Thứ Tư, 5 tháng 2, 2025

Hành trình không ngừng vươn lên của nữ sinh viên khiếm thị.

 Cuộc sống là hành trình không ngừng vươn lên, và với Vũ Thị Hải Anh, sinh viên khóa 68 ngành Quan hệ công chúng, Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, hành trình ấy còn được tô điểm bởi sự kiên cường vượt qua nghịch cảnh. Nữ sinh viên khiếm thị sinh năm 2000 đã trở thành người truyền cảm hứng cho nhiều bạn trẻ khi là 1 trong 10 cá nhân xuất sắc đạt Giải thưởng Tình nguyện Quốc gia năm 2024.

Từ bóng tối vươn tới ánh sáng

 Sinh ra và lớn lên trong một gia đình khó khăn ở phường Cửa Bắc, thành phố Nam Định, Vũ Thị Hải Anh có số phận không được may mắn. Bị khiếm thị bẩm sinh do di chứng chất độc da cam từ người cha, Hải Anh phải đối mặt với muôn vàn thử thách ngay từ thuở nhỏ. Nhưng nghịch cảnh không khiến cô gục ngã, mà ngược lại, trở thành nguồn sức mạnh để cô phấn đấu vươn lên.

Trong căn nhà nhỏ nơi bố mẹ già yếu và người anh trai bệnh tật luôn cần sự chăm sóc, Hải Anh vẫn kiên cường theo đuổi con đường học vấn. Để rồi, bằng ý chí quyết tâm, năm 2023, Hải Anh xuất sắc giành vị trí thủ khoa đầu vào Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn. Cô gái khiếm thị này liên tiếp giành nhiều giải thưởng giá trị như: Giải Đặc biệt trong “Cuộc thi Viết thư quốc tế UPU lần thứ 48 năm 2019”, “Giải Đại sứ văn hóa đọc Thủ đô năm 2019”, “Tuyên dương học sinh giỏi tiêu biểu của Thủ đô năm học 2019-2020”, giải thưởng “Thanh niên Sống đẹp năm 2024” của Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam... Mới đây, Hải Anh vinh dự được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trao Giải thưởng Tình nguyện Quốc gia năm 2024.

Hành trình không ngừng vươn lên của nữ sinh viên khiếm thị
 Sinh viên Vũ Thị Hải Anh.

Hằng ngày, Hải Anh đến trường cùng chiếc gậy dò đường. Cô vẫn kiên trì theo đuổi con đường học vấn, bất chấp muôn vàn khó khăn, thách thức. Trên giảng đường, các giảng viên phần lớn sử dụng bản trình chiếu (slide) làm phương tiện giảng dạy chính nhưng đó lại là thứ cô không thể nhìn thấy được. Không chấp nhận bị bỏ lại phía sau, cô tìm ra phương pháp học tập cho riêng mình.

Hải Anh chia sẻ: “Tôi luôn chọn vị trí bàn đầu để lắng nghe rõ nhất lời giảng, ghi âm lại các phần quan trọng để về nhà nghe lại, nghiền ngẫm từng chi tiết. Những phần chưa hiểu, tôi sẽ nhắn tin để trao đổi với thầy cô và bạn bè, chủ động xin tài liệu học tập để không bỏ lỡ bất kỳ kiến thức nào”.

Dù khó khăn là vậy, ngoài giờ học, Hải Anh vẫn tự nuôi sống mình bằng các công việc làm thêm. Công việc chính của cô là bấm huyệt trị liệu cho những người gặp vấn đề sức khỏe và gỡ băng ghi âm cho các trung tâm nghiên cứu. Thời gian gần đây, Hải Anh còn thử sức với công việc dẫn chương trình nhờ vào giọng nói truyền cảm và rõ ràng của mình.

Hành trình không ngừng vươn lên của nữ sinh viên khiếm thị
 Vũ Thị Hải Anh (thứ tư, từ trái sang) rạng rỡ nhận Giải thưởng Tình nguyện Quốc gia năm 2024.

Hiện nay, Hải Anh là Phó chủ nhiệm Mạng lưới Sinh viên Khiếm thị Việt Nam. Cô không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình mà còn đóng vai trò như một người truyền cảm hứng mạnh mẽ cho các bạn trẻ trong cộng đồng người khuyết tật. Với tinh thần lạc quan và ý chí kiên định, Hải Anh luôn tìm cách chia sẻ những trải nghiệm cá nhân trên hành trình tự lập, vượt khó để khích lệ những người có cùng hoàn cảnh. “Cách duy nhất mà người khuyết tật có thể làm là phải thay đổi chính mình, phải nâng cao nhận thức, kỹ năng của mình để thích ứng với sự phát triển của xã hội. Tôi tin rằng sự thay đổi từ bên trong sẽ tạo ra ảnh hưởng lớn hơn và lâu dài hơn cho cộng đồng”, Hải Anh chia sẻ.

Dù bận rộn với công việc và học tập, Hải Anh luôn tìm cách cân bằng cuộc sống bằng phương pháp quản lý thời gian khoa học. Là người khiếm thị, cô hiểu rằng việc hoàn thành một số công việc có thể đòi hỏi nhiều thời gian hơn so với người bình thường. Vì vậy, cô luôn dành thời gian để lập kế hoạch cụ thể. Cô cho biết: “Tôi thường vẽ cho mình một bản đồ thời gian biểu chi tiết theo từng ngày, từng tuần, từng tháng. Việc này giúp tôi không bao giờ trễ hẹn và luôn làm chủ thời gian của mình”. Bên cạnh đó, Hải Anh cũng thường tìm đến những thú vui khác như chạy bộ, đọc sách, chơi đàn thập lục... để dành thời gian chăm sóc sức khỏe tinh thần và thể chất.

Hành trình của Hải Anh là minh chứng sống động cho chân lý: “Không có giới hạn nào không thể vượt qua nếu ta biết cố gắng và tin vào chính mình”. Từ bóng tối của đôi mắt, cô đã soi sáng cho cuộc đời mình và biết bao người khác bằng ý chí và lòng nhân ái.

Chuyển đổi số phải là của mọi người

 Mang trong mình hoài bão lớn về một xã hội số không rào cản, Hải Anh đã dành nhiều thời gian của mình để theo đuổi sáng kiến “Hành chính công trực tuyến cho người khuyết tật” do Hội Người mù Việt Nam phối hợp với với Quỹ Abilis Phần Lan tài trợ tổ chức. Ý tưởng này bắt nguồn từ những trải nghiệm thực tế của bản thân và cộng đồng. Khi Chính phủ đẩy mạnh chuyển đổi số, nhiều người khuyết tật vẫn đang loay hoay với các thao tác cơ bản trên cổng dịch vụ công. Không ít người phải nhờ người thân, bạn bè hỗ trợ để thực hiện các thủ tục hành chính đơn giản.

Ban đầu, ý tưởng của Hải Anh vấp phải nhiều hoài nghi từ các cơ quan quản lý: Làm sao để một sinh viên khiếm thị có thể triển khai dự án về công nghệ? Câu hỏi ấy đã theo cô suốt những ngày đầu gõ cửa các cơ quan, tổ chức xin tài trợ. Thế nhưng, bằng sự kiên trì và tầm nhìn rõ ràng về mục tiêu, Hải Anh đã dần thuyết phục được những người xung quanh về tính khả thi của dự án.

Hải Anh cho biết: “Chúng tôi quyết tâm thực hiện sáng kiến vì nhận thấy trong bối cảnh xã hội phát triển, chính phủ số và hành chính số đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của toàn hệ thống chính trị. Tuy nhiên, quá trình cải cách này vẫn chưa chú trọng đầy đủ đến những khó khăn của cộng đồng người khuyết tật”.

Hành trình không ngừng vươn lên của nữ sinh viên khiếm thị

Vũ Thị Hải Anh (thứ ba, từ trái sang) trong Hội thảo “Góc nhìn người khuyết tật và chuyển đổi số trong lĩnh vực hành chính công trực tuyến”. Ảnh do nhân vật cung cấp

Sáng kiến của Hải Anh không chỉ dừng lại ở những buổi tập huấn đơn thuần. Cô và cộng sự đã xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện, bao gồm bộ tài liệu hướng dẫn đa phương tiện phù hợp với từng dạng khuyết tật. Đặc biệt, việc tích hợp công nghệ hỗ trợ như phần mềm đọc màn hình, hướng dẫn bằng giọng nói và ngôn ngữ ký hiệu đã giúp người khuyết tật dễ dàng tiếp cận thông tin hơn.

Thành công của sáng kiến được minh chứng qua những con số ấn tượng: Hai lớp tập huấn với hơn 70 học viên tại Hà Nội, hơn 300 bài dự thi trong cuộc thi “Hành chính công trực tuyến: Tầm nhìn của tương lai”. Nhưng quan trọng hơn cả là những thay đổi trong nhận thức và hành vi. Nhiều người khuyết tật đã có thể tự mình thực hiện các thủ tục hành chính trực tuyến, từ đăng ký căn cước công dân đến thủ tục kinh doanh.

Trong khuôn khổ của sáng kiến, Hội Người mù Việt Nam phối hợp với Quỹ Abilis Phần Lan cũng tài trợ tổ chức Hội thảo “Góc nhìn người khuyết tật và chuyển đổi số trong lĩnh vực hành chính công trực tuyến” thu hút hơn 300 đại biểu từ các cơ quan nhà nước, tổ chức quốc tế, trở thành cầu nối quan trọng đưa tiếng nói của cộng đồng người khuyết tật đến với các nhà hoạch định chính sách. Những đề xuất và góp ý từ hội thảo đã và đang được các cơ quan chức năng nghiên cứu, xem xét để hoàn thiện hệ thống dịch vụ công trực tuyến.

Câu chuyện của Hải Anh không chỉ là về công nghệ hay chuyển đổi số. Đó còn là minh chứng cho sức mạnh của quyết tâm và niềm tin vào khả năng vượt qua giới hạn của bản thân. Trong hành trình kiến tạo một xã hội số không rào cản, Hải Anh đã cho thấy, định kiến và hoài nghi có thể bị phá vỡ bởi những hành động thiết thực và kiên trì.

Giải thưởng Tình nguyện Quốc gia 2024 là sự ghi nhận xứng đáng cho những đóng góp của Hải Anh. “Tôi cảm thấy vô cùng tự hào và biết ơn vì những gì bản thân đã làm trong năm qua thông qua các dự án và chương trình tập huấn đã được đánh giá cao và ghi nhận trong cộng đồng”, Hải Anh bày tỏ. 

Vượt lên trên tất cả, thành công của Hải Anh đã góp phần thay đổi cách nhìn của xã hội về người khuyết tật. Không còn là những người cần được giúp đỡ, họ hoàn toàn có thể là những người tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, những người dẫn đường cho một tương lai công nghệ bình đẳng và toàn diện hơn.

Ánh đèn nuôi những ước mơ.

 Màn đêm buông xuống, những dãy nhà ở của cán bộ, nhân viên Đồn Biên phòng Na Ngoi (Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An) chìm vào bóng tối tĩnh mịch nơi vùng biên Kỳ Sơn. Cuối dãy nhà, một căn phòng vẫn sáng ánh điện, ở nơi ấy có người chiến sĩ biên phòng đang miệt mài dạy học cho hai con nuôi của Đồn là em Vừ Bá Lầu, học sinh Lớp 6C và em Vi Dương Cầm, học sinh Lớp 8D, Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Na Ngoi (xã Na Ngoi, huyện Kỳ Sơn). Cán bộ, nhân viên ở Đồn gọi đó là ánh đèn nuôi những ước mơ.

Cái lạnh vùng biên Kỳ Sơn về đêm thật đáng sợ. Chỉ hé cửa một chút là giá buốt tạt vào da mặt như kim châm. Tôi bước vội về căn phòng có ánh đèn và dõi theo tiếng chỉ dạy nhỏ nhẹ, ân cần của Thiếu tá QNCN Phạm Xuân Minh, nhân viên Đội Vận động quần chúng, người được chỉ huy Đồn phân công là bố nuôi, trực tiếp chăm sóc, hỗ trợ, dạy bảo hai con nuôi Vừ Bá Lầu và Vi Dương Cầm.

Ánh đèn nuôi những ước mơ
Thiếu tá QNCN Phạm Xuân Minh hướng dẫn hai con nuôi học tập. 

Ngồi tâm sự, đồng chí Minh cho biết: Hoàn cảnh hai con thật đáng thương. Vừ Bá Lầu nhà ở bản Phù Khả 1 (xã Na Ngoi), cách trung tâm xã 6km. Bố mất sớm, một mình mẹ Lầu nuôi 4 người con, chuyện lo đủ ăn đã là một “kỳ tích”, nên Đồn quyết định nhận nuôi dưỡng Lầu tại đơn vị, vừa giảm bớt gánh nặng cho gia đình, vừa để em có điều kiện học tập, sinh hoạt tốt hơn. Còn Vi Dương Cầm ở bản Tặng Phăn (xã Na Ngoi), nhà có 5 chị em nhưng bố mẹ lại bệnh tật, ốm đau quanh năm. Đồn quyết định nhận nuôi em để giảm bớt một phần khó khăn cho gia đình.

Hai con dễ gần, dễ bắt chuyện. Có lẽ, các con đã quen với những vị khách đến đơn vị. Các con chia sẻ rằng, từ ngày về đây được các chú, các anh, đặc biệt là bố nuôi chăm sóc, chỉ bảo, điều kiện ăn ở, sinh hoạt rất tốt. Các con không còn sợ rét, sợ đói như trước đây nữa.

Vi Dương Cầm tâm sự: "Vừa rồi, nếu không có bố nuôi đưa đi chữa bệnh thì con không còn được ngồi học ở đây nữa!".

Tôi hỏi anh Minh: "Con bị bệnh ra sao?".

Anh Minh kể lại: “Giữa năm 2024, con đột nhiên sụt cân trong thời gian ngắn. Người gầy xọp đi. Đơn vị đưa con ra bệnh xá của Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 4 khám, bác sĩ truyền nước, kê đơn về uống thuốc nhưng bệnh tình không thuyên giảm. Sức khỏe con ngày một yếu, gia đình lên Đồn xin về làm lễ nhưng chỉ huy Đồn quyết định giao cho tôi đưa con xuống Bệnh viện Sản nhi Nghệ An để khám, tìm bệnh và hướng điều trị. Rất may, sau khi xuống viện, có đầy đủ các kết quả xét nghiệm và chẩn đoán, bác sĩ đã tìm ra bệnh và có thuốc điều trị hợp lý. Nay sức khỏe con đã hồi phục trở lại”.

"Sau này, lớn lên các con ước mơ gì?"-tôi hỏi. Lầu bảo: "Con cố gắng học tốt để vào đại học". Còn Cầm nói: "Con sẽ phấn đấu để trở thành người chiến sĩ biên phòng, tiếp tục giúp đỡ đồng bào như bố nuôi và các chú ở Đồn".

Những ước mơ thật trong trẻo và đẹp đẽ! Đẹp như tình quân dân, như ánh đèn đêm đông nơi miền biên ải này. Từ ánh đèn ấy, căn phòng nhỏ ấy, rồi đây các con sẽ lớn khôn, sẽ trở thành những công dân có ích, tiếp tục dựng xây quê hương thêm giàu mạnh.

Thương binh Lã Mạnh Tùng nặng nghĩa tình đồng đội.

 Năm Ất Tỵ 2025, thương binh Lã Mạnh Tùng bước sang tuổi 74 với 56 năm tuổi Đảng. Mang trên mình thương tật 48% nhưng ròng rã hơn 30 năm qua, ông đã đi khắp núi rừng Tây Nguyên-nơi hơn nửa thế kỷ trước từng diễn ra những trận chiến đấu ác liệt giữa ta và địch trên Mặt trận Tây Nguyên (B3) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước-để tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS).

Lã Mạnh Tùng sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng ở xã Hải Hà, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Cuối năm 1968, khi tròn 17 tuổi, anh viết đơn bằng máu xung phong đi bộ đội. Sau thời gian huấn luyện đặc công, Lã Mạnh Tùng được biên chế về Tiểu đoàn Đặc công 20, trực thuộc Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên -Quân đoàn 3. Ngày 19-8-1974, Tiểu đoàn Đặc công 20 về đội hình Trung đoàn Đặc công 198, trực thuộc Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên-đơn vị tiền thân của Lữ đoàn Đặc công 198 (Binh chủng Đặc công).

Từ năm 1969 đến tháng 4-1975, Lã Mạnh Tùng trực tiếp tham gia 28 trận đánh lớn, nhỏ từ cấp trung đội đến cấp tiểu đoàn, được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì, Ba. Theo lời kể của thương binh Lã Mạnh Tùng, với lối đánh của bộ đội đặc công luồn sâu, đánh hiểm, thắng lớn, "đánh nở hoa trong lòng địch” thì trong nhiều trận đánh, đa phần thi hài của liệt sĩ không thể thu dung được!”.

Thương binh Lã Mạnh Tùng nặng nghĩa tình đồng đội

Thương binh Lã Mạnh Tùng bên hài cốt 12 liệt sĩ của Trung đoàn 66 (Sư đoàn 10, Quân đoàn 3), hy sinh ngày 27-1-1969, quy tập được ở hang đá trên núi Chư Păh.

Đơn cử như trận đánh của Đại đội 62, Tiểu đoàn Đặc công 20 tập kích kho đạn Cơ Ti Mơ Rông của Quân đoàn II ngụy ngày 28-12-1973. Đây là kho đạn lớn của địch ở Tây Nguyên thời điểm ấy. Trong trận tập kích đó, Đại đội 62 đã phá hủy 5 kho đạn với khoảng 15.000 tấn bom đạn, diệt hơn 30 tên địch. Để giành được thắng lợi, 5 đồng chí của Đại đội 62 hy sinh, Lã Mạnh Tùng bị thương với thương tật 48%... Cũng trong trận tập kích kho đạn Cơ Ti Mơ Rông, 4 liệt sĩ của Đại đội 62 trong “tổ thọc sâu” không thể thu dung được thi hài. Đến nay, sau nhiều đợt đơn vị tổ chức tìm kiếm ở vị trí 5 kho đạn của địch bị bộ đội ta phá nổ ngày ấy, nhưng vẫn chưa tìm được hài cốt của 4 liệt sĩ (!).

Chính ký ức về sự hy sinh của đồng đội trong các trận chiến đấu mà ông Lã Mạnh Tùng trực tiếp tham gia đã thôi thúc ông trở lại chiến trường xưa tìm HCLS. Hơn 30 năm qua (từ năm 1994 đến nay), thương binh Lã Mạnh Tùng không nhớ mình đã thực hiện bao nhiêu chuyến đi tìm HCLS ở các tỉnh Tây Nguyên. Dựa trên những tài liệu xác thực từ sự lưu trữ của các đơn vị từng chiến đấu ở Mặt trận Tây Nguyên, hay của cơ quan chính sách các địa phương, cả tài liệu có được từ phía “đối phương” cộng với thông tin tìm hiểu thực tế trong nhân dân, thương binh Lã Mạnh Tùng đã thực hiện thành công nhiều đợt tìm kiếm HCLS.

Thương binh Lã Mạnh Tùng nặng nghĩa tình đồng đội
 Thương binh Lã Mạnh Tùng kể về những chuyến đi tìm hài cốt liệt sĩ trên chiến trường Tây Nguyên.

Nhẩm tính, hơn 30 năm qua, thương binh Lã Mạnh Tùng cùng các đơn vị quy tập HCLS của Quân đoàn 3, của Bộ CHQS các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk và Đắk Nông tìm được gần 100 HCLS, quy tập về an táng tại nhiều nghĩa trang liệt sĩ trên khắp mọi miền Tổ quốc. Điều đáng trân trọng ở thương binh Lã Mạnh Tùng là mỗi khi có thông tin về liệt sĩ hy sinh ở Mặt trận Tây Nguyên; hoặc có thân nhân liệt sĩ nhờ cậy tìm HCLS hy sinh trong các trận chiến đấu trên địa bàn Tây Nguyên là ông xông xáo, bắt tay ngay vào việc với quyết tâm cao nhất. Kể từ ngày ông Lã Mạnh Tùng làm công việc sâu nặng nghĩa tình đồng đội này, có bao nhiêu thu nhập từ tiền trợ cấp thương tật và tiền nghỉ hưu của sĩ quan đặc công sau 21 năm quân ngũ, ông đều dành hết cho những chuyến đi tìm HCLS.

Trong số hàng trăm chuyến đi tìm HCLS hy sinh trên chiến trường Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thương binh Lã Mạnh Tùng nhớ mãi chuyến ông rong ruổi, luồn rừng, leo núi tìm được hài cốt 12 liệt sĩ của Trung đoàn 66, Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) hy sinh ngày 27-1-1969, trong trận đánh ở núi Chư Păh (nay thuộc xã Ia Kreng, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai), khi Mỹ-ngụy mở Chiến dịch Bình Tây 48, 49, 50 hòng truy quét các lực lượng của các Trung đoàn 24, Trung đoàn 66 (Sư đoàn 10) đang tác chiến tại đây.

Thương binh Lã Mạnh Tùng kể: Cuối tháng 5-2021, khi có tài liệu về Chiến dịch Bình Tây 48, 49, 50 của Mỹ-ngụy truy quét bộ đội Trung đoàn 24, Trung đoàn 66 tại núi Chư Păh đầu năm 1969, trong đó có thông tin về bộ đội ta hy sinh tại đây, ngày 30-5-2021, ông đã đề xuất với Đội quy tập HCLS của Quân đoàn 3 cử cán bộ đi cùng đến liên hệ với UBND xã Ia Kreng và được đồng chí Rơ Chăm Tâm, Chủ tịch UBND xã cử thêm Chỉ huy trưởng Ban CHQS xã Rơ Chăm Sinh và hai dân quân đi cùng đoàn tiến hành khảo sát khu vực núi Chư Păh.

Từ trung tâm xã Ia Kreng đến núi Chư Păh, đoàn khảo sát phải luồn rừng, chủ yếu đi bộ khoảng 18km thì đến được điểm cao 950. Tại điểm cao này, đoàn phát hiện những vật dụng của bộ đội ta từng dừng chân nơi đây, như nắp soong quân dụng bị bẹp dúm, những miếng vải tăng võng... Sau một ngày khảo sát, tìm kiếm, đoàn trở lại xã Ia Kreng. Ngày 1-6-2021, thương binh Lã Mạnh Tùng cùng cán bộ địa phương đến làng Tiếp, xã Ia Kreng tìm gặp cụ bà cao tuổi nhất làng để tìm kiếm thêm thông tin và được cụ bà kể lại chuyện trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ, một ngày chồng của cụ bà đi lên núi Chư Păh săn bắt thú về có nói: “Khi đi đến gần hang đá trong núi có nghe tiếng động lạ, nhưng không dám tìm đến!”. Chỉ một chi tiết nhỏ ấy nhưng lại quý giá vô cùng, thương binh Lã Mạnh Tùng quả quyết: “Bộ đội ta hy sinh trong hang đá, trên núi Chư Păh!”. Ngày hôm sau (2-6-2021), thương binh Lã Mạnh Tùng và 3 thanh niên dân tộc thiểu số của địa phương thông thạo đi rừng cùng một nhân viên ban quản lý rừng trở lại núi Chư Păh và tìm ra hang đá. Thật mừng là ngay cửa hang, mọi người phát hiện tăng võng, bát ăn cơm và một số di vật của bộ đội ta. Khi mọi người trong đoàn dùng xà beng bẩy tảng đá rộng 1m, dài 2m ở cửa hang thì tìm được một hài cốt phía dưới tảng đá. Mọi người cho rằng tiếng động lạ mà chồng cụ bà ở làng Tiếp nghe thấy trong chuyến đi săn năm 1969 rất có thể là của đồng chí bộ đội khi bị tảng đá này đè lên, dẫn đến hy sinh (!).

Khảo sát và tìm được vị trí liệt sĩ hy sinh trong hang đá trên núi Chư Păh, thương binh Lã Mạnh Tùng trở về báo cáo với Đội quy tập HCLS Quân đoàn 3, đề nghị cho lực lượng, phương tiện, công cụ tiến hành tìm kiếm HCLS ở khu vực hang đá. Một tháng sau, khoảng đầu tháng 7-2021, thương binh Lã Mạnh Tùng cùng 14 cán bộ, chiến sĩ Đội quy tập HCLS Quân đoàn 3 trở lại hang đá trên núi Chư Păh. Sau 3 ngày đào bới đất đá trong hang, đoàn đã tìm thêm được 11 HCLS. Quy tập được 12 HCLS của Trung đoàn 66 ở hang đá, trên núi Chư Păh, Đội quy tập HCLS Quân đoàn 3 đã lấy mẫu gửi Cục Người có công (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) để giám định AND, làm các bước xác định danh tính cho các liệt sĩ.

Tháng 4-2023, thương binh Lã Mạnh Tùng lại góp công lớn khi ông xác minh, trực tiếp tham gia xác minh, quy tập được 8 HCLS của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 28, Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) hy sinh trong Chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972 tại phường Ngô Mây, TP Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Trong số 8 HCLS quy tập được, có một liệt sĩ xác định được tên là Nguyễn Văn Hàm, quê xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Sau khi quy tập, thương binh Lã Mạnh Tùng cùng thân nhân liệt sĩ đã đưa hài cốt liệt sĩ Nguyễn Văn Hàm về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Quế Nham vào ngày 16-6-2024. 

Trung tuần tháng 8-2024, thương binh Lã Mạnh Tùng cùng đồng đội về Tây Nguyên dự Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống Lữ đoàn Đặc công 198 và cùng chung vui khi đơn vị được tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất. Dự lễ xong, thương binh Lã Mạnh Tùng lại gấp gáp “hành quân” trở lại xã Hà Tây, huyện Chư Păh để xác minh thông tin về vị trí mộ liệt sĩ Nguyễn Văn Khoa thuộc Đại đội 19, Trung đoàn Đặc công 198, hy sinh ngày 10-3-1975 tại căn cứ truyền tin trên đỉnh núi Chư Hreng. Và những tháng cuối của năm 2024 vừa qua, thương binh Lã Mạnh Tùng cùng thân nhân liệt sĩ tìm đến xã Đắk Ang, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, tìm kiếm ngôi mộ tập thể của các liệt sĩ Trung đoàn 101C, Sư đoàn 325, hy sinh trong trận tiến công trại biệt kích Đắk Seang vào ngày 18-8-1968. Ông quả quyết: “Mỗi khi nghe được thông tin về HCLS còn nằm lại đâu đó trên vùng đất của chiến trường Tây Nguyên năm xưa là trái tim tôi lại thôi thúc lên đường tìm kiếm!”.

Nghệ nhân Ưu tú Phạm Hồng Vinh: 35 năm thổi hồn Việt vào tranh kính.

 Dưới bàn tay tài hoa của “phù thủy” tranh kính Phạm Hồng Vinh, những tấm kính đơn điệu, dễ vỡ trở thành các tác phẩm điêu khắc nghệ thuật đặc sắc, bền bỉ với thời gian, mang đậm bản sắc văn hóa Việt.

Người sáng lập nghề tranh khắc kính tại Việt Nam

Nghệ nhân Ưu tú Phạm Hồng Vinh (sinh năm 1961, tại thị xã Sơn Tây, Hà Nội) là người sở hữu bằng độc quyền sáng chế về quy trình sản xuất tranh kính tại Việt Nam do Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ cấp năm 2012; là tác giả của dòng tranh kính đầu tiên đạt tiêu chuẩn OCOP năm 2020. Năm 2023, với sản phẩm tranh kính điêu khắc của mình, nghệ nhân Phạm Hồng Vinh vinh dự đón nhận Huy chương vàng cuộc thi sáng chế Quốc tế lần thứ 25 tại Liên bang Nga. Những thành quả ấy là kết tinh của hơn 35 năm miệt mài sáng tạo của một người nghệ nhân dành trọn đam mê cho tranh kính.

Nghệ nhân Ưu tú Phạm Hồng Vinh: 35 năm thổi hồn Việt vào tranh kính

Nghệ nhân Ưu tú Phạm Hồng Vinh và tác phẩm tranh kính của mình. Ảnh: Hải Ly

“Từ nhỏ, tôi đã yêu thích hội họa và điêu khắc nên thường được mọi người nhờ vẽ tranh, khắc hình. Năm 1988, một người bạn mang đến chiếc cốc pha lê và nhờ tôi khắc họa tiết. Chưa từng thử khắc trên kính trước đó nên tôi rất hứng thú mày mò, thử nghiệm. Sau 1 tháng, tôi sáng tạo ra đá mài kính để điêu khắc thành công sản phẩm cho người bạn của mình”, ông Vinh tự hào nhớ lại.

Từ cơ duyên ấy, ông Vinh tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm để tạo ra những chiếc máy mài kính đầu tiên tại Việt Nam và từng bước hoàn thiện dòng tranh kính đá mài (sản phẩm tranh kính đời đầu), đặt nền móng cho những tác phẩm điêu khắc kính sau này. Năm 1994, thương hiệu Vinh Coba ra đời, cung cấp gương kính điêu khắc hoa văn dạng phù điêu và kính mờ cho ngành xây dựng.

Nghệ nhân Ưu tú Phạm Hồng Vinh: 35 năm thổi hồn Việt vào tranh kính

“Khi đã gắn bó với nghề kính, tôi hiểu rằng đổ vỡ là điều bình thường. Nhưng khi vượt qua được, thành quả nhận lại sẽ vô cùng xứng đáng”, ông Vinh chia sẻ. Ảnh: NVCC 

Ông Vinh cho biết, khó khăn lớn nhất lúc bấy giờ là không có ai hướng dẫn, bởi nghề này chưa có người đi trước, kiến thức chủ yếu tự mày mò, trong khi internet thời đó còn hạn chế. “Không có thầy dạy, tôi vừa làm, vừa tự tìm đường đi riêng. Những gì chưa ai làm, tôi sẽ làm”, ông Vinh chia sẻ.

Sau 9 năm miệt mài nghiên cứu, sáng tạo, bức tranh kính điêu khắc trên khổ 1m2 ra đời, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hành trình theo đuổi nghệ thuật tranh kính điêu khắc của nghệ nhân Phạm Hồng Vinh. Cơ sở gương kính Vinh Coba khi đó được đổi tên thành Công ty cổ phần kính nghệ thuật Coba, sản xuất tranh kính nghệ thuật phục vụ các công trình đình chùa, nhà thờ, lâu đài, biệt thự. Đến nay, nghệ nhân Phạm Hồng Vinh đã hoàn thiện tranh cho hơn 100 nhà thờ, trong đó có những công trình tổng diện tích lên tới trên 300m2, giá trị cả tỷ đồng.

Nghệ nhân Ưu tú Phạm Hồng Vinh: 35 năm thổi hồn Việt vào tranh kính

Bằng kỹ thuật điêu khắc trên kính, nghệ nhân Phạm Hồng Vinh đã sáng tạo nên những tác phẩm tranh kính độc đáo, tạo nên dấu ấn riêng biệt. Ảnh: NVCC 

“Mỗi khi nghiên cứu và tạo ra một sản phẩm hay công nghệ mới, tôi đều cảm thấy hạnh phúc. Làm nghề không tránh khỏi những lúc thất bại, nhưng tôi chưa bao giờ bỏ cuộc. Nếu hỏng, tôi làm lại; chưa đúng, tôi tiếp tục điều chỉnh. Khi đã gắn bó với nghề kính, tôi hiểu rằng hỏng, vỡ là điều bình thường. Nhưng khi vượt qua được, thành quả nhận lại sẽ vô cùng xứng đáng”, ông Vinh cho hay.

Đưa “màu” dân tộc vào từng nét tranh kính

Những bức tranh kính của nghệ nhân Phạm Hồng Vinh không chỉ gây ấn tượng bởi độ bền và kỹ thuật tinh xảo, mà còn chạm đến chiều sâu văn hóa Việt. Từ đề tài tâm linh, con người đến những biểu tượng dân gian, mỗi tác phẩm đều mang hơi thở truyền thống, tái hiện những giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam trên chất liệu kính. “Tôi luôn mong muốn khắc họa hình ảnh, kiến trúc, con người, lối sống xưa để lưu giữ hồn dân tộc và lan tỏa tình yêu quê hương đất nước”, nghệ nhân Phạm Hồng Vinh chia sẻ.

Nghệ nhân Ưu tú Phạm Hồng Vinh: 35 năm thổi hồn Việt vào tranh kính

Nghệ nhân Ưu tú Phạm Hồng Vinh (ở giữa) và tác phẩm “Rồng nhà Lý”. Ảnh: NVCC 

Từ khát vọng ấy, các tác phẩm tranh kính của Vinh Coba chủ yếu khai thác những giá trị văn hóa Việt. Văn hóa dân gian hiện lên sinh động trong “Nghệ thuật hát xẩm”, “Chử Đồng Tử”, “Lạc Long Quân”, hay hình tượng “Rồng nhà Lý” uy nghi – biểu trưng cho khát vọng tự do, độc lập, “Một thoáng Việt Nam” đậm chất kinh kỳ,...

Hà Nội cũng hiện lên sống động qua từng đường nét chạm khắc trên kính với các danh lam thắng cảnh như: Tháp Rùa, Hồ Gươm, Đền Ngọc Sơn, Phủ Tây Hồ, Cầu Thê Húc,… Hòa cùng dòng chảy văn hóa, hình ảnh con người của mảnh đất ngàn năm văn hiến xưa cũng được khắc họa chân thực qua các tác phẩm “Áo dài bên Hồ Gươm”, “Vợ chồng xẩm”, “Người gánh hàng rong”,...

Nghệ nhân Ưu tú Phạm Hồng Vinh: 35 năm thổi hồn Việt vào tranh kính

Chao đèn được trang trí bởi họa tiết về văn hóa dân gian Việt Nam. Ảnh: NVCC 

Đối với Nghệ nhân Ưu tú Phạm Hồng Vinh, mỗi bức tranh kính là kết tinh của sự tỉ mỉ và khéo léo, đặc biệt là khi tái hiện những giá trị văn hóa truyền thống. Một tác phẩm hoàn chỉnh phải trải qua 8 công đoạn công phu, từ thiết kế, tạo hình, vẽ tranh cho đến giai đoạn tôi kính trong lò nung. Mỗi lần tác động lên bề mặt kính là 1 lần người nghệ nhân thổi hồn vào tác phẩm.

Theo ông, điểm khác biệt lớn nhất của tranh kính so với tranh trên giấy chính là tính hai mặt. Khi điêu khắc và tô màu, nghệ nhân phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc về xa - gần, sáng - tối, điểm nghỉ của bố cục, đồng thời am hiểu sâu sắc lịch sử, văn hóa dân tộc. “Vẽ trên kính không cho phép sai sót, bởi nguyên liệu không hề rẻ, chỉ cần một nét lệch là phải bỏ đi”, ông chia sẻ.

Nghệ nhân Ưu tú Phạm Hồng Vinh: 35 năm thổi hồn Việt vào tranh kính

Để hoàn thiện một bức tranh kính rộng hơn 1m², công đoạn đồ họa và vẽ mất khoảng 1 tuần, điêu khắc mất thêm 3 – 4 ngày, nung mất 1 ngày. Độ bền của tranh phụ thuộc vào 2 yếu tố: kính được cường lực và màu sắc. Ảnh: Hải Ly 

Để nghệ thuật tranh kính Việt ngày càng phát triển

Không chỉ miệt mài sáng tạo, thử nghiệm và cải tiến công nghệ, Nghệ nhân Ưu tú Phạm Hồng Vinh còn luôn nỗ lực gìn giữ, lan tỏa nghề tranh kính. Hơn 35 năm gắn bó, ông đã đào tạo hơn 200 học trò, góp phần duy trì và phát triển loại hình nghệ thuật này. Nhiều người sau này đã trở thành nghệ nhân danh tiếng của Hà Nội, như nghệ nhân Bùi Bạch Đằng, nghệ nhân Phạm Hồng Hạnh, nghệ nhân Bùi Thanh Hải…

Trong số đó, nghệ nhân Bùi Thị Hải Hà (sinh năm 1986) là gương mặt tiêu biểu. Năm 2014, chị trở thành nghệ nhân trẻ nhất trong số 100 nghệ nhân được Hiệp hội Làng nghề Việt Nam công nhận. Chị Hà cho biết: “Nhờ có sự dìu dắt, chỉ bảo tận tình của thầy Vinh, tôi mới có thể theo đuổi và gắn bó với tranh kính cho đến hôm nay. Từ những ngày đầu còn bỡ ngỡ, chính thầy là người truyền cho tôi không chỉ kỹ thuật mà còn cả niềm đam mê, sự kiên trì với nghề”.

Nghệ nhân Ưu tú Phạm Hồng Vinh: 35 năm thổi hồn Việt vào tranh kính

Ông Vinh giới thiệu về sản phẩm tranh kính của mình. Ảnh: Hải Ly 

Không chỉ kế thừa tinh hoa từ người thầy của mình, chị Hà còn ý thức sâu sắc trách nhiệm của một người trẻ trong việc giữ gìn và phát triển nghề. “Tôi luôn nhắc mình phải tiếp tục học hỏi để nắm vững kỹ thuật truyền thống, đồng thời đổi mới tư duy, tìm hướng đi phù hợp với nhu cầu hiện đại nhằm lan tỏa tình yêu tranh kính đến nhiều người hơn, như cách thầy Vinh đã làm suốt bao năm qua”, chị Hà chia sẻ thêm.

Cùng với sự nỗ lực của các nghệ nhân trẻ, ông Vinh cũng đang ấp ủ nhiều dự định lớn nhằm đưa tranh kính điêu khắc đến gần hơn với công chúng như: tổ chức các buổi giao lưu, mở triển lãm giới thiệu tác phẩm… Để hiện thực hóa ước mơ đó, ở tuổi 64, người nghệ nhân ấy vẫn ngày đêm say mê nghiên cứu, đổi mới, đồng thời kiên định bảo tồn những giá trị truyền thống trong từng tác phẩm, nuôi khát vọng đưa tranh kính Việt vươn xa trên thị trường quốc tế.

Trên thế giới, tranh kính đã xuất hiện từ lâu, nhưng chỉ được tạo nên bằng cách lắp ghép các mảnh kính màu, thường dùng để trang trí trong nhà thờ. Ở Việt Nam, loại hình này manh nha từ thời Nguyễn với tranh vẽ trên kính, phát triển hơn vào đầu thế kỷ XX nhưng dần mai một, nhường chỗ cho nghề in màu, in sơn trên kính.

Khác với tranh kính truyền thống, tranh kính điêu khắc của ông Phạm Hồng Vinh không chỉ đơn thuần là vẽ màu mà còn kết hợp kỹ thuật điêu khắc tạo khối phù điêu, tô màu bằng men ceramic và ứng dụng công nghệ xử lý bề mặt kính. Nhờ đó, tranh kính điêu khắc có độ bền cao, màu sắc không phai, mẫu mã đa dạng, phù hợp với nhiều công trình kiến trúc.