Thứ Tư, 5 tháng 2, 2025

95 năm có Đảng dẫn đường: Phát triển văn hóa hài hòa, ngang tầm với phát triển kinh tế

 

95 năm lãnh đạo cách mạng, một trong những dấu ấn nổi bật là Đảng ta luôn chú trọng phát triển văn hóa hài hòa, ngang tầm với phát triển kinh tế.

Con đường của những người mở đường mới mẻ trong lịch sử

10 năm sau Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975 - 1985), trước tình trạng nền kinh tế lạc hậu và chậm phát triển, Đảng ta đã thể hiện vai trò lãnh đạo của mình bằng sự phát triển và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam.

Đó là nhận thức về đổi mới tư duy kinh tế, là sự từ bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa một cách sáng suốt. Vai trò lãnh đạo của Đảng trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được thể hiện xuyên suốt qua các kỳ đại hội của Đảng.

Tư duy về kinh tế của Đảng được đổi mới bắt đầu từ khi chấp nhận phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước ở Đại hội VI và qua các kỳ đại hội Đảng tiếp theo được liên tục đổi mới. Khái niệm nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4-2001). Đây là kết quả của quá trình 15 năm đổi mới tư duy của Đảng và thực tiễn vận hành ở Việt Nam, được đúc kết trên cơ sở đánh giá và rút ra các bài học qua Đại hội VII và Đại hội VIII của Đảng.

Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) xác định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”[1].

Đồng chí U-ê-đa Côi-chi-rô, Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Nhật Bản, trong bài phát biểu chào mừng Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Đường lối đổi mới, trong đó kết hợp kinh tế thị trường với kế hoạch, tiến lên chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở công nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, là con đường của những người mở đường mới mẻ trong lịch sử,… “mà”… chưa một ai đi qua”[2].

Bắt đầu từ đây, đổi mới tư duy về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được đẩy mạnh hơn, ngày càng toàn diện hơn. Đại hội XI (tháng 4-2011) của Đảng làm rõ nội hàm, mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là một hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”[3].

Đại hội XII (tháng 1-2016) của Đảng làm rõ hơn khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa về cả nội hàm, mục tiêu và cách thức thực hiện: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của nền kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[4].

Tiếp theo đó, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 3-6-2017 Về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó chỉ rõ “Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển nhanh và bền vững” [5] và Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3-6-2017 Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó khẳng định kinh tế tư nhân là động lực phát triển nền kinh tế.

Những năm trước đổi mới (trước 1986), tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hầu như không đáng kể, có năm kinh tế tăng trưởng âm. Những năm đầu đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế có sự tăng khá, lúc đầu khoảng 2%, sau đó lên 4,5% và đạt 6% vào năm 1991. Đặc biệt, vào năm 1995, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế lên đến 9,5% và năm 1996 ở mức 9,34%. Năm 1999, tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ là 4,77%, đến 2009 là 5,32%; 10 năm sau, vào năm 2019 là 7,02%.

Tính đến hết năm 2024, Việt Nam tiếp tục là điểm sáng về tăng trưởng và thuộc nhóm nước tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới. Tăng trưởng GDP cả năm ước đạt khoảng 7%; quy mô kinh tế đạt khoảng 470 tỷ USD; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực; tỷ trọng khu vực nông nghiệp còn khoảng 11%. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện; tăng năng suất lao động ước đạt 5,7%, vượt mục tiêu đề ra; chỉ số tự do kinh tế tăng 13 bậc, lên vị trí 59/176 quốc gia, vùng lãnh thổ [6]

Đặc biệt, Việt Nam được đánh giá cao về kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh thế giới biến động mạnh, nhiều khó khăn. Các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ghi nhận kỷ lục, cùng với kỷ lục xuất khẩu nông sản trên 62 tỷ USD; thặng dư thương mại ước đạt khoảng 24 tỷ USD, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Nhờ nền kinh tế phục hồi tích cực và tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý thuế, tổng thu ngân sách nhà nước vượt hơn 19% dự toán (khoảng 320.000 tỷ đồng), góp phần bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển; nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia và bội chi ngân sách nhà nước thấp hơn giới hạn quy định [7]

Việt Nam tiếp tục là điểm đến an toàn, hấp dẫn của các doanh nghiệp, đối tác, nhà đầu tư quốc tế; thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất thế giới, đạt khoảng 40 tỷ USD, trong đó vốn FDI thực hiện khoảng 25 tỷ USD; là một trong 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới, trở thành một mắt xích quan trọng trong các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ sang nền kinh tế số, kinh tế xanh, công nghệ cao, thân thiện với môi trường; đặc biệt đã xác lập được vị thế quan trọng trong chuỗi công nghiệp bán dẫn toàn cầu, thu hút được nhiều tập đoàn công nghệ lớn. Giá trị thương hiệu quốc gia năm 2024 đạt 507 tỷ USD, xếp thứ 32/193 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 1 bậc so với năm 2023. Đây là những thành quả và minh chứng cho sự đúng đắn đổi mới tư duy kinh tế và vai trò lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới nền kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Cùng với tập trung xây dựng và phát triển kinh tế, Đảng ta không ngừng đổi mới tư duy lý luận và đường lối văn hóa, với việc xác định xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Về vấn đề này, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII đã chỉ rõ đặc điểm của nền văn hóa mà đất nước ta đang xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc [8]. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng.

Tiếp đó, nhân kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 / 19-5-2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, trong đó nhấn mạnh: “Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao... Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới” [9].

Nhìn chung, sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được Đảng ta rất quan tâm.

Việc lãnh đạo và thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế có bước chuyển quan trọng, đã gắn nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm vụ xây dựng, phát triển bền vững đất nước, gắn xây dựng môi trường văn hóa với xây dựng con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, về tính chủ động, sáng tạo và khát vọng vươn lên. Hệ thống thể chế và thiết chế văn hóa từng bước được tăng cường.

Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa của dân tộc được kế thừa, bảo tồn và tôn tạo. Xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng mở rộng. Đời sống văn hóa của nhân dân được cải thiện, việc xây dựng môi trường văn hóa được chú trọng hơn. Công tác quản lý Nhà nước về văn hóa được tăng cường. Giao lưu hợp tác quốc tế về văn hóa có nhiều khởi sắc. Đặc biệt, công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa tiếp tục đạt thành tựu mới. 

Các sự kiện văn hóa, nghệ thuật cấp quốc gia, cấp vùng tiếp tục được tổ chức gắn kết chặt chẽ với các nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa cơ sở. Đặc biệt, công nghiệp văn hóa từ sau Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất do Thủ tướng Chính phủ chủ trì vào tháng 12-2023 đã có những dấu ấn đột phá với các chương trình có tầm vóc, sức thu hút và hiệu ứng xã hội lớn. Trong lĩnh vực điện ảnh và nghệ thuật biểu diễn, đã có nhiều sản phẩm công nghiệp văn hóa đặc sắc.

Với những thành tựu đã đạt được trong phát triển kinh tế và văn hóa, thời gian tới, khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, bài học về phát triển văn hóa hài hòa, ngang tầm với phát triển kinh tế cần tiếp tục được vận dụng, phát huy, để Việt Nam không chỉ là quốc gia giàu mạnh về kinh tế, mà còn có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nhân dân Việt Nam có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc!

 

 

Những sáng tạo trong chuẩn bị và tiến hành Hội nghị thành lập Đảng của Nguyễn Ái Quốc – ý nghĩa đối với đại hội đảng các cấp trong Quân đội

 

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (ngày 03/02/1930) là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Sự ra đời của Đảng ghi dấu công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với sự sáng tạo trong chuẩn bị và hợp nhất các tổ chức cộng sản. Đây là những bài học quý để tổ chức đảng các cấp nói chung, trong Quân đội nói riêng kế thừa, vận dụng vào chuẩn bị và tiến hành đại hội đảng các cấp thành công tốt đẹp.

Vào cuối năm 1929, với việc chuẩn bị tích cực về tư tưởng, chính trị và tổ chức của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng sự, cách mạng Việt Nam có sự phát triển vượt bậc. Chỉ trong một thời gian ngắn, ba tổ chức cộng sản được thành lập: Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (8/1929) và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (01/1930). Sự ra đời của các tổ chức cộng sản đã thổi một luồng gió mới vào phong trào cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, với tính chất tổ chức tương đối độc lập, hoạt động của các tổ chức cộng sản còn mang tính riêng rẽ cao, nên không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức; cá biệt, có thời điểm còn xảy ra hiện tượng tranh giành đảng viên, quần chúng, thậm chí công kích, chỉ trích lẫn nhau, v.v. Điều này hoàn toàn trái ngược với nguyên tắc xây dựng chính đảng của chủ nghĩa Mác – Lênin, nếu để kéo dài sẽ làm suy yếu phong trào cách mạng không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn cõi Đông Dương. Nhận rõ việc hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất là yêu cầu cấp thiết và căn cứ vào tình hình thực tiễn, ngày 27/10/1929, Quốc tế Cộng sản gửi thư cho những người cộng sản ở Đông Dương, yêu cầu phải nhanh chóng hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập một đảng cộng sản duy nhất.

Trong bối cảnh đó, ngày 23/12/1929, Nguyễn Ái Quốc với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản đã từ Xiêm (Thái Lan) đến Trung Quốc trực tiếp lên kế hoạch triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Đông Dương. Trong điều kiện thời gian rất gấp, bọn mật thám ráo riết lùng sục, kẻ thù có thể tiến hành khủng bố bất cứ lúc nào nên việc chuẩn bị nội dung và tổ chức hội nghị hợp nhất các tổ chức đảng đặt ra nhiều vấn đề phải nghiên cứu, giải quyết. Trong đó, vấn đề quan trọng nhất là làm thế nào xóa bỏ những bất đồng, chia rẽ để đi tới thống nhất các tổ chức cộng sản; đặt tên đảng như thế nào cho đúng tính chất, tạo sự nhất trí cao trong các tổ chức, cũng như làm sao để hoàn thành các bản cương lĩnh, sách lược, điều lệ của Đảng, v.v. Song, với nhãn quan chính trị sắc sảo, tinh thần chủ động, sáng tạo trong chuẩn bị văn kiện của Hội nghị; lựa chọn thời gian, địa điểm tổ chức, nhất là việc chấp hành nghiêm nguyên tắc xây dựng đảng trong giải quyết, xử lý linh hoạt những mẫu thuẫn, bất đồng, tạo sự đồng thuận cao giữa các tổ chức,... Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp chủ trì, tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam - tổ chức đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam, đưa Đảng bước lên vũ đài chính trị lãnh đạo dân tộc Việt Nam.

Có thể khẳng định, sự kiện hợp nhất các tổ chức cộng sản không chỉ dừng lại là một Hội nghị, mà mang tầm vóc của một Đại hội thành lập Đảng, gắn liền với công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Những sáng tạo trong công tác chuẩn bị và tiến hành Hội nghị của Người được Đảng ta vận dụng nhuần nhuyễn trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức đại hội đảng các cấp qua các kỳ đại hội.

Hiện nay, đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội đang đến gần. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, khẳng định bản lĩnh chính trị, sự trưởng thành của Quân đội qua hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành; thể hiện quyết tâm chính trị cao trong thực hiện mục tiêu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Kết quả đại hội đảng các cấp trong Quân đội là tiền đề quan trọng bảo đảm cho thành công của Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Để đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội đạt mục đích, yêu cầu và thành công tốt đẹp, cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp; trong đó, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo những bài học quý trong chuẩn bị và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức đảng (năm 1930) có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

Thứ nhất, tập trung quán triệt, giáo dục nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, chỉ huy, cán bộ, đảng viên và quần chúng đối với đại hội đảng các cấp

Trong Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng với sự tin tưởng tuyệt đối vào lòng yêu nước của những người cách mạng và để giải quyết những bất đồng giữa các tổ chức đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tập trung phân tích thấu đáo, làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng lúc bấy giờ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ cốt lõi là “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” và “đánh đổ đế quốc, phong kiến giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày”. Người đã lấy lợi ích của giai cấp, của dân tộc làm điểm tương đồng để hóa giải những xung đột, chuyển hóa nhận thức tích cực của các chiến sĩ cách mạng tiên phong dự Hội nghị, tạo sự thống nhất cao về việc hợp nhất để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ bài học kinh nghiệm quý trên, vận dụng vào thực tiễn công tác chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng các cấp trong Quân đội, cần tập trung trí tuệ, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, cán bộ, đảng viên trong chuẩn bị và tiến hành đại hội đảng ở cơ quan, đơn vị mình. Trọng tâm là quán triệt, thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, hướng dẫn của Trung ương, kế hoạch của cấp ủy cấp trên về đại hội đảng, nhất là Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 14/6/2024 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, tiến tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng; Chỉ thị số 2960-CT/QUTW ngày 18/7/2024 của Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương về đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, v.v. Làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng và những nội dung cốt yếu cần đạt được khi tổ chức đại hội đảng các cấp trong Quân đội. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ đại hội đảng các cấp với hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, Quân đội, đơn vị, phong trào thi đua quyết thắng và các hoạt động hướng tới đại hội đảng các cấp, nhằm cổ vũ, động viên toàn quân nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, thi đua lập công dâng Đảng, góp phần vào thành công của đại hội.

Thứ hai, làm tốt công tác chuẩn bị văn kiện đại hội

Một trong những vấn đề quan trọng, bảo đảm cho thành công của Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng đó là việc chuẩn bị các văn kiện. Nguyễn Ái Quốc chỉ ra: “Muốn thu hút hết thảy những người, những nhóm người tình nguyện chiến đấu cho chủ nghĩa cộng sản vào một tổ chức cộng sản thống nhất thì bây giờ phải thành lập một Đảng Cộng sản mới, theo đúng đường lối, chủ trương của Quốc tế Cộng sản, có chính cương mới, điều lệ mới, sách lược mới”1. Do thời gian gấp, để bảo đảm kịp thời cho Hội nghị hợp nhất, Nguyễn Ái Quốc đã rất sáng tạo trong soạn thảo các văn kiện của Đảng. Người viết các văn kiện dưới dạng vắn tắt, nội dung được trình bày hết sức ngắn gọn, súc tích. Tại Hội nghị hợp nhất, Đảng đã thông qua các văn kiện do Người công phu chuẩn bị, gồm: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam; trong đó, Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Mặc dù là vắn tắt nhưng các văn kiện đã phản ánh được những nội dung cơ bản của cách mạng Việt Nam; xác định rõ mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, lực lượng của cách mạng, vai trò của Đảng; là cơ sở xây dựng đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.

Kế thừa, vận dụng bài học vô giá đó, đòi hỏi công tác chuẩn bị văn kiện đại hội hiện nay phải hết sức chu đáo, cụ thể. Các văn kiện trình đại hội đảng các cấp phải đánh giá trung thực, khách quan, toàn diện tình hình và kết quả thực hiện nghị quyết đại hội nhiệm kỳ qua, nhất là nhiệm vụ trọng tâm, đột phá và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; chỉ rõ ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Đồng thời, nghiên cứu, đánh giá, dự báo tình hình, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ tới có tính khả thi, khoa học, thực tiễn, bảo đảm bám sát các nghị quyết, chiến lược về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Quá trình dự thảo các văn kiện, cần nắm vững sự chỉ đạo của cấp trên, bám sát nghị quyết đại hội nhiệm kỳ cấp mình, tình hình thực tế của đơn vị; đồng thời, lấy ý kiến tham gia của cấp ủy cấp dưới và các tổ chức quần chúng một cách thiết thực.

Thứ ba, làm tốt công tác chuẩn bị nhân sự  

Một trong những sáng tạo nổi bật của Nguyễn Ái Quốc đối với sự kiện hợp nhất các tổ chức cộng sản (năm 1930) là việc quy tụ, tập hợp những người giác ngộ lý tưởng cộng sản vào hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, phải trải qua quá trình “thanh lọc” để lựa chọn những phần tử thực sự ưu tú trong các nhóm cộng sản vào Đảng: “Đảng Cộng sản Đông Dương phải được thành lập bằng cách tập hợp tất cả những phần tử thật sự là cộng sản của tất cả các nhóm cộng sản”2. Với sự nhạy bén chính trị, hiểu và nắm chắc tình hình đất nước, cũng như để giải quyết vấn đề nhân sự, Nguyễn Ái Quốc đã đề xuất với Hội nghị chuyển toàn bộ lực lượng của các tổ chức cộng sản vào Đảng Cộng sản Việt Nam; trong đó, Người chủ trương lựa chọn ra những cán bộ ưu tú, kiên trung nhất đứng vào hàng ngũ Ban Chấp hành Trung ương - cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng để lãnh đạo phong trào cách mạng nước nhà. Cách làm của Người thể hiện tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm; bảo đảm nhanh gọn nhưng vẫn giữ được khối đoàn kết, sức mạnh trong Đảng, phù hợp thực tiễn đòi hỏi cách mạng Việt Nam.

Để thực hiện tốt công tác nhân sự cho đại hội đảng các cấp trong Quân đội, đòi hỏi các tổ chức đảng phải thực hiện đúng điều lệ, nguyên tắc, quy chế, quy định của Đảng và cấp ủy cấp trên về công tác cán bộ. Trong đó, cần tập trung quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; tiêu chuẩn cán bộ nêu tại Quy định số 89-QĐ/TW ngày 04/8/2017, Quy định số 214-QĐ/TW ngày 02/01/2020 của Bộ Chính trị khóa XII, v.v. Phát huy dân chủ, trí tuệ của tập thể cấp ủy và cán bộ, đảng viên; thực hiện công tâm, khách quan trong lựa chọn, giới thiệu nhân sự; chống tư tưởng cá nhân, cục bộ, thiếu tính xây dựng hoặc nể nang, né tránh, ngại va chạm. Việc chuẩn bị nhân sự cấp ủy, phải trên cơ sở quy hoạch cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quản lý của đơn vị đã được cấp trên xác nhận; đồng thời, phát hiện những nhân tố mới, có đức, có tài, có triển vọng phát triển, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, hướng dẫn của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và bảo vệ an toàn đại hội đảng các cấp trong Quân đội. Chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện tốt kế hoạch công tác bảo vệ chính trị nội bộ và bảo vệ an toàn đại hội đảng các cấp theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Có kế hoạch phối hợp với địa phương và các lực lượng, bảo vệ an toàn tuyệt đối nơi diễn ra đại hội đảng các cấp. Nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy các cấp biện pháp phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, bảo vệ đại hội đảng. Đó cũng là sự kế thừa sáng tạo trong lựa chọn địa điểm, thời gian tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng Cộng sản của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc3, nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho các đại biểu dự Hội nghị.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Trải qua 95 năm chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam, Đảng luôn trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới, khẳng định được trí tuệ, năng lực, bản lĩnh, phương thức lãnh đạo, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; một hành trang to lớn, vững chắc về cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế trong sự nghiệp đổi mới, vững vàng đưa đất nước bước sang một kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên phát triển mạnh mẽ, vươn mình, vươn tầm của dân tộc Việt Nam.

Những sáng tạo trong chuẩn bị và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi là bài học quý để Đảng ta, trực tiếp là cấp ủy các cấp nghiên cứu, vận dụng, tổ chức thành công đại hội đảng các cấp, hướng tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng./.

 

 

Những đóng góp lý luận đặc sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tư duy chính trị thế giới

 Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản từ năm 1930 đến nay, cách mạng Việt Nam đã giành được những thành tựu vĩ đại có ý nghĩa lịch sử to lớn. Tiền đề của những thành tựu đó là tư duy lý luận của lãnh tụ Hồ Chí Minh và chính đảng tiền phong, được xây dựng, bổ sung, phát triển kịp thời, sáng tạo và được thực tiễn cách mạng kiểm nghiệm là đúng đắn.

Lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng ta đã có đóng góp đặc sắc vào tư duy chính trị thế giới nói chung và lý luận cộng sản nói riêng trên nhiều vấn đề cơ bản, xuyên suốt hai thế kỷ 20 và 21.

Một là, đã bổ sung, phát triển nhận thức về vấn đề thuộc địa trong bối cảnh mới của thời đại; luận chứng con đường đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng thuộc địa, mở đầu dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc và quá trình tan rã của hệ thống thuộc địa trên phạm vi toàn thế giới. Bước vào thế kỷ 20, thế giới phải giải quyết nhiều bức bách của nhân loại, trong đó vấn đề thuộc địa nổi lên với quy mô bao trùm nhất. Đến năm 1914, hơn 2/3 diện tích địa cầu và gần 2/3 dân số thế giới nằm trong hệ thống thuộc địa do một nhóm nhỏ các “mẫu quốc” thực dân cai trị[1].

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã tiếp cận vấn đề thuộc địa một cách hết sức thực tiễn, không nhìn nhận giản đơn vấn đề thuộc địa chỉ là vấn đề nông dân; cũng không máy móc nhận thức vấn đề thuộc địa hoàn toàn là vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp. Theo Hồ Chí Minh, thực chất của vấn đề thuộc địa là vấn đề dân tộc thuộc địa, là đấu tranh xóa bỏ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, là cách mạng giải phóng dân tộc. Cách mạng thuộc địa không chỉ trông chờ vào kết quả của cách mạng vô sản ở chính quốc, hơn nữa cần phải chủ động và có thể giành thắng lợi trước và bằng thắng lợi của mình sẽ góp phần vào sự nghiệp cách mạng ở chính quốc[2]. Đây chính là đóng góp lý luận đầu tiên ghi tên Hồ Chí Minh - Việt Nam vào di sản lý luận Mác-Lênin trong thời đại ngày nay.

Trong tác phẩm Đường Cách mệnh xuất bản đầu năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã sớm phân biệt ba loại hình cách mạng: “tư bản cách mệnh, dân tộc cách mệnh, giai cấp cách mệnh”[3]. Với Người, yêu cầu bức thiết nhất của xã hội thuộc địa chưa phải là đấu tranh giai cấp như trong các xã hội tư bản chủ nghĩa phương Tây, mà là lật đổ chế độ thực dân, giành độc lập dân tộc. Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu ra một con đường vừa mang ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga vừa báo hiệu một sáng tạo lớn, bám sát đặc thù Việt Nam: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[4]. Tư sản dân quyền cách mạng là giai đoạn chiến lược hoàn thành nhiệm vụ lật đổ chế độ thực dân, giành chính quyền. Thổ địa cách mạng không nằm trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, mà là một giai đoạn chiến lược với nhiệm vụ chủ yếu là cách mạng ruộng đất. Đi tới xã hội cộng sản là giai đoạn phát triển kế tiếp để từng bước đạt mục tiêu cuối cùng. Con đường cách mạng để giải quyết vấn đề thuộc địa ở Việt Nam đã được người sáng lập Đảng và Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức như vậy! Con đường không có trong khuôn mẫu kinh điển, không có tiền lệ trong lịch sử.

Từ Việt Nam, ngọn đuốc giải phóng đã sang khắp Á, Phi, Mỹ Latin, tạo thành một làn sóng cách mạng của thời đại. Hệ thống thuộc địa mà các thế lực thực dân dựng lên trong suốt 5 thế kỷ từ năm 1492 đã sụp đổ hoàn toàn vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20. Hơn 100 quốc gia độc lập có chủ quyền đã ra đời, tự quyết định con đường phát triển, không lệ thuộc vào thực dân đế quốc, làm thay đổi bản đồ chính trị thế giới.

Hai là, đã xây dựng, phát triển lý luận chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện và lãnh đạo thực hiện thắng lợi cuộc chiến tranh ấy trước những thế lực thực dân, đế quốc đầu sỏ trên thế giới. Cách mạng Việt Nam từng phải đương đầu với những thế lực thực dân, đế quốc hàng đầu: Thực dân Pháp, phát-xít Nhật Bản và đế quốc Mỹ. Tương quan lực lượng trên hầu hết các phương diện (vật chất-kỹ thuật, trang bị, vũ khí chiến tranh, quân số, khả năng cơ động…) đều nghiêng về phía kẻ xâm lược.

Trong những hoàn cảnh rất bất lợi đó, quân và dân Việt Nam đã phát huy trí tuệ đánh giặc giữ nước của nghìn năm lịch sử và kết hợp với khoa học, nghệ thuật chiến tranh hiện đại, sáng tạo nên lý luận chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện. Tất cả các nguồn lực vật chất và tinh thần; mọi lực lượng dân sự và vũ trang vừa sản xuất vừa chiến đấu; nhân dân từ trẻ đến già, mọi dân tộc, tầng lớp, vùng miền đều “tay súng, tay cày”; sức mạnh quốc gia và quốc tế được huy động phục vụ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, tạo ra sức mạnh tổng hợp Việt Nam, lớn hơn sức mạnh của quân xâm lược trên chiến trường. Sức mạnh to lớn này được sử dụng trong thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp có hiệu quả kinh tế với quốc phòng; kinh tế, quốc phòng với đối ngoại… đã tạo ra thế và lực cho Việt Nam tiến chắc, đánh chắc, giành thắng lợi từng phần, tiến tới thắng lợi hoàn toàn như lịch sử đã chứng minh. Sáng tạo quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh đã được diễn đạt thông qua công thức biểu trưng, mà mới nghe, tưởng như nằm ngoài các quy luật thép của mọi cuộc chiến tranh: Lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh.

Ba là, đã vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học trong xây dựng và đổi mới chủ nghĩa xã hội, góp phần tăng cường sức sống cho chủ nghĩa Mác-Lênin trong bối cảnh mới của thời đại. Các quá trình cải tổ, cải cách ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, tuy được tiến hành gần như cùng thời gian với đổi mới ở Việt Nam nhưng không thành công, càng triển khai thì chủ nghĩa xã hội càng suy yếu để cuối cùng sụp đổ, tan rã một cách xót xa. Trái lại, ở Việt Nam, chủ nghĩa xã hội thông qua đổi mới, cải cách, cập nhật hóa đã tìm được những “mảnh đất hiện thực” sinh động để khẳng định sức sống và phát triển. Bí quyết làm nên sự khác nhau này chính là đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản

Việt Nam khởi xướng và liên tục bổ sung, phát triển đúng đắn, phù hợp. Toàn bộ những kết quả quan trọng này tạo thành lý luận về đường lối đổi mới, xứng đáng là đóng góp lý luận đặc sắc của Đảng và nhân dân

Việt Nam đối với lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học và tư duy chính trị thế giới ngày nay.

“Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”[5]; “Chủ nghĩa xã hội là no ấm và tự do cho toàn thể nhân dân”[6]; “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”[7]; “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”[8]… Nêu lại một số luận điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội mà Đảng Cộng sản Việt Nam đang kế thừa để thấy rõ lãnh tụ Việt Nam, ngay từ rất sớm, đã bản lĩnh vượt qua mọi khuôn mẫu, sáng tạo, nhận thức cái phổ biến trong cái đặc thù và thật sự đã có những đóng góp lý luận vượt thời gian để đồng hành cùng những người cộng sản trên thế giới hiện nay.

Hệ thống các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, tám phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội và các mối quan hệ lớn cần nhận thức và giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học phù hợp điều kiện cụ thể, trong đó vừa chứa đựng những nguyên lý bền vững của chủ nghĩa Mác-Lênin, vừa cập nhật những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (Millennium Development Goals-MDG) và những mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goals-SDG) mà Liên hợp quốc vạch ra như hướng đi cho nhân loại đến giữa thế kỷ 21.

Bốn là, đã nêu lên bài học kinh nghiệm về tập hợp, đoàn kết, liên minh lực lượng trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả của các dân tộc và toàn nhân loại hiện nay. Theo phát biểu của nhiều chính khách, nhà hoạt động chính trị-xã hội và học giả quốc tế, đây là đóng góp thiết thực từ thực tiễn cách mạng Việt Nam đối với cuộc đấu tranh của các lực lượng cách mạng, cánh tả, dân chủ, tiến bộ trên thế giới, tuy rất đông đảo và đầy nhiệt huyết nhưng chưa đoàn kết thành một thực thể sức mạnh tổng hợp đương đầu với các thế lực tư bản hiện nay[9].

Những người cộng sản Việt Nam đã thực hiện thành công di huấn của C. Mác và Ph. Ăngghen thiên tài “vô sản mỗi nước phải biết giành lấy dân tộc, biến thành dân tộc” trong quá trình lãnh đạo cách mạng vì mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; đồng thời, cũng đặc biệt thành công trong gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Đông đảo bạn bè quốc tế, trong đó có nhiều đại diện của phong trào cộng sản, phong trào cách mạng thế giới đã trở về với thực tiễn sinh động và những bài học kinh nghiệm đắt giá đã được đúc kết từ cách mạng Việt Nam. Đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, đó là cẩm nang thần kỳ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng tiền phong và nhân dân Việt Nam đã kết thành lá cờ mang tầm vóc thời đại: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”[10].

Cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay vừa được hưởng những tác động tích cực từ xu thế chung, thời cơ lớn, sự ủng hộ, giúp đỡ thiết thực…, vừa là đội tiên phong có nhiều đóng góp xứng đáng đối với sự nghiệp quốc tế, trong đó những đóng góp lý luận đặc sắc. Đây vừa là di sản quý báu và là sự bổ sung, phát triển lý luận cộng sản trong thời đại mới; đồng thời, cũng là một sự bổ sung, phát triển của tư duy chính trị hiện đại. Trong hành trình đi tới một xã hội tốt đẹp hơn, các lực lượng cộng sản, cánh tả, cách mạng và tiến bộ sẽ còn trở lại với những di sản lý luận Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

 

Công bố Quyết định sáp nhập Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và tổ chức lại thành Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật

 

Sáng 5/2, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng tổ chức Lễ công bố Quyết định sáp nhập Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và tổ chức lại thành Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì buổi lễ.

Dự buổi lễ có các đồng chí: Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Vũ Hải Sản, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng; đại biểu thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; đại biểu lãnh đạo các tổng cục, các cơ quan Bộ Quốc phòng.

Tại buổi lễ, ban tổ chức đã công bố Quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc sáp nhập Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và tổ chức lại thành Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật; công bố quyết định trao Quân kỳ Quyết thắng tặng Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật.

Trao Quân kỳ Quyết thắng và phát biểu giao nhiệm vụ cho Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Đại tướng Phan Văn Giang nêu rõ: Thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về điều chỉnh tổ chức, biên chế Quân đội giai đoạn 2025 - 2030 và những năm tiếp theo, Bộ Quốc phòng quyết định sáp nhập Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và tổ chức lại thành Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật.

Đây là sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện tư duy mới, tầm nhìn mới về điều chỉnh tổ chức lực lượng của ngành Hậu cần, Kỹ thuật trong suốt 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. 

Ôn lại truyền thống vẻ vang của hai tổng cục trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Bộ trưởng Phan Văn Giang khẳng định, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật rất vinh dự tiếp nối truyền thống gần 75 năm của Tổng cục Hậu cần và gần 51 năm của Tổng cục Kỹ thuật; xây đắp nên truyền thống "Chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường" và "Tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn, chủ động, sáng tạo, hết lòng phục vụ bộ đội" của hai Tổng cục. 

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, với những chiến công trong tổ chức bảo đảm cho các chiến dịch có quy mô lớn, ngành Hậu cần Quân đội đã bảo đảm một khối lượng lương thực, thực phẩm, vật chất hậu cần khổng lồ, góp phần quan trọng làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". 

Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, công tác hậu cần chiến lược nối liền hậu phương với tiền tuyến, làm tốt việc chi viện và hỗ trợ lẫn nhau. Hậu cần tại chỗ trên chiến trường miền Nam được tổ chức rất sáng tạo, hiệu quả, kết hợp linh hoạt nhiều phương thức, biện pháp bảo đảm hậu cần cho các đơn vị chiến đấu, ngay cả trong điều kiện bị địch bao vây, đánh phá ác liệt.

Đối với ngành Kỹ thuật, ngay từ những ngày đầu kháng chiến, đã nghiên cứu, sản xuất các loại súng bộ binh, đạn, súng cối, đạn pháo và phụ tùng vật tư kỹ thuật với số lượng lớn. Tiếp nhận vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại do các nước bạn giúp đỡ; vận chuyển hàng chục nghìn tấn vũ khí, trang bị và cử hàng trăm cán bộ, nhân viên tham gia các chiến dịch lớn, bảo đảm vũ khí trang bị, bảo đảm kỹ thuật kịp thời cho chiến trường miền Nam.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Tổng cục Kỹ thuật đã chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật, bảo đảm trang bị cho 5 cánh quân chủ lực, với khối lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật rất lớn, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước...

Trong công cuộc đổi mới, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật đã chủ động tham mưu ban hành các nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo công tác hậu cần, công tác kỹ thuật trong tình hình mới.

Phát động và triển khai thực hiện có hiệu quả Phong trào thi đua "Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy" và Cuộc vận động "Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông" trong toàn quân, bảo đảm ngành Hậu cần, Kỹ thuật luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ trưởng Phan Văn Giang yêu cầu Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn về vị trí, ý nghĩa của việc sáp nhập, tổ chức lại 2 tổng cục, về chức năng, yêu cầu nhiệm vụ, từ đó xác định quyết tâm, bứt phá mạnh mẽ, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị.

Tiếp tục làm tốt công tác tham mưu chiến lược với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho toàn quân, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, giữ vững và phát huy thành tích của ngành Hậu cần - Kỹ thuật thời gian qua.

Bộ trưởng Phan Văn Giang yêu cầu Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật nhanh chóng ổn định về tổ chức biên chế, phân công, giao nhiệm vụ cụ thể; kiện toàn tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, các tổ chức quần chúng, triển khai các hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ; xây dựng các tổ chức vững mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị quyết lãnh đạo của Quân ủy Trung ương về công tác hậu cần và công tác kỹ thuật, Chỉ lệnh công tác Hậu cần, Kỹ thuật năm 2025; các đề án, dự án chiến lược... không để việc sáp nhập làm gián đoạn, ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ các nhiệm vụ được giao.

Tăng cường phối hợp với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, công nghệ cao, bảo đảm cho quốc phòng, an ninh, trọng tâm là vũ khí chiến lược, nhằm tăng cường khả năng phòng thủ, bảo vệ đất nước.

Cấp ủy, chỉ huy các cấp làm tốt công tác tư tưởng, chính sách cho cán bộ, chiến sĩ, nhân viên, sẵn sàng nhận và chấp hành nghiêm sự phân công, điều động của tổ chức. Chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, kịp thời tham mưu, đề xuất với Thường vụ Quân ủy Trung ương, thủ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết tốt công tác chính sách, hậu phương cho cán bộ, nhân viên, chiến sĩ.

Nhanh chóng xây dựng, ban hành các quy chế, quy định trên từng mặt công tác; kịp thời, bổ sung, hoàn thiện các phương án tác chiến, duy trì nghiêm nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, chế độ, quy định của đơn vị, sẵn sàng chiến đấu cao. Thực hiện tốt công tác hậu cần, kỹ thuật, quản lý chặt chẽ các trang thiết bị, vật chất, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả.

Khẩn trương làm tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thành công đại hội đảng các cấp theo Chỉ thị của Thường vụ Quân ủy Trung ương. Tập trung xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp thật sự trong sạch, vững mạnh, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và lâu dài; xây dựng và giữ vững ổn định cơ quan, đơn vị, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.

Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, trong điều kiện mới được sáp nhập, tổ chức lại, vừa thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất theo chức năng, nhiệm vụ, vừa phải kiện toàn tổ chức, lực lượng, đòi hỏi Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật phải đoàn kết thống nhất, với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động phải quyết liệt, mới hoàn thành và đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tin tưởng, với khí thế mới, quyết tâm mới, tổ chức mới, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật sẽ hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cán bộ, chiến sĩ toàn quân.

Phát biểu tại buổi lễ, Trung tướng Trần Minh Đức, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật trân trọng cảm ơn sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Thường vụ Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng; sự phối hợp có hiệu quả của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân để Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kỹ thuật trước đây hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Đồng thời, bày tỏ quyết tâm phát huy thành tích xây dựng, chiến đấu và trưởng thành trong những năm qua, giữ vững và tô thắm truyền thống vẻ vang của hai tổng cục trước đây; đoàn kết, nỗ lực phấn đấu để xây dựng Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật xứng đáng là cơ quan tham mưu chiến lược của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

 

 

 

Những thành tựu lý luận nổi bật của Đảng trong gần 40 năm đổi mới đất nước

 

Nhìn lại chặng đường gần 40 năm đổi mới, chúng ta có quyền tự hào về những thành tựu đất nước đã đạt được, nhất là về phát triển lý luận. Trong những thành tựu lý luận ấy, nổi bật hơn cả là lý luận về Đảng Cộng sản Việt Nam, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thành tựu lý luận về Đảng Cộng sản Việt Nam

Đây là vấn đề nổi bật, được thể hiện rõ trên ba vấn đề cốt yếu là: lý luận về bản chất của Đảng; về nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và về Đảng lãnh đạo, cầm quyền.

Trung thành và phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất của Đảng Cộng sản, trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, nhất là trong bối cảnh đổi mới đất nước, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhận thức về bản chất của Đảng được thể hiện rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”1. Điều đó không chỉ khẳng định rõ hơn về nhận thức, mà còn xác định trách nhiệm cao hơn của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị, nhưng là hạt nhân lãnh đạo hệ thống đó và toàn xã hội. Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng không phải là sự tự nhận, mà Đảng phải từ trong xã hội mà ra, được dân lập nên. Vì vậy, cơ sở xã hội của Đảng không chỉ là giai cấp công nhân, mà còn là nhân dân lao động và toàn dân tộc. Bản chất của Đảng, trong đó nổi rõ bản chất giai cấp công nhân và tính dân tộc sâu sắc là phù hợp với quy luật ra đời, phát triển của Đảng, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đảng không có mục đích tự thân, mà vì giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc.

Đảng ta khẳng định, nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình là chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã lấy chủ nghĩa Mác – Lênin “làm cốt”, làm cơ sở lý luận chính trị, vận dụng và phát triển sáng tạo vào điều kiện cụ thể của từng giai đoạn, từng thời kỳ. Bởi, đây là khoa học về những quy luật chung nhất sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, mang tính cách mạng nhất. Theo đó, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn kiên định, vận dụng sáng tạo và không ngừng đổi mới tư duy lý luận trên cơ sở nắm vững bản chất khoa học, cách mạng, phương pháp luận, nguyên lý cơ bản, những giá trị, ý nghĩa to lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Vì thế, trong gần 40 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng tiếp tục khẳng định điều đó, kể cả khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới lâm vào thoái trào tạm thời ở cuối thế kỷ XX và sự xuyên tạc, phủ nhận, đả kích quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị với những luận điệu, như: chủ nghĩa Mác – Lênin là lý luận sai lầm, đã lỗi thời, hoặc cáo chung, v.v.

Cùng với kiên định lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng ta nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh trong thành tố nền tảng tư tưởng, lý luận của mình để từ đó đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đây là một trong những điểm nổi bật nhất về nhận thức lý luận của Đảng trong gần 40 năm đổi mới. Qua các kỳ Đại hội, Đảng ta luôn có bước phát triển trong nhận thức về tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước. Đại hội lần thứ IX (năm 2001), Đảng nêu ra khái niệm đầy đủ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của n­ước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại…”2. Đại hội lần thứ X (năm 2006), Đảng ta đánh giá: “… tư tưởng vĩ đại của Người cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam; là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta. Tư tưởng đó đã dẫn dắt chúng ta trên mỗi chặng đường xây dựng và phát triển đất nước; là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam,… hôm nay và mai sau”3. Tiếp nối các đại hội sau, Đảng ta luôn khẳng định tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là nhân tố không thể thiếu trong tư tưởng và hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với thực hiện các nghị quyết của Đảng, coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Về Đảng cầm quyền, tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự lãnh đạo của Đảng, trong gần 40 năm qua, Đảng ta đã có những bước phát triển mới trong nhận thức lý luận về vấn đề hệ trọng này. (1). Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó Đảng là hạt nhân; Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội được thể hiện một cách toàn diện. (2). Đảng xác định rõ trách nhiệm của Đảng cầm quyền đối với nhân dân, đánh giá cao vai trò của nhân dân. Đảng cầm quyền là Đảng được nhân dân giao quyền, giao trách nhiệm lãnh đạo toàn xã hội để bảo đảm quyền lợi chính đáng cho dân, cho Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. (3). Yêu cầu chung cho tất cả các thời kỳ hoạt động của Đảng, kể cả trước khi giành chính quyền và sau khi đã giành chính quyền là đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn luôn trong sạch, vững mạnh. Trong tư cách của một Đảng Cộng sản cầm quyền, Đảng ta ngày càng nhấn mạnh tới việc rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trong gần 40 năm đổi mới, Đảng đã xây dựng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011). Tiến hành tổng kết sự lãnh đạo của Đảng, chỉ ra những thành công, khuyết điểm, hạn chế và nêu ra những bài học lớn. Đồng thời, chỉ ra xu thế phát triển của thế giới, đặc điểm trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; nêu rõ các đặc trưng của xã hội - xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam xây dựng: “... là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”4. Đảng nêu rõ phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội và xác định mục tiêu tổng quát cách mạng Việt Nam khi kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là: xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Trên cơ sở tổng hợp kết quả từ lý luận và thực tiễn trong nước, tình hình và kinh nghiệm quốc tế, Đảng ta bổ sung, phát triển một số vấn đề lý luận - thực tiễn với những tư duy mới về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, là: (1). Mô hình phát triển tổng quát của nền kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. (2). Có sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. (3). Chú trọng phát huy nhân tố con người, lấy nhân dân làm trung tâm. (4). Coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển. (5). Bản chất của nhà nước mới ở Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. (6). Đổi mới phương thức quản lý của Nhà nước theo hướng hoàn thiện thể chế, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, hoàn thiện tổ chức của Nhà nước, mọi quyền lực tối cao đều thuộc về nhân dân, có sự thống nhất quyền lực và phân công, phối hợp giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, coi trọng kiểm soát quyền lực Nhà nước; giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. (7). Khẳng định bản chất, tính cách mạng, tính tiên phong của Đảng, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; yêu cầu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng trong mọi hoàn cảnh. (8). Chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng được yêu cầu của cách mạng.

Cùng với đó, Đảng bổ sung, phát triển lý luận về bảo đảm quốc phòng, an ninh, coi đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, kết hợp chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt là bổ sung, phát triển lý luận, tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy trên cơ sở xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đồng thời, hoàn thiện và nhận thức sâu sắc hơn đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; coi lợi ích quốc gia, dân tộc là tối thượng trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Những thành tựu lý luận nổi bật của Đảng trong gần 40 năm đổi mới thể hiện sự kiên định, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đây tiếp tục là cơ sở khoa học, thực tiễn quan trọng để Đảng ta hoạch định đường lối, chủ trương lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

 

Tăng cường đoàn kết thống nhất, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh

 

Xây dựng và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, nền tảng cho mọi thành công. Đoàn kết thống nhất không chỉ là vấn đề sinh tử của từng tổ chức đảng, mà còn là sinh mệnh của toàn Đảng, vấn đề sống còn của cách mạng. Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, tăng cường đoàn kết thống nhất, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền để Đảng hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo đất nước mà Nhân dân tin tưởng giao phó càng trở lên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Là người sáng lập, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng. Và trong công tác quan trọng này, Người xác định: đoàn kết thống nhất trong Đảng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất. Đoàn kết thống nhất trong Đảng là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền mà không đoàn kết thống nhất thì sự nghiệp cách mạng của dân tộc không thể thắng lợi. Trong Di chúc, Người đã viết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”1. Như vậy có thể thấy, đoàn kết thống nhất trong Đảng không chỉ là mối quan tâm lớn hàng đầu của Người mà còn là sự trăn trở khi Người nghĩ về mai sau.

Người không chỉ nêu ra yêu cầu phải đoàn kết trong Đảng, mà còn chỉ rõ sự đoàn kết ấy phải là đoàn kết nhất trí, đoàn kết thống nhất một cách thực chất và phải thể hiện cả trong tư tưởng và hành động. Không thể bề ngoài là đoàn kết nhưng khi cần ra một quyết định, một quyết sách thì không có được sự thống nhất hay khi cần thì liên minh nhau, khi không cần thì tìm cách cản trở công việc của nhau. Trong tư tưởng của Người, đoàn kết phải là đoàn kết thống nhất, trước sau như một, tức là phải dựa trên nền tảng đường lối, quan điểm của Đảng và vì lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Việc giữ vững và thực hiện nghiêm minh các nguyên tắc của Đảng là trách nhiệm của mỗi đảng viên. Người coi nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản và quan trọng, trong từng tổ chức Đảng phải thực hành dân chủ, mở rộng dân chủ, “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”2, mọi ý kiến, suy nghĩ của mỗi đảng viên đều phải được bày tỏ, lắng nghe; mọi quyết định quan trọng của tổ chức đều phải được bàn bạc, thảo luận một cách dân chủ. Đoàn kết thống nhất trong Đảng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải thật thà tự phê bình và phê bình, đây chính là một hình thức rèn luyện đảng viên để xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Bởi theo Người: “Chỉ có đảng chân chính cách mạng và chính quyền thật dân chủ mới dám mạnh dạn tự phê bình, hoan nghênh phê bình, và kiên quyết sửa chữa. Do tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên - mà chúng ta đoàn kết càng chặt chẽ”3. Đây cũng là quy luật phát triển của Đảng Cộng sản nói chung, theo tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Để có đoàn kết thật sự, không chỉ đòi hỏi phải thực hiện đúng nguyên tắc sinh hoạt đảng mà còn rất cần tình thương yêu, sự đồng cảm và chia sẻ với nhau. Trong thực hành không chỉ là đặt ra yêu cầu hoàn thành công việc mà còn phải có sự cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy, để duy trì và bồi đắp đoàn kết thống nhất thì từng tổ chức đảng bên cạnh việc phải chú trọng giáo dục ý thức trách nhiệm, còn phải thường xuyên bồi dưỡng tình thân ái, tình thương yêu, cảm thông, chia sẻ, tình đồng chí.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng yếu tố đạo đức trong Đảng, chống lại các căn bệnh “quan liêu”, “tham nhũng, lãng phí”, “xa dân”. Theo Người, Đảng cầm quyền có nhiệm vụ to lớn là lãnh đạo nhân dân xây dựng xã hội mới, tiến hành “một cuộc chiến đấu khổng lồ”, xóa đi những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, xây dựng những cái mới mẻ, tốt tươi. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn với 4 chữ “thật”: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”4. Mỗi đảng viên, nhất là đảng viên giữ trọng trách lãnh đạo phải cương quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội trong chính bản thân mình, bởi nó chính là căn nguyên của mất đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Từ thực tiễn cách mạng thế giới, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ rõ: do không xác lập đúng đắn sự lãnh đạo của Đảng, buông lơi công tác xây dựng đảng; phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng; coi nhẹ hoặc phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng; xa rời quần chúng, mất uy tín nghiêm trọng trước nhân dân, không được nhân dân ủng hộ; từ bỏ chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, thổi lên ngọn lửa kỳ thị dân tộc, dân tộc hẹp hòi5 đã làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô, từng là một Đảng mác xít - Lênin nít hùng mạnh và kiên cường tan rã, kéo theo sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô. Chính vì thế, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ để nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xác định đây là nhiệm vụ then chốt, hệ trọng, thường xuyên, liên quan tới giữ vững bản chất xã hội chủ nghĩa và sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ: “… phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”6, để Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”.

Những năm qua, Đảng ta luôn coi trọng, giữ gìn và phát huy đoàn kết thống nhất. Nhờ đó, Đảng đã quy tụ và phát huy được sức mạnh toàn dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo đất nước mà nhân dân tin tưởng giao phó. Trong nhiều kỳ đại hội Đảng, vấn đề đoàn kết thống nhất đều được nghiêm túc đặt ra, được xem xét, đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc. Tự hào đã làm được nhiều việc, trân trọng những thành quả đã đạt được, nhưng chúng ta không khỏi đau lòng về những thiếu sót, hạn chế, những tiêu cực đang diễn ra trong xã hội. Trong Đảng vẫn còn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên; xu hướng chạy theo chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm; một số tổ chức đảng có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, chưa tôn trọng và thực hiện chưa đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; việc tự phê bình và phê bình có nơi còn hình thức; người đứng đầu chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên và cấp mình về sự đoàn kết thống nhất nội bộ lại chưa thực sự gương mẫu, v.v.

Hiện nay, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Trong bối cảnh đó, chúng ta vừa đứng trước những thời cơ, vận hội, vừa phải đối mặt với nhiều vấn đề mới từ thực tiễn đặt ra cần giải quyết. Những thành tựu mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đạt được qua gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới chính là kết quả của sự đoàn kết thống nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; đó là minh chứng khẳng định sự trưởng thành và vững mạnh của Đảng. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, bên cạnh những thành tựu đạt được, nước ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, phức tạp, nhất là các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống. Các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách, bằng nhiều âm mưu thâm độc, xảo quyệt, kích động chia rẽ nội bộ, gây mất đoàn kết trong Đảng. Chính vì vậy, tăng cường đoàn kết và thống nhất trong Đảng từ Trung ương đến cơ sở là vấn đề khách quan, cấp thiết trong giai đoạn cách mạng mới. Để làm được điều đó, chúng ta cần nghiêm túc quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trực tiếp là những nội dung chỉ đạo trong bài viết “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, yêu cầu cấp bách của giai đoạn cách mạng mới” của Tổng Bí thư Tô Lâm; trong đó, cần tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:

Thứ nhất, thống nhất nhận thức và thực hiện cho nghiêm phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tuyệt đối không để xảy ra bao biện, làm thay hoặc buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo thông qua hệ thống chính trị mà Đảng là hạt nhân; lãnh đạo bằng tư tưởng, đường lối, chính sách và sự tiên phong gương mẫu, thường xuyên tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên; bằng thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật của Nhà nước; sự vận động, thuyết phục nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, giới thiệu đại biểu ưu tú vào bộ máy nhà nước và thông qua công tác kiểm tra - giám sát. Đảng cầm quyền bằng pháp luật, lãnh đạo định ra Hiến pháp và pháp luật; đồng thời, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Cán bộ, đảng viên của Đảng chấp hành, “thượng tôn” pháp luật. Đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước; quyền lực của đảng cầm quyền là quyền lực về chính trị, đề ra chủ trương, đường lối, còn quyền lực nhà nước là quyền lực quản lý xã hội trên cơ sở pháp luật. Sự lãnh đạo của Đảng phải đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân, Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân. Đảng lãnh đạo toàn diện đất nước và chịu trách nhiệm về mọi thành công, thiếu sót trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, tập trung tinh, gọn bộ máy tổ chức các cơ quan của Đảng, bảo đảm thực sự là hạt nhân trí tuệ, là “bộ tổng tham mưu”, đội tiên phong lãnh đạo cơ quan nhà nước. Xây dựng các cơ quan tham mưu của cấp ủy thực sự tinh, gọn; cán bộ tham mưu có phẩm chất chính trị, năng lực, trình độ chuyên môn giỏi, tinh thông nghề nghiệp, trách nhiệm và thông thạo công việc. Nghiên cứu, đẩy mạnh việc hợp nhất một số cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng; sớm đánh giá toàn diện việc kiêm nhiệm chức danh của Đảng và hệ thống chính trị để có quyết sách phù hợp. Bảo đảm nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng không trùng với nhiệm vụ quản lý; phân biệt và quy định rõ nhiệm vụ cụ thể của các cấp lãnh đạo trong các loại hình tổ chức đảng, tránh tình trạng bao biện làm thay, hoặc tồn tại song trùng, hình thức. Đổi mới mạnh mẽ tác phong, lề lối làm việc theo hướng khoa học, chuyên nghiệp, với phương châm “đúng vai, thuộc bài”.

Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ việc ban hành và quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng; xây dựng các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên thật sự là các “tế bào” của Đảng. Nghị quyết của các cấp ủy, tổ chức đảng phải ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ tiếp thu, dễ thực hiện; phải xác định đúng và trúng yêu cầu, nhiệm vụ, con đường, cách thức phát triển của đất nước, của dân tộc, của từng địa phương, từng bộ, ngành; phải có tầm nhìn, tính khoa học, tính thực tiễn, thiết thực và tính khả thi; tạo sự phấn khởi, tin tưởng, kỳ vọng và động lực thôi thúc hành động của cán bộ, đảng viên, các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp và nhân dân thực hiện nghị quyết của Đảng. Việc quán triệt, thực hiện nghị quyết phải tạo ra sự tự nhận thức, tự thấm nhuần, nhất là những quan điểm, chủ trương, giải pháp mới. Tập trung xây dựng chi bộ tốt, đảng viên tốt; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn cuộc sống.

Thứ tư, tiếp tục đổi mới công tác kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các hoạt động của Đảng. Đảng kiểm tra, giám sát để công việc được thực hiện tốt hơn, nghị quyết được thực hiện hiệu quả; bộ máy của Đảng, Nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đúng chủ trương, đường lối, đúng người, đúng việc; kịp thời phát hiện nhân tố mới, cách làm hay, sáng tạo; uốn nắn, điều chỉnh những biểu hiện lệch lạc, chệch hướng hoặc ngăn chặn những hành vi sai trái, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Phát huy cao độ vai trò kiểm tra, giám sát của các cấp ủy đảng, ủy ban kiểm tra các cấp. Ban hành quy định phân cấp thẩm quyền kiểm tra, giám sát gắn với phát hiện, xử lý nghiêm mọi hành vi lợi dụng kiểm tra, giám sát để tham nhũng, tiêu cực. Tập trung chuyển đổi số trong công tác đảng; xây dựng cơ sở dữ liệu tổ chức cơ sở đảng, đảng viên và văn kiện của Đảng, kết nối từ Trung ương tới cơ sở, kết nối đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu khác, phục vụ hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, thời điểm phải lựa chọn những người thật sự xứng đáng, có tài, có đức, có tâm, có tầm để đảm nhận những trọng trách lãnh đạo đất nước, thì hơn bao giờ hết, chúng ta càng phải phát huy truyền thống đoàn kết thống nhất. Đây là trách nhiệm lớn, mà trước hết là của tập thể, cá nhân lãnh đạo từ Trung ương đến từng cơ sở. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ giữ trọng trách lãnh đạo từ cấp cao đến cấp cơ sở phải thực sự thực hiện nghiêm lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”7.

 

Đảng Cộng sản Việt Nam: 95 năm tiên phong vì Tổ quốc và nhân dân

  Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện trọng đại trong lịch sử cách mạng và lịch sử dân tộc Việt Nam. Chín mươi lăm năm qua, Đảng luôn toàn tâm, toàn ý, tận lực phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, sẵn sàng chấp nhận hy sinh, tổn thất, kiên cường vượt qua mọi thách thức, khó khăn, hun đúc nên “pho lịch sử bằng vàng”, mở ra các kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc. Đó là kỷ nguyên độc lập dân tộc, thống nhất non sông với chiến thắng vang dội trước chủ nghĩa phát-xít, chủ nghĩa thực dân cũ và mới; kỷ nguyên hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đây là cơ sở vững chắc, tạo dựng niềm tin to lớn để Đảng ta tiếp tục nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, sức chiến đấu, lãnh đạo đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.

Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2025), đồng chí GS, TS Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam có bài viết quan trọng dành riêng cho Tạp chí Cộng sản. Tạp chí Cộng sản trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết: 

Đảng kiên cường lãnh đạo dân tộc Việt Nam thực hiện khát vọng độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội

Gần một thế kỷ trước, thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Chủ nghĩa đế quốc gia tăng áp bức, bóc lột khiến cho đời sống nhân dân lao động trên thế giới trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa, trong đó có nước ta. Tuy nhiên, liên tiếp các phong trào đấu tranh ở trong nước đều bị chính quyền thực dân, phong kiến đàn áp dã man. Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, một nước thuộc địa phương Đông lạc hậu, giai cấp công nhân chưa đông; là kết quả của sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam; gắn liền với tư tưởng và công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đảng ra đời đã chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng. Từ đây, cách mạng Việt Nam được đặt trong quỹ đạo cuộc cách mạng vô sản, thực hiện chân lý lớn nhất của thời đại là Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

Để thực hiện mục tiêu sống còn là phải xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, trở thành một quốc gia độc lập, tiến lên xây dựng chế độ xã hội mới, ngay từ khi ra đời và liên tiếp trong 15 năm, Đảng đã phát động và tổ chức các phong trào rộng lớn: Phong trào Cách mạng 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết - Nghệ Tĩnh; phong trào dân chủ 1936 - 1939 trên toàn cõi Đông Dương; phong trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945, đỉnh cao là cao trào kháng Nhật, cứu nước, trực tiếp dẫn đến thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất”. Cho dù gặp phải vô vàn hiểm nguy, gian khổ, chịu rất nhiều tổn thất, song với sứ mệnh cao cả trước Tổ quốc và nhân dân, Đảng luôn thể hiện vai trò lãnh đạo không thể thay thế và bản lĩnh chính trị kiên cường, vì nền độc lập, tự do của dân tộc. Với bản lĩnh, trí tuệ và sức chiến đấu vô song, Đảng đã đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi kiếp lầm than, đưa nhân dân lên vị trí làm chủ đất nước, tạo ra những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và mang tính thời đại. Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, chủ nghĩa Mác - Lê-nin được vận dụng sáng tạo, đưa đến thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc và đồng thời kiến tạo nền dân chủ mới, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là hiện thân của sức mạnh Việt Nam trong thời đại mới mà cốt lõi là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với sự tham gia của tất cả giai tầng yêu nước. Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, đồng thời kết hợp với sức mạnh thời đại, đón bắt được thời cơ lịch sử khi chủ nghĩa phát-xít sụp đổ. Cũng từ đây, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền.

Để bảo vệ độc lập, tự do, thống nhất, xây dựng chế độ mới, trong 30 năm không ngừng nghỉ, Đảng đã dẫn dắt toàn dân tộc vượt qua nhiều tình thế hiểm nghèo, “nghìn cân treo sợi tóc”, đánh thắng các kẻ thù lớn mạnh trên thế giới. Khi vừa giành được độc lập, Đảng lãnh đạo nhân dân vừa chống “giặc đói”, “giặc dốt”, vừa chống “thù trong, giặc ngoài”. Khi cơ hội đàm phán hòa bình không còn nữa thì chủ động tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, “Chín năm làm một Điện Biên. Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đưa đến việc ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Đông Dương. Khi chủ nghĩa thực dân mới can thiệp, đưa quân đội vào xâm lược hòng chia cắt đất nước ta, Đảng quyết tâm lãnh đạo nhân dân cả nước bền bỉ kháng chiến, tiến hành chiến tranh cách mạng, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, đi tới Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thống nhất non sông. Thắng lợi đó “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”(1).

Kỷ nguyên giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930 - 1975) được tạo nên bởi chiến thắng vô cùng hiển hách của nhân dân ta trước chủ nghĩa phát-xít, chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới. Mỗi khi cách mạng đứng trước thách thức nghiêm trọng và tình thế hiểm nghèo, thậm chí chưa có tiền lệ trong lịch sử, phải chịu tổn thất to lớn, thì khi đó sự kiên cường, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam đã được Đảng phát huy mạnh mẽ, dẫn dắt toàn dân tộc luôn giữ vững tinh thần cách mạng tiến công bằng sức chiến đấu vô song. Cơ đồ to lớn của đất nước được mở ra với nền độc lập, thống nhất được củng cố vững chắc; chủ nghĩa xã hội bước đầu được xây dựng trong điều kiện chiến tranh và làm nhiệm vụ hậu phương lớn vẫn đạt được những thành tựu to lớn, là tiền đề cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.

Đảng lãnh đạo đất nước thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới và hội nhập

Ngay sau khi đất nước vừa được thống nhất, cách mạng Việt Nam phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thách thức chưa từng có: Hậu quả chiến tranh rất nặng nề, phải khắc phục lâu dài; chủ quyền biên giới quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng, phải kiên quyết bảo vệ, củng cố; các thế lực thù địch bao vây, cấm vận mọi bề, phải kiên trì đấu tranh gỡ bỏ; tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nóng vội trong điều hành kinh tế - xã hội, cộng với những hạn chế, khuyết điểm của nền kinh tế bộc lộ ngày càng rõ, cần được đổi mới; khủng hoảng kinh tế - xã hội xuất hiện và ngày càng trầm trọng, phải nỗ lực khắc phục, vượt qua. Đây cũng là thời điểm tình hình thế giới diễn biến ngày càng bất lợi cho cách mạng Việt Nam.  Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng toàn diện. Một số đảng cộng sản cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa chủ trương tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa, cải tổ.  Trước yêu cầu cấp thiết “đổi mới là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, đất nước và chế độ”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, dũng cảm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật”, kiên trì tổng kết thực tiễn, vững tin ở sức mạnh của nhân dân, quả cảm dứt bỏ tư duy và cách làm không còn phù hợp, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của đất nước, quyết tâm khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, tìm con đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, giữ vững ổn định và phát triển đất nước. Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 hoạch định đường lối đổi mới, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bị giảm sút nghiêm trọng. Với tầm cao trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng và sự nhạy bén về thời cuộc, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Quyết tâm của Đảng thể hiện tại Đại hội VII (năm 1991), khi khẳng định dứt khoát: “Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”(2). Công cuộc đổi mới được tiếp tục triển khai với sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, Việt Nam đã thu được kết quả đáng khích lệ, tạo nền tảng quan trọng để chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, nền kinh tế được nâng lên trình độ cao hơn, phát triển năng động. Việt Nam đã vươn lên nhóm 40 nền kinh tế hàng đầu thế giới, nhóm 20 nền kinh tế có kim ngạch thương mại lớn nhất thế giới. Quy mô nền kinh tế đất nước đã tăng hàng trăm lần so với năm đầu đổi mới. Không chỉ phá bỏ thế bị bao vây, cô lập, Việt Nam tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với tất cả nước lớn và toàn bộ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, là thành viên tích cực của ASEAN và hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế, có quan hệ với 230 thị trường tại các châu lục, là mắt xích quan trọng trong 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã có hiệu lực gắn kết với các nền kinh tế chủ chốt ở khu vực và toàn cầu. Việt Nam đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của nhà đầu tư và khách du lịch, bạn bè quốc tế.

Mục tiêu của Đảng phấn đấu vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân đạt những kết quả quan trọng. Các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế... đều có sự phát triển vượt bậc; phát triển văn hóa - xã hội, con người có nhiều tiến bộ; định hình ngày càng rõ nét hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đất nước ta được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế xem như một điểm sáng về xóa đói, giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.

Sức mạnh tổng hợp quốc gia ngày càng được củng cố và tăng cường; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bảo đảm vai trò quản lý hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.

Sức mạnh chính trị, tinh thần, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần quan trọng vào thành công của quá trình xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và nâng cao.

Lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Đảng kiên định và không ngừng vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho phù hợp với thực tiễn phát triển từng thời kỳ. Trên cơ sở đó, Đảng dẫn dắt dân tộc ta vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, không ngừng đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới thực sự tạo nền tảng, tạo đà cho những bước phát triển nhảy vọt cao hơn của đất nước.

Xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Trong mọi hoàn cảnh, Đảng luôn vững tin vào sự đúng đắn, tính khoa học, tinh thần bách chiến bách thắng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tin tưởng vào thắng lợi tất yếu của sự nghiệp cách mạng mà Đảng ta, nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Dù trải qua nhiều bước thăng trầm, khó khăn, thách thức, Đảng luôn vững tin ở sức mạnh của nhân dân, sẵn sàng đấu tranh gian khổ vì quyền lợi của nhân dân và có phương cách tập hợp, phát huy sức mạnh của nhân dân. Có được bản lĩnh vững vàng còn nhờ Đảng ta không ngừng rèn luyện ý chí cách mạng, luôn củng cố và đổi mới tổ chức, tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng và của toàn dân tộc. Qua các chặng đường cách mạng, Đảng kịp thời và nghiêm túc đúc kết kinh nghiệm đấu tranh, qua đó rèn luyện bản lĩnh và ý chí cách mạng cho đảng viên và quần chúng, tạo sự chủ động trước các tình huống mới, sẵn sàng đối mặt với thách thức mới. Bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng còn biểu hiện và có nguyên nhân từ việc Đảng luôn quan tâm tự đổi mới và chỉnh đốn, nghiêm túc nhìn nhận và kiên quyết đấu tranh với hạn chế trong việc hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối cách mạng; đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện tiêu cực trong Đảng, thanh lọc khỏi hàng ngũ của Đảng những người không giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng và không còn nhiệt huyết đấu tranh.

Đảng lãnh đạo đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu

Những thành tựu to lớn đã đạt được trong 95 năm qua bắt nguồn từ con đường cách mạng đúng đắn mà Đảng ta, nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn; từ bản lĩnh chính trị và sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng luôn lấy việc phục vụ nhân dân làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu, luôn trung thành tuyệt đối và vô hạn với lợi ích của dân tộc, của nhân dân; từ sức mạnh to lớn của tinh thần yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; từ nỗ lực và quyết tâm, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng mãnh liệt về độc lập, tự do, hạnh phúc của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam; từ sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của bạn bè quốc tế, nhân dân thế giới đã dành cho Việt Nam.

Thành quả cách mạng vĩ đại đã đạt được còn từ sự hy sinh của hàng triệu anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam và nghĩa vụ quốc tế cao cả; đóng góp to lớn của Nhân dân, những người đã trải bao gian lao trong lao động, sáng tạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, rất đáng trân trọng, tự hào. Đây là nguồn động lực tinh thần to lớn, đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta sống và làm việc có trách nhiệm hơn; không được phép tự mãn với thành quả đạt được, càng không được tự cho mình quyền thụ hưởng một cách vô trách nhiệm thành quả từ sự gian lao, hy sinh của bao lớp cha anh đi trước. Chúng ta cần tiếp nối, kế thừa, phát huy, tiếp tục lan tỏa giá trị truyền thống của dân tộc và cách mạng trong bối cảnh mới.

Hiện nay, thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại. Môi trường an ninh quốc tế ngày càng căng thẳng, phức tạp; cuộc đấu tranh, cạnh tranh quốc tế gay gắt; lực lượng cánh tả, lực lượng tiến bộ, phong trào xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển song còn gặp khó khăn; các thế lực thù địch, phản động ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, nguy hiểm. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự hình thành nền kinh tế tri thức, xã hội tri thức, yêu cầu chuyển đổi mô hình kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao… vừa tạo ra thời cơ, thuận lợi, vừa mang đến thách thức to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng gần một thế kỷ qua của Đảng ta đã chỉ ra rằng: Thời cơ không tự đến mà chủ yếu là do ta chuẩn bị sẵn sàng cho thời cơ, nhạy bén đón bắt đúng thời cơ; vượt qua thách thức chính là thời cơ lớn nhất. Bối cảnh thế giới đòi hỏi và tạo ra cơ hội để Việt Nam tiếp tục sự nghiệp đổi mới với khát vọng lớn lao hơn, bước đi vững chắc hơn, tốc độ nhanh hơn, quyết đoán đột phá mạnh mẽ hơn. Đồng thời, kỷ nguyên đổi mới, phát triển và hội nhập đã nâng cao thực lực, vị thế quốc gia và tiếp thêm khát vọng, tạo đà mạnh mẽ cho đất nước. Đây đang là thời điểm hội tụ được giá trị của dân tộc và thời đại, của truyền thống và đương đại, của vật chất và tinh thần; ý Đảng đang hòa quyện với lòng dân trong khát vọng phát triển đất nước hùng cường. Khởi điểm của kỷ nguyên mới đã đến, chậm trễ là đánh mất cơ hội phát triển. Hơn lúc nào hết, cần phát huy cao độ tinh thần “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”, lấy đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng làm động lực, huy động mạnh mẽ sức dân, gắn kết chặt chẽ ý Đảng với lòng dân làm nền tảng, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu, không ngừng phấn đấu, đóng góp nhiều hơn nữa vào duy trì hòa bình, ổn định, phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng, toàn Đảng, toàn dân tộc Việt Nam đang ra sức phấn đấu bứt tốc, sớm về đích thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, hướng đến kỷ niệm 80 năm giành độc lập, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 50 năm thống nhất đất nước; quyết tâm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được sống trong môi trường an ninh, an toàn, an tâm, không ai bị bỏ lại phía sau. Trước các mốc son có tính bước ngoặt này, cán bộ, đảng viên và nhân dân đang rất trông đợi, kỳ vọng lớn lao vào những quyết sách mới, mạnh mẽ và sáng suốt, mang tính đột phá của Đảng.

Kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng gần một thế kỷ qua cũng đã chỉ rõ, chính vào thời điểm then chốt này, hơn lúc nào hết Đảng phải củng cố bản lĩnh, mài sắc trí tuệ, tăng cường sức chiến đấu để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Chúng ta cần tập trung cao độ tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh; không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Đảng lãnh đạo tổ chức thực hiện thật tốt những vấn đề đã và đang đặt ra, đồng thời kiến tạo không gian phát triển mới bằng việc đúc kết và kế thừa tinh hoa truyền thống, đón bắt và phát huy giá trị thời đại và vận hội mới mang tính thời đại; phải xây dựng Đảng vững mạnh và Đảng phải trở thành nhà tổ chức vĩ đại của toàn dân tộc; Đảng là đạo đức, là văn minh, là biểu tượng của trí tuệ và bản lĩnh dân tộc, đi đầu, dẫn dắt toàn dân với tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tiên phong đột phá.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, mỗi thắng lợi to lớn luôn mở ra một thời kỳ phát triển mới với nhiều thuận lợi, cũng đồng thời đặt ra trọng trách mới, cao hơn đối với toàn Đảng, toàn dân. Để tiếp tục tăng cường bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên vững chắc trong kỷ nguyên mới, đòi hỏi Đảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; dựa chắc vào sức mạnh của nhân dân, phát huy dân chủ, quy tụ cao độ sức mạnh của nhân dân vì mục tiêu mang lại lợi ích, hạnh phúc cho nhân dân; kết hợp và phát huy cao độ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong kỷ nguyên mới; bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong mọi tình huống. Đồng thời, Đảng phải tăng cường bản lĩnh, ý chí và tinh thần kiên quyết hành động của từng cán bộ, đảng viên ở mỗi vị trí công tác của mình; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu niềm tin và khát vọng phát triển,

Kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng cũng là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường gần một thế kỷ của cách mạng Việt Nam, nhìn lại mỗi kỷ nguyên rực rỡ mở ra cho dân tộc Việt Nam ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Niềm tự hào về Đảng quang vinh, dân tộc Việt Nam anh hùng, Bác Hồ vĩ đại luôn tiếp thêm cho mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta ý chí lớn lao, sự đồng tâm nhất trí cùng toàn Đảng, toàn dân vững bước thành công trong kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu - Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh./.