Thứ Tư, 5 tháng 2, 2025

Nhận diện chủ thể và đấu tranh chống tham nhũng

Nhận diện chủ thể và đấu tranh chống tham nhũng; 

Nâng cao nhận thức về trách nhiệm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cho cán bộ, công chức, viên chức và đông đảo quần chúng nhân dân, nhận diện và đấu tranh chống tham nhũng. Để phát huy được vai trò, sức mạnh tổng hợp của nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trước hết phải có các giải pháp nâng cao nhận thức về trách nhiệm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cho cán bộ, công chức, viên chức và đông đảo quần chúng nhân dân, cần coi trọng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; giải thích, hướng dẫn để người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong công tác này. Bên cạnh đó, phải liên tục đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền những quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân. Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn, vì vậy, cần có những biện pháp tập trung vào đối tượng này.

Các kỳ Đại hội của Đảng và những dấu ấn lịch sử - Đại hội lần thứ III: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà.

 Đây là Đại hội duy nhất diễn ra trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975). Những quyết sách của Đại hội không chỉ khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong thời điểm cam go của lịch sử dân tộc mà còn trực tiếp góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Sự kiện lịch sử trọng đại

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến 10-9-1960. Về dự Đại hội có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết thay mặt hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước. Đại hội có sự tham dự của nhiều đoàn đại biểu các đảng anh em trên thế giới.

Dự đại hội, có đại biểu của Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ và các đoàn thể trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; gần một nửa số đại biểu là những người đồng chí đã chiến đấu từ hồi Đảng hoạt động bí mật và trải qua nhà tù đế quốc; 80% tổng số đại biểu là cán bộ cao cấp và trung cấp; còn lại là những đồng chí cán bộ sơ cấp, cán bộ cơ sở, đảng viên ở xí nghiệp, nông trường, hợp tác xã… 

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 47 ủy viên chính thức và 31 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Với cương vị Chủ tịch Đảng, đồng chí Hồ Chí Minh đọc lời khai mạc Đại hội, khái quát nhiệm vụ mới của cách mạng Việt Nam và chỉ rõ “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà”.

Kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

Sau khi phân tích đặc điểm của miền Bắc nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và những nội dung cơ bản của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Báo cáo chính trị kết luận: “Đường lối chung của miền Bắc trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội là: đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn và truyền thống phấn đấu anh dũng, lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hoà bình ở Đông - Nam Á và thế giới.

Báo cáo chính trị đề xuất nhiệm vụ, phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), gồm những nhiệm vụ cơ bản sau:

1- Ra sức phát triển công nghiệp và nông nghiệp, thực hiện một bước việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng; đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện, phát triển công nghiệp thực phẩm và công nghiệp nhẹ, phát triển giao thông vận tải, tăng cường thương nghiệp quốc doanh và thương nghiệp hợp tác xã, chuẩn bị cơ sở để tiến lên biến nước ta thành một nước công nghiệp và nông nghiệp xã hội chủ nghĩa.

2- Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh, củng cố và tăng cường thành phần kinh tế quốc doanh, tăng cường mối quan hệ giữa sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, mở rộng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

3- Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xây dựng kinh tế và công nhân lành nghề, nâng cao năng lực quản lý kinh tế của cán bộ, công nhân và nhân dân lao động; xúc tiến công tác khoa học và kỹ thuật; xúc tiến thăm dò tài nguyên tự nhiên và tiến hành điều tra cơ bản, nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế và văn hoá xã hội chủ nghĩa.

4- Cải thiện thêm một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân lao động, làm cho nhân dân ta được ăn no, mặc ấm, tăng thêm sức khỏe, có thêm nhà ở và được học tập, mở mang sự nghiệp phúc lợi công cộng, xây dựng đời sống mới ở nông thôn và thành thị.

5- Đi đôi và kết hợp với phát triển kinh tế, cần ra sức củng cố quốc phòng, tăng cường trật tự an ninh bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng xác định, thực hiện tốt 5 nhiệm vụ trên sẽ tạo bước phát triển đầu tiên để xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, phát triển sức sản xuất và tăng cường quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; mở mang kinh tế quốc doanh và coi đây là lực lượng lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân, giúp đỡ các hợp tác xã nông nghiệp, thủ công nghiệp, đẩy mạnh cải tiến kỹ thuật, cải tiến công cụ.

Đại hội nghe đọc bức thư của đồng bào ta ở miền Nam gửi Đại hội. Bức thư viết, dưới ánh sáng của Đại hội Đảng, phong trào cách mạng miền Nam mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, gay go, nhưng nhất định sẽ càng tiến mạnh và nhất định sẽ thành công. Nhân dân miền Nam hằng ngày theo dõi từng bước công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi ở miền Bắc và nhận thấy ở đó sự hậu thuẫn và cổ vũ to lớn cho nhân dân miền Nam trong cuộc đấu tranh cách mạng chống kẻ thù chung của cả nước là đế quốc Mỹ và tay sai của chúng.

Nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và toàn dân

Báo cáo chính trị tại Đại hội đã phân tích tình hình chính trị ở hai miền Nam, Bắc, từ đó xác định vai trò, vị trí của cách mạng ở mỗi miền: Nhiệm vụ tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là “nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta”. Miền Bắc là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước. Cách mạng miền Nam “có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước".

Cách mạng ở hai miền đều nhằm mục tiêu chung là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước. Vì vậy, nhiệm vụ của toàn dân ta trong giai đoạn trước mắt là: Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hoà bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam Á và thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Diễn văn bế mạc Đại hội, khẳng định: “Đại hội lần thứ II đã đưa kháng chiến đến thắng lợi. Chắc chắn rằng Đại hội lần thứ III này sẽ là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà”.

"Nhân dân ta là nhân dân anh hùng. Trong kháng chiến, nhân dân ta đã anh dũng chiến đấu, hy sinh xương máu và đã giành được thắng lợi to lớn. Ngày nay, đấu tranh để xây dựng đời sống mới, xã hội mới và để hoà bình thống nhất nước nhà, dù gặp nhiều gian khổ, nhưng chắc chắn chúng ta sẽ toàn thắng".

"Mười năm trước đây, chỉ có 5.000 đảng viên và trong những điều kiện cực kỳ khó khăn mà Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi. Ngày nay, Đảng ta có hơn 50 vạn đồng chí, lại có những điều kiện rất thuận lợi, cho nên Đảng nhất định lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà đến thắng lợi".

Báo cáo chính trị đúc kết những bài học chủ yếu của cách mạng nước ta:

- Xây dựng Đảng Mác - Lênin đoàn kết nhất trí, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, luôn luôn giữ vững quyền lãnh đạo cách mạng.

- Có đường lối, phương châm cách mạng đúng đắn kết hợp nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến, coi nhiệm vụ chống đế quốc và bè lũ tay sai là nhiệm vụ chủ yếu nhất và nhiệm vụ chống phong kiến phải tiến hành từng bước, kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ chống đế quốc.

- Giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân, coi nông dân là lực lượng cách mạng lớn cùng với giai cấp công nhân hợp thành quân chủ lực của cách mạng.

- Dựa trên cơ sở liên minh công nông vững mạnh, tập hợp mọi lực lượng dân tộc và dân chủ thành một mặt trận thống nhất rộng rãi dưới sự lãnh đạo của Đảng.

- Lấy việc xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng làm cơ bản, phối hợp hoạt động không hợp pháp với hoạt động hợp pháp, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, kết hợp lực lượng vũ trang với lực lượng chính trị.

- Tăng cường Nhà nước dân chủ nhân dân.

- Nắm vững phương hướng chiến lược, lợi dụng những mâu thuẫn cục bộ và tạm thời trong nội bộ kẻ thù để phân hoá chúng, trung lập những lực lượng có thể trung lập, cô lập triệt để bọn nguy hiểm nhất.

- Tăng cường đoàn kết quốc tế trên cơ sở Chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản.

Lịch sử chứng minh, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng thực sự là nguồn ánh sáng mới, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự báo, soi đường cho cuộc cách mạng nước ta trên đường đi tới hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Những kinh nghiệm lịch sử mà Đại hội đã tổng kết, Cương lĩnh cách mạng dân tộc dân chủ miền Nam, Cương lĩnh quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là những nhân tố tạo thành thắng lợi của cách mạng nước ta mươi, mười lăm năm sau. Sự thống nhất ý chí và hành động do Đại hội tạo ra là nguồn sức mạnh dẫn đến các phong trào cách mạng mới ở hai miền Nam, Bắc. 

Dưới ánh sáng của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc tiếp tục được đẩy mạnh; cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có những bước phát triển mới, giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975 với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

 Nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân; trong đó, Quân đội là lực lượng nòng cốt, đi đầu. Vì vậy, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ này là vấn đề quan trọng, cấp thiết.

Những năm qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng, nhất là các trang mạng xã hội với khả năng tương tác, lan truyền thông tin và tạo hiệu ứng xã hội nhanh, rất khó quản lý, giám sát, kiểm duyệt để công khai chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi và ngày càng công khai, trực diện hơn. Phương thức chủ yếu của chúng là tạo các nguồn thông tin thật, giả lẫn lộn, gây nhiễu dư luận, dẫn dắt nhận thức của quần chúng, cổ súy tư tưởng đối lập, kích động chống đối,... nhằm đẩy mạnh thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Trước tình hình đó, việc đấu tranh với quan điểm sai trái, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên môi trường không gian mạng là vô cùng cần thiết; được xác định là nhiệm vụ chính trị, nội dung quan trọng trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị, toàn dân và toàn quân. Trong đó, Quân đội là lực lượng có trách nhiệm tiên phong, đi đầu trong công tác này.

Những năm gần đây, công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng đã được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, cấp ủy, chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, thực hiện chặt chẽ. Các cơ quan, đơn vị đã chủ động kiện toàn cơ quan thường trực, tổ chức lực lượng và bảo đảm các vật chất cần thiết. Làm tốt công tác giáo dục, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng; huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng đấu tranh, vạch trần âm mưu, thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc, chống phá của chúng. Qua đó, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng của Đảng trong toàn quân, góp phần định hướng dư luận, giữ vững an ninh chính trị, an ninh tư tưởng trong toàn xã hội. Tuy nhiên, hoạt động này còn những hạn chế nhất định về quy mô, hiệu quả đấu tranh, lực lượng tiến hành; tính phối hợp, tổ chức thông tin đấu tranh chưa chuyên nghiệp; ngôn ngữ đấu tranh có lúc thiếu thuyết phục, v.v.

Thời gian tới, không gian mạng tiếp tục là “mảnh đất” màu mỡ để các thế lực thù địch sử dụng đẩy mạnh chống, phá với những âm mưu thủ đoạn mới, tinh vi hơn, nhất là việc lợi dụng trí tuệ nhân tạo (AI), ChatGPT đã và đang tạo ra những nguy cơ, thách thức mới. Do đó, nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng càng trở nên cấp bách, quan trọng hơn bao giờ hết. Là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, Quân đội phải phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm, nâng cao năng lực, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này trên không gian mạng - môi trường chiến lược, “vùng lãnh thổ đặc biệt” của Tổ quốc. 

Trước hết, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần xác định: đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng là nội dung quan trọng nhằm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; với nhiều diễn biến phức tạp; phải thực hiện quyết liệt, thường xuyên, lâu dài. Do đó, cần đưa nhiệm vụ này vào nghị quyết lãnh đạo thường kỳ của cấp ủy, tổ chức đảng. Xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm, huy động đông đảo lực lượng tham gia. Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho bộ đội về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng đồng bộ cơ chế quản lý, bảo vệ, động viên các tổ chức, lực lượng, cá nhân tham gia; thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, nhất là người đứng đầu cấp ủy, đơn vị trong triển khai tổ chức thực hiện. Thực hiện tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm để vận dụng sáng tạo, phù hợp với tình hình trong từng thời kỳ; không giáo điều, rập khuôn máy móc; kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái là mặt trận không tiếng súng, nhưng rất quyết liệt, khó khăn, phức tạp, lâu dài. Bởi vậy, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, phẩm chất, năng lực cho bộ đội có vai trò hết sức quan trọng. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quán triệt, giáo dục cho mọi quân nhân hiểu rõ các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin; khẳng định tính khoa học, cách mạng, đúng đắn của học thuyết đối với giải phóng dân tộc, giai cấp và nhân loại trong điều kiện hiện nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự hội tụ, kết tinh, phát huy những giá trị tinh hoa của văn hóa, đạo đức dân tộc kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước nhằm hình thành, thực thi, truyền bá hệ giá trị cốt lõi, khát vọng hoà bình, độc lập, tự do, hạnh phúc của con người, dân tộc Việt Nam trong thời đại mới, v.v. Qua đó, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn nhận thức rõ, tin tưởng, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng; có nhận thức và sự lựa chọn đúng đắn trước những thông tin nhiều chiều về đời sống chính trị - xã hội, từ đó tạo ra khả năng “tự đề kháng” trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Để giáo dục hiệu quả, cần thường xuyên đổi mới nội dung, chương trình, đa dạng hóa hình thức và phương pháp bảo đảm phù hợp với từng đối tượng; gắn với phát hiện, giải quyết dứt điểm những phát sinh tư tưởng của bộ đội. Đồng thời, phát huy vai trò đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền miệng cung cấp kịp thời, chính xác thông tin chính thống tới mọi cán bộ, chiến sĩ; lồng ghép nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vào nội dung giáo dục, sinh hoạt chính trị, tư tưởng, thông báo chính trị, thời sự. Bên cạnh đó, thường xuyên quán triệt, giáo dục nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật, quy định phát ngôn; quản lý chặt chẽ hoạt động của quân nhân trên mạng xã hội, kịp thời chấn chỉnh, giúp đỡ quân nhân có biểu hiện dao động về tư tưởng, chính trị; có biện pháp xử lý trường hợp cố tình vi phạm những quy định của Đảng, Nhà nước, Quân đội.

Cùng với giữ vững lập trường, tư tưởng của bộ đội trước sự tấn công của thông tin xấu, độc, các cơ quan, đơn vị cần xây dựng lực lượng nòng cốt và phát huy vai trò của nhiều lực lượng trong đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạngCác cơ quan, đơn vị cần nghiên cứu chọn người, giao nhiệm vụ cụ thể và bố trí thời gian phù hợp để hình thành các lực lượng. Ngoài tiêu chuẩn phẩm chất chính trị vững vàng, lực lượng nòng cốt phải có trình độ lý luận tốt; có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục; nhận diện nhanh, đúng vấn đề cần đấu tranh; kịp thời thu thập đủ thông tin và xây dựng được nội dung, biện pháp đấu tranh hiệu quả; cần có “hùng tâm, tráng khí” trong đấu tranh. Lực lượng nòng cốt cần phát huy tốt vai trò trong lựa chọn vấn đề, xác định đối tượng, phương pháp, tổ chức tin, bài đấu tranh. Cần được bồi dưỡng, tập huấn nâng cao kiến thức về quân sự, quốc phòng, kinh tế, xã hội, công nghệ thông tin, nhất là kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm đấu tranh; phương pháp liên kết, phối hợp với cơ quan, đơn vị bạn, v.v.

Các cơ quan, đơn vị chú trọng kiện toàn lực lượng nòng cốt, có chính sách đãi ngộ thích đáng; quan tâm đầu tư trang bị, phương tiện kỹ thuật, công nghệ,… ngang tầm nhiệm vụ. Đồng thời, xây dựng lực lượng rộng khắp để hỗ trợ tạo số lượng lớn, tần suất đấu tranh cao thông qua việc bình luận, chia sẻ, lan tỏa thông tin tích cực, nhằm áp đảo thông tin xấu, độc trên mạng. Đối với lực lượng chuyên trách tác chiến không gian mạng, cần cung cấp thông tin, xác định rõ những vấn đề trọng tâm, trọng điểm cần tập trung đấu tranh; tổ chức tập huấn cho lực lượng nòng cốt về kỹ thuật, công nghệ, biện pháp trinh sát, tấn công mạng, một số kinh nghiệm ứng phó, xử lý rủi ro, khủng hoảng truyền thông; tăng cường các biện pháp kỹ thuật phòng ngừa, nhận diện, ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin xấu độc; đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo phục vụ công tác này. Bên cạnh đó, các lực lượng của Quân đội cần phối hợp tốt với cơ quan truyền thông, lực lượng đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương trong trao đổi thông tin, tình hình; xử lý các vấn đề phức tạp, nhạy cảm.

Cùng với đấu tranh ẩn danh, cần tăng cường đấu tranh công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, Internet, mạng xã hội.  Nếu đấu tranh ẩn danh là phương pháp mà người đấu tranh chỉ cung cấp thông tin, luồng tư tưởng mới xuất hiện, quan điểm cụ thể đối với vấn đề mà thế lực thù địch đưa ra để người đọc, người nghe tự suy ngẫm, xác minh vấn đề; tự tìm hướng đi, thì đấu tranh công khai mang tính khẳng định, định hướng,... sẽ cho chất lượng, hiệu quả cao hơnĐể thực hiện tốt, cần tổ chức đủ lực lượng và phương tiện. Trong đó, giao nhiệm vụ cho lực lượng nòng cốt: nhận diện, lựa chọn chủ đề cần đấu tranh; thu thập thông tin có nguồn gốc, biên tập thành bình luận, nhận xét, đánh giá khách quan, trung thực; xây dựng nội dung các bài viết đấu tranh có luận cứ, luận chứng đầy đủ, rõ ràng, ngắn gọn, phù hợp với các chuẩn trên mạng xã hội,... tạo sức thuyết phục, thu hút cộng đồng mạng. Để có hiệu quả cao, cần bám sát các sự kiện chính trị, dự báo thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để định hướng đấu tranh; chuẩn bị bài viết chuyên sâu, sẵn sàng tài liệu chuyên khảo; đặt hàng chuyên gia, nhà khoa học viết bài về những vấn đề khó,… sẵn sàng đấu tranh, không bị động, bất ngờ, lúng túng. Bên cạnh đó, cần tăng cường xây dựng các trang web, blog, diễn đàn, chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng,... để đăng tải các bài viết với nội dung tuyên truyền quan điểm chính thống, định hướng dư luận, xây dựng lòng tin, nền tảng vững chắc về tư tưởng cho nhân dân.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội là cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài và phức tạp. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, đi đầu, Quân đội tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, thực hiện tốt hơn nữa chức năng “đội quân công tác”, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

 

Quân đội đẩy mạnh đấu tranh chống diễn biến hòa bình trên các trang mạng xã hội

Những năm gần đây, tình trạng bất ổn, bạo động, biến động chính trị và xung đột vũ trang trên thế giới, điển hình như ở các nước Trung Đông, Bắc Phi có sự tham gia rất lớn của các trang mạng xã hội. “Diễn biến hòa bình” qua mạng xã hội đã và đang là phương thức, thủ đoạn chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động quốc tế trong giai đoạn bùng nổ thông tin ngày nay, nhất là đối với Việt Nam chúng ta.
 

Trên thực tế, các nước phương Tây đã thực hiện thành công “Diễn biến hòa bình” với sự trợ giúp đắc lực và hiệu quả của mạng xã hội tại nhiều nước Đông Âu, Bắc Phi như: Gruzia (2003), Ukraine (2012) và Tunisia, Libya, Ai Cập trong phong trào “Mùa xuân Ả Rập” năm 2011. Trong các cuộc bạo loạn lật đổ ở các nước này, mạng xã hội đã trở thành vũ khí tối ưu khi nhanh chóng liên kết các nhóm chống đối, các phong trào hoạt động ngầm không có thủ lĩnh công khai, tránh được sự kiểm tra, kiểm soát của chính quyền. Chính nhà xã hội học Thụy Sĩ Ô-li-vơ Gơ-lát-xi đã khẳng định “các mạng xã hội đóng một vai trò quan trọng trong những cuộc cách mạng này.

Âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội cũng không loại trừ với Quân đội nhân dân Việt Nam, vì đây là lực lượng chủ yếu, lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và nhân dân. Các thế lực thu địch thường lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, chỉ huy; khai thác thông tin từ một số vụ việc tiêu cực đơn lẻ rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết quân đội với nhân dân, kích động đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại về đạo đức của quân nhân. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm.

 


Hình ảnh biểu tượng các trang mạng xã hội. Ảnh minh họa: Báo Dân trí

 
Là lực lượng xung kích, nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” thông qua mạng xã hội, lực lượng vũ trang nói chung, quân đội nói riêng đã luôn nhận thức đúng tình hình, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng luôn được đảng ủy, chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Cấp ủy đảng các cấp đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của cấp trên về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Các cơ quan, đơn vị đã chủ động xây dựng cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, chuyên sâu, tham gia đấu tranh và bảo đảm các điều kiện vật chất thực hiện công tác này ở từng cấp. Đồng thời, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

Cùng với đó, các đơn vị trong quân đội đã luôn chủ động trong công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng; thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng, đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện. Nhờ đó, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, an ninh mạng trên địa bàn đóng quân  được bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ địa bàn an toàn, đơn vị an toàn.

Tuy nhiên, vẫn còn một số ít cán bộ, chiến sĩ nhận thức chưa đúng đắn tình hình nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, chưa thật sự chủ động, nhạy bén, sắc sảo; còn lơ là, thiếu sót trong công tác và sinh hoạt thường ngày dễ dẫn đến bị kẻ xấu lợi dụng, kích động, bội nhọ nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời. Còn có cán bộ thiếu tích cực nghiên cứu, tham gia đấu tranh kém hiệu quả, chưa phát huy hết trách nhiệm trong phát hiện, đấu tranh, phản bác những cái xấu, cái tiêu cực, những luận điệu sai trái, phản động; chưa có những bài viết, thông tin chuyên sâu về lý luận và thực tiễn mang tính định hướng, tính chiến đấu để đấu tranh trực diện với các quan điểm thù địch, nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa đối với cộng đồng.

Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên các trang mạng xã hội là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, sắc bén, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính.  Đối với quân đội trong thời gian tới cần củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng bằng một số giải pháp như sau:

Trước hết, lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, phù hợp chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Quán triệt Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”; Chỉ thị số 47/CT-CT, ngày 08/01/2016 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội; đồng thời, bám sát thực tiễn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tập trung giáo dục, nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là trước những sự kiện quan trọng, vụ việc phức tạp, nhạy cảm… kịp thời thông tin, định hướng tư tưởng cho cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Qua đó, để cán bộ, chiến sĩ nắm chắc về đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam và nhiệm vụ phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; nêu cao tinh thần cảnh giác và ý thức tổ chức kỷ luật, “tự miễn dịch” trước hoạt động chống phá tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35 của đảng ủy các cấp thực hiện tốt việc tham mưu, xây dựng, ban hành đồng bộ hệ thống quy chế, quy định, chương trình hành động cụ thể; chủ động xây dựng, tổ chức lực lượng để hoạt động đấu tranh trên không gian mạng có nền nếp, bảo đảm bí mật, rộng khắp, thống nhất, hiệu quả và bảo vệ mình. Thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, cung cấp thông tin, “chỉ thị mục tiêu” và định hướng để đấu tranh kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm. Các nghị quyết, kết luận lãnh đạo thường kỳ của các cấp ủy, tổ chức đảng đều có nội dung, biện pháp lãnh đạo đấu tranh trên không gian mạng, gắn với thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình, bảo đảm tính nhạy bén, sáng tạo, nhưng phải chấp hành nghiêm quy định bảo vệ chính trị nội bộ, không để lọt, lộ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, ngăn chặn kịp thời các tài liệu phản động, văn hóa phẩm xấu độc thâm nhập vào nội bộ.

Thứ hai, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần xác định: đấu tranh trên mạng xã hội là một nội dung quan trọng nhằm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; phải kiên quyết, kiên trì và nhạy bén, linh hoạt. Cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp cần chú trọng quản lý hoạt động trên mạng xã hội của cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ khi sử dung internet, tham gia mạng xã hội và trong công tác đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng; kịp thời chấn chỉnh các trường hợp chưa chuẩn mực trên mạng xã hội, bảo đảm hoạt động đấu tranh luôn đúng định hướng.

Cấp ủy đảng các cấp phải xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng cần tập trung lãnh đạo, vận dụng phù hợp với thực tiễn nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị bằng kế hoạch, chương trình cụ thể. Cần linh hoạt, sắc sảo, sáng tạo, tránh giáo điều, dập khuôn, máy móc; đề cao ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương, quy định phát ngôn,... nắm chắc tình hình trên mạng xã hội của quân nhân, kịp thời phát hiện những biểu hiện dao động, suy thoái về tư tưởng, chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để có biện pháp giáo dục; kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm.

Thứ ba, cần giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, thái độ chủ động, tích cực tham gia đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Muốn vậy, trước hết các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục thực hiện tốt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”, nâng cao nhận thức lý luận chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, kịp thời định hướng một cách thấu đáo, thuyết phục những vấn đề mới nảy sinh có ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm, tâm lý của bộ đội. Phải giáo dục cho quân nhân hiểu rõ “tính hai mặt” của không gian mạng cũng như âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; tạo khả năng “tự miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trước các thông tin xấu độc, cũng như tăng cường sức “đề kháng” để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng.

Thứ tư, duy trì thường xuyên và có hiệu quả hoạt động thông báo thời sự và công tác tuyên truyền trong nhân dân. Với tỉ lệ người dân sử dụng internet và mạng xã hội đông đảo như Việt Nam hiện nay, cùng với tình trạng nhiễu loạn thông tin trong thời gian qua, thực trạng “phản ứng chậm” với những thông tin sai trái, bịa đặt trên mạng xã hội của các cơ quan, đơn vị diễn ra còn phổ biến. Do đó, các cơ quan, đơn vị phải nhạy bén, thường xuyên, kịp thời, chủ động cung cấp thông tin chính thống thông qua chế độ thông báo thời sự và các hình thức tuyên truyền trong nhân dân. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần tranh thủ sự chỉ đạo, định hướng của cơ quan cấp trên, chủ động thông báo, thông tin chính thống trên các trang mạng xã hội, tạo sự đồng thuận cao trong cơ quan, đơn vị và nhân dân trên địa bàn; duy trì hiệu quả chế độ đọc báo, nghe tin, giao ban, hội ý để cung cấp thông tin, định hướng nội dung, thống nhất biện pháp tuyên truyền, đấu tranh. Cần xác định rõ căn cứ, cơ sở lý luận và thực tiễn để phản bác đối với những thông tin sai trái; hướng dẫn cụ thể biện pháp, hình thức thông tin tuyên truyền trong nhân dân cho cán bộ, chiến sĩ.

Thứ năm, phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng trên địa bàn xây dựng cơ chế và phát huy có hiệu quả các thiết chế để kịp thời cung cấp thông tin chính thống cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn đóng quân. Trong đó, cần chú trọng thiết lập các trang, nhóm cộng đồng trên nền tảng có sẵn như: Facebook, Zalo, Mocha... thu hút được đông đảo người dân tham gia. Đồng thời, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Luật An ninh mạng và Nghị định số 15/2020/ND-CP ngày 3-2-2020 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện và giao dịch điện tử. Tuy nhiên, cũng cần phải thống nhất nhận thức: không phải thông tin phản ánh tiêu cực nào cũng đều là thông tin sai trái, phản động, thù địch; cần có cách nhìn nhận khách quan, toàn diện, từ đó tránh quy chụp, tạo hiềm khích, gây mất uy tín và chất lượng của các trang, nhóm, làm giảm sút hiệu quả của hoạt động thông tin, tuyên truyền trên địa bàn.

Tóm lại, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt, gay gắt, lâu dài và vô cùng phức tạp. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, đi đầu, Lực lượng vũ trang nói chung, các đơn vị quân đội nói riêng cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đấu tranh hiệu quả, thiết thực, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay.

Bản lĩnh Hồ Chí Minh trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

 Quá trình tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã tìm đến Chủ nghĩa Mác-Lênin và tiếp nhận ở đó hệ thống lý luận về đảng cộng sản. Đồng thời tỏ rõ bản lĩnh của một người có năng lực nhạy bén để tiếp cận Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng cũng có tư duy độc lập để vận dụng và phát triển sáng tạo chân lý đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Từ ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin

Vào lúc nhiều người trên thế giới còn ngưỡng vọng đến cách mạng tư sản, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy tính không triệt để của cách mạng tư sản khi nó vẫn còn áp bức giai cấp và áp bức dân tộc. Người đến với Quốc tế III do V.I.Lenin sáng lập đơn giản là bởi Quốc tế III hứa sẽ giúp đỡ các dân tộc thuộc địa, còn Quốc tế II không hề nhắc đến vận mệnh các dân tộc thuộc địa. Ở thời điểm lịch sử có nhiều ngã rẽ và các dân tộc thuộc địa còn bị trói buộc trong vòng tăm tối, nô dịch, việc tìm ra học thuyết Mác-Lênin - học thuyết khoa học nhất trong các học thuyết cách mạng và cách mạng nhất trong các học thuyết khoa học - thể hiện tầm nhìn và sự nhạy cảm chính trị đặc biệt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Từ sự dứt khoát về nhận thức, Nguyễn Ái Quốc đã có sự dứt khoát về hành động. Tháng 12-1920, tại Đại hội Tours, khi bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam và là một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp. Tin và đi theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp nhận ở đó học thuyết về đảng cộng sản. Từ câu nói của V.I.Lenin, rằng “hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên”, Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra sự cần thiết phải thành lập một chính đảng cộng sản ở Việt Nam. Như vậy, so với đường lối cứu nước của các bậc tiền bối, quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về sự cần thiết phải thành lập đảng cộng sản để lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam là hoàn toàn mới mẻ. Đây chính là tiền đề lý luận cho quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Quá trình chuẩn bị công phu

Nếu K.Marx và F.Engels cho rằng sự ra đời của đảng cộng sản là sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân, nếu V.I.Lenin cho rằng đảng cộng sản ra đời là kết quả của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân thì Nguyễn Ái Quốc cho rằng trong sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam cần sự xuất hiện của yếu tố thứ ba: Phong trào yêu nước. Nắm vững đặc điểm riêng của dân tộc Việt Nam-một dân tộc có truyền thống yêu nước nồng nàn và có số lượng công nhân ít ỏi, Nguyễn Ái Quốc truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ vào phong trào công nhân mà còn vào phong trào yêu nước với bộ phận rất quan trọng là lực lượng thanh niên, trí thức yêu nước. Nhờ kết hợp nhuần nhuyễn cái phổ biến với cái đặc thù trong quy luật ra đời của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã tạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam truyền thống gắn bó chặt chẽ với dân tộc ngay từ thời khắc sinh thành.

Bản lĩnh chính trị của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự thận trọng hiếm có trong công tác tổ chức. Dù hiểu rằng “phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi” nhưng khi về Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc không thành lập ngay Đảng Cộng sản Việt Nam mà lại thành lập tổ chức tiền thân của Đảng là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong quan niệm của Người, đảng cộng sản-tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân chỉ có thể ra đời và thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của mình khi phong trào công nhân đã đạt trình độ tự giác; khi đã có đội ngũ cán bộ đảng nhiệt huyết, có kinh nghiệm và gắn bó mật thiết với nhân dân; khi lãnh tụ của Đảng đã có một cương lĩnh chính trị khoa học, phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Xét vào thời điểm năm 1925, cả 3 điều kiện trên đều chưa thực sự đầy đủ nên Người đã kiên nhẫn thành lập ra tổ chức mang tính quá độ, vừa tầm với thực tiễn phong trào để qua hoạt động của tổ chức này, các điều kiện thành lập Đảng mau chóng chín muồi.

Cùng với sự chuẩn bị về tổ chức, tác phẩm "Đường Kách mệnh" của Nguyễn Ái Quốc với sự phác thảo con đường giải phóng dân tộc trên nét lớn đã chuẩn bị tiền đề tư tưởng, chính trị cho công tác thành lập Đảng. Vì thế, “có thể xem trong lịch sử cách mạng Việt Nam, cuốn "Đường Kách mệnh" có vai trò như cuốn "Làm gì?" của V.I.Lenin đối với cách mạng Nga...

Nhờ hoạt động tích cực của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tư tưởng cộng sản ngày càng trở nên chiếm ưu thế ở Việt Nam. Đến cuối năm 1929, trong nước cùng lúc tồn tại 3 tổ chức cộng sản. Nguy cơ phân liệt lực lượng và đường lối giữa các tổ chức cộng sản đòi hỏi phải có một lãnh tụ đủ uy tín đứng ra làm nhiệm vụ quy tụ 3 tổ chức cộng sản làm một.

Đến hội nghị thành lập Đảng

Ở thời điểm lịch sử sôi động nhưng cũng không ít phần phức tạp, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tiến hành hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở nước ta tại Hương Cảng-Trung Quốc vào mùa xuân năm 1930. Trong hội nghị mang tính chất đại hội thành lập, tư duy sáng tạo và tinh thần độc lập, tự chủ của Nguyễn Ái Quốc đã bộc lộ hết sức rõ nét.

Thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam chứ không phải là Đảng Cộng sản Đông Dương như chủ trương của Quốc tế Cộng sản: “Là thành lập một đảng cách mạng có tính giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một đảng cộng sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương”. Với quan điểm đảng cộng sản trước hết phải thuộc về từng dân tộc, phải được đặt trong phạm vi dân tộc để đường lối của Đảng phù hợp với điều kiện của dân tộc đó, Nguyễn Ái Quốc đã hiện thực hóa quan điểm của V.I.Lenin về quyền dân tộc tự quyết.

Thứ hai, kế thừa truyền thống đoàn kết của dân tộc và với niềm tin mãnh liệt vào lòng yêu nước của những người cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu các đại biểu tham dự hội nghị “bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”; “định kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước”. Tức là, dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời bằng cách hợp nhất trọn vẹn các tổ chức cộng sản dù rằng Quốc tế Cộng sản chủ trương việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương phải trải qua quá trình “thanh lọc” để lựa chọn ra những phần tử thực sự ưu tú, thực sự cộng sản nhất trong các nhóm cộng sản. Nếu làm theo chỉ dẫn của Quốc tế Cộng sản thì “có khi không thể cho ra đời được Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930” trong khi sự phân liệt giữa các tổ chức cộng sản đang đặt ra yêu cầu cấp bách là phải nhanh chóng hợp nhất.

Thứ ba, với tinh thần độc lập, tự chủ, Nguyễn Ái Quốc đã soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta-một cương lĩnh giải phóng dân tộc nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp, thấm đượm tinh thần dân tộc. Cụ thể là, trên cơ sở thấu hiểu đặc điểm của xã hội thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã xác định rõ: Trong hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến thì chống đế quốc, giành độc lập dân tộc phải là nhiệm vụ hàng đầu. Quan điểm này có sự khác biệt lớn so với chủ trương “giai cấp đấu tranh giai cấp”, đấu tranh không khoan nhượng và kiên định với giai cấp tư sản, địa chủ của Quốc tế Cộng sản. Bên cạnh đó, cùng với việc khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam theo đúng quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc còn khẳng định tính dân tộc sâu sắc của Đảng thông qua cơ sở xã hội rộng rãi cũng như tính đại diện cho lợi ích dân tộc của Đảng. Trong Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ghi rõ: “Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng thời được vào Đảng”. Như vậy, điều kiện để trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là thành phần xuất thân từ giai cấp công nhân mà là sự giác ngộ lý tưởng của giai cấp đó. Những quan điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc đã hóa giải tính cô độc, biệt phái của Đảng Cộng sản Việt Nam cho dù giai cấp công nhân Việt Nam chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong xã hội. Điều đó đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam khắc phục căn bệnh ấu trĩ tả khuynh hết sức nguy hiểm mà V.I.Lenin từng cảnh báo trước đó. Dù có lúc quan điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc bị quy kết là hữu khuynh, “là cơ hội chủ nghĩa, chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh” nhưng lịch sử đã chứng minh sự đúng đắn và tầm nhìn vượt trội của Người. Nhờ đó, một thời đại vẻ vang trong lịch sử dân tộc đã được mở ra.

Các kỳ Đại hội của Đảng và những dấu ấn lịch sử - Đại hội lần thứ II: Hoàn chỉnh đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

 Từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951, tại căn cứ địa Việt Bắc (huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang), Đại hội lần thứ II của Đảng được tổ chức. Thành công của Đại hội không chỉ đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, mà tầm vóc, ý nghĩa của Đại hội là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam tiến lên giành những thắng lợi mới, trực tiếp là đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và để lại nhiều giá trị lý luận, thực tiễn đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước hiện nay.

Đưa Đảng ra hoạt động công khai  

Từ Đại hội lần thứ Nhất (3-1935, tại Ma Cao, Trung Quốc), đến năm 1951, Đảng Cộng sản Đông Dương đã trải qua 16 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Lào và Campuchia giành được nhiều thắng lợi quan trọng. Song, sự nghiệp cách mạng của ba nước phát triển không đều và có những đặc điểm riêng, đòi hỏi phải có đường lối chính trị và tổ chức lãnh đạo thích hợp đối với mỗi nước, để phát huy động lực dân tộc của từng quốc gia, đưa cách mạng vững bước tiến lên giành thắng lợi. 

Nhằm giải quyết những yêu cầu mới của cách mạng ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức Đại hội lần thứ II, từ ngày 11 đến 19-2-1951, tại xã Vinh Quang (nay là Kim Bình), huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Tham dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết, đại diện cho hơn 76 vạn đảng viên thuộc các Đảng bộ Việt Nam, Lào và Campuchia. Khách quốc tế có đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc và đại biểu Đảng Cộng sản Xiêm (Thái Lan). Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. 

Báo cáo Chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày, tổng kết những kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng và xác định phương hướng, nhiệm vụ mới của cách mạng Việt Nam là: “1. Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. 2. Tổ chức Đảng Lao động Việt Nam”[1].  “Nhiệm vụ thứ nhất, nhiệm vụ cấp bách nhất của Đảng ta ngày nay là phải đưa kháng chiến đến thắng lợi. Các nhiệm vụ khác đều phải phụ thuộc vào đó”[2].

Đại hội lần thứ II của Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đảng Lao động Việt Nam ra hoạt động công khai với cương lĩnh và đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Thành công của Đại hội đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc và toàn diện, nhất là về tư tưởng, đường lối cách mạng của Việt Nam, mặt khác, cũng đánh dấu sự trưởng thành của các lực lượng cách mạng ở Lào và Campuchia.

Tầm vóc, ý nghĩa Đại hội II trong tiến trình cách mạng Việt Nam

Thực tiễn cho thấy, những quyết sách của Đại hội II và những nội dung của Chính cương Đảng Lao động Việt Nam là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc ta tiến lên giành những thắng lợi to lớn. Đặc biệt, những nội dung Đại hội xác định như: “… phải tập trung mọi lực lượng để kháng chiến, đặng hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc”[3].  “Tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại can thiệp Mỹ” (…), “Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn”[4] đã trở thành kim chỉ nam cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Từ năm 1951 đến năm 1954, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã đẩy mạnh kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giành thắng lợi từng bước tiên lên giành thắng lợi hoàn toàn với Chiến dịch Điện Biên Phủ (7-5-1954). Tiếp đó, nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ kéo dài 21 năm chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954 - 1975) và giành thắng lợi trọn vẹn với đỉnh cao là thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30-4-1975).  

Bước ra khỏi cuộc chiến tranh sau 21 năm, dân tộc Việt Nam phải gánh chịu những hậu quả hết sức nặng nề trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Chỉ tính riêng về người và tài sản, bom đạn Mỹ đã giết hại hơn 3 triệu người, làm 30 vạn người mất tích và hơn 2 triệu người bị thương tật. Ngoài ra, còn có hàng triệu người bị nhiễm chất độc màu da cam với những di chứng hết sức nặng nề. Theo thống kê, trong những năm đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng đã phá hủy hầu hết các cơ sở kinh tế và quốc phòng: 100% nhà máy điện, 1.500/1.600 công trình thủy lợi, 6 tuyến xe lửa, 66/70 nông trường quốc doanh, 6 thành phố lớn và hàng trăm thị xã, 1.500 bệnh viện, bệnh xá, 1.300 trường học cùng hàng nghìn chùa chiền, nhà thờ bị phá hoại nghiêm trọng. Bom đạn Mỹ cũng đã phá hủy hàng vạn ngôi nhà, cày xới hàng triệu héc-ta hoa màu,v.v… khiến cả miền Bắc trở thành đống đổ nát[5].

Trong khi đó tại miền Nam, sau ngày đất nước thống nhất, tàn tích chiến tranh để lại hết sức nặng nề: Hơn 50 vạn héc-ta đất bị bỏ hoang, hàng triệu héc-ta rừng bị hủy diệt, nhiều thị trấn, làng mạc bị san phẳng, hàng nghìn gia đình bị ly tán, hàng chục vạn lưu manh, gái điếm, thương, phế binh và trẻ em mồ côi,v.v…[6] đã trở thành vấn nạn xã hội gây nhức nhối trên toàn miền Nam. Đặc biệt, những năm này, nhân dân Việt Nam còn phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc.

Nhưng, với bản lĩnh của một Đảng cầm quyền, kế thừa kinh nghiệm lãnh đạo qua các kỳ đại hội, đặc biệt là từ Đại hội lần thứ II của Đảng, Đảng Lao động Việt Nam, sau đó là Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân từng bước khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, xã hội, đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù ở hai đầu biên giới, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời, từng bước khảo nghiệm, tìm tòi con đường phát triển cho cách mạng Việt Nam.

Như vậy, những quyết sách của Đại hội lần thứ II của Đảng có ý nghĩa trực tiếp đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Tuy nhiên, ý nghĩa của Đại hội lần thứ II của Đảng còn thể hiện rõ nét trong công tác xây dựng Đảng. Đại hội lần thứ II của Đảng chỉ rõ: “Muốn xây dựng, củng cố và phát triển Đảng…, phải phát triển phê bình và tự phê bình”[7]. Đây là vấn đề có giá trị lý luận thực tiễn sâu sắc, vì trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam kể từ Đại hội II tới nay, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, vấn đề tự phê bình và phê bình luôn được đặt ra trong các Nghị quyết của Đảng. Cùng với phê bình và tự phê bình, để xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh, Đại hội II nhấn mạnh phải “Đề cao công tác lý luận trong Đảng”[8].

Trong khi “Đề cao công tác lý luận của Đảng”, Đại hội II chỉ rõ phải “… tổng kết kinh nghiệm để luôn luôn bồi bổ cho chính sách của Đảng và định ra những chính sách cụ thể của Đảng, đúc những kinh nghiệm lớn thành lý luận vận động cách mạng của Đảng ta”[9]. Đây là nội dung mang ý nghĩa thời đại sâu sắc, vì mọi đường lối của Đảng luôn xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo kiểm nghiệm lý luận, nhờ đó mà đủ sức soi đường, chỉ lối, đưa sự nghiệp cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ngoài những nội dung trên, Đại hội II chỉ rõ phải “Xúc tiến công tác tổ chức của Đảng, chú trọng cải tiến tổ chức đảng… Đưa khả năng tổ chức lên ngang nhu cầu chính trị, làm cho công tác tổ chức bảo đảm được việc thi thành chính sách của Đảng”[10]. Đó chính là xây dựng Đảng về tổ chức, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng, được tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Nhờ vậy, trải qua các thời kỳ lịch sử từ năm 1951 đến nay với những đặc điểm khác nhau, tổ chức của Đảng ngày càng lớn mạnh và công tác tổ chức cũng để lại nhiều kinh nghiệm quý báu mà ngày nay chúng ta cần phát huy.

Một nội dung quan trọng được Đại hội II chỉ ra là phải “Ra sức đào tạo cán bộ”[11]. Đây là sự hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ. Sinh thời, Người nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[12], “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” và “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”[13]. Từ Đại hội II đến nay, nhất là trong những nhiệm kỳ gần đây, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng.    

Thời gian lùi xa, nhưng tầm vóc, ý nghĩa của Đại hội lần thứ II vẫn mãi là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong chặng đường 95 xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Góp phần vào những thành tựu to lớn đó, những quyết sách của Đại hội II có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.