Khu vườn diệu kỳ của bộ đội nhà giàn
Thứ Năm, 6 tháng 2, 2025
Khu vườn diệu kỳ của bộ đội nhà giàn
Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về ngày 30/4/1975
Ngày 30/4/1975 là một cột mốc vĩ
đại, đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập,
tự do. Thế nhưng, vẫn có những ý kiến lạc lõng, xuyên tạc về ý nghĩa lịch sử
ngày toàn thắng 30/4, kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
11
giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt
Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập – phủ Tổng thống ngụy quyền, thành phố Sài
Gòn được giải phóng, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, kết thúc vẻ vang cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm (1954 - 1975). Kể từ đó, ngày
30/4 hằng năm trở thành ngày lễ chính thức của nhân dân Việt Nam. Nhân dịp sự
kiện lịch sử trọng đại này, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thường tổ chức
nhiều hoạt động kỷ niệm. Thế nhưng, như đã thành thông lệ, đến thời gian này,
một số đối tượng chống cộng cực đoan ở hải ngoại lại tung ra các bài viết, trả
lời phỏng vấn với cách nhìn sai lệch, hằn học về Ngày 30/4/1975. Chúng gọi cuộc
chiến tranh do đế quốc Mỹ tiến hành ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 là “cuộc
nội chiến giữa hai miền Nam - Bắc”; gọi ngày 30/4/1975 là “Ngày Quốc hận” và
tháng 4/1975 là “Tháng tư đen”,… nhằm xuyên tạc tính chất, phủ nhận tầm vóc, ý
nghĩa và giá trị cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, kích động
sự thù hận còn đọng lại trong một bộ phận người vẫn luyến tiếc thân phận làm
tay sai cho đế quốc Mỹ. Thậm chí, trên một số diễn đàn mạng xã hội hiện nay, có
không ít ý kiến tỏ ra “tiếc nuối” trước sự kiện giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước vào mùa xuân 1975. Họ lý luận rằng: “Phải chi hồi ấy miền Bắc cứ xây
dựng CNXH theo ý cộng sản, miền Nam đi theo Mỹ để được thừa hưởng nền văn minh,
sự giàu có của nước Mỹ hùng cường”, “Phải chi đừng cố giải phóng miền Nam, cứ
chia nhau chung sống hòa bình thì đã không có bao người phải ngã xuống, hy
sinh, gia đình ly tán”, “Nếu không giải phóng, Sài Gòn đã trở thành con rồng
Châu Á như Singapore”… Có thể thấy, những luận điệu mà các tổ chức phản động,
kẻ cơ hội chính trị rêu rao hàng năm vào dịp này đều là những luận điệu cũ. Có
hay chăng chúng chỉ thể hiện lại bằng hình thức khác để phù hợp hơn với sự phát
triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là mạng xã hội. Biết không thể lôi kéo
hầu hết các tầng lớp nhân dân, chúng tập trung vào một bộ phận thanh thiếu niên
còn hạn chế về nhận thức hoặc có tư tưởng bất mãn.
Thực
tế là, Chiến thắng vĩ đại 30/4/1975 hoàn toàn không phải là cuộc “nội chiến”
hai miền hay “chiến tranh mang tính ý thức hệ” như luận điệu xuyên tạc. Đó là
kết quả tất yếu của cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ, cứu nước của nhân dân
Việt Nam nhằm giành lại độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc; kết quả của sự đoàn
kết một lòng, sẵn sàng hy sinh tất cả để đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, đập tan
ngụy quân, ngụy quyền, thống nhất đất nước của lớp lớp thế hệ cha anh.
Về
tính chất của cuộc chiến tranh (1954 -1975) ở Việt Nam, tất cả những bằng chứng
lịch sử đều khẳng định rằng, đây là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do đế
quốc Mỹ tiến hành. Âm mưu của đế quốc Mỹ là nhằm “Tiêu diệt bằng được phong
trào yêu nước của nhân dân ta, thôn tính miền Nam, biến miền Nam thành thuộc
địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã
hội lan xuống Đông Nam châu Á; đồng thời, lấy miền Nam làm căn cứ tiến công
miền Bắc, tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ở Đông Nam châu Á,
hòng đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước
xã hội chủ nghĩa khác”. Bản thân người Mỹ cũng tự nhận sai lầm của mình trong cuộc
chiến tranh phi nghĩa tại Việt Nam. Như trong cuốn hồi ký “Nhìn lại quá khứ:
Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam”, do Nhà xuất bản Random House (Mỹ)
cho ra mắt tháng 4-1975, Robert McNamara (Cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ) đã
công khai thừa nhận: “Chúng tôi (tức Chính phủ Mỹ) đã sai lầm, sai lầm khủng
khiếp”. Hay tướng Maxwell D.Taylor - cựu Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, sau khi từ chức
(tháng 6/1965) về làm cố vấn đặc biệt của Tổng thống Lyndon Johnson đã phải
thốt lên rằng "Tất cả chúng ta đều có phần của mình trong thất bại của Mỹ
ở Việt Nam và chẳng có gì là tốt đẹp cả. Chúng ta không hề có một anh hùng nào
trong cuộc chiến tranh này mà toàn là ngu xuẩn. Chính tôi cũng nằm trong số
đó" (Báo Mỹ Sao và vạch, ngày 14-5-1975) … Ngay Phó Tổng thống Việt Nam Cộng
hòa Nguyễn Cao Kỳ cũng thừa nhận: “Đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ. Mỹ
luôn luôn đứng ra trước sân khấu làm “kép nhất”, và chúng tôi chỉ là những kẻ
đánh thuê”. Trên đây chỉ là một vài dẫn chứng, để chứng tỏ bản thân người Mỹ
cũng đã nhìn nhận và tự nhận sai lầm về cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Vậy tại
sao vẫn có những con người Việt Nam lại cố tình nhìn nhận và có những quan điểm
lạc lõng, hằn học phủ nhận Chiến thắng vĩ đại 30/4/1975 của quân và dân Việt
Nam. Phải chăng họ đang mưu toan việc đánh giá lại lịch sử, nhằm phục vụ cho
những mưu đồ đen tối.
Sau
khi thống nhất đất nước, Việt Nam đã nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh,
thực hiện hòa hợp, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong nước và kiều
bào nước ngoài. Ngay với những người từng có tư tưởng thù địch, chống phá cách
mạng, vẫn được quê hương dang rộng vòng tay chào đón khi họ nhận ra lỗi lầm. Về
đối ngoại, Việt Nam chủ trương làm bạn với tất cả các nước, kể cả các nước từng
đem quân xâm lược nước ta. Chủ trương “khép lại quá khứ, hướng đến tương
lai”cho thấy một Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhưng “sẵn sàng hy sinh tất cả,
chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Cuộc đấu tranh của dân tộc Việt
Nam để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là một thắng lợi của chính nghĩa,
đem lại độc lập, tự do thật sự cho nhân dân, mở ra kỷ nguyên mới cho dân
tộc, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Nuối tiếc cái đã lùi
vào quá khứ, dĩ vãng để gieo rắc ý thức “quốc hận” là có tội với
chính đồng bào, dân tộc mình, với chính quá khứ hào hùng của lịch sử dân
tộc. Tư tưởng, quan điểm đó là sự nuôi dưỡng, kích động sự thù địch,
chia rẽ dân tộc một cách có chủ đích. Dùng từ “quốc hận” để chỉ ngày
30/4/1975 là cố ý xuyên tạc sai sự thật lịch sử, tiếp tay cho kẻ thù,
có hại cho tinh thần hòa hợp, đoàn kết dân tộc, cần phải lên án, bác
bỏ.
Bác bỏ luận điệu xuyên tạc chủ trương bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam
Là một quốc gia độc lập, thống nhất, đa dân
tộc nên ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, thực hiện tốt vấn đề
bình đẳng giữa các dân tộc, coi đây là một trong những nội dung quan trọng bảo
đảm cho xã hội Việt Nam luôn ổn định và phát triển.
Việt Nam là quốc gia đa dân
tộc, với 54 dân tộc anh em cùng chung sống lâu đời, trong đó có 53 dân tộc
thiểu số. Kể từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn vận dụng sáng tạo,
hiệu quả chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và
giải quyết quan hệ dân tộc phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước và yêu
cầu nhiệm vụ đặt ra cho từng thời kỳ. Vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc có vai
trò và vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân
dân ta; được triển khai, thực hiện nhất quán theo nguyên tắc: bình đẳng, đoàn
kết, tương trợ trên tinh thần tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, hướng tới mục tiêu
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tuy nhiên, hiện nay, để
chống phá Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch, phần tử phản động ra sức
tung ra các luận điệu xuyên tạc, bóp méo các chủ trương, quan điểm, của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước; trong đó, đặc biệt là các vấn đề về dân
tộc. Chúng triệt để lợi dụng Intenet và mạng xã hội để phát tán, tuyên truyền
những quan điểm sai trái, xấu độc, cho rằng ở Việt Nam quyền bình đẳng dân tộc
không được thực thi; Việt Nam không có bình đẳng giữa các dân tộc; bình đẳng
dân tộc ở Việt Nam hiện nay là “con đường nửa vời”… nhằm kích động, chia rẽ
khối đại đoàn kết dân tộc.
Thực tế đã chứng minh dân
tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống lịch sử lâu đời; các dân tộc luôn
đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau. Vấn đề bình đẳng giữa các dân tộc
không những được nêu trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong các luật, văn
bản dưới luật khác có liên quan và được triển khai thực hiện trong thực tiễn,
thông qua nhiều chính sách, chương trình quốc gia nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện phát triển bình đẳng trong đại gia
đình các dân tộc Việt Nam. Do phần lớn các dân tộc thiểu số Việt Nam cư trú ở
miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khó khăn trong việc phát triển kinh tế -
xã hội, nên đồng thời với việc xác định quyền bình đẳng trước pháp luật, Đảng
và Nhà nước ta còn khẳng định ưu tiên hỗ trợ và tăng cường đoàn kết giúp đỡ tạo
điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực vươn lên hội nhập với sự
phát triển chung.
Điều 5 Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã nêu rõ: “1. Nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống
trên đất nước Việt Nam. 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp
nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. 3. Ngôn
ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ
gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt
đẹp của mình. 4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều
kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.”.
Chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc từ thời kỳ đổi mới đất nước
đến nay được thể hiện thông qua các văn kiện đại hội và các chỉ thị, nghị quyết
chuyên đề của Đảng, được ban hành cụ thể trong từng nhiệm kỳ, từng giai đoạn
với nội dung cơ bản thống nhất. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, nêu rõ: “Đảm
bảo các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động, phân
bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo sự chuyển
biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu
số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy
tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào dân tộc thiểu số phát triển
kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều bền vững. Chăm lo xây dựng đội
ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân
tộc”.
Nhân kỷ niệm 131 năm Ngày
sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2021) và bầu cử đại biểu Quốc hội
khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 (ngày
23/5/2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết quan trọng:
“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Trong đó nêu rõ: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam
đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực
lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam
bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng
sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.”; “Nền
văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân
văn; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời
sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt
đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn
hoá nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân
chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối
sống và thẩm mỹ ngày càng cao”.
Có thể nói, cho đến nay, hệ
thống chính sách dân tộc được ban hành khá đầy đủ, bao phủ toàn diện các lĩnh
vực, nhằm hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, giảm nghèo
bền vững; phát triển giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa; phát triển nguồn nhân
lực và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh. Đảng và Nhà nước ta không
ngừng đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào các
dân tộc thiểu số, nhất là đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khu vực biên
giới. Thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trên cơ sở lấy mục tiêu xây
dựng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là quan điểm nhất quán của Đảng
ta trong vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc. Chăm lo đời sống cho nhân dân
nói chung và trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng đã được xác định là
sứ mệnh của Đảng, là mục tiêu và bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, của
dân, do dân và vì dân. Thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội
và chính sách cụ thể đối với các vùng, các dân tộc để động viên đồng bào phát
huy nội lực, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần vươn lên trong phát triển kinh tế,
xoá đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống ở khu dân cư, xây dựng bản làng văn
hóa. Nhờ vậy, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã có sự phát triển mạnh
mẽ hơn, phong phú và đa dạng hơn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân
được cải thiện rõ rệt so với trước thời kỳ đổi mới, trên tất cả các phương
diện: ăn, ở, mặc, đi lại, học hành, chăm sóc sức khỏe…
Với quan điểm, chủ trương
nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, có thể thấy những luận điệu của các thế lực
thù địch, phản động rõ ràng là một sự bịa đặt, vu cáo trắng trợn, đi ngược lại
với lợi ích của nhân dân và khối đại đoàn kết dân tộc. Việc tuyên truyền, vận
động giúp bà con nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản
động lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá Việt Nam là rất cần thiết và phải được
tiến hành thường xuyên. Qua đó, góp phần tạo ra sức mạnh tổng thể của cả hệ
thống chính trị cùng nhau xây dựng các mối quan hệ dân tộc tốt đẹp; củng cố,
tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ổn định chính trị và thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ THƯỜNG VỤ QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG
ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ THƯỜNG VỤ QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG
Bộ Quốc phòng: Công bố Quyết định sáp nhập Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và tổ chức lại thành Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật
Bộ Quốc phòng: Công bố Quyết định sáp nhập Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật và tổ chức lại thành Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật





