Thứ Tư, 5 tháng 2, 2025

Đồng chí Tổng Bí thư Hà Huy Tập, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam.

 Đồng chí Hà Huy Tập là Tổng Bí thư của Đảng ta trong những năm 1936-1938. Đồng chí là nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam, người chiến sĩ cách mạng kiên cường, người cộng sản mẫu mực, trọn đời chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Hoạt động và cống hiến của đồng chí Hà Huy Tập trước năm 1936

Đồng chí Hà Huy Tập (1906-1941), còn gọi là Hồng Thế Công, Xinhitrơkin, Joseph Marat, sinh ra trong gia đình nhà nho yêu nước tại làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa, nay thuộc xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Thuở nhỏ Hà Huy Tập được thân phụ dạy học chữ Hán tại nhà, sau đó đi học và đỗ đầu kỳ thi tốt nghiệp trường tiểu học ở tổng Thổ Ngọa nhưng do gia cảnh khó khăn nên không được học tiếp.

Đồng chí Tổng Bí thư Hà Huy Tập, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam
Đồng chí Hà Huy Tập (1906-1941).  

Năm 1917, nhờ có người giúp đỡ, Hà Huy Tập được ra tỉnh lỵ Hà Tĩnh học Trường tiểu học Pháp-Việt. Năm 1919, Hà Huy Tập đỗ thủ khoa kỳ thi chọn học sinh xuất sắc do nhà trường tổ chức, được cấp học bổng, rồi vào học Trường Quốc học Huế. Năm 1923, tốt nghiệp Trường Quốc học Huế hạng ưu nhưng vì không có điều kiện học lên nữa nên đồng chí vào làm giáo viên Trường tiểu học Pháp-Việt tại Nha Trang (Khánh Hòa).

Trong thời gian này, đồng chí Hà Huy Tập tiếp xúc và đọc nhiều tài liệu, hiểu thêm về tội ác của thực dân Pháp, cuộc sống bần hàn của nhân dân lao động ở Việt Nam và Đông Dương. Trong Tiểu sử tự thuật trên Thẻ sinh viên, đồng chí Hà Huy Tập viết: “Năm 1923… tôi đã có tư tưởng chống bọn bảo hoàng và bọn thực dân, bởi tôi cảm thấy căm thù sự chuyên chế, bóc lột của chủ nghĩa thực dân và chế độ phong kiến… Cuộc đời cách mạng của tôi chỉ bắt đầu từ năm 1925. Năm đó, tôi được tiếp xúc với các cựu chính trị phạm”[1], nên sớm có tư tưởng yêu nước.

Đồng chí Tổng Bí thư Hà Huy Tập, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam

Ảnh đồng chí Hà Huy Tập (người ngồi ghế) chụp ở Quảng Trị. 

Tháng 8-1926, thầy giáo Hà Huy Tập chuyển về dạy học tại Trường Cao Xuân Dục ở Vinh, Nghệ An, tích cực hoạt động trong Hội Phục Việt, tích cực tuyên truyền tư tưởng chống chuyên chế và chống thực dân Pháp trong học sinh và tầng lớp lao động. Tiểu sử tự thuật viết: “Tháng 8-1926, tôi được chuyển về Vinh... Ở Vinh, tôi được giới thiệu với một nhóm cộng sản. Những ngày sống tại thành phố này, tôi đã tham gia vào việc bí mật gửi những sinh viên sang Trung Quốc dự các lớp huấn luyện ở Quảng Châu, nơi mà những người Việt Nam xuất dương đã thiết lập ở đó một tổ chức cộng sản (chỉ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập tháng 6-1925) và tổ chức này đã có những chi bộ ở trong nước”[2].

Tháng 3-1927, thầy giáo Hà Huy Tập vào dạy học tại một trường tiểu học ở Sài Gòn, sau đó đến Bà Rịa làm công nhân, lập ra một chi bộ, một hội đọc sách báo và tổ chức các lớp học xóa mù cho công nhân. Theo Tài liệu của Sở mật thám Đông Dương viết về Tân Việt cách mạng Đảng, “Hà Huy Tập phụ trách việc tổ chức”. Tháng 12-1928, đồng chí Hà Huy Tập và một số đồng chí khác được cử đến Quảng Châu (Trung Quốc) bàn việc hợp nhất Tân Việt cách mạng Đảng với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

Đồng chí Tổng Bí thư Hà Huy Tập, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam

Bìa cuốn sách Trotsky và phản cách mạng của đồng chí Hà Huy Tập viết mang bút danh Thanh Hương (1937).

Trong thời gian từ tháng 7-1929 đến tháng 4-1932, đồng chí được cử đi học tại Trường Đại học phương Đông ở Mátxcơva (Liên Xô) với tên là Xinhitrơkin, nhập học ngày 19-7-1929, số thẻ sinh viên 4716, khi mới 23 tuổi.

Tháng 6-1933, đồng chí Hà Huy Tập về Trung Quốc hoạt động cách mạng, tham gia Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, triển khai công tác chuẩn bị và tổ chức Đại hội lần thứ nhất của Đảng. Sau một thời gian chuẩn bị về nội dung, nhân sự và tổ chức, Đại hội I của Đảng họp tại Ma Cao từ ngày 27 đến ngày 31-3-1935, dưới sự chủ trì của đồng chí Hà Huy Tập. Đại hội đã thảo luận và thông qua các văn kiện, vạch đường lối cho cách mạng Việt Nam. Tại đại hội này, đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư (Tổng Thư ký Ban Trung ương Chấp uỷ), đồng chí Xinhitrokin (Hà Huy Tập) phải ở lại làm thư ký Ban Chỉ huy ở ngoài[3].

2. Tôi chẳng có gì phải hối tiếc “Nếu còn sống, tôi vẫn sẽ tiếp tục hoạt động”

Ngày 26-7-1936, Hội nghị giữa các đồng chí cán bộ chủ chốt Ban Chỉ huy ở ngoài và Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị do đồng chí Lê Hồng Phong, Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản chủ trì, họp tại Thượng Hải (Trung Quốc). Tham dự Hội nghị có các đồng chí Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên. Hội nghị xác định chủ trương của Đảng về các vấn đề chiến lược và sách lược cách mạng ở Đông Dương. Hội nghị cử đồng chí Hà Huy Tập giữ chức Tổng Bí thư.

Đồng chí Tổng Bí thư Hà Huy Tập, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam
 

Nghị quyết của Hội nghị đã bổ khuyết cho các nghị quyết của Đại hội I của Đảng và mở ra cho cách mạng Đông Dương một thời kỳ phát triển mới. Từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, lần thứ 3 (khóa I), ngày 29 đến ngày 30 tháng 3-1938, đồng chí thôi giữ chức Tổng Bí thư, nhưng vẫn tham gia Thường vụ Trung ương.

Ngày 1-5-1938, đồng chí Hà Huy Tập bị mật thám bắt tại Sài Gòn do Đinh Nho Hàng chỉ điểm[4], và bị giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Tòa Thượng thẩm Sài Gòn xử đồng chí “8 tháng tù và 5 năm quản thúc… bị đưa về quản thúc tại quê nhà ở Hà Tĩnh, dưới sự theo dõi, giám sát của bọn mật thám và hằng tháng phải tới dinh Tuần phủ để trình diện”[5].

Đồng chí Tổng Bí thư Hà Huy Tập, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam

Thư của đồng chí Hà Huy Tập gửi gia đình trước lúc hy sinh. 

Chỉ mấy tháng sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, đế quốc Pháp đã tiến hành khủng bố, bắt bớ cán bộ ta, nhiều lãnh tụ của Đảng như Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Võ Văn Tần... lần lượt sa lưới kẻ thù. Ngày 30-3-1940, chính quyền thực dân Pháp ra lệnh bắt Hà Huy Tập, đưa về giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, chính quyền thực dân mở phiên tòa đại hình ngày 25-3-1941, đưa ra xét xử hàng trăm chiến sĩ cộng sản, trong đó có đồng chí Hà Huy Tập.

Mặc dù cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra trong lúc đồng chí Hà Huy Tập vẫn đang bị giam giữ trong tù, nhưng chúng vẫn buộc đồng chí Hà Huy Tập về tội “hoạt động Cộng sản” và “xúi giục phá hoại Quốc phòng”, phải “chịu trách nhiệm tinh thần về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ” và khép đồng chí vào tội tử hình.

Đồng chí Tổng Bí thư Hà Huy Tập, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam
 

Sau thời gian bị tra tấn, cùm kẹp, ngày 28-8-1941, tại Hóc Môn, Gia Định, thực dân Pháp đã đưa các đồng chí: Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai... ra xử bắn. Đồng chí Hà Huy Tập đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.

Với 35 năm tuổi đời, trải qua gần 16 năm hoạt động cách mạng, trong đó có gần hai năm giữ cương vị Tổng Bí thư của Đảng (tháng 7-1936 đến tháng 3-1938), với nhiều bí danh và tên gọi khác nhau, đồng chí Hà Huy Tập đã có nhiều chủ trương, quyết sách lãnh đạo cách mạng nước ta vượt qua nhiều khó khăn, thử thách. Đồng chí Hà Huy Tập đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc ta. Trong lời tuyên bố đanh thép trước tòa án đế quốc, nêu cao khí tiết của người cách mạng, bác lại lời cầu xin của trạng sư bào chữa, đồng chí Hà Huy Tập đã khảng khái tuyên bố: “Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống, tôi vẫn sẽ tiếp tục hoạt động!”.

Đồng chí Tổng Bí thư Hà Huy Tập, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dâng hương tại phần mộ cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập. 

Đồng chí Hà Huy Tập là tấm gương của người chiến sĩ cộng sản anh dũng, kiên trung, bất khuất, chí công vô tư, đã chiến đấu, cống hiến, hy sinh trọn đời vì nước, vì dân. Cuộc đời hoạt động cách mạng oanh liệt của đồng chí tuy ngắn ngủi, nhưng những đóng góp của đồng chí cho sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta là rất quan trọng và to lớn.

Trong Báo cáo Chính trị đọc tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (năm 1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Các đồng chí ta như đồng chí Trần Phú, đồng chí Ngô Gia Tự, đồng chí Lê Hồng Phong, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, đồng chí Hà Huy Tập, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đồng chí Hoàng Văn Thụ, và trăm nghìn đồng chí khác đã đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. Các đồng chí đó đã tin tưởng sâu sắc, chắc chắn vào lực lượng vĩ đại và tương lai vẻ vang của giai cấp và của dân tộc. Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun tưới cho cây cách mạng…”[6].

Đồng chí Tổng Bí thư Hà Huy Tập, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam

Lễ truy điệu cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 1-12-2009. 

Đồng chí Tổng Bí thư Hà Huy Tập, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam

Lễ đón hài cốt đồng chí Hà Huy Tập tại sân bay Vinh. 

Đến nay, Đảng ta đã vừa tròn 95 mùa xuân trường tồn cùng dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong Diễn văn tại Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930/3-2-2020) đã khẳng định: “Chúng ta mãi mãi ghi nhớ công ơn to lớn của các vị lãnh đạo tiền bối… của dân tộc đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do, vì chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”. Trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta ôn lại, ghi nhớ công ơn, tấm gương chiến đấu, hy sinh và những cống hiến to lớn của đồng chí Hà Huy Tập cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta.

Tăng cường vai trò giám sát của nhân dân

 Tăng cường vai trò giám sát của nhân dân

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “chống tham ô là dân chủ”. Người dạy rằng: “Phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công”. Việc chống này phải động viên quần chúng, phải thực hành dân chủ, phải làm cho quần chúng hiểu rõ, làm cho quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng. Công khai, dân chủ là một trong những biện pháp hữu hiệu để phòng, chống tham nhũng, để người dân tham gia vào giám sát hoạt động của người có chức vụ, quyền hạn. Việc giám sát này không chỉ dừng lại ở các biện pháp phòng ngừa mà còn theo đến cùng khi các vụ án tham nhũng bị phát hiện, điều tra, xử lý. Bên cạnh đó, cần tăng cường các biện pháp giám sát các nguồn thu nhập và những biến động về tài sản của người có nhiệm vụ, quyền hạn nhằm phòng ngừa, phát hiện tham nhũng, có cơ chế khuyến khích người dân cung cấp những thông tin tố giác tham nhũng và bảo đảm cơ chế bảo vệ người tố giác hành vi tham nhũng.

Các kỳ Đại hội của Đảng và những dấu ấn lịch sử - Đại hội lần thứ I: Vạn sự khởi đầu nan.

 Trải qua 95 năm kể từ khi ra đời, Đảng ta đã trải qua 13 kỳ đại hội. Mỗi kỳ Đại hội của Đảng gắn với những nhiệm vụ chính trị khác nhau nhưng đều là những dấu mốc quan trọng về sự phát triển lớn mạnh của Đảng và đất nước. Trong dòng chảy lịch sử đó, Đại hội lần thứ I của Đảng năm 1935 là “Vạn sự khởi đầu nan”, mang nhiều ý nghĩa quan trọng.

Diễn ra trong bối cảnh đặc biệt

Sau khi Xô viết Nghệ - Tĩnh bị thất bại, thực dân Pháp càng ráo riết khủng bố, đàn áp hòng dập tắt phong trào cách mạng và tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương. Hàng ngàn chiến sĩ cộng sản bị giết, bị tù đày, giam giữ. Riêng ở Bắc Kỳ trong hai năm 1930-1931, chính quyền thực dân Pháp và tay sai đã mở 21 phiên tòa đại hình, xử 1.094 án, trong đó có 64 án tử hình, 114 án khổ sai, 420 án lưu đày biệt xứ. Tháng 5-1933, tòa án ở Sài Gòn đã mở phiên tòa kết án 8 án tử hình, 19 án tù chung thân, ngót 100 án tù từ 5 năm đến 20 năm. Trong các nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), Khám Lớn (Sài Gòn), và các nhà tù: Côn Đảo, Sơn La, Lao Bảo, Kon Tum - Những “địa ngục trần gian” giam chật các chiến sĩ cộng sản. Chỉ riêng nhà tù Côn Đảo, năm 1930 có 1.992 người tù; năm 1931 có 2.146 người; năm 1932 có 2.276 người; năm 1933 có 2.483 người; năm 1934 có 2.818 người. Biết bao chiến sĩ cộng sản đã ngã xuống bởi chế độ nhà tù hà khắc và bọn cai ngục gian ác. Từ năm 1930 đến năm 1933, ở nhà tù Côn Đảo đã có 708 chiến sĩ cộng sản hy sinh. Ở nhà tù Sơn La trong vòng 8 tháng năm 1933 đã có 43 tù nhân bị giết hại.

Dù bị mọi cực hình tra tấn đày ải hay lúc cổ kề máy chém, các chiến sĩ cộng sản vẫn kiên trung, bất khuất, nêu cao khí tiết của người cộng sản, kiên quyết bảo vệ Đảng, giữ vững ý chí chiến đấu. Biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, các chiến sĩ cộng sản đã lợi dụng những ngày tháng ở tù để học tập lý luận, rèn đúc ý chí đấu tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Biến cái rủi thành cái may, các đồng chí ta đã lợi dụng những ngày tháng ở tù để hội họp và học tập lý luận. Một lần nữa, việc đó lại chứng tỏ rằng chính sách khủng bố cực kỳ dã man của kẻ thù chẳng những không ngăn trở được bước tiến của cách mạng, mà trái lại nó đã trở nên một thứ lửa thử vàng, nó rèn luyện cho người cách mạng càng thêm cứng rắn. Mà kết quả là cách mạng đã thắng, đế quốc đã thua”[1]. Các đảng viên thoát khỏi sự vây bắt của địch, kiên trì dựa vào sự che chở, đùm bọc của quần chúng cách mạng, bí mật hoạt động khôi phục lại hệ thống tổ chức của Đảng, củng cố và phát triển phong trào quần chúng.

Quốc tế Cộng sản và các đảng cộng sản của các nước: Trung Quốc, Liên Xô, Pháp, Thái Lan... đã tích cực giúp đỡ những người cộng sản ở Đông Dương. Năm 1932, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong cùng một số đảng viên còn lại ở trong nước và ngoài nước tổ chức ra Ban Lãnh đạo Trung ương của Đảng. Tháng 6-1932, bản Chương trình Hành động của Đảng và các chương trình hành động của các tổ chức quần chúng được công bố.

Chương trình Hành động của Đảng đánh giá hai năm đấu tranh của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng và khẳng định: Con đường giải phóng duy nhất của nhân dân Đông Dương chỉ là con đường võ trang tranh đấu của quần chúng thôi. Để lãnh đạo quần chúng đấu tranh thích hợp với những điều kiện lịch sử mới, Chương trình hành động của Đảng nêu ra các yêu cầu trước mắt: (1) Đòi các quyền tự do tổ chức, xuất bản, ngôn luận, hội họp, đi lại. (2) Bỏ những luật hình đặc biệt đối với người bản xứ, trả lại tự do cho tù chính trị, bỏ ngay chính sách đàn áp, giải tán hội đồng đề hình (3) Bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý khác (4) Bỏ độc quyền về muối, rượu, thuốc phiện.

Dựa theo Chương trình Hành động của Đảng, các tổ chức cơ sở đảng đã sử dụng các hình thức tổ chức thích hợp để tập hợp quần chúng và qua đó giáo dục, tổ chức quần chúng đấu tranh dưới các hình thức khác nhau. Một điều đặc sắc là đa số các cuộc đấu tranh của quần chúng do Đảng lãnh đạo đều giành được thắng lợi hoàn toàn hoặc từng phần, khiến cho quần chúng thêm hăng hái đấu tranh.

Về mặt tổ chức đảng, các đảng viên của Đảng đã bám sát dân, duy trì cơ sở đảng ở Cao Bằng, Hà Nội, Sơn Tây, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi và nhiều nơi khác ở Nam Bộ. Nhiều tỉnh ủy, thành ủy lần lượt được khôi phục. Các xứ ủy Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ cũng được lập lại. Xứ ủy Lào cũng được thành lập vào tháng 3-1934...

Tháng 3-1934, được sự giúp đỡ của Đông phương Bộ Quốc tế Cộng sản, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập “giữ vai trò là người lãnh đạo, người tổ chức, sẽ tổ chức lại cơ quan lãnh đạo Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương”3. Vì vậy, ngay sau khi thành lập, Ban Chỉ huy ở ngoài đã đưa vào chương trình công tác là chuẩn bị triệu tập Đại hội Đảng. Sau 3 tháng hoạt động, Ban Chỉ huy ở ngoài đã tổ chức Hội nghị Đảng ở Ma Cao (từ ngày 16-6 đến ngày 21-6-1934) giữa Ban Chỉ huy ở ngoài với đại diện các tổ chức đảng trong nước và ra quyết định: “Từ Hội nghị Đảng cho tới tháng 1-1935 phải thành lập xong tất cả các xứ ủy và xứ ủy sẽ cử đại biểu đi dự đại hội Đảng vào mùa xuân năm 1935”4.  

Quyết định nhiều vấn đề quan trọng

Đại hội đại biểu lần thứ Nhất Đảng Cộng sản Đông Dương họp từ ngày 27 đến ngày 31-3-1935 tại một địa điểm ở phố Quan Công, Ma Cao (Trung Quốc). Dự Đại hội có 13 đại biểu thuộc các đảng bộ trong nước và tổ chức của Đảng hoạt động ở nước ngoài đại diện cho 552 đảng viên3. Thành phần của 13 đại biểu tham dự Đại hội lần thứ Nhất: 2 đại biểu của Ban Chỉ huy ở ngoài; 3 đại biểu đến từ Cao Miên, Nam Kỳ và Trung Kỳ; 1 đại biểu của Lào; 2 đại biểu của Bắc Trung Kỳ; 2 đại biểu của Bắc Kỳ (cuối Đại hội mới tới); 3 đại biểu đến từ Xiêm (1 đại biểu người Xiêm, 1 đại biểu người Tàu và 1 đại biểu người Việt Nam)[2].

Trong thời gian này, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã sang Liên Xô, vào học ở Trường Quốc tế Lênin. Các đồng chí: Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai và Hoàng Văn Nõn đi Moskva dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản. Đồng chí Hà Huy Tập là một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Ban Chỉ huy ở ngoài đã chủ trì Đại hội.

Đại hội đại biểu lần thứ Nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương đã đánh giá tình hình thế giới và trong nước, nêu bật những thành công của Liên Xô và phong trào cách mạng của nhân dân lao động nhiều nước trên thế giới, khẳng định chủ nghĩa xã hội là tất yếu lịch sử. Đối với Việt Nam, Đại hội kiểm điểm phong trào cách mạng, công tác tổ chức và lãnh đạo của Đảng trong những năm qua.

Đại hội nhận định hệ thống tổ chức của Đảng đã được khôi phục, Đảng đã thành lập được cơ quan đầu não, nhiều đảng bộ tỉnh mới ở miền thượng du Bắc Bộ, Lào, lập các tổ chức cơ sở ở Cao Miên, đào tạo được nhiều cán bộ mới. Song hệ thống tổ chức liên lạc của Đảng vẫn chưa được thống nhất, tổ chức cơ sở đảng chưa phát triển mạnh ở các vùng công nghiệp, đồn điền, mỏ, thành phần công nhân trong Đảng còn ít. Công tác tư tưởng, tuyên truyền, huấn luyện tuy đạt một số kết quả, nhưng còn thiếu sót.

Đại hội nhận xét phong trào cách mạng có tiến triển. Các cuộc đấu tranh của quần chúng ở Lào, Nam Kỳ, Trung Kỳ khoảng hai năm qua đều giành được thắng lợi ở mức độ khác nhau. Sự lãnh dạo của Đảng được khôi phục: “Trong khoảng hai năm nay Đảng ta lại chiếm địa vị ưu thế trong các cuộc tranh đấu có tính chất tổ chức của quần chúng”. Đồng thời, trên cơ sở nhận rõ ưu điểm và khuyết điểm của công tác Đảng, Đại hội nêu ra ba nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của toàn Đảng:

Một là, phát triển và củng cố Đảng: Đảng cần củng cố lực lượng hiện tại, tăng cường phát triển Đảng ở các xí nghiệp, đồn điền, hầm mỏ, đường giao thông quan trọng, kết nạp thêm nông dân và trí thức. Phải đưa thêm nhiều đảng viên xuất thân từ thành phần công nhân vào các cơ quan lãnh đạo, bảo đảm tính giai cấp. Ban Chấp hành Trung ương Đảng được ủy quyền đào tạo cán bộ dự bị mới cho Đảng. Để thống nhất về tư tưởng và hành động, các đảng bộ cần tăng cường phê bình và tự phê bình chống tả khuynh và hữu khuynh, giữ vững kỷ luật Đảng.

Hai là, thu phục quần chúng: Đại hội coi thu phục rộng rãi quần chúng là nhiệm vụ trung tâm cơ bản, trước mắt của Đảng. Các đảng bộ phải bênh vực quyền lợi thiết thân của quần chúng, quan tâm đến các dân tộc thiểu số, thanh niên, phụ nữ và quần chúng lao động ngoại kiều; phải củng cố và phát triển các tổ chức quần chúng, lợi dụng các hình thức công khai và nửa công khai để xây dựng và phát triển các tổ chức quần chúng lãnh đạo quần chúng đấu tranh.

Ba là, chống chiến tranh đế quốc, ủng hộ Liên Xô, Trung Quốc: Đại hội đã thông qua Nghị quyết Chính trị của Đảng, các nghị quyết về vận động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh lính, các dân tộc thiểu số, về Mặt trận Phản đế, Đội tự vệ, Cứu tế đỏ... và Điều lệ Đảng, điều lệ các tổ chức quần chúng của Đảng.

Đại hội đã bầu “Ban Trung ương chính thức gồm 13 người (9 người chính thức và 4 người dự bị) để chỉ đạo tất thảy công tác toàn Đảng”2. Trên thực tế, Đại hội chỉ bầu được 12 người, còn 1 người của Ban Chấp ủy Trung Kỳ sẽ chỉ định sau. Ban Trung ương cử ra Ban Thường vụ gồm 5 đồng chí, do đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng thư ký (Tổng Bí thư).

Đại hội đại biểu lần thứ Nhất của Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng. “Đại hội đã diễn ra dưới khẩu hiệu tự phê bình theo tinh thần Bolshevik. Tất cả các đại biểu đều tích cực tham gia phê bình các khuyết điểm và nhược điểm của mình”1. Đại hội đã khôi phục được hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước. Đồng thời, “do công tác Đảng được cải thiện mà thành phần xã hội của Đảng được cải thiện”2: Nếu trong Hội nghị tháng 6-1934, số lượng công nhân không đáng kể thì sau Đại hội “có 35% công nhân, 65% nông dân, thợ thủ công, viên chức và các thành phần khác” còn trong cơ quan lãnh đạo Đảng có “62% công nhân, 23% trí thức và 15% nông dân”3.

Việc thông qua Nghị quyết chính trị và các nghị quyết về công tác vận động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh sĩ…, Đại hội đã quy tụ được các phong trào, các tổ chức hoạt động phân tán trong toàn quốc vào một mối duy nhất, thống nhất được phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân khác dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội đã đem lại cho toàn thể đảng viên và quần chúng cách mạng niềm tin vào sự thắng lợi của cách mạng trong tương lai, chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến đấu mới.

Trách nhiệm công dân khi tham gia mạng xã hội


Mạng xã hội là một thành tựu khoa học - công nghệ của nhân loại, tạo thêm không gian để chia sẻ, trao đổi thông tin và kết nối, hợp tác trên phạm vi toàn cầu. Trước sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội, chúng ta cần phải nhận diện đúng những thông tin xấu, độc khi tiếp cận nhằm phát huy những mặt tích cực, ngăn ngừa những tác động tiêu cực, góp phần ổn định chính trị xã hội của đất nước và xây dựng một môi trường sống an toàn, chất lượng.

Điều 5, khoản 1 (điểm a, b, c, d, e), Nghị định 72/CP của Chính phủ quy định những hành vi bị cấm trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và những thông tin trên mạng gồm:

a) Chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; tuyên truyền chiến tranh, khủng bố; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo;

b) Tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc;

c) Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác do pháp luật quy định;

d) Đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân;

đ) Quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hóa, dịch vụ bị cấm; truyền bá tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm bị cấm;

e) Giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Khi tham gia vào mạng xã hội, nếu người tiếp cận thông tin không tỉnh táo, sáng suốt thì có thể bị tiêm nhiễm, ảnh hưởng tiêu cực bởi những thông tin xấu, độc đó. Để tích cực phòng, chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, chúng ta cần tự trang bị cho mình vốn hiểu biết và những kỹ năng cần thiết:

Trước tiên, chúng ta cần có kỹ năng chọn lọc thông tin để nhận diện các thông tin xấu, độc. Mà để thực hiện được kỹ năng đó thì chúng ta cần tỉnh táo nhận diện được thông tin xấu, độc. Thông tin xấu, độc được nhận diện ở các yếu tố: Mục đích, ý nghĩa, nội dung...Về mục đích: Chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức, thái độ, lối sống của người tiếp xúc với thông tin, gây hoang mang, dao động, hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Về nội dung: Thông tin xấu, độc thường lẫn lộn giữa thật và giả, thường là trà trộn một phần thông tin đúng với thông tin sai lầm, bịa đặt, xuyên tạc… Để xác định được xem thông tin mà mình tiếp cận là giả hay thật; đúng hay sai; tốt hay xấu thì chúng ta cần tiếp cận nhiều với các thông tin chính thống.

Để xác định chắc chắn đó là thông tin chính thống, nên tiếp nhận hay không thì cần nắm rõ chủ thể đăng tải. Nếu chủ thể đăng tải thông tin là các nick ảo, nick không chính danh và tổng thể nội dung trang có thái độ nhìn nhận không phù hợp với quan điểm chính thống thì cần loại bỏ... Sau khi nhận diện được thì chúng ta nên tránh các thông tin xấu, độc theo hướng đã được nhận diện; đồng thời chọn lọc những thông tin có lợi, những thông tin phù hợp với thuần phong mỹ tục... để tiếp cận. Thường thì những thông tin được tung ra nhằm khuấy động dư luận và tạo ra các luồng nhận thức khác nhau. Nhiều người vì tò mò nên tiếp cận thông tin đó mà không suy nghĩ xem nên tiếp nhận như thế nào cho đúng.

Mặt khác, chúng ta cần có kỹ năng công nghệ - thông tin nhất định để chặn các nick ảo, lọc, xóa, báo xấu... các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội để không cho các thông tin đó lan truyền dễ dàng. Cần cẩn thận cân nhắc xem nên comment (bình luận), like (thích), share (chia sẻ), dẫn link hay không nên một vấn đề nào đó, để tránh việc vô tình trở thành cầu nối giúp lan tỏa thông tin xấu, độc. Việc nắm các quy định của Luật An ninh mạng là một vấn đề bắt buộc giúp người sử dụng tránh những hành vi vi phạm có khi chỉ là vô tình nhưng gây ảnh hưởng tiêu cực cho bản thân và xã hội.

Nâng cao năng lực để chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội sẽ góp phần phát huy những tác động tích cực, hạn chế, ngăn ngừa những tác động tiêu cực, góp phần ổn định chính trị - xã hội của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi chúng ta./.

Tác hại của thông tin xấu, độc trên mạng xã hội

 


Mạng xã hội là một thành tựu khoa học - công nghệ của nhân loại, tạo thêm không gian để chia sẻ, trao đổi thông tin và kết nối, hợp tác trên phạm vi toàn cầu. Trước sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội, chúng ta cần phải nhận diện đúng những thông tin xấu, độc khi tiếp cận nhằm phát huy những mặt tích cực, ngăn ngừa những tác động tiêu cực, góp phần ổn định chính trị xã hội của đất nước và xây dựng một môi trường sống an toàn, chất lượng.

Về nội dung và bản chất, có thể nhận diện: Thông tin xấu, độc tán phát trên internet và mạng xã hội “là những thông tin bịa đặt, bóp méo sự thật, xuyên tạc vấn đề, “đổi trắng, thay đen”, lẫn lộn đúng sai, thật giả hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu thù địch”.

 

Thông tin xấu, độc làm ảnh hưởng lớn tới nhận thức của người tiếp nhận; làm cho người tiếp nhận có cách nhìn nhận lệch chuẩn. Từ đó, những người tiếp nhận sẽ có những hành động gây bất lợi cho nhà nước ở các phương diện mà họ tiếp cận. Dần dần, những thông tin xấu, độc đó không chỉ bị tiêm nhiễm với người thiếu bản lĩnh mà như một chất xúc tác, thúc đẩy họ chống lại những giá trị cốt lõi được các thế hệ cách mạng đã hy sinh máu xương, trí lực để dựng xây nên.

Thực tế cho thấy, nhiều thông tin xấu, độc trong giai đoạn vừa qua đã góp phần tạo nên sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của không ít người do họ thiếu cái nhìn khách quan, trung thực, sáng suốt trên chặng đường đóng góp xây dựng xã hội tốt đẹp. Một số cá nhân (có những người trước đó là anh hùng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, là những nhà khoa học có tầm cỡ được chế độ đãi ngộ của Nhà nước), vì thiếu bản lĩnh, thiếu niềm tin đối với Đảng, Nhà nước, vì lợi ích nhỏ nhen, đã sẵn sàng bán rẻ cả danh dự, nhân phẩm của bản thân, bán rẻ cả quá khứ vinh quang, tốt đẹp... để mưu lợi rẻ tiền và nuôi trong mình những ảo tưởng.

Các kỳ đại hội của Đảng và những dấu ấn lịch sử - Đại hội lần thứ IX: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

 Đại hội lần thứ IX - đại hội đầu tiên của Đảng ta trong thế kỷ XXI - là Đại hội của “Trí tuệ, Dân chủ, Đoàn kết, Đổi mới”, có ý nghĩa lịch sử trọng đại, thể hiện ý chí kiên cường và niềm hy vọng lớn lao của cả dân tộc Việt Nam vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đại hội đánh dấu chặng đường 15 năm đổi mới và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 1991-2000.

Đại hội chỉ rõ mô hình nền kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội khẳng định phải coi trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.  

Đất nước bước vào thế kỷ mới

Đến năm 2000 - năm bản lề kết thúc thế kỷ XX, chuyển sang thế kỷ XXI, thiên niên kỷ thứ ba và Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển mọi mặt, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện về vật chất, văn hóa, tinh thần.

Tuy nhiên, đất nước ta còn nhiều khó khăn, phức tạp. Đến năm 2000, Việt Nam vẫn chưa ra khỏi tình trạng kém phát triển. Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp. Trình độ khoa học và công nghệ còn lạc hậu; tư tưởng và lý luận nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn thấp; tổ chức và quản lý kinh tế, xã hội còn yếu kém; một số vấn đề văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo, y tế - chăm sóc sức khỏe cộng đồng còn bức xúc và gay gắt. Nạn tham nhũng, tham ô, lãng phí chưa được giải quyết triệt để. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên của Đảng, cán bộ, công chức của Nhà nước và trong dân chúng còn diễn biến phức  tạp.

Trước bối cảnh đó, sau quá trình chuẩn bị rất công phu, nghiêm túc, dân chủ, tập trung trí tuệ của toàn Đảng, ngày 19-4-2001, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.168 đại biểu chính thức, đại diện cho 2.479.719 đảng viên trong toàn Đảng. Đại hội nhất trí thông qua các văn kiện quan trọng: Báo cáo chính trị; Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010; Phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005; Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi), Nghị quyết Đại hội; bầu cử thành công Ban Chấp hành Trung ương gồm 150 ủy viên chính thức. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Các kỳ đại hội của Đảng và những dấu ấn lịch sử - Đại hội lần thứ IX: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Quang cảnh Đại hội lần thứ IX của Đảng. Ảnh: TTXVN 

Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm

Nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của Đại hội, trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch nước Trần Đức Lương nhấn mạnh Đại hội nhìn lại chặng đường 71 năm cách mạng Việt Nam, tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, 15 năm đổi mới, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, đúc rút bài học kinh nghiệm, phát triển và hoàn thiện đường lối chiến lược phát triển đất nước hai thập niên đầu thế kỷ XXI; kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng, nêu phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng ngang tầm thời kỳ mới; sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng.

Báo cáo Chính trị “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” đã trình bày 10 vấn đề: 

- Việt Nam trong thế kỷ XX và triển vọng trong thế kỷ XXI; 

- Tình hình đất nước 5 năm qua và những bài học chủ yếu của 15 năm đổi mới; 

- Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; 

- Đường lối và chính sách phát triển kinh tế-xã hội; 

- Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 

- Tăng cường quốc phòng và an ninh; 

- Mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; 

- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân;

- Đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế;

- Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. 

Đánh giá về nước ta trong thế kỷ XX, Đại hội IX khẳng định: Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ XX, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 

Các kỳ đại hội của Đảng và những dấu ấn lịch sử - Đại hội lần thứ IX: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tổng Bí thư (khóa IX) Nông Đức Mạnh tặng hoa Tổng Bí thư (khóa VIII) Lê Khả Phiêu. 

Tổng kết những thành tựu đạt được và những vấn đề còn hạn chế, Đại hội IX khẳng định những kinh nghiệm, bài học đổi mới mà các Đại hội VI, VII và VIII của Đảng, đã đúc rút vẫn có giá trị lớn; nhất là các bài học chủ yếu sau: Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hai là, đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo. Ba là, đổi mới phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Bốn là, đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới. Đây là những đánh giá có giá trị to lớn của 15 năm đổi mới (1986-2001); tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng về 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII và 10 năm thực hiện “Chiến lược ổn định, phát triển kinh tế-xã hội (1991-2001)”.

Đại hội quyết nghị những quan điểm, đường lối, chiến lược, chủ trương, chính sách về xây dựng và phát triển các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước với mục tiêu chiến lược đầy đủ, rõ ràng hơn: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”; xây dựng nước Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; nhất trí đánh giá về những khó khăn, phức tạp, cơ hội và thách thức; những giải pháp chiến lược về phát huy động lực to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc và toàn dân; về tăng cường quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ hợp tác đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế.

Về phát triển kinh tế, Đại hội nhấn mạnh tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh. 

Đại hội IX đánh dấu cột mốc quan trọng về sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới toàn diện, tiếp tục đưa đất nước phát triển trong những thập niên đầu thế kỷ XXI. Thành công lớn nhất của Đại hội IX là tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nội hàm tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối đổi mới, đề ra nhiều chiến lược, quyết sách mới về xây dựng đất nước phát triển theo con đường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét về cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ.

 Ngày 4-2, Văn phòng Quốc hội có thông báo về Chương trình Phiên họp thứ 42 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Dự kiến, phiên họp này sẽ diễn ra trong 2,5 ngày, từ ngày 5 tới 7-2. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu khai mạc và cùng các Phó chủ tịch Quốc hội thay phiên điều hành nội dung phiên họp.

Dự kiến, về công tác xây dựng pháp luật, tại Phiên họp này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi); dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi); dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi).

Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét về cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu tại Phiên họp thứ 41 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ảnh: PHẠM THẮNG

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng sẽ xem xét về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội giải quyết các vấn đề phát sinh trong các quy định của pháp luật liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn của Quốc hội; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về số thành viên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV (sửa đổi); dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cụ thể của các cơ quan chuyên môn của Quốc hội; dự án Pháp lệnh Quản lý, bảo vệ Khu di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét, thông qua một số nghị quyết để triển khai thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024; cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Nhà giáo; dự thảo Luật Hóa chất (sửa đổi); xem xét dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giải thích một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022.

Về công tác giám sát, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét Báo cáo công tác dân nguyện của Quốc hội tháng 1-2025.

Tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét, thông qua nhiều vấn đề quan trọng khác như: Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về tổ chức bộ máy của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030.

Đáng chú ý, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến về công tác nhân sự theo thẩm quyền.

Ngày xuân gặp “Người giữ hồn” cho rắn biển Việt Nam.

 Thạc sĩ Cao Văn Nguyện, công tác tại Viện Hải dương học (TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa), đã dành hơn 20 năm cho công tác nghiên cứu và bảo tồn các loài rắn biển. Ông được xem là một trong những chuyên gia hàng đầu Việt Nam về lĩnh vực này.

Tốt nghiệp chuyên ngành nuôi trồng thủy sản tại Đại học Thủy sản Nha Trang (nay là Đại học Nha Trang) năm 1998, Thạc sĩ Cao Văn Nguyện bén duyên với Viện Hải dương học và bắt đầu hành trình khám phá thế giới sinh vật biển đa dạng.

Ban đầu, ông tập trung nghiên cứu nhóm động vật có xương sống ở biển và đặc biệt là các loài rắn biển và rùa biển. Từ năm 2001, với sự hợp tác của các tổ chức quốc tế như Đan Mạch, Mỹ và Australia, ông đã  tham gia nghiên cứu về rắn biển, một lĩnh vực còn nhiều bí ẩn.

Ngày xuân gặp “Người giữ hồn” cho rắn biển Việt Nam
 
Ngày xuân gặp “Người giữ hồn” cho rắn biển Việt Nam
Thạc sĩ Cao Văn Nguyện kiểm tra các mẫu vật rắn biển.

Hiện trạng Bảo tàng Hải dương học đang gìn giữ 26 mẫu vật các loài rắn biển quý hiếm; đây là những mẫu vật vô giá, có niên đại từ thời Pháp thuộc. Ông cùng các đồng nghiệp đã dày công nghiên cứu và bảo quản chúng, góp phần quan trọng vào việc lưu giữ nguồn gen quý hiếm.

Thạc sĩ Cao Văn Nguyện chia sẻ: “Mục tiêu của chúng tôi là tạo ra một kho tàng mẫu vật chuẩn, phục vụ cho các nhà khoa học, sinh viên và những người yêu thích tìm hiểu về rắn biển. Thông qua việc nghiên cứu, xác định tên tuổi và phân loại học các loài rắn biển, chúng tôi mong muốn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học biển”.

Ngày xuân gặp “Người giữ hồn” cho rắn biển Việt Nam
Thạc sĩ Cao Văn Nguyện giới thiệu với du khách nước ngoài về rắn biển. 

Thạc sĩ Cao Văn Nguyện cho biết, Việt Nam là một trong những quốc gia có sự đa dạng loài rắn biển ở mức cao thế giới, với 26 loài đã được ghi nhận (thế giới ghi nhận 62 loài). Trong đó, có những loài cực kỳ quý hiếm như rắn cạp nong môi vàng, loài rắn biển duy nhất đẻ trứng, hay rắn mũi khoằm, loài rắn độc nhất có huyết thanh có thể dùng để chữa trị cho các loài khác.

Để bảo quản các mẫu vật rắn biển, ông và các đồng nghiệp đã áp dụng nhiều phương pháp khoa học tiên tiến, trong đó bao gồm kỹ thuật tiêm formol. Ông nói: “Đây là một kỹ thuật đòi hỏi sự tỉ mỉ và cẩn trọng. Chúng tôi phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo hộ lao động để đảm bảo an toàn cho bản thân và môi trường”.

Không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn, Thạc sĩ Cao Văn Nguyện còn tích cực tham gia nghiên cứu về đặc tính sinh học, vai trò của rắn biển trong hệ sinh thái, cũng như tác động của biến đổi khí hậu đến sự phân bố và sinh sản của chúng.

Ngày xuân gặp “Người giữ hồn” cho rắn biển Việt Nam
 
Ngày xuân gặp “Người giữ hồn” cho rắn biển Việt Nam
 
Ngày xuân gặp “Người giữ hồn” cho rắn biển Việt Nam

Các mẫu vật rắn biển được lưu giữ tại Bảo tàng Hải Dương học. 

Thạc sĩ Cao Văn Nguyện là tác giả đứng đầu của bài báo đã đăng trên tạp uy tín của thế giới “Conservation Biology” năm 2014 với tựa đề Sea Snake Harvest in the Gulf of Thailand (Thu hoạch rắn biển ở vịnh Thái Lan), nhằm kêu gọi cộng đồng thế giới chung sức bảo vệ nguồn lợi rắn biển, trước nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi rắn biển.

Ông cũng là tác giả chính của cuốn sách rắn biển Việt Nam và đồng tác giả của 3 bài báo công bố trong hệ thống tạp chí có uy tín của thế giới bằng tiếng Anh vào các năm 2019, 2023, 2024. Nội dung các bài báo nói về sự tiến hóa của rắn trong việc thích ứng với đời sống ở biển, như hệ thống mạch máu ở đầu rắn biển đã biến đổi và tăng gấp 10 lần so với rắn hổ mang trên đất liền, điều này giúp cho rắn biển lấy oxy trực tiếp trong nước thông qua mạng lưới mạch máu này chiếm đến 32% lượng oxy cung cấp cho hoạt động sống.

Với những cống hiến, đóng góp cho quá trình nghiên cứu, lưu giữ về rắn biển, Thạc sĩ Cao Văn Nguyện được đồng nghiệp gọi với biệt danh thân thương “người giữ hồn” của rắn biển.

Chủ tịch nước Lương Cường gặp mặt đầu Xuân cán bộ, nhân viên Văn phòng Chủ tịch nước.

 Sáng 3-2, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Lương Cường đã gặp mặt đầu Xuân và phát biểu giao nhiệm vụ cho cán bộ, nhân viên Văn phòng Chủ tịch nước.

Thay mặt cán bộ, nhân viên Văn phòng Chủ tịch nước, đồng chí Lê Khánh Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước đã báo cáo khái quát với Chủ tịch nước một số nét chính về thực hiện nhiệm vụ của Văn phòng Chủ tịch nước.

Năm 2024, Văn phòng Chủ tịch nước đã đoàn kết, đồng lòng, vượt qua khó khăn, thách thức, tích cực, chủ động nghiên cứu, tham mưu phục vụ tốt các hoạt động đối nội, đối ngoại của Chủ tịch nước và Phó chủ tịch nước, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của cơ quan.

Trong dịp Tết Nguyên đán 2025, trên cơ sở kế hoạch hoạt động của Chủ tịch nước và Phó chủ tịch nước, Văn phòng đã chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai phục vụ chu đáo, kịp thời các hoạt động của Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước trước, trong và sau Tết Nguyên đán.

Cùng với đó, Văn phòng đã thực hiện tốt nhiệm vụ chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho công chức, người lao động trong cơ quan đón Tết cổ truyền dân tộc đầm ấm, vui vẻ, an toàn, tiết kiệm. Trong suốt thời gian nghỉ lễ, các thông tin, tài liệu quan trọng đều được tiếp nhận và xử lý thông suốt, kịp thời, an toàn.

Phát biểu với cán bộ, nhân viên Văn phòng Chủ tịch nước, Chủ tịch nước Lương Cường đánh giá cao việc thực hiện các nhiệm vụ và quán triệt, chấp hành nghiêm túc Chỉ thị của Ban Bí thư, của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của các bộ, ngành về tổ chức Tết Ất Tỵ năm 2025.

Chủ tịch nước vui mừng thông báo, Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025, đất nước nói chung, mỗi người dân nói riêng, các đối tượng chính sách, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, người người, nhà nhà đều có Tết và đón Tết trong không khí vui vẻ, đầm ấm.

Chủ tịch nước lưu ý, trước yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao và nặng nề, cán bộ, nhân viên Văn phòng Chủ tịch nước phải khẩn trương bắt tay ngay vào thực hiện nhiệm vụ, nhất là chuẩn bị chương trình, kế hoạch phục vụ cho Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước làm việc ngay từ những ngày đầu xuân và suốt trong năm 2025.

Nhấn mạnh năm 2025 là năm tăng tốc, bứt phá để đạt và vượt tất cả các chỉ tiêu, mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định, cũng như các kế hoạch 5 năm, chiến lược 10 năm trong phát triển kinh tế-xã hội; năm 2025 cũng tiếp tục triển khai chủ trương tinh gọn biên chế, bảo đảm đội ngũ tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, Chủ tịch nước yêu cầu, tinh giản biên chế nhưng chất lượng làm việc cần tốt hơn; mỗi cán bộ, công chức, viên chức thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ tham mưu; giữ vững đoàn kết, trách nhiệm, chủ động để hoàn thành tốt các nhiệm vụ.