị văn hóa con người Việt Nam. Mỗi lĩnh vực, ngành, nghề khác nhau, cuộc sống khác nhau, song phải lấy mẫu số chung để thực hiện, đó là kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng, chấp hành nghiêm Hiến pháp, pháp luật, luôn “lấy dân làm gốc”, mọi quyết sách phải hướng đến sự phát triển ổn định, bền vững, tạo được sự đồng thuận, thống nhất trong toàn xã hội, xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. 

Năm là, kiên quyết xử lý theo đúng quy định của pháp luật đối với những người đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra các cấp đối với việc thực hiện các chương trình, đề án, công tác cán bộ ở các cơ quan, đơn vị, địa phương; định kỳ, đột xuất kiểm tra đối với khu vực công và khu vực tư ở lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, như: bất động sản, đấu thầu trong mua sắm trang thiết bị, xây dựng các dự án,... Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ cương, phép nước; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhân tố con người để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị./.
----------------------------
(1) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, t.4, tr. 628
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 6, tr. 130
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 277 
(4), (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 124, 502
(5), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 518, 518
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 616
(7), (9), (14), (15), (19), (20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr.175, 64, 64, 258 - 259, 241, 241
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 413 
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 99
(12), (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 501, 292 
(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 345 - 346
(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 220
(21), (26) Văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 215 - 216, 231
(22), (24) Nguyễn Phú Trọng: Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr. 37
(23) Nguyễn Trọng Chuẩn: “Nhân tố con người và văn hóa trong sự phát triển bền vững của đất nước”, Tạp chí Cộng sản, số 885 (tháng 7-2016), tr. 40
(25) Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng giữa nhiệm kỳ khoá XIII, https://chinhphu.vn, ngày 17-5-2023. 
Yêu nước ST.