Thứ Năm, 6 tháng 2, 2025

Cách mạng tháng Tám năm 1945 - ý nghĩa, giá trị và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc

 

Cách đây gần 80 năm, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 diễn ra và giành thắng lợi. Nhân dân ta đã đập tan ách phát xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp hơn 80 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, giành quyền độc lập dân tộc, thành lập Nhà nước Cộng hòa Dân chủ, đưa nhân dân lên vị trí làm chủ đất nước. Đất nước, dân tộc, nhân dân ta bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám

Cách mạng Tháng Tám khẳng định xu thế phát triển và tạo nên sức bật mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam theo con đường mà Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn là xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh.

Cách mạng Tháng Tám cũng xác lập và nâng cao vị trí quốc tế của dân tộc Việt Nam trong hàng ngũ các dân tộc tiên phong trên thế giới, đấu tranh phá bỏ nô dịch dân tộc, xây dựng nền độc lập bền vững, gắn kết chặt chẽ với tự do, dân chủ và hạnh phúc của nhân dân, với bình đẳng và tiến bộ xã hội. Do vậy, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mang tầm vóc vĩ đại và ý nghĩa sâu sắc, như một mốc son chói lọi trong lịch sử phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng thuộc địa trên thế giới.

Những luận điệu xuyên tạc

Cứ đến hẹn mỗi năm, trong không khí cả nước phấn khởi chuẩn bị tổ chức Lễ kỷ niệm chào mừng Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên một số các đài VOA, BBC,… cũng như một số trang mạng xã hội Youtube, Twitter, Facebok của các tổ chức “Việt Tân”, “Nhân dân hành động”, “Triều đại Việt”, “Tiếng dân”,…  trong và ngoài nước… thông qua các hình thức bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, luận đàm lịch sử, đã xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo sự thật lịch sử, phủ nhận thành quả đấu tranh của toàn dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân; bôi nhọ lãnh tụ dân tộc; phủ nhận, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương trong Cách mạng Tháng Tám nói riêng và trong tổng quan nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung.

Các luận điểm xuyên tạc cho rằng “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”; Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là “sự ăn may” vì Nhật Bản thua cuộc trong chiến tranh thế giới thứ II, việc giành chính quyền chẳng qua là sự chớp thời cơ từ “khoảng trống quyền lực” sau khi Nhật đầu hàng đến khi quân Đồng Minh vào làm nhiệm vụ giải giáp quân dội Nhật. Một số lại cho rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”; “nếu không có Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ”... Nghiêm trọng hơn, những người này cho rằng, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị, Cách mạng Tháng Tám không thay đổi về mặt bản chất chế độ nhà nước, chỉ thay đổi hình thức từ chế độ “vua trị” sang chế độ “Đảng trị”, chế độ hiện nay chính là chế độ phong kiến kéo dài mà thôi.

Với những thủ đoạn như cắt, ghép thông tin, hình ảnh, xuyên tạc, bóp méo sự thật, đánh tráo khái niệm - lập lờ “đánh lận con đen”… Những thủ đoạn kiểu này thường được thực hiện khá tinh vi, bài bản, có quy trình, được đầu tư về thời gian, kỹ thuật và tài chính. Do đó, khi tiếp cận thông tin, không chỉ những người có nhận thức hạn chế, phiến diện mà đôi khi cả những người có trình độ, nhận thức sâu rộng cũng có thể hiểu sai bản chất vấn đề hoặc hoài nghi tính đúng đắn của vấn đề.

Phản bác các luận điểm xuyên tạc, sai trái bằng chính sự thật lịch sử

Nhìn lại lịch sử, có thể khẳng định thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, là thành quả của sự đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, hy sinh của dân tộc. Đặc biệt, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nhờ tư duy sắc sảo, nhạy bén, sáng tạo, quyết đoán của Đảng, Bác Hồ trong xác định, lựa chọn thời cơ tiến hành Tổng khởi nghĩa.

Trước hết, Cách mạng Tháng Tám thành công là kết quả chuẩn bị chu đáo về mọi mặt của Đảng ta trong suốt 15 năm (1930 - 1945), từ chủ trương, đường lối, tổ chức thực hiện đến xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng:

Cách mạng Tháng Tám thành công đã thể hiện tính nhất quán mục tiêu chiến lược được Đảng Cộng Sản Việt Nam vạch ra từ Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng tháng 2/1930: “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Để hiện thực hóa mục tiêu chiến lược, Đảng Cộng sản Việt Nam (từ tháng 10/1930 đổi tên là Đảng Cộng sản Đông Dương) lãnh đạo, đoàn kết tất cả các lực lượng yêu nước tiến hành đấu tranh trực diện với kẻ thù qua 3 phong trào cách mạng: Phong trào Cách mạng 1930 - 1931; Phong trào Cách mạng 1936 - 1939; Phong trào Cách mạng 1939 - 1945.

Riêng trong phong trào cách mạng 1939 - 1945, Đảng ta đã trực tiếp chuẩn bị cả về đường lối, căn cứ địa và lực lượng cách mạng để tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Đảng ta xác định phải xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc ở Bắc Sơn, Cao Bằng, với các tên gọi khác nhau. Chúng ta đã xây dựng Việt Bắc thành căn cứ địa hoàn chỉnh; là “hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam”; trong đó, Tuyên Quang được xác định là “Thủ đô kháng chiến”. Việc xây dựng căn cứ địa vững chắc nhằm “tạo thế” quan trọng để Tổng khởi nghĩa đi đến thắng lợi sau này.

Thứ hai, về dự báo thời cơ và kiên quyết chỉ đạo chớp thời cơ.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, trong Cách mạng Tháng Tám, thời cơ chỉ xuất hiện và tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn, từ khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh (14/8/1945) đến khi quân Đồng Minh vào giải giáp quân đội Nhật (05/9/1945). Cuộc Tổng khởi nghĩa nếu diễn ra sớm hơn hoặc chậm hơn thời gian này, thì cơ hội để giành độc lập dân tộc là rất ít. Vì nếu diễn ra trước ngày 15/8, lúc này quân Nhật còn rất mạnh, ý chí chiến đấu chưa bị đè bẹp. Còn sau ngày 05/9, quân Đồng minh sẽ vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật, lúc đó trên đất nước ta sẽ xuất hiện rất nhiều lực lượng bất lợi cho cách mạng như: Quân đội Trung Hoa dân quốc ở miền Bắc, quân đội Anh ở miền Nam và nhiều lực lượng chính trị phản động khác. Chính vì thế, muốn giành thắng lợi chỉ có thể phát động Tổng khởi nghĩa trong khoảng thời gian từ ngày 15/8/1945 đến trước ngày 05/9/1945. Khoảng thời gian đó chính là thời cơ “nghìn năm có một” đối với dân tộc ta.

Ngay khi nhận được tin Nhật Bản chấp nhận đầu hàng quân Đồng Minh, chớp thời cơ “nghìn năm có một”, ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, ra Quân lệnh số 1, hạ lệnh Tổng khởi nghĩa. Ngày 14 và 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng quyết định phát động toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi toàn quốc. Ngày 16/8/1945, Đại hội quốc dân họp tại Tân Trào, tán thành quyết định tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, lập ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đã diễn ra và giành thắng lợi nhanh chóng trong vòng 15 ngày (từ ngày 14/8 đến ngày 28/8/1945), trong đó, thắng lợi ở Hà Nội (19/8), Huế (23/8), Sài Gòn (25/8) có ý nghĩa quyết định. Ngày 02/9/1945, tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một chương mới trong lịch sử dân tộc: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Thứ ba, là một thắng lợi vĩ đại đầu tiên của cách mạng Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đi vào lịch sử dân tộc ta và trải qua gần 8 thập kỷ kiểm nghiệm bằng những thắng lợi vĩ đại của chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, bằng những thành tựu to lớn, quan trọng của sự nghiệp xây dựng đất nước theo đường lối đổi mới mà nhân dân ta đã và đang tiến hành. Đặc biệt, qua hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.

Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta được mở ra từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Có thể khẳng định, thực tiễn lịch sử Việt Nam gần 80 năm qua là minh chứng rõ ràng nhất đã hoàn toàn bác bỏ luận điệu sai trái, tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị về Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sự thật hiển nhiên chỉ có một, với chân lý đã khẳng định giá trị lịch sử to lớn và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 luôn tỏa sáng và không bao giờ bị phai mờ theo thời gian./.

Cảnh giác với những thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm vào người dân tộc thiểu số để tuyên truyền, lôi kéo

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng nhận thức của bà con dân tộc thiểu số còn hạn chế để tuyên truyền, lôi kéo theo các đạo lạ. Khi đã lôi kéo được các tín đồ tham gia, các chủ đạo tự phong bằng nhiều cách quyên góp sự đóng góp của tín đồ nhằm trục lợi, thậm chí kích động mọi người chống phá chính quyền, thực hiện mưu đồ ly khai, tự trị ở vùng dân tộc thiểu số.

Trong đó, đáng chú ý hoạt động của tà đạo “Thanh Hải Vô thượng sư”, “Pháp môn diệu âm”, “Dương Văn Mình”, “tà đạo Hà Mòn”, tà đạo “Hoàng Thiên Long”… trái với phong tục tập quán, truyền thống của dân tộc; tuyên truyền mê tín dị đoan; xâm hại đến tính mạng, sức khỏe; khống chế, lừa gạt người dân để trục lợi; gây mất đoàn kết trong cộng đồng dân tộc, giữa các tôn giáo, gia đình ly tán (khi bị gia đình, người thân can ngăn, đối tượng đã bỏ người thân theo tà đạo).

Các thế lực thù địch đã triệt đề lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào để tổ chức truyền đạo trái pháp luật, đội lốt tôn giáo hoạt động chính trị, móc nối xây dựng cơ sở. Đi liền vối việc truyền các tà đạo, chúng khuyến khích đồng bào các dân tộc duy trì tập tục lạc hậu, phản khoa học; đồng thời cổ vũ cho lối sống tư sản trong thanh niên, thiếu niên, từng bước làm băng hoại đạo đức, bản sắc văn hoá dân tộc. Đề truyền tải các nội dung tuyên truyền đến đối tượng, chúng đã sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, phát thanh và in ấn các văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc; mặt khác dùng lối tuyên truyền “rỉ tai” từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong thông qua các hoạt động thăm thân, nghiên cứu khoa học, hoạt động từ thiện của những người từ nước ngoài về hoặc những người có uy tín trong dòng họ, các chức sắc tôn giáo.

Tại Quảng Ninh, để ngăn ngừa các hoạt động thế lực thù địch lợi dụng nhận thức của bà con dân tộc thiểu số còn hạn chế để tuyên truyền, lôi kéo theo các đạo lạ; cũng như tuyên truyền, những người dân bị tác động, ảnh hưởng từ bỏ hoạt động, không tin theo tà đạo, đạo lạ. Phòng An ninh nội địa đã triển khai tổng hợp các biện pháp, công tác phòng ngừa, đấu tranh, giải quyết, trong đó tiêu biểu là công tác tranh thủ, vận động người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, tín đồ các tôn giáo; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác cho quần chúng nhân dân; nâng cao hiệu quả của phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng mới các mô hình tự quản về ANTT…. Từ đó, tình hình ANTT trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc trên địa bàn Tỉnh được đảm bảo, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động gây phức tạp tình hình an ninh trật tự, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.

 

 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX

 

Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên tạo thành cơn bão táp cách mạng, lật nhào ách thống trị của phát xít Nhật, giành lại quyền độc lập cho dân tộc. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Từ những giá trị và tầm vóc to lớn đó, Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được khẳng định là một trong những “chiến công hiển hách và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại của dân tộc Việt Nam” trong thế kỷ XX.

1- Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đập tan ách thống trị hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân, phát xít tàn bạo, chấm dứt sự tồn tại của chế độ phong kiến lỗi thời; thiết lập nền dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do, nhân dân lao động làm chủ đất nước. Sự ra đời của Nhà nước dân chủ nhân dân ở Việt Nam là bước nhảy vọt to lớn, là cuộc cải biến xã hội vĩ đại không chỉ của lịch sử dân tộc Việt Nam mà của cả lịch sử phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc trên thế giới.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thể hiện nhãn quan chính trị nhạy bén của Đảng khi nhận định những mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc, tay sai đã trở nên sâu sắc, từ đó yêu cầu độc lập dân tộc được đặt ra bức thiết, nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu. Đây không phải là nhận thức “ngẫu nhiên” mà là kết quả của cả một quá trình đúc rút kinh nghiệm của Đảng qua cao trào cách mạng 1930 - 1931, đỉnh cao là Xô-viết Nghệ - Tĩnh và cao trào cách mạng dân tộc dân chủ những năm 1936 - 1939, có sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp là cơ sở quan trọng để Đảng xác định đối tượng chính của cách mạng ở từng giai đoạn cụ thể, từ đó tổ chức lực lượng đánh bại kẻ thù, mở đường cho Cách mạng Tháng Tám đi đến thành công, bởi “Nhiệm vụ phản đế và nhiệm vụ phản phong kiến khăng khít với nhau là một vấn đề chiến lược cách mạng. Nếu tách hai nhiệm vụ đó ra thì có thể đưa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến chỗ thất bại. Tuy vậy, hai nhiệm vụ đó không tiến hành song song nhất loạt ngang nhau. Đó là một kinh nghiệm quan trọng về chỉ đạo chiến lược của Đảng ta”.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc vùng dậy và chiến đấu anh dũng của cả dân tộc, là đỉnh cao của ý chí quật cường, sức mạnh đoàn kết toàn dân, thể hiện tầm cao trí tuệ dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng vĩ đại nhất, là trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất. Với Cách mạng Tháng Tám, “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”. Cách mạng Tháng Tám làm nên “cuộc đổi đời” cho toàn dân tộc. Từ thân phận nô lệ, nhân dân ta trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Trong những ngày Cách mạng Tháng Tám (từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945), quần chúng nhân dân thông qua hình thức đấu tranh chính trị, như mít tinh, biểu tình, vận động binh lính,... có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, đã nhanh chóng giành thắng lợi. Có thể nhận thấy, Cách mạng Tháng Tám diễn ra chỉ với một khoảng thời gian ngắn, gánh chịu ít hy sinh, tổn thất là do sự nhạy bén, sáng tạo của Đảng trong việc đánh giá tình hình, chủ động nắm bắt thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa bằng phương pháp đấu tranh phù hợp. Trong bối cảnh phát xít Nhật ở Đông Dương tan rã, chính quyền tay sai tê liệt, quân đồng minh chưa tiến vào Việt Nam, lực lượng chính trị và vũ trang cách mạng được rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh..., Đảng ta đã phát động tổng khởi nghĩa, lãnh đạo quần chúng nhân dân giành chính quyền. Nhờ vậy, cách mạng đã tránh được sự đụng đầu với kẻ thù khi còn đang mạnh, đồng thời tạo nên thế hợp pháp, chính nghĩa của Chính phủ lâm thời khi đón tiếp quân đồng minh. Tổng kết về Cách mạng Tháng Tám, Nghị quyết Đại hội III của Đảng chỉ rõ: “Nếu Đảng ta trước đó không xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập những khu căn cứ rộng lớn để làm chỗ dựa cho lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh chính trị, và khi điều kiện đã chín muồi không mau lẹ phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang thì cách mạng cũng không thể mau chóng giành được thắng lợi”.

Sự đúng đắn, nhất quán của Đảng trong việc xác định phương hướng, mục tiêu, xây dựng lực lượng và phương pháp đấu tranh cách mạng, trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện thực tiễn của xã hội Việt Nam thuộc địa, nửa phong kiến, được kiểm nghiệm qua chặng đường 15 năm đấu tranh cách mạng, đã dẫn đến đỉnh cao thắng lợi là Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây là cơ sở vững chắc bác bỏ những luận điệu về “khoảng trống quyền lực” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và sự chuẩn bị của toàn dân cho cuộc tổng khởi nghĩa khi thời cơ khách quan thuận lợi xuất hiện. Nếu không có sự chuẩn bị kỹ càng, cụ thể về lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và chiến khu, căn cứ địa thì cho dù điều kiện khách quan có thuận lợi đến mấy cũng không thể tận dụng được để phát động toàn dân đứng lên giành chính quyền trên phạm vi cả nước trong một khoảng thời gian nhanh chóng như vậy.

2. Không chỉ có giá trị và ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 còn là sự kiện trọng đại của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX. Đó là đòn quyết định phá tung một mắt xích quan trọng và thúc đẩy sự tan rã nhanh chóng của hệ thống thuộc địa; mở đầu quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám góp phần làm giàu thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Nó chứng tỏ rằng, trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một nước thuộc địa, do toàn dân nổi dậy, dưới sự lãnh đạo của một đảng Mác - Lê-nin, có đường lối đúng đắn hoàn toàn có thể giành thắng lợi.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam; là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng ta gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là sự thể nghiệm thành công đầu tiên chủ nghĩa Mác - Lê-nin tại một nước thuộc địa ở châu Á. Đây còn là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc trải qua mấy nghìn năm phấn đấu gian khổ, hy sinh, là đỉnh cao của ý chí quật cường, sức mạnh cố kết cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc hòa quyện với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với xu thế của thời đại là hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Tám năm 1945: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lần đầu tiên trong lịch sử, một Nhà nước dân chủ cộng hòa ra đời, gắn bó mật thiết với nhân dân - Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đó cũng là Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức ở các nước châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ La-tinh vùng dậy đấu tranh lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc. Đồng thời, góp phần tăng cường sức mạnh của lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới đấu tranh cho độc lập, tự do và tiến bộ xã hội; ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ hòa bình thế giới.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 sẽ tiếp tục được phát huy cao độ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, phấn đấu vì một nước Việt Nam giàu mạnh và hùng cường.

3. Thành quả vĩ đại và những bài học lịch sử vô giá của Cách mạng Tháng Tám và việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở thành động lực và sức mạnh to lớn để nhân dân ta bước vào cuộc chiến tranh trường kỳ 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Trong những năm đầu sau ngày đất nước giành được độc lập, nước cộng hòa non trẻ phải đối mặt với “thù trong, giặc ngoài”. Vượt lên những khó khăn đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện sách lược tạm hòa hoãn với Pháp và Tưởng để duy trì hòa bình, củng cố chính quyền cách mạng, tiến hành diệt “giặc đói”, “giặc dốt” và chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, trên cơ sở đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, với phương châm: Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng; vừa kháng chiến, vừa củng cố hậu phương, và với phương pháp tác chiến thích hợp, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã lần lượt làm phá sản các chiến lược của kẻ thù. Sau chín năm trường kỳ kháng chiến, trải qua hơn 3.000 ngày đêm chiến đấu hy sinh, gian khổ, nhưng vô cùng anh dũng và tự hào, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải rút quân về nước và thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và các nước Đông Dương.

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, “lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới”.

Sau Hiệp định Geneva năm 1954, hòa bình được lập lại ở miền Bắc, nhưng tại miền Nam, đồng bào ta vẫn rên xiết dưới gót giày của đế quốc, tay sai. Trước tình hình đó, nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Thực hiện nhiệm vụ cao cả này, nhân dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến thần thánh đầy khó khăn, gian khổ nhưng với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và với niềm tin sắt đá “dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn”, dân tộc Việt Nam một lần nữa đứng lên đánh đuổi đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.

Trải qua 21 năm chiến đấu anh dũng, với đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh khoa học, linh hoạt của Đảng; với phương châm toàn dân đánh Mỹ, cả nước đánh Mỹ, “mỗi người dân là một dũng sĩ diệt Mỹ”; với sự chi viện của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân loại tiến bộ trên thế giới..., quân và dân ta đã đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975 đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả vĩ đại nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc; kết thúc cuộc đấu tranh suốt 30 năm, giành độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chấm dứt ách thống trị kéo dài hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc trên đất nước ta; mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi đó “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX”.

Trong những năm đầu sau khi đất nước thống nhất, chúng ta gặp nhiều khó khăn lớn. Một mặt, chúng ta phải giải quyết hậu quả 30 năm chiến tranh; mặt khác, phải tiến hành các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; trong bối cảnh bị bao vây, cấm vận. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân tộc quyết tâm đồng lòng vượt qua khó khăn, nhanh chóng khôi phục sản xuất, xây dựng, củng cố chính quyền trên phạm vi cả nước, ban hành Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, việc duy trì quá lâu cơ chế tập trung, bao cấp không còn phù hợp với thực tiễn đã làm bộc lộ những hạn chế, nhược điểm. Trong hoạch định và thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, có lúc, có nơi đã mắc sai lầm, khuyết điểm chủ quan, duy ý chí. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Mười năm cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975 - 1985), kể từ khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, là 10 năm Đảng ta tìm tòi con đường đổi mới. Đây cũng là thời kỳ tư duy mới được hình thành từng bước, bắt nguồn từ thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu và khuyết điểm trong mười năm ấy đã để lại những bài học quý giá cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong những năm tiếp theo.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và đổi mới mạnh mẽ tư duy, nhất là tư duy kinh tế, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã chính thức đề ra đường lối đổi mới đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Qua các kỳ đại hội, từ Đại hội VII đến Đại hội XIII, Đảng ta luôn khẳng định tiếp tục đổi mới đồng bộ, toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội với những bước đi, cách làm phù hợp, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Đảng ta không ngừng phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, lãnh đạo toàn dân thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế.

Qua thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước, Đại hội X của Đảng nhận định: “Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản”. Đến Đại hội XIII, Đảng ta nêu rõ: “Lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”.

Cùng với những thành tựu về mặt lý luận, thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước gần 40 năm qua đã “đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện... Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được duy trì ở mức khá cao; tiềm lực, quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, đạt nhiều kết quả tích cực. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí chuyển biến mạnh mẽ, có bước đột phá, được tiến hành quyết liệt, có hiệu quả, ngày càng đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Sự thống nhất, phối hợp đồng bộ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội được tăng cường. Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Công cuộc đổi mới đã đáp ứng được những đòi hỏi bức thiết của tình hình đất nước, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại; có ý nghĩa như một cuộc cách mạng trong thời kỳ mới; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của lịch sử. Những thành tựu to lớn đạt được từ ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay chứng tỏ sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và dân tộc Việt Nam. Những bài học lịch sử quý báu từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 sẽ tiếp tục được phát huy cao độ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, phấn đấu vì một nước Việt Nam giàu mạnh và hùng cường./.

 

Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc, chống phá dịp Tết Nguyên đán

 

Tết Nguyên đán được xem như biểu trưng văn hóa, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, là kỳ lễ tết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của người Việt. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm các thế lực thù địch, phần tử cơ hội “ra sức” tung ra các luận điệu, thông tin chống phá, xuyên tạc, phủ nhận giá trị tốt đẹp của ngày Tết cổ truyền ở nước ta.

Trải qua hơn 4.000 năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam là một quốc gia luôn mang trong mình một nền văn hóa phong phú và độc đáo. Nét độc đáo của nền văn hóa ấy được ông cha ta giữ gìn và lưu truyền đến nay. Một trong những viên ngọc quý của văn hóa Việt Nam là các ngày lễ, tết. Tết Nguyên đán còn gọi là Tết cổ truyền dân tộc, chính là nét văn hóa độc đáo do ông cha ta truyền lại bởi chứa đựng nét đẹp truyền thống nghĩa tình và thiêng liêng.

Thế nhưng, mỗi dịp lễ, Tết, các thế lực thù địch vẫn rêu rao xuyên tạc chính sách an sinh xã hội, công tác chăm lo Tết cho Nhân dân. Các trang tin phản động hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam tung lên các bài viết, hình ảnh, clip xuyên tạc, phủ nhận giá trị tốt đẹp của tết cổ truyền. Với cách nhìn phiến diện, các đối tượng cho rằng: Tết Nguyên đán “làm cho nền kinh tế èo uột”, “thủ phạm của sự đình trệ kinh tế”, “gây lãng phí thời gian, tiền của”.

Nói “Tết Nguyên đán làm đình trệ sản xuất, nền kinh tế giảm sút”, đó là cái nhìn phiến diện, thiển cận. Tết Nguyên đán cũng là dịp để mọi người hướng về tổ tiên, cội nguồn, thăm hỏi người thân, bạn bè; đặc biệt, Tết là thời điểm mua sắm tăng cao; theo đó, kích thích sản xuất, tăng trưởng giao dịch kinh tế, phát triển du lịch…

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nỗ lực của chính quyền các cấp cùng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, một cái Tết yên vui đã đến với mọi nhà. Đây là bằng chứng cụ thể đập tan những luận điệu xuyên tạc trong dịp Tết Nguyên đán mà các phần tử cực đoan và các thế lực chống phá dựng lên. 

Việt Nam đã và đang thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Song, để trở thành quốc gia văn minh, không có nghĩa phải chối bỏ quá khứ tốt đẹp; gạt bỏ giá trị văn hóa dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “… Cái gì cũ mà tốt phải phát triển thêm”. Tết Nguyên đán có lịch sử lâu đời, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta, cần gìn giữ và phát huy giá trị nhân văn mà Tết mang lại.

 

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc của “Việt Tân” trong việc bôi xấu hình ảnh lực lượng Công an nhân dân

 

Ngày 24/12/2023, trên trang Facebook “Việt Tân” đăng tải tranh biếm họa với nội dung "Nhậu nhiều vợ buồn, nhậu ít bạn buồn, còn không nhậu Công an buồn" nói về tâm trạng của Cảnh sát giao thông ngày cuối năm. Trong bài đăng trên, “Việt Tân” đã xuyên tạc cho rằng nếu không nhậu Công an buồn.

Luận điệu phản động của Việt Tân

Chúng ta cần biết, rượu bia là một chất gây ảo giác nặng với hệ thần kinh, làm hệ thần kinh mất khả năng tự chủ, mất khả năng định hướng, mất khả năng, điều kiện vận động. Do say xỉn không làm chủ được tay lái, khó xử lý  tình huống, nhiều người đã vô tình gây ra những tai nạn thương tâm cho người tham gia giao thông và chính bản thân mình, gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội.

Theo thống kê gần đây tỷ lệ tai nạn giao thông liên quan đến rượu bia chiếm đến 36,9% , còn theo Bộ Y tế, nước ta đứng thứ 02 khu vực Đông Nam Á, thứ 10 Châu Á và 29 thế giới về tiêu thụ rượu, bia. Những dịp trước trong và sau Tết tình trạng sử dụng rượu, bia có chiều hướng gia tăng, kéo theo nguy cơ tai nạn giao thông.

Chính vì sự nguy hiểm của việc uống rượu, bia khi tham gia giao thông. Ngày 30/12/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Hiệu lực thi hành từ 01/01/2020 và thay thế cho Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

Từ khi Nghị định 100/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành đến nay, trong đó lực lượng Cảnh sát giao thông là nòng cốt đã chứng minh hiệu quả rõ rệt, số lượng người chết và bị thương do người điều khiển giao thông do sử dụng rượu, bia đã giảm mạnh.

Tại Quảng Ninh, Phòng Cảnh sát giao thông đã thành lập các tổ công tác phối hợp Công an các huyện, thị xã, thành phố tăng cường tuần tra, xử lý nghiêm các vi phạm về nồng độ cồn và tốc độ với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, đồng thời xác minh các trường hợp vi phạm và gửi thông báo về cơ quan, đơn vị để có hình thức xử lý bổ sung, nhất là các trường hợp cán bộ, công chức, viên chức vi phạm. Việc ngăn chặn người tham gia giao thông mà trong cơ thể có nồng độ còn để kéo giảm tai nạn giao thông luôn là ưu tiên hàng đầu trong vấn đề xử phạt vi phạm giao thông của lực lượng Công an và được đông đảo người dân ủng hộ và đồng thuận trong xã hội, Vì vậy lời lẽ của Việt Tân “không nhậu Công an buồn” chính là luận điệu xuyên tạc của các tổ chức phản động nhằm gây dư luận xấu trong xã hội, làm ảnh hưởng đến uy tín của lực lượng Công an nói chung và Cảnh sát giao thông nói riêng.

Bộ Công an đã có thông báo chính thức khẳng định: “Việt Tân” cùng với “ Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và “Triều đại Việt” là các tổ chức khủng bố, đề nghị mọi người không tham gia, chia sẻ các bài viết của các tổ chức phản động lưu vong nói trên, đặc biệt là “Việt Tân”, cảnh giác trước các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của tổ chức này nhằm hạ uy tín của Đảng, Nhà nước, lực lượng Công an, suy giảm lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gây hoang mang trong Nhân dân./.

Cảnh giác với hoạt động tuyên truyền những hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo lạ trên không gian mạng

 

Việt Nam là một quốc gia rất phong phú, đa dạng về mặt văn hóa tinh thần của đất nước. Trong đó, có sự góp phần của văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo. Tại Việt Nam hiện nay có 16 tôn giáo với 43 tổ chức tôn giáo, khoảng 24,2 triệu tín đồ được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân và cấp đăng ký hoạt động, trong đó chủ yếu là tín đồ của các tôn giáo chính như: Phật giáo, Công giáo, Hồi giáo, Tin Lành, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo…. Về cơ bản, các tín đồ, chức sắc, chức việc tôn giáo đều thể hiện sụ đồng hành cùng dân tộc, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, do mặt trái của hội nhập quốc tế và âm mưu của các thế lực thù địch đã làm cho đời sống tôn giáo chịu tác động tiêu cực. Đặc biệt, sự xuất hiện những “hiện tượng tín ngưỡng tôn giáo lạ” như: Hội thánh Giê sùa, Tin lành Đề ga, Hội Thánh đức Chúa trời mẹ, tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, Thanh Hải vô thượng sư, tà đạo Hà Mòn, Bà cô Dợ, đạo bà Điền, Pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp, Năng lượng gốc trống đồng Việt Nam... làm xáo trộn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận Nhân dân, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến ANTT.

Cùng với sự phát triển của khoa học, nghệ và sự phổ biến của các nền tảng truyền thông xã hội trên không gian mạng như các website, Facebook, Zalo, vlog, Twitter, YouTube... các “hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo lạ” trên tích cực có các hoạt động tuyên truyền, lôi kéo tín đồ thông qua các hoạt động: đăng hình ảnh quảng cáo; livestream giảng dạy với triết lý tinh vi như mượn giáo lý của tôn giáo chính thống, các phương pháp rèn luyện thân thể, tâm trí được nhiều người biết đến; khuếch trương, lấy ví dụ về số lượng tín đồ, người tin theo… cùng với các thủ đoạn gây ảnh hưởng đến tư tưởng, tâm lý con người để “thao túng”, hướng lái người nghe tin theo, trong đó tập trung vào những người biết sử dụng mạng xã hội như đội ngũ trí thức, học sinh, sinh viên (trong đó có cán bộ, đảng viên). Qua đó, lợi dụng tín đồ phục vụ mục đích theo ý đồ của mình như: tuyên truyền mê tín dị đoan để trục lợi; hoạt động chống Đảng và Nhà nước; vi phạm pháp luật; gây chia rẽ đoàn kết dân tộc; gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội…

Đây đều là những hoạt động trái pháp luật của Nhà nước Việt Nam, vi phạm khoản 3, Điều 5 Luật tín ngưỡng, tôn giáo; vi phạm Điều 14, Nghị định 38/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo; vi phạm điểm a, b tại khoản 1, Điều 101, Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 3/2/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử... Chính vì vậy, rất cần thiết phải nhận diện và cảnh giác với hoạt động lôi kéo của số “hiện tượng tín ngưỡng tôn giáo lạ” này trên không gian mạng.

Thời gian tới, không để các hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng trái pháp luật trên phát triển, tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, ảnh hướng đến các giá trị văn hóa tinh thần tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, trong đó có các tín ngưỡng và tôn giáo chính thống (các tôn giáo có tổ chức đã được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân), cần tập trung thực hiện các biện pháp sau:

Các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị cùng toàn thể nhân dân, đặc biệt là đồng bào có đạo cần chung tay làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, chia sẻ chủ trương, đường lối của Đảng nói chung, về hoạt động tôn giáo nói riêng trên các trang mạng xã hội và phương tiện thông tin đại chúng.

Cùng đó, các cơ quan quản lý Nhà nước cần đẩy mạnh công tác hoàn thiện, thể chế hóa các văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thực hiện có hiệu quả các văn bản quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Đồng thời, tích cực, chủ động đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hiệu quả các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo trái pháp luật trên không gian mạng; kịp thời phát hiện, tấn công, vô hiệu hóa các trang mạng xã hội của những đối tượng lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, phá hoại chính sách đoàn kết quốc tế, lợi dụng mạng xã hội và đức tin tôn giáo để truyền bá các giá trị lệch chuẩn so với giáo lý, giáo luật của các tôn giáo chính thống, trục lợi… Tăng cường các biện pháp đấu tranh với các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, lợi dụng mạng xã hội để hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đi ngược lại với đường lối, chủ trương của Đảng.

Đặc biệt, các cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương cần chú trọng bảo đảm các quyền tự do tôn giáo được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS, qua đó tạo sức “đề kháng” để không để bị kích động, lôi kéo bởi “tà đạo”, “đạo lạ” của các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo bất hợp pháp đang hoạt động mạnh trên không gian mạng.


 

 

Cảnh giác với hành động lợi dụng Internet và mạng xã hội tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam

 

Lợi dụng những ưu điểm của Internet, các thế lực phản động sử dụng để truyền bá, phát tán các quan điểm sai trái, thù địch, thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình đối với Chủ nghĩa Xã hội. Chúng ra sức khai thác tất cả các vấn đề của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt chú ý đến những thông tin về đời sống chính trị.

Thông qua sử dụng mạng xã hội, chia sẻ, phát tán rộng rãi với ngôn ngữ, luận điệu kích động, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, tìm mọi cách thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta trên mọi lĩnh vực. Nhận thức đúng âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, từ đó tích cực đấu tranh làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình trên mạng internet hiện nay là rất cần thiết.

Ở nước ta hiện nay có hai loại mạng xã hội: Mạng xã hội trong nước do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép và mạng xã hội ở nước ngoài cung cấp xuyên biên giới vào Việt Nam, như: Facebook, Youtube, Tiktok, Twitter... Mạng xã hội trong nước hiện nay ngoại trừ Zalo thì hầu hết có số lượng truy cập, lượng người tham gia vào mạng thấp, mức độ ảnh hưởng không lớn. Trong khi đó, các mạng xã hội nước ngoài với lượng truy cập đông, mức độ tương tác lớn nên tác động ảnh hưởng không nhỏ trong xã hội. Các mạng xã hội này có máy chủ đặt ở nước ngoài và có những chính sách riêng nên gián tiếp tạo điều kiện cho các đối tượng triệt để lợi dụng để chống phá ta quyết liệt. Thủ đoạn của chúng sử dụng là:

- Lấy những tin, bài, những hình ảnh trên báo chí chính thống của ta, lồng ghép, viết lại hoàn toàn thành những nội dung xuyên tạc, bịa đặt hòng đánh lừa dư luận, kích động người xem, người đọc.

- Lợi dụng các trang video clip giải trí như Yotube, Tiktok để lồng ghép, phát tán video clip phản động.

- Lập một loạt tài khoản giả mạo các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước để đánh lừa người xem. Vào những thời điểm quan trọng, lồng nghép, đan cài các thông tin với dụng ý xấu độc, khiến người đọc dễ hiểu lầm những thông tin sai sự thật đó là chính thống.

- Tạo hàng những tài khoản ảo, để tạo ra những làn sóng bình luận, chia sẻ những bài viết xấu, độc, nhằm định hướng dư luận, lung lay niềm tin, ý chí của giới trẻ.

Để chủ động ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xấu độc trên Internet và mạng xã hội, đòi hỏi trước hết mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tại Học viện Quốc phòng cần đẩy mạnh tuyên tuyền, giáo dục để mỗi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ thấy rõ tính hai mặt của internet và mạng xã hội; nhận diện các thủ đoạn, nội dung thông tin xấu độc, tính chất nguy hại của nó đối với cá nhân và xã hội. Qua đó trang bị kiến thức cần thiết để mỗi cá nhân trong Học viện có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, đồng thời “miễn dịch” với những thông tin xấu độc làm nhiễu loạn môi trường xã hội. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền thông tin chính thống, định hướng dư luận trên mạng xã hội, đẩy mạnh hoạt động của Lực lượng 47 Học viện trên không gian mạng.

Ngoài ra, cần tăng cường đội ngũ chuyên gia công nghệ thông tin, đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, bảo đảm triển khai có hiệu quả các biện pháp quản lý cả về hành chính và kỹ thuật để ngăn chặn một cách kịp thời, hiệu quả. Giám sát, bảo đảm an ninh mạng, làm tốt công tác bảo vệ tài liệu mật, không để kẻ địch thu thập, xuyên tạc, tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước, Quân đội và sự nghiệp đổi mới đất nước của Nhân dân ta./.

 

Cảnh giác trước thủ đoạn xuyên tạc Nghị định 168/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ

 

Nghị định 168/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe có hiệu lực từ ngày 01/01/2025 đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày đầu năm mới 2025.
Trong thời đại các nền tảng mạng xã hội phát triển nhanh chóng như ngày nay, không khó để thấy trên các diễn đàn, hội nhóm đăng tải vô vàn video ghi lại những vụ tai nạn giao thông với nhiều mức độ khác nhau, mà hầu hết những tình huống đáng tiếc đó đều có nguyên nhân là do người tham gia giao thông thiếu ý thức chấp hành các quy định của pháp luật, điển hình như: Đi không đúng chiều đường, phần đường, làn đường quy định; không chấp hành tín hiệu đèn giao thông; điều khiển phương tiện sau khi sử dụng rượu, bia, chất có cồn…

Nghị định 168 với 4 chương và 55 điều được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật giao thông, giảm thiểu tai nạn giao thông, xây dựng văn hóa giao thông an toàn, văn minh. Nghị định quy định 3 nhóm hành vi tăng mức tiền xử phạt, đó là xâm phạm trật tự quản lý nhà nước như dùng biển số giả, che biển số; cố ý vi phạm, làm xấu văn hóa giao thông như vượt đèn đỏ, đi ngược chiều; hành vi gây ra tai nạn giao thông. Trong đó, nhiều lỗi vi phạm giao thông được tăng mức phạt gấp nhiều lần so với quy định trước, như: vượt đèn đỏ với người điều khiển ô tô sẽ bị xử phạt từ 18-20 triệu đồng (tăng gần 4 lần so với Nghị định 100); đi ngược chiều với người điều khiển xe máy sẽ bị phạt từ 4-6 triệu đồng (tăng hơn 3 lần so với Nghị định 100)... Những thay đổi trên không chỉ làm tăng tính răn đe mà còn thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc giảm thiểu tai nạn giao thông và xây dựng môi trường giao thông an toàn, văn minh.
Nhiều người dân bày tỏ sự đồng tình, cho rằng những biện pháp nghiêm khắc này sẽ góp phần nâng cao ý thức của người tham gia giao thông, giảm thiểu vi phạm và tai nạn giao thông. Tuy nhiên, vẫn còn không ít người không có ý thức tuân thủ, hoặc có ý kiến băn khoăn, lo ngại về khả năng thích ứng của người dân, về mức phạt rất cao đối với một số hành vi vi phạm, có suy nghĩ rằng việc ùn tắc giao thông là do ảnh hưởng của Nghị định 168. Bên cạnh đó, các thế lực phản động, cơ hội cũng sẽ triệt để lợi dụng những băn khoăn trên để đăng tải các bài viết, video, hình ảnh được cắt ghép nhằm đưa ra những luận điều xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo sự thật về Nghị định, lợi dụng quá trình tổ chức thực hiện Nghị định 168 để bình luận tiêu cực, kích động chống đối pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Chẳng hạn, ùn tắc giao thông xảy ra có nhiều nguyên nhân, chứ không phải do triển khai Nghị định 168 như một số bình luận trên mạng xã hội. Ví dụ như hạ tầng giao thông không đáp ứng được nhu cầu của người tham gia giao thông, xảy ra tai nạn giao thông, hỏng đèn tín hiệu hoặc do ý thức của người tham gia giao thông không tốt dẫn đến xung đột giao thông; trong những ngày cuối năm cận Tết, số người tham gia giao thông tăng cao, việc ách tắc giao thông ở các thành phố lớn dịp cận Tết là chuyện xảy ra từ rất nhiều năm nay và khá phổ biến, không kể khung giờ nào.
Thực tế, Nghị định 168 gần như không có tác động gì đối với những người tham gia giao thông nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, không có hành vi vi phạm. Chỉ có những người có ý thức coi thường pháp luật, thường xuyên vượt đèn đỏ, lạng lách, đánh võng, không dừng đường cho xe ưu tiên, không tuân thủ đèn tín hiệu, không tuân thủ hiệu lệnh của người điều khiển phương tiện giao thông, đi xe trên vỉa hè, đi vào đường cấm …. thì mới thấy lo sợ vì họ thường xuyên vi phạm những lỗi này mà không bị xử lý hoặc bị xử lý với lỗi mức xử phạt rất thấp theo Nghị định 100.

Rõ ràng, để lập lại trật tự đòi hỏi việc thực thi pháp luật phải nghiêm minh, chế tài đủ tính răn đe, tương xứng với vi phạm, nhất là các hành vi cố ý xâm phạm trật tự an toàn giao thông; từ đó, góp phần xây dựng văn hóa giao thông, giảm thiểu nguy cơ tai nạn, mang đến sự an toàn cho người tham gia giao thông. Thực tế, sau 2 tuần đầu áp dụng, Nghị định 168 đã dần đi vào đời sống, khẳng định vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức tuân thủ luật giao thông, thay đổi thái độ, hành vi của người tham gia giao thông theo hướng tích cực; những con số không nói dối, tình trạng vi phạm giao thông đã giảm đáng kể, những vụ tai nạn giao thông ở các đô thị giảm đi cả về số vụ, số người chết và giảm về tính chất nghiêm trọng.
Do vậy, mỗi người dân cần hết sức nâng cao ý thức cảnh giác, có ý thức trong đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về Nghị định 168, đồng thời có trách nhiệm tuân thủ đầy đủ các quy định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông, góp phần xây dựng một môi trường giao thông an toàn, văn minh./.

 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945: Giá trị lan tỏa Quốc tế và ý nghĩa đối với việc khơi dậy phát triển đất nước theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

 

        Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Đây không chỉ là thắng lợi của tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, mà còn là thắng lợi đầu tiên của một dân tộc thuộc địa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã lật đổ chế độ thực dân phong kiến, xác lập chính quyền cách mạng của dân, do dân, vì dân. Ngoài ra, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 còn có giá trị lan tỏa sâu sắc đối với cách mạng thế giới; các dân tộc yêu chuộng hòa bình; mở ra mối quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước với tư cách và vị thế của một quốc gia - dân tộc có độc lập, có chủ quyền. Bài viết nêu những giá trị lịch sử, sức lan tỏa quốc tế của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, từ đó, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách thống trị của chủ nghĩa thực dân tồn tại trên 80 năm và chủ nghĩa phát xít sau 5 năm trên đất nước ta, lật đổ chế độ quân chủ phong kiến đã lạc hậu, lỗi thời, đưa tới sự ra đời của một nhà nước kiểu mới - nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Từ đây, dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập, tự do gắn liền với CNXH. Tầm vóc và ý nghĩa lịch sử lớn lao của Cách mạng tháng tám năm 1945 đối với tiến trình lịch sử của dân tộc và thế giới đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. 

1. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam đã vượt tầm ảnh hưởng ra khỏi biên giới quốc gia và trở thành động lực, “niềm tin tinh thần - sức mạnh to lớn”, cổ vũ cho nhân dân các dân tộc thuộc địa đứng lên đấu tranh giành độc lập. Cách mạng Tháng Tám mãi được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới coi là ngọn đèn chiếu sáng, hình mẫu nhân văn, nhân ái cho các dân tộc yêu chuộng hòa bình. Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đó là cuộc cách mạng không chỉ giải phóng dân tộc, mà còn giải phóng con người, là động lực cho nhiều dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh, xác lập quyền tự do, độc lập trên thế giới trong thế kỷ XX.

Lịch sử thế giới thế kỷ XX đã ghi nhận tầm vóc thời đại của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 - mở đầu thời đại mới của cách mạng thế giới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH. Chính vì vậy, tính từ năm 1917 cho đến trước khi Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam thành công, chưa có một cuộc cách mạng nào “phổ quát” được những giá trị thời đại như Cách mạng Tháng Mười Nga - Giá trị phổ quát của nó chính là mức độ ảnh hưởng trên phạm vi toàn thế giới. Cho nên, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam - Sự kiện trọng đại này mở ra thời kỳ mới cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX, “một sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử thế giới từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga. Đó là một cuộc cách mạng đầu tiên thành công trong việc lật đổ chính quyền của chế độ thuộc địa”, tầm vóc và giá trị của nó chính là sự “phổ quát” và truyền tải hết những giá trị tốt đẹp nhất mà cuộc cách mạng này đem đến cho cách mạng thế giới lúc bây giờ - “Giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản”.

Việc chiến thắng các thế lực xâm lược đất nước, giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân có thể có nhiều con đường để thực hiện và giành thắng lợi. Tuy nhiên, cách mạng giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản là cuộc cách mạng giải phóng triệt để nhất, cuộc cách mạng đó tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, bền vững cho quá trình đi lên của mỗi quốc gia. Cho nên, thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đánh dấu sự mở đầu trên phạm vi quốc tế “cho cao trào giải phóng dân tộc sau chiến tranh thế giới thứ hai”.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã tác động một cách trực tiếp, tạo niềm tin, cổ vũ mạnh mẽ cho nhân dân Lào nổi dậy giành chính quyền và ngày 12/10/1945, nước Lào tuyên bố độc lập. Sức lan tỏa của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam đã thúc đẩy phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các quốc gia khu vực Đông Nam Á phát triển lên cao, buộc các nước thực dân Âu, Mỹ lần lượt công nhận nền độc lập của Philippin (7/1946), Miến Điện (01/1948), Inđônêsia (8/1950), Malaisia (8/1957). 

Không chỉ giới hạn ở khu vực Đông Nam Á, sức mạnh lan tỏa của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 còn góp phần quan trọng thức tỉnh các dân tộc trên thế giới, đặc biệt, các nước ở Đông Bắc Á, Nam Á, các nước châu Phi, Mỹ La-tinh đang bị cùm trói trong vòng nô lệ, lệ thuộc của chủ nghĩa thực dân, đế quốc; cổ vũ các dân tộc vùng lên đấu tranh để tự giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột, lệ thuộc của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Ở Đông Bắc Á: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam đã đem lại niềm tin, sự thắng lợi trong phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân trung Quốc, niềm tin đó đã trở thành hiện thực vào tháng 10/1949, cách mạng Trung Quốc thắng lợi, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, thắng lợi này đã phá vỡ khâu quan trọng trong hệ thống thuộc địa chủ nghĩa đế quốc, nêu tấm gương cho phong trào giải phóng dân tộc nối liền phe CNXH từ Âu sang Á. Năm 1952, nhân dân Libi giành được độc lập. Tại Nam Á: Phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ càng trở nên mạnh mẽ hơn từ sau thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam. Do ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam, cuộc đấu tranh của nhân dân Ấn Độ đã có bước phát triển, đi từ đòi tự trị, đến độc lập (26/01/1950).

Ở Châu Phi: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và tấm gương của nhân dân Việt Nam đã trở thành động lực, niềm tin để nhiều nước ở Bắc Phi đứng lên đấu tranh và giành được độc lập như Ai Cập (1952), Angieri (1962). trong năm 1960 có 17 nước Châu Phi giành được độc lập. Khu vực Mỹ Latinh: Sức lan tỏa của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam và nhiều quốc gia thuộc địa đã giành độc lập là tấm gương cho nhân dân Cu-ba tiến lên.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam chính là niềm tin, động lực để giúp cho nhân dân Cu-ba tin tưởng vào thắng lợi như nhân dân Việt Nam đã giành được. Dưới sự lãnh đạo của Phiđen Catxtrô, ngày 01/01/1959 cách mạng Cu-ba thành công. Đánh giá về tính lan tỏa của Cách mạng Tháng Tám năm  1945 ở Việt Nam đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới trong những năm nửa sau của thế kỷ XX, Giáo sư, nhà Sử học L.Esmonson, trường Đại học Cornell (Mỹ) cho rằng: “Đó là một sự kiện lớn của thế giới. Cuộc Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam có một ý nghĩa lịch sử rất to lớn, nó giải phóng con người, giải phóng cho một dân tộc bị áp bức. Trên bình diện quốc tế, nó còn là hình mẫu và là động lực cho nhiều nước khác đứng lên đấu tranh, đánh đuổi thực dân, giành lại chính quyền. Những quốc gia thuộc địa của Pháp, đặc biệt là các nước ở khu vực Đông Dương, châu Phi đã tiến hành công cuộc cách mạng theo đúng tiến trình cách mạng ở Việt Nam”.

Giáo sư người Jamaica Horet Compel nhìn nhận: “Cuộc Cách mạng Việt Nam năm 1945 có một tác động to lớn đối với lịch sử đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa Pháp lúc đó, trong đó, có nhiều nước châu Phi. Khi cuộc cách mạng ở Việt Nam thành công, cũng là lúc các nước châu Phi như: Cameroon, Algeria, tanzania… đang chuẩn bị những cuộc cách mạng lớn. Nhờ có bài học từ Việt Nam, họ đã có những bài học kinh nghiệm quý báu, làm nên thành công của các cuộc cách mạng ở những nước thuộc địa Pháp ở châu Phi”.

Tiến sĩ Sanomish Dashtsevel (Mông Cổ) nhấn mạnh: “Cách mạng Tháng Tám đã tạo điều kiện cho nhân dân Việt Nam làm chủ đất nước, giành được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, xây dựng đất nước. Cuộc Cách mạng Tháng Tám còn có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc và dân chủ ở các nước châu Á và trên thế giới”.

Có thể khẳng định, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã trở thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mở đầu cho tiến trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân. Lịch sử thế giới thế kỷ XX đã ghi nhận tầm vóc thời đại của Cách mạng tháng Mười Nga mở đầu thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH và Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở đầu trào lưu phi thực dân hóa trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên toàn thế giới và vì vậy, đã góp phần quan trọng “làm biến đổi bản đồ thế giới”.

2. Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, nằm trong quỹ đạo của cách mạng vô sản. Cuộc cách mạng này do Đảng Cộng sản lãnh đạo, vì vậy, thành công của cách mạng là triệt để, là “nơi đến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trước đó. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới chứ không như các cuộc cách mạng dân chủ tư sản trước đây. Tthắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã lật đổ ách thống trị thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị phong kiến tay sai và ách thống trị của chủ nghĩa phát xít Nhật (1941-1945), đưa dân tộc Việt Nam bước vào thời đại mới - thời đại độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Sức lan tỏa và giá trị nhân văn của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam là sự khẳng định bằng thực tiễn lịch sử về tính đúng đắn của sự lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc - “con đường cách mạng vô sản”, con đường cách mạng gắn kết một cách tất yếu độc lập dân tộc và CNXH - dòng chủ đạo xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám đã  khai phá con đường thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam và góp phần quan trọng trong tiến trình phát triển của khu vực và thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ trung thành, vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam mà còn phát triển, bổ sung cho chủ nghĩa Mác-Lênin lý luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã chứng minh sự bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận Mác-Lênin ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, đồng thời, còn nêu một mẫu mực đấu tranh giải phóng dân tộc cho các dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh(8). Chính vì vậy, các dân tộc thuộc địa coi Việt Nam là chiến sỹ tiên phong, anh hùng giải phóng dân tộc. thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám  năm 1945 không chỉ của Việt Nam mà là những vấn đề lý luận và thực tiễn mang tầm vóc quốc tế, có giá trị phổ quát thời đại. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đưa dân tộc Việt Nam đến với các giá trị chính trị, xã hội cao nhất trong nền văn minh nhân loại - đó là chế độ dân chủ nhân dân, nhà nước pháp quyền XHCN do nhân dân làm chủ, các quyền công dân và quyền con người được tôn trọng, rút ngắn con đường phát triển của dân tộc hàng thế kỷ.

3. Tiếp tục phát huy giá trị lịch sử, sức lan tỏa quốc tế trong Cách mạng Tháng Tám - khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại đưa đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Giá trị lịch sử, sức lan tỏa của Cách mạng tháng tám đã chứng minh chân lý của dân tộc Việt Nam “lấy chính nghĩa để thắng hung tàn”, “lấy chí nhân để thay cường bạo”, thắng lợi to lớn và vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám như là “vầng sáng chói lọi chiếu khắp năm châu”. Từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, dân tộc Việt Nam đã trở thành điểm tựa tinh thần cho các quốc gia dân tộc bị áp bức, bóc lột, các dân tộc yêu chuộng hòa bình coi là mẫu hình lý tưởng trong phong trào đấu tranh, giải phóng dân tộc. thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ đơn thuần là chiến thắng của một cuộc cách mạng, của một dân tộc trước một đế quốc xâm lược mà đó còn là chiển thắng để mở ra một kỷ nguyên cho một nền ngoại giao của một quốc gia có chủ quyền. Nếu Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho nền ngoại giao của dân tộc Việt Nam với nhiều quốc gia trên thế giới, thì Cách mạng Tháng Tám đã hiện thực hóa tư tưởng của Người, từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, cách mạng Việt Nam thực sự trở thành một bộ phận khăng khít không thể tách rời của phong trào cách mạng thế giới. Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lần đầu tiên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có tên trên bản đồ thế giới; đồng thời, đã mở ra mối quan hệ ngoại giao với các nước với tư cách và vị thế của một quốc gia - dân tộc có độc lập, có chủ quyền.

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, sức lan tỏa của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 còn nguyên giá trị, cần tiếp tục được phát huy, bài học của Cách mạng Tháng Tám là cơ sở để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là Đảng đã biết phát huy sức mạnh nội lực “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” kết hợp với ngoại lực. Trong đó, phải khẳng định sự sắc bén về dự báo tình hình, chủ động chuẩn bị nội lực để khi thời cơ đến đã nhanh chóng, khẩn trương phát Lệnh tổng khởi nghĩa toàn quốc. Thắng lợi đó đã để lại những bài học có giá trị cho cách mạng Việt Nam trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp để giải quyết nhiệm vụ chính trị trong bối cảnh lịch sử mới. 

Từ giá trị lịch sử đó, khi bước vào thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng xác định: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời, tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại”.

Sau gần 40 năm đổi mới, hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (thông qua tại Đại hội VII của Đảng) cơ đồ, vị thế tiềm lực và uy tín quốc tế được nâng cao, tuy nhiên, đất nước vẫn đứng trước nhiều thách thức cả trong nước và quốc tế. Do vậy, trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, những kinh nghiệm về phát huy giá trị phổ quát và vấn đề dân tộc được đặt lên hàng đầu trong Cách mạng tháng tám, đã được Đảng ta tiếp tục phát huy trong đường lối đối ngoại của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. Trên cơ sở đó, trong điều kiện lịch sử mới, Đảng đã xác định: “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân”. Tính “toàn diện” thể hiện trên các chủ thể, địa bàn, cả song phương và đa phương, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, thông tin đối ngoại… qua đó, phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của cả đất nước, để nâng cao vị thế quốc tế quốc gia.

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước là trọng tâm lớn của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Sự nghiệp cách mạng là một quá trình đầy khó khăn, thách thức nhưng với những giá trị đạt được từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế trên chính trường quốc tế. Điều đó càng minh chứng sức lan tỏa của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là hướng đi đúng với một thể chế chính trị ưu việt tiếp tục soi rọi, trở thành động lực để các quốc gia, dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới hướng tới xây  dựng một xã hội đưa con người đạt đến các giá trị cao nhất của nhân loại - giá trị hòa bình, độc lập và phát triển.