Lâu nay, trong tâm thức người Việt luôn trăn trở với câu hỏi về
Thế của đất nước trên trường quốc tế: “Nước Việt Nam ta nhỏ hay không
nhỏ?”. Tự nhìn nhận sâu sắc về đất nước ta, dân tộc ta và nhìn rõ ra thế
giới đương đại, có thể nói, một đất nước “nhỏ” hay “không nhỏ” phụ
thuộc vào chí có lớn hay không. Bên cạnh chí lớn, cần có trí tuệ và nhãn
quan sắc bén để sớm nhận diện thời cơ; cần có quyết tâm mạnh mẽ để chớp
lấy thời cơ. Vào thời điểm bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc, xuất
hiện sự hội tụ lịch sử của Chí lớn, Trí sáng, Quyết tâm cao để xây dựng
nên Nghiệp lớn - Thế lớn của “nước non Việt Nam ta”.
Về “thời thế”
Theo Từ điển Tiếng Việt, “thế” được coi
là “tổng thể nói chung các quan hệ về vị trí tạo thành điều kiện chung
có lợi hay không có lợi cho một hoạt động nào đó của con người”(1).
“Thời thế” có thể hiểu là khoảng thời gian thích hợp mà tại đó tổng hòa
yếu tố thuận lợi cho việc triển khai một hoạt động, thực hiện một mục
tiêu. Trong văn hóa phương Đông nói chung và văn hóa - lịch sử Việt Nam
nói riêng, “thời thế” hay được nhắc đến và xem trọng. Nguyễn Trãi trong
“Tái dụ Vương Thông thư” (năm 1427) viết: “Người giỏi dùng binh là ở
chỗ hiểu biết thời thế. Được thời và có thế thì biến mất thành còn, hóa
nhỏ thành lớn; mất thời và không thế, thì mạnh hóa ra yếu, yên lại nên
nguy, sự thay đổi ấy chỉ ở trong khoảng bàn tay”(2). Như vậy, hiểu biết thời thế là điều rất quan trọng, bởi lẽ hiểu đúng và nắm bắt được thì làm nên việc lớn.
Trong chừng mực có liên quan đến quan
niệm “thời thế” của phương Đông, “thời cơ cách mạng” được các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin rất quan tâm. Đánh giá tác động của
nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, trong đó đáng chú ý là cuộc Chiến
tranh thế giới lần thứ nhất, V. I. Lê-nin, vị lãnh tụ kiệt xuất của nước
Nga Xô-viết, đã nhận định chính xác về thời cơ cách mạng, hay nói cách
khác là “thời thế” ngay trước thời điểm tiến hành Cách mạng Tháng Mười
rằng: Hiện nay, tình thế đã thay đổi khác hẳn. Chúng ta đã giành
được đa số trong giai cấp đứng làm đội tiền phong của cách mạng, đội
tiền phong của nhân dân và có khả năng lôi cuốn quần chúng theo mình.
Chúng ta đã giành được đa số trong nhân dân … Thắng lợi chắc chắn thuộc
về chúng ta (3). Nhận định sắc sảo của V.I. Lê-nin về
thời cơ cách mạng, về thời thế chính là một trong những nhân tố quyết
định làm nên thành công của Cách mạng Tháng Mười. Thắng lợi vĩ đại này
không chỉ mở ra kỷ nguyên mới cho nước Nga, mà còn là dấu mốc quan trọng
trong lịch sử nhân loại, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, cổ vũ mạnh mẽ
phong trào đấu tranh giải phóng của nhân dân các nước thuộc địa và phụ
thuộc.
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, được cổ vũ bởi Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: làm cách mệnh phải biết dựa vào thời cơ và phải nhìn chung phong trào mọi nơi, mọi chốn mới chắc thắng(4).
Trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về khởi nghĩa vũ
trang, về chiến tranh đế quốc và đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã nhận định: Chiến tranh đế quốc sẽ tạo thời cơ cho cách mạng giải phóng dân tộc(5). Cụ thể hơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên ba điều kiện của thời cơ khởi nghĩa: Một
là, chính quyền thực dân đế quốc đã lung lay bối rối đến cao độ, chúng
đã cảm thấy không thể nào ngồi yên giữ địa vị của chúng như trước. Hai
là, quần chúng nhân dân đói khổ đã căm thù thực dân đế quốc đến cực
điểm, đã thấy cần phải đồng tâm hiệp lực, nổi dậy lật đổ ách thống trị
của đế quốc thực dân, vì mọi người hiểu rằng nếu ngồi yên cũng chết. Ba
là, đã có một chính đảng cách mạng đủ sức tổ chức lãnh đạo quần chúng
nhân dân nổi dậy khởi nghĩa theo một đường lối đúng đắn, một kế hoạch
phù hợp, bảo đảm giành thắng lợi cho cuộc tổng khởi nghĩa(6).
Đáng chú ý, Đảng ta rất chủ động tạo ra
và thúc đẩy thời cơ, không bị động ngồi chờ thời cơ. Nhờ đó, thắng lợi
của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là minh chứng hùng hồn nhất cho sự hội
tụ của ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam dưới
sự lãnh đạo của Đảng; là thắng lợi vĩ đại của sự vận dụng chủ nghĩa Mác
- Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách sáng tạo để Đảng ta “lựa tình
thế, chọn thời cơ”, đưa ra quyết sách đúng đắn ở tầm chiến lược, mở ra
kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.
Khái luận về thời thế trong gần 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng
Chặng đường gần 100 năm cách mạng Việt
Nam cho thấy, ở những thời điểm cục diện thế giới có biến động lớn, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đều tận dụng thời thế một cách hiệu
quả để đưa đất nước bước vào một kỷ nguyên mới. Từ khi có Đảng, nhân dân
ta đã bền gan tranh đấu, dày công chuẩn bị trong 15 năm. Đến khi Chiến
tranh thế giới lần thứ hai vừa kết thúc thì thời cơ đến, Đảng lãnh đạo
toàn dân đứng lên tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, mở ra Kỷ
nguyên độc lập, tự do của nước Việt Nam mới. Khi thế giới, nhất là Mỹ và
các nước phương Tây đang ở trong cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị,
xã hội trầm trọng vào những năm 70 của thế kỷ XX, đặc biệt là quan hệ
nước lớn có những biến động chiến lược, với khí thế “một ngày bằng hai
mươi năm”, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thành công, miền Nam
được giải phóng, mở ra Kỷ nguyên thống nhất, đổi mới và phát triển.
Ngay cả khi khối xã hội chủ nghĩa tan rã vào những năm 90 của thế kỷ XX,
Chiến tranh lạnh kết thúc, đặt ra thách thức chưa từng thấy, Đảng ta đã
lãnh đạo cả nước kiên gan vượt qua những biến động cam go của thời
cuộc, đẩy mạnh công cuộc đổi mới và đạt được những thành tựu to lớn,
thay đổi diện mạo, cơ đồ đất nước.
Những dấu mốc lịch sử trên có điểm chung
là: điều kiện cần là sự chuẩn bị sẵn sàng về lực lượng, bao gồm cả thế
và lực, cả vật chất và tinh thần; điều kiện đủ là biến chuyển của tình
hình thế giới tạo ra cả cơ hội chiến lược và thách thức cũng rất lớn
lao. Điều kiện tiên quyết là sự lãnh đạo đầy bản lĩnh, trí tuệ, quyết
đoán của Đảng, là khối đại đoàn kết toàn dân tộc với sức mạnh vĩ đại.
Những thắng lợi mang tính bước ngoặt của cách mạng Việt Nam cho thấy,
thời thế hoặc thời cơ cách mạng sẽ luôn hiện hữu hai mặt thuận và
nghịch. Để tận dụng được mặt thuận, giảm thiểu tác động tiêu cực, điều
quan trọng là trong bất cứ tình thế nào vẫn phải giữ vững ngọn cờ độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên trì tư tưởng chủ động không ngừng
tạo thế và lực, tránh tâm lý thụ động, chờ thời. Nếu không có chí lớn,
khát vọng cao, ý chí thép, tinh thần kiên quyết, liên tục tiến công thì
không thể tạo ra hoặc có thể sẽ bỏ qua thời cơ cách mạng hiếm hoi. Chặng
đường 95 năm qua của cách mạng Việt Nam cho thấy kỷ nguyên mới của dân
tộc ta bắt đầu từ khi có nhận thức sâu sắc về thời thế, có tư duy chiến
lược và quyết tâm chính trị cao độ, sau khi bước vào kỷ nguyên khoảng 15
- 20 năm sẽ đạt được mục tiêu chiến lược đề ra. Do đó, phải chuẩn bị
đầy đủ cả thế và lực; khi thời cơ đến là quyết tâm tiến lên, tranh thủ
tốt nhất mọi cơ hội, giành thắng lợi quyết định cho cách mạng.
Về thời thế đương đại
Xét về trong nước, sau 95 năm,
vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp giành độc
lập, tự do, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc càng được
khẳng định vững chắc. Qua nhiều biến chuyển lớn lao và thử thách cam go
của thời cuộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ rõ bản lĩnh, trí tuệ và sức
chiến đấu, chứng minh mục tiêu “không có lợi ích nào ngoài lợi ích của
nhân dân”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau gần 40 năm tiến hành công cuộc
đổi mới, đất nước ta đã có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc
tế chưa từng có; đáng chú ý là cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín ấy có
tầm vóc đáng kể trên thế giới, có khả năng đủ để chuyển hóa thành chất ở
tầm mức cao hơn. Trên nền tảng đó, khát vọng của dân tộc về một tương
lai “sánh vai với các cường quốc năm châu” trở nên thôi thúc hơn lúc nào
hết. Khát vọng dân tộc hiện nay là sự tiếp nối truyền thống của cha
ông từ ngàn xưa. Khát vọng ấy dựa trên cơ đồ đang có, khi đất nước đã
trở thành nước có thu nhập trung bình thấp, đang trên đà tăng trưởng
cao, có môi trường hòa bình, chính trị ổn định. Khát vọng ấy cũng đến từ
những cơ hội lớn mà xu thế thời đại đang tạo ra, nhất là cuộc Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư(7).
Bên cạnh đó, với tất cả sự khiêm tốn và
cầu thị, chúng ta cũng nhận thức sâu sắc về hạn chế và thách thức nội
tại. Trong đó, nổi bật là sự yếu kém về lực lượng sản xuất, bất cập
trong quan hệ sản xuất, sự thiếu tương hợp giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất; những điểm nghẽn và “nghẽn của nghẽn”; những “điểm
yếu” thiếu bền vững trong cả thế và lực đất nước. Mặc dù tăng trưởng
năng động, song Việt Nam vẫn phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu, rơi vào
bẫy thu nhập trung bình, nhất là trong bối cảnh các nước trong khu vực
và cả thế giới đang tiến rất nhanh, sự đua tranh chiếm lĩnh vị trí cao
hơn trong trật tự thế giới đang định hình rất gay gắt.
Nhìn ra thế cuộc bên ngoài, cục
diện thế giới có những biến chuyển lớn mang tính hệ thống và cấu trúc.
Nhìn tổng thể, tính chất của thời đại vẫn không thay đổi, thế giới vẫn
đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản vẫn
đang tự điều chỉnh, nhưng những mâu thuẫn nội tại không thể được giải
quyết, có mặt trầm trọng hơn, đặc biệt là về các vấn đề xã hội. Nhiều
nước tư bản chủ nghĩa phương Tây đang lúng túng trong việc xác định mô
hình phát triển, quản trị quốc gia trong bối cảnh mới. Phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế mặc dù còn nhiều khó khăn, song vẫn là lực
lượng chính trị quan trọng trên thế giới, đang tiếp tục kiên trì cuộc
đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đáng
chú ý là nỗ lực không ngừng nghỉ theo định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp
tục có bước tiến mới, đặc biệt là có các mô hình thành công của chủ
nghĩa xã hội hiện thực.
Mặc dù có nhiều biến động lớn, song về
cơ bản, các xu thế lớn vẫn tiếp tục với biểu hiện và điều chỉnh mới. Hòa
bình, hợp tác và phát triển vẫn là nguyện vọng thiết tha của nhân loại
tiến bộ, là “chiếc phanh” ngăn chặn sự đổ vỡ. Xu thế dân chủ hóa đời
sống chính trị quốc tế vẫn có bước tiến đáng kể, tạo điều kiện cho các
nước vừa và nhỏ vươn lên. Toàn cầu hóa đang được điều chỉnh phù hợp,
tiếp tục tạo ra điều kiện thuận lợi cho phát triển. Tuy nhiên, các vấn
đề toàn cầu ngày càng gay gắt, đòi hỏi các nước chung tay để giải quyết
nếu không muốn gánh chịu những hệ lụy to lớn. Nguy cơ, thách thức an
ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng rõ nét hơn, nghiêm trọng
hơn và tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế.
Hợp tác và cạnh tranh giữa các nước lớn
luôn là quy luật tất yếu, khách quan. Điểm đáng chú ý là, cạnh tranh
chiến lược giữa các cường quốc là đặc điểm nổi bật có tính xuyên suốt
của tình hình thế giới hiện nay. Cạnh tranh gia tăng cả về diện và cường
độ, tạo ra cả cơ hội và thách thức, song thách thức có xu hướng gia
tăng. Trong đó, cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ - Trung Quốc và Mỹ - Nga
là hai yếu tố chi phối sâu sắc quan hệ quốc tế, dẫn tới việc đẩy mạnh
tập hợp lực lượng, củng cố mạng lưới đồng minh, đối tác.
Kinh tế thế giới rơi vào thập niên mất
mát lớn, khó dự báo về xu hướng tăng trưởng, song vẫn có cơ hội lớn do
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và do các liên kết kinh tế thế hệ
mới. Trong đó, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã thúc đẩy các xu
hướng mới, đang dần tạo ra những thay đổi to lớn về phương thức sản xuất
và lực lượng sản xuất. Cần lưu ý là, lịch sử cho thấy, mỗi cuộc cách
mạng công nghiệp đều tạo ra cơ hội to lớn cho các nước vươn lên xác lập
vị thế mới trong trật tự thế giới, đồng thời cũng tạo ra những thách
thức có thể khiến ngay cả các cường quốc phải suy tàn.
Trong bối cảnh đó, các nước vừa và nhỏ
tập trung nâng cao nội lực và khả năng tự chủ chiến lược, đồng thời mở
rộng quan hệ đối ngoại, tích cực tham gia hoạt động quản trị toàn cầu,
nỗ lực nâng cao vị thế trong mọi mặt đời sống quốc tế. Thế giới đang
chứng kiến sự thay đổi trong trật tự kinh tế toàn cầu với phần đóng góp
ngày càng cao của các nước đang phát triển. Bên cạnh đó, các nước đang
phát triển tích cực ủng hộ tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật
pháp quốc tế, xây dựng trật tự quốc tế cân bằng, bình đẳng, đáp ứng
quyền và lợi ích chính đáng của các nước đang phát triển.
Khái quát lại, việc khẳng định tính chất
thời đại không thay đổi mang lại sự tự tin cho đất nước ta về con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhân loại ở trong thời kỳ mà lực lượng sản
xuất có sự phát triển nhảy vọt song quan hệ sản xuất toàn cầu chưa theo
kịp. Thế giới đang ở trong giai đoạn vận động hình thành trật tự mới.
Cạnh tranh nước lớn đang ở thời đoạn khiến cho giá trị địa - chiến lược
của Việt Nam lên cao (và sẽ giảm dần khi xu thế quan hệ nước lớn tịnh
tiến về xung đột hoặc thỏa hiệp). Đây là chính là thời cơ quý giá để
Việt Nam tận dụng sức mạnh thời đại từ cục diện thế giới và nhất là từ
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để đột phá, đồng thời tham gia quá
trình định vị quốc gia trong trật tự thế giới mới.
Nói tóm lại, về “thời thế”, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, gần 100 năm qua, hầu như mỗi khi thế giới rơi vào
thời kỳ bất ổn mang tính bước ngoặt thì Việt Nam lại luôn có thời cơ
chiến lược để xác lập kỷ nguyên mới của dân tộc. Đồng chí Tổng Bí thư Tô
Lâm đánh giá: “Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời
đại, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự
thế giới mới”(8). Đây là cơ hội chiến lược để Việt Nam
tham gia định hình trật tự thế giới, điều mà đất nước ta, dân tộc ta đã
không thể làm được trong những lần định hình các trật tự trước đây. Trên
cơ sở dự báo tương quan lực lượng của các cường quốc, diễn biến của các
xu thế lớn, có thể thấy thế giới trong 15 - 20 năm nữa mới dần đi vào
ổn định, trùng với mục tiêu chiến lược năm 2045 mà Đại hội XIII của Đảng
đã đặt ra. Như vậy, trong khoảng thời gian không quá dài đó, đất nước
ta phải nỗ lực rất lớn để có vị trí tốt nhất trong trật tự thế giới đang
định hình.
Về “vị thế”
Từ ngàn đời nay, dân tộc Việt Nam luôn
có khát vọng về hòa bình, độc lập, tự do và phát triển thịnh trị, có vị
trí xứng đáng trên thế giới. Đối với mọi quốc gia trên thế giới cũng như
Việt Nam, vị thế và uy tín đất nước là thành quả của quá trình nỗ lực
không ngừng nghỉ của cả đất nước và dân tộc theo suốt chiều dài lịch sử,
vượt qua mọi gian nan, trở ngại, đánh bại mọi kẻ thù vì độc lập và tự
do, vì hòa bình và hữu nghị, hạnh phúc và phồn vinh.
Ngày nay, dân tộc Việt Nam tiếp tục kế
thừa trang sử vinh quang mà cha ông ta để lại, tiếp tục gìn giữ và xây
dựng đất nước giàu đẹp hơn. Trải qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi
mới, tiềm lực quốc gia của Việt Nam gia tăng đáng kể, cả về kinh tế,
chính trị, quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Vị thế và uy tín quốc tế
của Việt Nam cũng ngày càng gia tăng với sự tham gia tích cực vào các
khuôn khổ, diễn đàn đa phương quốc tế, mạng lưới quan hệ sâu rộng với
194 quốc gia, có quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với hơn
30 quốc gia, trong đó có tất cả thành viên thường trực Hội đồng Bảo an
Liên hợp quốc(9). Từ sau Đại hội XIII (năm 2021), cục diện
đối ngoại rộng mở tiếp tục được duy trì với nhiều kết quả đột phá, tất
cả đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống đều coi trọng và mong muốn
thúc đẩy hợp tác với Việt Nam. Đảng ta xác định việc không ngừng nâng
cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước là một thành tố quan trọng
trong tổng thể lợi ích quốc gia - dân tộc cơ bản nhất của Việt Nam trong
thế giới đương đại. Cùng với thực lực của cả nước trên mọi phương diện
khác, vị thế và uy tín của Việt Nam đã góp phần tạo nên sức mạnh tổng
hợp của toàn dân tộc.
Trên cơ sở thế và lực của đất nước, đánh
giá thời cơ và thách thức, Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa khát
vọng dân tộc thành các mục tiêu chiến lược, trong đó phấn đấu đưa Việt
Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ
nghĩa vào năm 2045. Theo đó, trong giai đoạn từ nay đến năm 2045, Việt
Nam cần xác lập một “vị thế” mới, vị thế của một quốc gia phát triển, có
thu nhập cao; có vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng và sản xuất
toàn cầu. Đồng thời, chuyển từ “tham gia tích cực” đến “đóng góp xây
dựng, định hình luật chơi”, xử lý hài hòa mối quan hệ với các cường quốc
cũng như với các trung tâm quyền lực của thế giới.
Cụ thể hơn, về lực được lượng hóa, với
vị thế hiện tại (đứng thứ 34 thế giới về GDP, thứ 19 về sức mạnh quân
sự, thứ 16 về dân số, thứ 47 về ảnh hưởng văn hóa, thứ 8/27 quốc gia
khảo sát về năng lực đối ngoại), ta có thể định vị Việt Nam trong nhóm
20 quốc gia hàng đầu thế giới vào giữa thế kỷ XXI(10).
Về thế, như trên đã phân tích, thế giới
đang trong giai đoạn hết sức then chốt để định hình trật tự mới. Đồng
chí Tổng Bí thư Tô Lâm nhận định “Đây cũng là thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng”(11).
Xét về quy luật chung trong lịch sử quan hệ quốc tế cũng như lịch sử
cách mạng nước ta, đây là thời điểm then chốt để Việt Nam phấn đấu có
được vị trí tốt nhất trong trật tự mới đang hình thành.
Khái niệm “trật tự thế giới” được các
học giả định nghĩa dưới góc nhìn khác nhau. Về cơ bản, trật tự thế giới
là một mô hình quan hệ ổn định, có cấu trúc giữa các quốc gia, bao gồm
các chuẩn mực mới nổi, cơ chế xác định nguyên tắc, các tổ chức hoặc định
chế chính trị quốc tế(12). Học giả Men Honghua (Trường Đảng
Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc) cho rằng, trật tự thế giới phản ánh
tương quan quyền lực và lợi ích giữa các cường quốc. Sự bền vững của
trật tự thế giới chủ yếu phụ thuộc vào việc các cường quốc thỏa thuận
được những nguyên tắc cốt lõi trong quan hệ để cùng “chung sống”(13). Như
vậy, có thể thấy, dù đứng dưới góc nhìn nào, trật tự thế giới cũng mang
các yếu tố cấu thành cơ bản: 1- Phản ánh tương quan quyền lực hay sự so
sánh sức mạnh giữa các cực/trung tâm trong quan hệ quốc tế; 2- Phản ánh
cách thức dàn xếp, thỏa thuận hay nói cách khác là việc đặt ra luật
lệ/luật chơi giữa các cường quốc; 3- Duy trì mục tiêu chung trong một
khoảng thời gian nhất định.
Về tương quan quyền lực, các quốc gia,
đặc biệt là nước lớn không ngừng theo đuổi việc củng cố sức mạnh để kiềm
chế, đối trọng và cân bằng quyền lực lẫn nhau. Thực tế cho thấy, sau
khi Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự hai cực đã chuyển sang trật tự
nhất siêu đa cường với chủ thể dẫn dắt đi đầu là Mỹ. Tuy nhiên, trật tự
này chỉ kéo dài trong một khoảng thời gian ngắn và đang dịch chuyển mạnh
mẽ, hướng đến đa cực với sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, sự trở lại
của Nga và sự nổi lên của các trung tâm quyền lực mới như Ấn Độ. Do
vậy, để tạo thế thuận lợi, cần có quan hệ tốt nhất có thể với các trung
tâm quyền lực nói trên. Tuy nhiên, cần chú ý việc quan hệ tốt với nước
này nhất thiết không gây tổn hại hoặc tổn hại ít nhất có thể đối với
quan hệ với nước khác.
Về hệ thống nguyên tắc trong quan hệ
quốc tế, Liên hợp quốc đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các
định chế, quy tắc vận hành các mối quan hệ tổng hòa trên phạm vi toàn
cầu. Xu thế dân chủ hóa và thượng tôn pháp luật vẫn đang được đẩy mạnh.
Việt Nam hiện nay đang có vai trò ngày càng gia tăng trong các định chế
quốc tế, điều này mở ra nhiều cơ hội hơn cho Việt Nam để tham gia vào
tạo dựng hệ thống luật chơi cho trật tự mới.
Về duy trì mục tiêu chung, khi một trật
tự thế giới được định hình, ngoài lợi ích quốc gia - dân tộc vốn được
xem là lợi ích sống còn, các nước còn ràng buộc, gắn kết với nhau bởi
các mục tiêu chung. Tuy nhiên, mục tiêu đó là khác nhau đối với mỗi một
giai đoạn lịch sử nhất định. Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế
hòa bình, hợp tác cùng phát triển trở thành dòng chủ lưu, mục tiêu phát
triển được đặt lên hàng đầu. Mọi tập hợp lực lượng đều hướng đến hợp
tác, ổn định để phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao tiềm lực, sức mạnh
đất nước. Trong thời gian tới, với thời cơ đang mở ra cho mọi quốc gia
dưới tác động của cách mạng khoa học - công nghệ, dự báo mục tiêu gia
tăng ảnh hưởng, xác lập vị thế trên bản đồ thế giới sẽ trở thành ưu
tiên. Khi đó, trật tự thế giới đa cực, đa trung tâm, nhiều tầng nấc sẽ
được định hình rõ nét và chính thức thay thế cho trật tự hiện nay. Đây
cũng là thời cơ quý báu mà Việt Nam chưa bao giờ có được trong lịch sử
dân tộc.
Tóm lại, khát vọng ngàn đời của dân tộc
về “sánh vai với các cường quốc” đang có được thời cơ chiến lược để hiện
thực hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân
tộc, Việt Nam cần được định vị ở vị trí tốt nhất có thể trong trật tự
thế giới mới. Trong đó, nhất thiết phải làm được 3 việc lớn: 1- Quan hệ
tốt với các trung tâm quyền lực và xử lý tốt các mối quan hệ nước lớn;
2- Tích cực tham gia xây dựng luật chơi và hài hòa mục tiêu quốc gia với
mục tiêu chung; 3- Tập hợp lực lượng phù hợp.
Về “tâm thế”
“Thời thế” và “vị thế” mới mang tới “tâm thế” mới cho dân tộc Việt Nam. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: Đó là tâm thế “tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường và tự hào dân tộc”. Đây
cũng là tâm thế mà bất cứ mọi quốc gia - dân tộc đều cần phải có trong
một thế giới đầy biến động, trong một trật tự thế giới mới đang định
hình, và nhất là trong một khát vọng vươn mình vượt lên đỉnh cao mới.
Về tự tin, trong thế giới đầy
bất an, bất ổn, bất định hiện nay, nhiều quốc gia lúng túng về mô hình,
con đường phát triển, song Việt Nam tự tin và nhất quán về con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội; tự tin vì có Đảng Cộng sản Việt Nam - một chính
đảng đã khẳng định đầy đủ bản lĩnh, trí tuệ, sức chiến đấu trên chặng
đường cách mạng gần 100 năm, một chính đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam
gặt hái được kỳ tích chưa từng có trong lịch sử dân tộc, được bạn bè
quốc tế khâm phục, ngợi ca. Việt Nam cũng tự tin về thế và lực của đất
nước trong tâm thế “biết mình, biết người”.
Về tự chủ, trong một thế giới
đầy xáo trộn và chịu sự tác động đa chiều từ cạnh tranh nước lớn, việc
giữ vững độc lập, tự chủ có ý nghĩa hết sức quan trọng, là “mỏ neo”,
“bánh lái” để giữ vững mục tiêu, lộ trình mà Đảng đã đề ra. Lịch sử Việt
Nam đã minh chứng, giữ vững được độc lập, tự chủ, đất nước mới có cơ
hội phát triển; mất độc lập, tự chủ là “nguồn cơn” mất nước. Qua 40 năm
tiến hành công cuộc đổi mới, nhất là trong những năm gần đây, dưới sự
chèo lái của Đảng, Việt Nam đã thể hiện rõ tính độc lập, tự chủ theo một
phương thức hết sức độc đáo trong thế chiến lược đầy thách thức ở khu
vực và trên thế giới.
Về tự lực, tự cường, lịch sử
cách mạng Việt Nam cũng cho thấy, ngay cả những lúc còn “non yếu”, thậm
chí tương quan sức mạnh giữa “ta” và “địch” có sự chênh lệch khá lớn,
Việt Nam vẫn nêu cao tinh thần tự lực, “đem sức ta mà giải phóng cho
ta”. Chính tinh thần tự lực đó đã giúp Việt Nam kết hợp nhuần nhuyễn sức
mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, trên nền tảng khối đại đoàn
kết toàn dân tộc. Vì vậy, với khát vọng vươn mình của toàn dân tộc,
trên nền tảng thế và lực đã tích tụ trong 40 năm tiến hành công cuộc đổi
mới, trong gần 100 năm có Đảng, trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước
và giữ nước của dân tộc, Việt Nam cần nêu cao ý chí tự cường, kết hợp
hài hòa với tiến trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Hội nhập
quốc tế mang lại nguồn lực từ bên ngoài, song chính quá trình hội nhập
quốc tế, quá trình tham gia toàn cầu hóa, những tác động sâu sắc từ đại
dịch COVID-19 và các cuộc xung đột quốc tế đã cho thấy, để đất nước có
thể “vươn mình” thì tinh thần tự cường đóng vai trò hết sức quan trọng,
nhất là trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tăng cường tiềm
lực quốc phòng - an ninh.
Về tự hào dân tộc, từ
ngàn xưa đến nay, tuy “mạnh yếu có lúc khác nhau”, song cháy bỏng trong
tâm khảm mỗi người dân Việt Nam luôn là niềm tự hào về “nước non Việt
Nam ta”. Vào thời điểm bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam hoàn toàn có
quyền tự hào về quá khứ hào hùng, về cơ đồ hiện tại và về khát vọng vào
tương lai của đất nước.
Kỷ nguyên mới, thời thế mới, vị thế mới
đòi hỏi phải tiến bước với tâm thế mới. “Biết mình, biết người, biết
thời thế”, từ đó xác định tâm thế đúng đắn là điều hết sức quan trọng.
Trong một thế giới đang biến chuyển hết sức nhanh chóng, khi thế và lực
đã đủ mà quá tự ti, rụt rè sẽ để mất thời cơ chiến lược. Tất nhiên,
trong một thời cuộc đầy thách thức, sự tự tin luôn gắn liền với tinh
thần tự chủ, tự lực, tự cường, với một thái độ cẩn trọng, như Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ - Kiên quyết
không ngừng thế tiến công”. Người cũng căn dặn: “Dân ta xin nhớ chữ Đồng
- Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.
Để tận dụng tốt thời cơ chiến lược trong
kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, cần nhận thức
sâu sắc “chữ Đồng” ở một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, “đồng tâm” xác định
đây là thời cơ chiến lược có tính lịch sử. Toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân, toàn thể dân tộc Việt Nam đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực hết mình để
đưa đất nước Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, vươn mình sánh vai cùng
các cường quốc năm châu.
Thứ hai, với tâm thế “tự tin,
tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”, “đồng sức” trên cơ sở không
ngừng khơi dậy, tăng cường nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc. Sức mạnh
nội sinh chính là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hơn bao giờ hết, nền tảng
vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên mối quan hệ bền
chặt giữa Đảng và nhân dân trở nên vô cùng quan trọng.
Thứ ba, “đồng minh” mà Bác Hồ
nhắc tới được thể hiện trong kỷ nguyên mới chính là ở việc tăng cường
quan hệ với các “cực” quan trọng định hình trật tự thế giới trong tương
lai; đồng thời, xử lý tốt mối quan hệ giữa các “cực”; chủ động tham gia
tích cực vào việc xây dựng, định hình, kiến tạo “luật chơi”; tự tin đóng
góp tích cực vào “nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn
minh nhân loại”; qua đó, giúp Việt Nam gia tăng hơn nữa sức mạnh tổng
hợp quốc gia cùng vị thế và uy tín trên trường quốc tế.
Trước thềm Xuân mới - mùa Xuân lần thứ
95 của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, trên khắp đất nước Việt
Nam đang dấy lên một tinh thần phấn khởi, sôi nổi, đầy quyết tâm trong
cuộc cách mạng để chuẩn bị mọi điều kiện cho kỷ nguyên mới, kỷ nguyên
vươn mình của dân tộc. Không khí ấy, tinh thần ấy gợi nhớ những thời
khắc lịch sử, những quyết sách lịch sử của những Người Cộng sản chân
chính. Trong đêm trước của Cách mạng Tháng Mười Nga, V. I. Lê-nin đã
nhấn mạnh: “Lịch sử sẽ không tha thứ những người cách mạng hôm nay
có thể chiến thắng (và nhất định sẽ thắng lợi hôm nay) mà lại chậm trễ,
vì đợi đến ngày mai, không khéo họ lại bị mất hết cả”(14). 80 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu quyết tâm bất hủ: “Lúc
này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả
dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(15). Nửa thế kỷ trước, ngày 25-3-1975, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam họp phiên đặc biệt và nhận định: “Thời
cơ chiến lược đã tới... phải nắm vững thời cơ chiến lược mới, tranh thủ
thời gian cao độ... hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam càng sớm
càng tốt”(16). Trước thềm Đảng Cộng sản Việt Nam tròn 95 năm tuổi, Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Mọi
cơ hội đang đến với chúng ta phải được nắm bắt kịp thời, bởi nếu để
vuột mất cơ hội, chúng ta sẽ có lỗi với lịch sử và với nhân dân”(17).
Có thể khẳng định, kỷ niệm 95 năm ngày
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta chứng kiến sự hội tụ lịch sử
khi toàn dân tộc chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới. Đó là sự hội tụ của
Chí lớn, Trí sáng, Quyết tâm cao để xây dựng nên Nghiệp lớn của “nước
non Việt Nam ta”. Đó là một sự nghiệp cao cả đáp lời khát vọng non sông
ngàn năm, là nỗ lực hoàn thành trọn vẹn tâm nguyện của Bác Hồ kính yêu,
được Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần nhắc lại và nhấn mạnh: “Toàn
Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng
vào sự nghiệp cách mạng thế giới”./.