Thứ Năm, 6 tháng 2, 2025

Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương tổng kết công tác năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025

 ĐCSVN) - Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương Lại Xuân Lâm yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, chủ động tham mưu xây dựng, tinh gọn tổ chức, bộ máy theo chỉ đạo của Trung ương và Tổng Bí thư, chú trọng đề xuất về tổ chức bộ máy, biên chế, số lượng cán bộ chuyên trách của cấp ủy các cấp, bảo đảm các chế độ chính sách liên quan, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi cách mạng về tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả.

Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương Lại Xuân Lâm phát biểu tại Hội nghị. 

Chiều 30/12, tại Hà Nội, Ban Chấp hành Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương tổ chức Hội nghị lần thứ 19 (mở rộng), tổng kết công tác năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025. Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương Lại Xuân Lâm chủ trì Hội nghị.

Theo báo cáo tại Hội nghị, năm 2024, Đảng ủy Khối và các cấp ủy trực thuộc tiếp tục bám sát Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bộ Khối, các quy định, hướng dẫn mới của Trung ương để cụ thể hóa nhiệm vụ trọng tâm bằng việc sớm ban hành Chương trình làm việc, Chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp ủy năm 2024 và văn bản lãnh đạo, chỉ đạo các nhiệm vụ về công tác xây dựng Đảng. Trọng tâm là tiến hành tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ 2020 - 2025 và tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 - 2025) trong Đảng bộ Khối. Tập trung công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chuẩn bị đại hội đảng các cấp và Đại hội Đảng bộ Khối lần thứ XIV; tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Trung ương trong Đảng bộ Khối và tham mưu, phối hợp tham mưu xây dựng đề án sắp xếp tổ chức bộ máy; quy định về chức năng, nhiệm vụ và quy chế hoạt động của 4 tổ chức đảng mới trực thuộc Trung ương.

Đảng ủy Khối và các đảng ủy thực thuộc đã tích cực trong việc phối hợp với đảng đoàn, ban cán sự đảng và lãnh đạo cơ quan, đơn vị tập trung lãnh đạo cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động phát huy tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, tham mưu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của các khối công tác trong năm 2024.

 Hội nghị lần thứ 19 (mở rộng) Ban Chấp hành Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương.

Trong năm 2024, công tác xây dựng Đảng được tập trung chỉ đạo, trọng tâm là công tác nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội; định hướng thông tin, tuyên truyền, bảo đảm kịp thời, tạo sự đồng thuận trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ Khối; tổ chức các hội nghị trực tiếp kết hợp với trực tuyến của Đảng ủy Khối kết nối đến các đảng ủy trực thuộc; tổ chức thành công Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Đảng bộ Khối năm 2024, Hội thảo khoa học kỷ niệm 55 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh...

Cũng trong năm 2024, Đảng ủy Khối đã chỉ đạo triển khai thực hiện rà soát bổ sung quy hoạch nhiệm kỳ 2020 - 2025, quy hoạch nhiệm kỳ 2025 - 2030; kiện toàn, bổ sung cấp ủy; tập trung hoàn thành nhiệm vụ do Ban Bí thư giao năm 2023 và nhiệm vụ được giao năm 2024; ban hành kế hoạch tổ chức đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Khối và lập ban chỉ đạo, các tiểu ban Đại hội Đảng bộ Khối lần thứ XIV.

Cùng với đó, công tác dân vận được tập trung chỉ đạo; quan tâm công tác xây dựng, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; quy chế công tác dân vận; phong trào thi đua “Dân vận khéo”; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Đoàn Thanh niên Khối và các cấp bộ đoàn theo hướng bám sát nhiệm vụ chính trị của cấp ủy và hướng dẫn của Trung ương Đoàn; phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh...

Tại Hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận, bổ sung hoàn thiện một số dự thảo: Báo cáo tổng kết công tác năm 2024, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2025 của Đảng bộ Khối; Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát năm 2024, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2025; Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ Khối năm 2025 và Dự thảo Báo cáo chính trị (lần 2) của Ban Chấp hành Đảng bộ Khối khóa XIII. 

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối Lại Xuân Lâm đề nghị, các đảng ủy trực thuộc Đảng ủy Khối khẩn trương hoàn thiện việc tổng kết công tác năm 2024; triển khai nhiệm vụ công tác năm 2025. Ngay trong những ngày đầu năm 2025, phải tập trung cao độ, với tinh thần quyết liệt nhất, hăng hái nhất trong triển khai các nhiệm vụ chính trị; đảm bảo thực hiện công tác chuyên môn được liên tục, liên thông, không vì sắp xếp tinh gọn bộ máy mà để gián đoạn nhiệm vụ chính trị.

Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối Lại Xuân Lâm nêu rõ, trong quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy và cho đến khi có quyết định kết thúc hoạt động, sáp nhập, hợp nhất, cấp ủy các cấp vẫn phải thúc đẩy, triển khai liên tục, liên thông và hoàn thành bảo đảm đúng tiến độ các nhiệm vụ chính trị. Cán bộ, đảng viên phải phát huy trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương tặng Bằng khen cho tổ chức đảng có thành tích xuất sắc theo từng lĩnh vực cụ thể của công tác xây dựng Đảng.  

Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối Lại Xuân Lâm cho biết, hiện nay, Bộ Chính trị giao Ban Tổ chức Trung ương tham mưu, xin ý kiến góp ý để điều chỉnh Chỉ thị số 35 -CT/TW ngày 14/6/2024 về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng cho phù hợp chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy của các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị. Do đó, Đảng ủy Khối đề nghị các cấp ủy, ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị (điều chỉnh, bổ sung) cần bám sát và cụ thể hóa các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, của Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương về đại hội đảng bộ các cấp; đồng thời tiếp tục thảo luận và tổng hợp các ý kiến đóng góp vào Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Đồng thời, đồng chí Lại Xuân Lâm yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, chủ động tham mưu xây dựng, tinh gọn tổ chức, bộ máy theo chỉ đạo của Trung ương và Tổng Bí thư với tinh thần “vừa chạy, vừa xếp hàng”; trong đó chú trọng đề xuất về tổ chức bộ máy, biên chế, số lượng cán bộ chuyên trách của cấp ủy các cấp, bảo đảm các chế độ chính sách liên quan, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi cách mạng về tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả. 

Phó Bí thư Thường trực Lại Xuân Lâm yêu cầu tập trung tuyên truyền những chủ trương lớn, trọng tâm từ nay đến Đại hội XIV của Đảng, gắn với những thành tựu, kết quả thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bộ Khối và Đại hội XIII của Đảng. Các cấp ủy phát huy tinh thần đoàn kết, nhất trí cao, động viên cán bộ, đảng viên yên tâm công tác, giữ vững bản lĩnh chính trị, nhất là trong giai đoạn sắp xếp tổ chức, bộ máy; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, thường xuyên nắm tình hình dư luận xã hội và tư tưởng của cán bộ, đảng viên, người lao động; đồng thời phát huy tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị.

Nhân dịp này, Đảng ủy Khối đã khen thưởng 46 tổ chức Đảng trực thuộc có thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực công tác xây dựng Đảng năm 2024./.

Tin

Chính sách mới với cán bộ thôi việc do tinh gọn bộ máy

 ĐCSVN) - Chính phủ thông qua chính sách với cán bộ thôi việc do tinh gọn bộ máy; năm 2024 đã thi hành kỷ luật 68 cán bộ diện Trung ương quản lý; tai nạn lao động làm 5 người thương vong tại Thủy điện Đăk Mi 1; tòa án Hàn Quốc phê chuẩn lệnh bắt giữ Tổng thống Yoon Suk-yeol... là những tin tức đáng chú ý ngày hôm nay, 31/12.

Chiều 31/12, Bộ Nội vụ tổ chức họp báo công bố, cung cấp thông tin về 3 nghị định vừa được Chính phủ thông qua trong ngày.

Cụ thể gồm Nghị định số 179/2024 ngày 31/12 quy định chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Nghị định số 177/2024 quy định chế độ, chính sách đối với các trường hợp không tái cử, tái bổ nhiệm và cán bộ thôi việc, nghỉ hưu theo nguyện vọng.

Nghị định số 178/2024 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

Ảnh minh họa: S.Đ  

Về Nghị định số 178/2024, ông Nguyễn Quang Dũng, Chánh Văn phòng Ban Cán sự đảng Bộ Nội vụ cho biết, Nghị định có 8 chính sách:

Chính sách 1 đối với người nghỉ hưu trước tuổi: trường hợp có tuổi đời đủ 10 năm trở xuống so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường và đủ 5 năm trở xuống so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện làm việc ở vùng đặc biệt khó khăn và đủ thời gian đóng BHXH bắt buộc để nghỉ hưu thì được hưởng 3 chế độ:

Thứ nhất, được hưởng trợ cấp hưu trí một lần cho thời gian nghỉ sớm. Trường hợp nghỉ trong thời hạn 12 tháng: Nếu có tuổi đời còn từ đủ 5 năm trở xuống đến tuổi nghỉ hưu, được hưởng trợ cấp bằng 1 tháng tiền lương hiện hưởng nhân với số tháng nghỉ sớm. Nếu có tuổi đời còn từ đủ 5 năm đến đủ 10 năm đến tuổi nghỉ hưu, được hưởng trợ cấp bằng 0,9 tháng tiền lương hiện hưởng nhân với 60 tháng. Trường hợp nghỉ từ tháng thứ 13 trở đi thì được hưởng bằng 0,5 mức trợ cấp của trường hợp nghỉ trong 12 tháng nêu trên.

Thứ hai, được hưởng chính sách nghỉ hưu trước tuổi, gồm: Được hưởng lương hưu và không bị trừ tỷ lệ lương hưu; được hưởng trợ cấp nghỉ hưu trước tuổi (người còn từ đủ 2 năm đến dưới 5 năm đến tuổi nghỉ hưu thì được trợ cấp bằng 5 tháng tiền lương hiện hưởng cho mỗi năm nghỉ sớm; người còn từ đủ 5 năm đến đủ 10 năm đến tuổi nghỉ hưu thì được trợ cấp bằng 4 tháng tiền lương hiện hưởng cho mỗi năm nghỉ hưu sớm); được hưởng trợ cấp theo thời gian công tác có trên 20 năm đóng BHXH bắt buộc.

Trường hợp có tuổi đời còn dưới 2 năm đến tuổi nghỉ hưu quy định và có đủ thời gian công tác có đóng BHXH bắt buộc để được hưởng lương hưu, thì được hưởng chế độ hưu trí theo quy định và không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.

Đối với cán bộ, công chức, viên chức không thuộc đối tượng xét khen thưởng quá trình cống hiến thì được cấp có thẩm quyền xem xét các hình thức khen thưởng phù hợp với thành tích đạt được.

Chính sách 2 về nghỉ thôi việc đối với cán bộ, công chức. Cán bộ, công chức có tuổi đời còn hơn 2 năm đến tuổi nghỉ hưu và không đủ điều kiện hưởng chính sách, chế độ nghỉ hưu trước tuổi, nếu nghỉ thôi việc thì được hưởng 4 chế độ:

- Được hưởng trợ cấp thôi việc: Nếu nghỉ trong thời hạn 12 tháng thì được hưởng trợ cấp bằng 0,8 tháng tiền lương hiện hưởng nhân với số tháng tính hưởng trợ cấp thôi việc. Nếu nghỉ từ tháng thứ 13 trở đi thì được hưởng bằng 0,4 tháng tiền lương hiện hưởng nhân với số tháng tính hưởng trợ cấp thôi việc (tối đa 60 tháng).

- Được trợ cấp 1,5 tháng tiền lương hiện hưởng cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

- Được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội hoặc hưởng BHXH một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

- Được trợ cấp 3 tháng tiền lương hiện hưởng để tìm việc làm.

Chính sách 3 về nghỉ thôi việc đối với viên chức và người lao động. Viên chức và người lao động nghỉ thôi việc được hưởng 4 chế độ như cán bộ, công chức nghỉ thôi việc, chỉ khác chế độ thứ 4 là viên chức và người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp do Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp chi trả do tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Chính sách 4 áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý thôi giữ chức vụ hoặc được bầu cử, bổ nhiệm vào chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý thấp hơn, theo ông Dũng, được bảo lưu mức lương chức vụ hoặc phụ cấp chức vụ lãnh đạo cũ đến hết nhiệm kỳ bầu cử hoặc thời hạn bổ nhiệm.

Chính sách 5 đối với người đi công tác ở cơ sở. Để tăng cường cán bộ, công chức, viên chức ở Trung ương, cấp tỉnh đi công tác ở cơ sở (thời gian 3 năm), nghị định quy định 5 chế độ: Được tiếp tục hưởng tiền lương (bao gồm cả phụ cấp) theo vị trí việc làm trước khi được cơ quan, tổ chức, đơn vị cử đi; hưởng trợ cấp lần đầu bằng 10 tháng lương cơ sở tại thời điểm nhận công tác.

Trường hợp đơn vị công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì được hưởng chính sách quy định tại Nghị định số 76/2019 của Chính phủ. Sau khi cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ tại cơ sở, được tiếp nhận trở lại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi cử đi hoặc được cơ quan có thẩm quyền bố trí công tác phù hợp không thấp hơn vị trí việc làm trước khi đi tăng cường; đồng thời, được nâng lương vượt một bậc và được Bộ, ban, ngành và tỉnh xem xét khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng.

Chính sách 6 về trọng dụng người có phẩm chất, năng lực nổi trội gồm quy định về nâng lương vượt một bậc; được hưởng tiền thưởng do thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị quyết định trong tối đa 50% quỹ tiền thưởng của cơ quan, tổ chức, đơn vị; được quan tâm, ưu tiên quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp; hưởng chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng làm việc trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.

Chính sách 7 quy định về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ, công chức sau khi sắp xếp (Điều 14).

Chính sách 8 về chế độ đối với đối tượng thuộc lực lượng vũ trang trong quá trình thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy (Điều 15) như đối với cán bộ, công chức, viên chức và lao động hợp đồng trong cơ quan nhà nước.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2025.

Đã thi hành kỷ luật 68 cán bộ diện Trung ương quản lý

Chiều 31/12, thông báo về kết quả Phiên họp 27 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đại diện Ban Nội Chính Trung ương cho biết, trong năm 2024, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 709 tổ chức đảng và 24.097 đảng viên vi phạm.

 Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì phiên họp thứ 27 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 68 cán bộ diện Trung ương quản lý. Trong đó, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã thi hành kỷ luật 2 nguyên là lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước do vi phạm quy định trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và trong phòng chống tham nhũng tiêu cực, vi phạm những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương.

Bên cạnh đó, ngành Thanh tra, Kiểm toán cũng đã kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính 104.042 tỷ đồng và 40ha đất; kiến nghị xử lý hành chính 2.065 tập thể và 7.836 cá nhân. 

Riêng các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, đã khởi tố mới 8 vụ án/29 bị can, khởi tố thêm 174 bị can trong 13 vụ án; kết thúc điều tra 13 vụ án/449 bị can, kết thúc điều tra bổ sung 6 vụ án/32 bị can; truy tố 12 vụ án/440 bị can; xét xử sơ thẩm 14 vụ án/536 bị cáo, xét xử phúc thẩm 16 vụ án/118 bị cáo.

Các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương và địa phương đã khởi tố mới 4.732 vụ án/10.430 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ; trong đó, khởi tố mới 906 vụ án/2.068 bị can về các tội tham nhũng.

Trong năm 2024 đã chuyển 344 vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Công tác thu hồi tài sản tham nhũng đạt nhiều kết quả; riêng các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, các cơ quan thi hành án dân sự đã thu hồi được gần 19.000 tỷ đồng.

Tai nạn lao động làm 5 người thương vong tại Thủy điện Đăk Mi 1

Khoảng 3h ngày 31/12, trong quá trình tiến hành đổ bê tông hạng mục đập tràn tại công trình Thủy điện Đăk Mi 1 thuộc xã Đăk Choong (huyện Đăk Glei, Kon Tum), công trình xảy ra sự cố khiến 4 công nhân bị rơi xuống hố nước sâu ở khu vực thượng lưu đập và 1 công nhân ở phía dưới bị đá văng vào người.

Ngay sau khi vụ việc xảy ra, đơn vị thi công đã bố trí người lặn xuống tìm kiếm, tuy nhiên do mực nước sâu khoảng 5m và thời tiết quá lạnh nên công tác cứu hộ, cứu nạn gặp nhiều khó khăn. Đến hơn 10h cùng ngày, lực lượng tìm kiếm đã tìm thấy thi thể 3 công nhân gặp nạn.

 Công trình thuỷ điện Đăk Mi 1 nơi tai nạn xảy ra khiến 3 người chết, 2 người mất tích. Ảnh: Vietnamnet 

Hiện đơn vị thi công và các lực lượng chức năng đang tiến hành mở đường, đưa máy bơm vào hút nước dưới hồ thượng nguồn để tìm kiếm 2 công nhân còn lại.

Danh tính các công nhân gặp nạn được xác định gồm: Hà Văn Sơn (30 tuổi); Kha Văn Kháy (26 tuổi), Ngân Văn Long (32 tuổi), Lương Văn Hùng (20 tuổi, đều quê ở Nghệ An), là công nhân thuộc Công ty Dũng Phúc Lộc, địa chỉ tại Nghệ An.

Nạn nhân còn lại là A Tuất (24 tuổi, trú thôn Đăk Lây, xã Đăk Choong, huyện Đăk Glei), là công nhân thuộc Công ty Nguyên Dược.

UBND tỉnh Kon Tum yêu cầu các lực lượng chức năng phối hợp, khẩn trương tổ chức tìm kiếm, cứu nạn các nạn nhân. Đồng thời điều tra cụ thể nguyên nhân vụ tai nạn và báo cáo kết quả trước ngày 3/1.

Được biết, Thủy điện Đăk Mi 1 có công suất 84 MW nằm trên địa bàn xã Đăk Choong (huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum). Dự án có tổng mức đầu tư hơn 3.500 tỷ đồng, được khởi công từ năm 2009 nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành để đưa vào sử dụng.

Tòa án Hàn Quốc phê chuẩn lệnh bắt giữ Tổng thống Yoon Suk-yeol

Tòa án Hàn Quốc đã chấp thuận lệnh bắt giữ Tổng thống Yoon Suk-yeol theo đề xuất của nhóm điều tra chung về vụ thiết quân luật.

Theo Yonhap, trong sáng ngày 31/12, Tòa án quận Tây Seoul đã phê chuẩn lệnh bắt giữ Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk-yeol theo yêu cầu của nhóm điều tra chung, sau khi ông Yoon 3 lần không ra trình diện theo yêu cầu của Văn phòng điều tra tham nhũng các quan chức cấp cao (CIO).

"Dựa theo yêu cầu của nhóm điều tra liên ngành, lệnh bắt giữ và khám xét với Tổng thống Yoon đã được ban bố", đại diện CIO cho biết.

Truyền thông địa phương nhấn mạnh, đây là lần đầu tiên trong lịch sử hiến pháp Hàn Quốc mà lệnh bắt giữ được ban hành đối với một Tổng thống đương nhiệm.

 Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk-yeol. Ảnh: Yonhap 

Theo lệnh của tòa án, CIO có 48h để tiến hành bắt giữ Tổng thống Yoon nhằm thẩm vấn về việc ban bố thiết quân luật. Tuy vậy, vẫn chưa rõ liệu CIO có thể thực hiện lệnh bắt giữ hay không, bởi Cơ quan An ninh Tổng thống đã chặn các điều tra viên vào khu phức hợp Văn phòng Tổng thống, lẫn nơi ở chính thức của ông Yoon với lý do lo ngại về an ninh quân sự.

Người đứng đầu CIO Oh Dong-woon nói rằng lệnh bắt giữ hoặc tạm giam của tòa án không thể bị cản trở về mặt pháp lý, ngay cả với Tổng thống đương nhiệm.

Về phía Tổng thống Hàn Quốc, ông Yoon và đội ngũ pháp lý tiếp tục bác bỏ các cáo buộc nổi loạn do phe đối lập đưa ra, khẳng định việc ban bố thiết quân luật là phù hợp với quyền hành pháp của Tổng thống, đống thời cho rằng đảng Dân chủ đối lập đang lạm dụng việc luận tội./.

Bản lĩnh Hồ Chí Minh trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

 


Quá trình tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã tìm đến Chủ nghĩa Mác-Lênin và tiếp nhận ở đó hệ thống lý luận về đảng cộng sản. Đồng thời tỏ rõ bản lĩnh của một người có năng lực nhạy bén để tiếp cận Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng cũng có tư duy độc lập để vận dụng và phát triển sáng tạo chân lý đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.


Từ ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin


Vào lúc nhiều người trên thế giới còn ngưỡng vọng đến cách mạng tư sản, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy tính không triệt để của cách mạng tư sản khi nó vẫn còn áp bức giai cấp và áp bức dân tộc. Người đến với Quốc tế III do V.I.Lenin sáng lập đơn giản là bởi Quốc tế III hứa sẽ giúp đỡ các dân tộc thuộc địa, còn Quốc tế II không hề nhắc đến vận mệnh các dân tộc thuộc địa. Ở thời điểm lịch sử có nhiều ngã rẽ và các dân tộc thuộc địa còn bị trói buộc trong vòng tăm tối, nô dịch, việc tìm ra học thuyết Mác-Lênin - học thuyết khoa học nhất trong các học thuyết cách mạng và cách mạng nhất trong các học thuyết khoa học - thể hiện tầm nhìn và sự nhạy cảm chính trị đặc biệt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.


Từ sự dứt khoát về nhận thức, Nguyễn Ái Quốc đã có sự dứt khoát về hành động. Tháng 12-1920, tại Đại hội Tours, khi bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam và là một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp. Tin và đi theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp nhận ở đó học thuyết về đảng cộng sản. Từ câu nói của V.I.Lenin, rằng “hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên”, Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra sự cần thiết phải thành lập một chính đảng cộng sản ở Việt Nam. Như vậy, so với đường lối cứu nước của các bậc tiền bối, quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về sự cần thiết phải thành lập đảng cộng sản để lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam là hoàn toàn mới mẻ. Đây chính là tiền đề lý luận cho quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.


Quá trình chuẩn bị công phu


Nếu K.Marx và F.Engels cho rằng sự ra đời của đảng cộng sản là sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân, nếu V.I.Lenin cho rằng đảng cộng sản ra đời là kết quả của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân thì Nguyễn Ái Quốc cho rằng trong sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam cần sự xuất hiện của yếu tố thứ ba: Phong trào yêu nước. Nắm vững đặc điểm riêng của dân tộc Việt Nam-một dân tộc có truyền thống yêu nước nồng nàn và có số lượng công nhân ít ỏi, Nguyễn Ái Quốc truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ vào phong trào công nhân mà còn vào phong trào yêu nước với bộ phận rất quan trọng là lực lượng thanh niên, trí thức yêu nước. Nhờ kết hợp nhuần nhuyễn cái phổ biến với cái đặc thù trong quy luật ra đời của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã tạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam truyền thống gắn bó chặt chẽ với dân tộc ngay từ thời khắc sinh thành.


Bản lĩnh chính trị của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự thận trọng hiếm có trong công tác tổ chức. Dù hiểu rằng “phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi” nhưng khi về Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc không thành lập ngay Đảng Cộng sản Việt Nam mà lại thành lập tổ chức tiền thân của Đảng là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong quan niệm của Người, đảng cộng sản-tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân chỉ có thể ra đời và thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của mình khi phong trào công nhân đã đạt trình độ tự giác; khi đã có đội ngũ cán bộ đảng nhiệt huyết, có kinh nghiệm và gắn bó mật thiết với nhân dân; khi lãnh tụ của Đảng đã có một cương lĩnh chính trị khoa học, phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Xét vào thời điểm năm 1925, cả 3 điều kiện trên đều chưa thực sự đầy đủ nên Người đã kiên nhẫn thành lập ra tổ chức mang tính quá độ, vừa tầm với thực tiễn phong trào để qua hoạt động của tổ chức này, các điều kiện thành lập Đảng mau chóng chín muồi.


Cùng với sự chuẩn bị về tổ chức, tác phẩm "Đường Kách mệnh" của Nguyễn Ái Quốc với sự phác thảo con đường giải phóng dân tộc trên nét lớn đã chuẩn bị tiền đề tư tưởng, chính trị cho công tác thành lập Đảng. Vì thế, “có thể xem trong lịch sử cách mạng Việt Nam, cuốn "Đường Kách mệnh" có vai trò như cuốn "Làm gì?" của V.I.Lenin đối với cách mạng Nga...


Nhờ hoạt động tích cực của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tư tưởng cộng sản ngày càng trở nên chiếm ưu thế ở Việt Nam. Đến cuối năm 1929, trong nước cùng lúc tồn tại 3 tổ chức cộng sản. Nguy cơ phân liệt lực lượng và đường lối giữa các tổ chức cộng sản đòi hỏi phải có một lãnh tụ đủ uy tín đứng ra làm nhiệm vụ quy tụ 3 tổ chức cộng sản làm một.


Đến hội nghị thành lập Đảng


Ở thời điểm lịch sử sôi động nhưng cũng không ít phần phức tạp, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tiến hành hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở nước ta tại Hương Cảng-Trung Quốc vào mùa xuân năm 1930. Trong hội nghị mang tính chất đại hội thành lập, tư duy sáng tạo và tinh thần độc lập, tự chủ của Nguyễn Ái Quốc đã bộc lộ hết sức rõ nét.


Thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam chứ không phải là Đảng Cộng sản Đông Dương như chủ trương của Quốc tế Cộng sản: “Là thành lập một đảng cách mạng có tính giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một đảng cộng sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương”. Với quan điểm đảng cộng sản trước hết phải thuộc về từng dân tộc, phải được đặt trong phạm vi dân tộc để đường lối của Đảng phù hợp với điều kiện của dân tộc đó, Nguyễn Ái Quốc đã hiện thực hóa quan điểm của V.I.Lenin về quyền dân tộc tự quyết.


Thứ hai, kế thừa truyền thống đoàn kết của dân tộc và với niềm tin mãnh liệt vào lòng yêu nước của những người cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu các đại biểu tham dự hội nghị “bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”; “định kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước”. Tức là, dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời bằng cách hợp nhất trọn vẹn các tổ chức cộng sản dù rằng Quốc tế Cộng sản chủ trương việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương phải trải qua quá trình “thanh lọc” để lựa chọn ra những phần tử thực sự ưu tú, thực sự cộng sản nhất trong các nhóm cộng sản. Nếu làm theo chỉ dẫn của Quốc tế Cộng sản thì “có khi không thể cho ra đời được Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930” trong khi sự phân liệt giữa các tổ chức cộng sản đang đặt ra yêu cầu cấp bách là phải nhanh chóng hợp nhất.


Thứ ba, với tinh thần độc lập, tự chủ, Nguyễn Ái Quốc đã soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta-một cương lĩnh giải phóng dân tộc nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp, thấm đượm tinh thần dân tộc. Cụ thể là, trên cơ sở thấu hiểu đặc điểm của xã hội thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã xác định rõ: Trong hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến thì chống đế quốc, giành độc lập dân tộc phải là nhiệm vụ hàng đầu. Quan điểm này có sự khác biệt lớn so với chủ trương “giai cấp đấu tranh giai cấp”, đấu tranh không khoan nhượng và kiên định với giai cấp tư sản, địa chủ của Quốc tế Cộng sản. Bên cạnh đó, cùng với việc khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam theo đúng quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc còn khẳng định tính dân tộc sâu sắc của Đảng thông qua cơ sở xã hội rộng rãi cũng như tính đại diện cho lợi ích dân tộc của Đảng. Trong Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ghi rõ: “Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng thời được vào Đảng”. Như vậy, điều kiện để trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là thành phần xuất thân từ giai cấp công nhân mà là sự giác ngộ lý tưởng của giai cấp đó. Những quan điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc đã hóa giải tính cô độc, biệt phái của Đảng Cộng sản Việt Nam cho dù giai cấp công nhân Việt Nam chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong xã hội. Điều đó đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam khắc phục căn bệnh ấu trĩ tả khuynh hết sức nguy hiểm mà V.I.Lenin từng cảnh báo trước đó. Dù có lúc quan điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc bị quy kết là hữu khuynh, “là cơ hội chủ nghĩa, chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh” nhưng lịch sử đã chứng minh sự đúng đắn và tầm nhìn vượt trội của Người. Nhờ đó, một thời đại vẻ vang trong lịch sử dân tộc đã được mở ra.


Nguồn QĐND

MỪNG ĐẢNG 95 MÙA XUÂN.

 


Mừng Đảng 95 mùa xuân 

95 năm ấy muôn phần tốt tươi

Là ánh sáng của tình người 

Là niềm tin để xây đời dân ta.


Khi chưa có Đảng, nước nhà 

Dân nô lệ, Tổ quốc đà rối ren 

Cách mạng cũng đã bao phen 

Chìm trong biển máu dân đen khốn cùng.


Chỉ vì thiếu tiếng nói chung

Thiếu đường lối, vắng anh hùng vĩ nhân 

Và rồi Bác đã hiện thân

Hồ Chủ tịch, hợp lòng dân tụ về.


Thống nhất Đảng, dựng lời thề 

Giải phóng áp bức, bốn bề tự do 

Từ đây Đảng luôn chăm lo 

Cho dân tộc mãi ấm no, hùng cường.


Tổ chức Đảng, một tấm gương 

Người chỉ lối, vạch hướng đường dân đi

95 năm dưới Đảng kỳ 

Tự do, hạnh phúc không gì vui hơn.


Quý Le

GIỮ TRỌN NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN VÀO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 Nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 95 năm qua, Đảng ta luôn được nhân dân tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu mến gọi bằng hai chữ thân thương “Đảng ta”. Với vị trí, vai trò to lớn của Đảng và những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, không một thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được niềm tin vững chắc của nhân dân với Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.

1. Niềm tin chính trị của nhân dân là sự tin tưởng, kỳ vọng vào đảng phái chính trị nhất định, cụ thể là vào chủ trương, đường lối của đảng chính trị, truyền thống và những giá trị của đảng chính trị cũng như uy tín lãnh tụ của đảng. Niềm tin đó từ phía quần chúng nhân dân được hình thành qua đời sống chính trị của đất nước, qua hoạt động thực tiễn của chính đảng trong nỗ lực để bảo đảm rằng niềm tin đó sẽ được đền đáp.

Niềm tin chính trị của nhân dân gồm những yếu tố cơ bản sau đây.

Trước hết, đó là sự hiểu biết về chính trị của quần chúng nhân dân ngày càng tăng lên. Đây là điều kiện cần. Điều này chính là sự giải thích cho quyết định của quần chúng nhân dân rằng, nên đi theo đảng chính trị nào và chủ trương, đường lối của đảng đó có lợi hay không có lợi cho mình.

Thứ hai, những kinh nghiệm chính trị của nhân dân trong thực tiễn cách mạng ngày càng trở nên phong phú. Đây là điều kiện đủ. Khi sự hiểu biết về chính trị của quần chúng nhân dân là điều kiện cần của niềm tin chính trị, thì kinh nghiệm chính trị của họ chính là điều kiện đủ, quyết định họ sẽ kiên định đi theo sự lãnh đạo của đảng; đồng thời thể hiện đảng đã thành công trong việc cuốn hút họ theo đường lối của mình. Những trải nghiệm chính trị, những bài học kinh nghiệm xương máu được quần chúng nhân dân đúc rút từ thực tiễn cách mạng dưới sự lãnh đạo của đảng khiến cho nhận thức chính trị của họ càng thêm sâu sắc, từ đó niềm tin chính trị vào đảng càng thêm sâu nặng.

Thứ ba, thực tiễn lãnh đạo chính trị thuyết phục của đảng cộng sản. Đây là điều kiện quyết định, thể hiện năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng, thông qua tính đúng đắn của các chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng của đảng đem lại những thành công nhất định trên các lĩnh vực, qua đó thu hút càng nhiều quần chúng nhân dân đi theo đảng. Bên cạnh đó, những hy sinh, phấn đấu vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân của đội ngũ đảng viên và lãnh tụ của đảng; sự hòa quyện bởi nhân cách cá nhân người đảng viên với uy tín chính trị của đảng đã thực sự thuyết phục và củng cố niềm tin chính trị của nhân dân với đảng. Điều này rất quan trọng từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, thể hiện qua sự đúc kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong câu nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Chính những hy sinh, phấn đấu của đội ngũ đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã góp phần quan trọng nâng cao uy tín chính trị của Đảng ta trong nhân dân.

Thứ tư, sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp cách mạng. Đây là điều kiện bảo đảm cho tính bền vững của niềm tin chính trị của nhân dân. Niềm tin chính trị của nhân dân được hình thành bởi quá trình hoạt động có chủ đích của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là vì hạnh phúc của nhân dân; đồng thời, nhân dân cũng tích cực tham gia vào quá trình đó để theo đuổi lý tưởng của mình, hiện thực hóa lý tưởng đó, nên chính nhân dân đã góp phần xây dựng niềm tin chính trị của mình.

2. Thực tiễn cho thấy, niềm tin của nhân dân với Đảng được hình thành, củng cố ngày càng vững chắc hơn gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của Đảng suốt chặng đường 95 năm qua. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn. Ngay sau khi ra đời ngày 3-2-1930, Đảng đã lãnh đạo phong trào cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh; tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, tạo điều kiện cơ bản để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam. Cùng với những thành tựu của sự nghiệp gần 40 năm đổi mới mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đạt được là hết sức to lớn, có ý nghĩa lịch sử, để đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Với vai trò to lớn của mình, Đảng ta đã tạo được niềm tin yêu sâu sắc trong lòng nhân dân. Tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã một lòng đi theo Đảng; biến những nhận thức, niềm tin thành hành động cách mạng, thành ý chí quyết tâm; phát huy cao độ tinh thần và lực lượng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, để đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn hiện nay đòi hỏi Đảng phải không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn để thật sự xứng đáng với niềm tin của nhân dân và dân tộc.

Thực tiễn 95 năm qua của cách mạng Việt Nam cho thấy, Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đó là nhiệm vụ then chốt, thường xuyên, liên tục, xuyên suốt các thời kỳ cách mạng, quyết định đến sức mạnh, uy tín của Đảng. Từ khi bước vào công cuộc đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, như: Hội nghị Trung ương 3 khóa VII năm 1992, về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng; Hội nghị Trung ương 6 lần 2 khóa VIII năm 1999, về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Đại hội XII của Đảng (năm 2016) nhấn mạnh: “Tập trung thực hiện mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”. Xây dựng Đảng về đạo đức luôn gắn liền và nằm trong xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, nhưng nay được định danh, được đặt ngang hàng với các mặt công tác xây dựng Đảng khác, đã thể hiện ý chí của Đảng là đề cao, coi trọng yếu tố đạo đức trong xây dựng Đảng. Đây là một trong những điểm mới, rất căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng nội dung xây dựng Đảng.

3. Chúng ta thừa nhận thực tế về hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên sa sút phẩm chất, thoái hóa, chưa được ngăn chặn triệt để. Một số cán bộ lãnh đạo chẳng những không gương mẫu mà còn nêu gương xấu trước quần chúng. Một số người vô tổ chức, vô kỷ luật, kéo bè kéo cánh, nịnh bợ cấp trên, chèn ép quần chúng và cấp dưới, cơ hội, thực dụng, gây mất đoàn kết nội bộ. Một số cán bộ đã lợi dụng chức quyền để tham ô, trục lợi, ăn cắp của công, ăn hối lộ, thông đồng với kẻ xấu để làm giàu bất chính. Điều nghiêm trọng là có không ít cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp, bị những ham muốn vật chất cám dỗ cũng chạy theo tiền tài, địa vị, sống ích kỷ, buông thả, tự do chủ nghĩa, không còn tư cách đảng viên.

Nhìn thẳng vào sự thật đó, Đảng ta đã tiến hành nhiều cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, khắc phục những hiện tượng hư hỏng trong bộ máy nhà nước, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Đảng yêu cầu phải làm tốt việc giáo dục, nâng cao phẩm chất cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, coi đây là một nội dung trọng yếu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Việc xử lý cán bộ sai phạm đang diễn ra quyết liệt và có sức lan tỏa vô cùng mạnh mẽ, được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. Những nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong xử lý cán bộ sai phạm do tham nhũng, tiêu cực được thể hiện rõ cả trong quan điểm chỉ đạo và thực tiễn triển khai.

Về quan điểm chỉ đạo, có thể thấy rõ từ khi đổi mới đến nay, nhiệm kỳ nào Trung ương Đảng cũng có những nghị quyết chuyên đề liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Về thực tiễn triển khai, việc xử lý cán bộ sai phạm ở nước ta hiện được thực hiện theo đúng phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Bằng chứng là, thời gian qua, nhiều vụ án nghiêm trọng đã được đưa ra xét xử kịp thời, đúng người, đúng tội. Điều đó cho thấy rõ quyết tâm rất lớn cũng như năng lực, bản lĩnh của Đảng, Nhà nước ta trong việc phát hiện, xử lý những sai phạm của cán bộ, đảng viên, kể cả những người đã và đang giữ chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị.

Theo báo cáo của cơ quan chức năng, chỉ tính năm 2024, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 709 tổ chức đảng và 24.097 đảng viên vi phạm; Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 68 cán bộ diện Trung ương quản lý; trong đó, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã thi hành kỷ luật 2 nguyên lãnh đạo chủ chốt.

Có thể khẳng định rằng, việc xử lý quyết liệt các vụ án tham nhũng không chỉ ngăn chặn tình trạng thất thoát nguồn tài sản lớn của Nhà nước mà quan trọng hơn cả là góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thêm xung lực mới để cổ vũ, động viên, khích lệ nhân dân tiếp tục đóng góp cho sự phát triển đất nước. Đây chính là thực tiễn lãnh đạo chính trị thuyết phục của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, khẳng định tính đúng đắn của các chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, qua đó làm nhân dân thêm tin tưởng, đi theo Đảng.

Nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 95 năm qua, Đảng ta luôn được nhân dân tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu mến gọi bằng hai chữ thân thương “Đảng ta”. Đây là niềm vinh dự, tự hào lớn của Đảng mà không phải đảng chính trị nào trên thế giới cũng có được. Cũng chính điều đó đã tạo nên sức mạnh để Đảng ta không ngừng lớn mạnh, trưởng thành và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc giành những thắng lợi to lớn. Với vị trí, vai trò to lớn của Đảng và những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, không một thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được niềm tin vững chắc của nhân dân với Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.