Thứ Năm, 6 tháng 2, 2025

Cảnh giác trước hành vi lợi dụng mạng xã hội Facebook, Tiktok nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 

Thời gian gần đây, trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, TikTok xuất hiện tràn lan các video, bài viết, bình luận với mục đích mỉa mai, châm chọc, phân biệt vùng miền, phi văn hóa, thậm chí nói lái, công kích bằng những ngôn từ miệt thị như “PARKY”. Hiện tượng này không chỉ dừng lại ở ý kiến cá nhân mà đang nhân rộng trên nhiều nền tảng mạng xã hội theo xu hướng kích động.

Cảnh giác trước hành vi lợi dụng mạng xã hội nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Vậy “PARKY” là gì? Thoạt nhìn qua chúng ta sẽ nghĩ đây là một từ tiếng Anh dùng để chỉ thời tiết có phần giá lạnh. Nhưng không! Đây là một từ dùng để phân biệt vùng miền. Từ này theo một số phần tử kích động có nghĩa là “Bắc Kỳ”. Thời kỳ thực dân pháp đô hộ nước ta, chúng luôn tìm cách chia rẽ dân tộc bằng cách chia đất nước ra ba miền với 3 chế độ chính trị khác nhau, gây thù hằn giữa các dân tộc, tôn giáo, đảng phái, vùng miền... nhằm làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc để dễ bề cai trị. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua 9 năm (từ 1945 đến 1954) thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, quân và dân ta đã làm nên thắng lợi “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa chiến lược và là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Câu nói này khẳng định tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của sự đoàn kết đối với sự thành công. Câu nói này cũng là lời khuyên cho mọi người, không chỉ trong bối cảnh chiến đấu chống kẻ thù, mà còn trong cuộc sống hàng ngày, để biết cùng nhau đoàn kết, không chia rẽ, không mâu thuẫn nội bộ. Chúng ta cần duy trì và củng cố tinh thần đoàn kết này, không chỉ để đối phó với thách thức của hiện tại mà còn để xây dựng một tương lai tươi sáng và thịnh vượng hơn.

Gây chia rẽ dân tộc là hành vi, âm mưu của các thế lực thù địch, phản động. Dưới nhiều hình thức, không chỉ thông qua tiền, vật chất mà còn dưới vỏ bọc “mạng xã hội” để len lỏi, thâm nhập, tác động tới những người thiếu hiểu biết. Việc các thế lực thù địch cố tình lợi dụng chống phá khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam chính là âm mưu thâm độc, nham hiểm.

Hiện nay, một bộ phận giới trẻ có tư tưởng lệch lạc, thiếu hiểu biết và dễ bị kích động đã đi theo trào lưu như một trò tiêu khiển mua vui. Khi những từ ngữ này được lan rộng, nhiều người đã có thái độ tức giận phản bác lại khiến sự chia rẽ dân tộc càng thêm sâu sắc. Phân biệt vùng miền là một trong những nguyên nhân gây mất đoàn kết dân tộc và các hệ lụy khác trong xã hội. Từ hiện tượng phân biệt vùng miền trên nền tảng Facebook, Tiktok cho thấy sự thiếu hụt về kiến thức nhất là kiến thức về lịch sử của một bộ phận người trẻ. Hành động này gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới khối đại đoàn kết dân tộc và có thể bị xử lý theo quy định của Pháp luật. Dù là vô tình hay cố ý thì lời nói mỉa mai, châm chọc, phân biệt vùng miền có thể xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của một cá nhân hay tập thể sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng. Hơn nữa, người có hành vi phân biệt, miệt thị vùng miền còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm hoặc cao nhất từ 7 đến 15 năm.

Do đó, mỗi chúng ta cần phải hết sức tỉnh táo, không hùa theo cái gọi là “trào lưu” trên mạng xã hội, tích cực phản bác lại những luận điệu chia rẽ để chứng tỏ, nơi đâu mình sống cũng là quê hương. Mỗi cá nhân cần học cách chịu trách nhiệm với từng bình luận, nút like, share của mình, góp phần tạo ra một môi trường mạng văn minh, lành mạnh, không vi phạm pháp luật./.

 

Đại thắng mùa Xuân 1975 - Nghệ thuật kết thúc chiến tranh độc đáo, sáng tạo

 

Mùa Xuân 1975, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, quân dân ta trên khắp chiến trường miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giành toàn thắng. Đó là chiến công vĩ đại trong lịch sử dân tộc, có tầm ảnh hưởng và tác động sâu rộng đến quan hệ quốc tế.

Chỉ đạo chiến lược kiên quyết, sắc bén, linh hoạt

Do chịu thất bại nặng nề trên chiến trường và phong trào phải đối chiến tranh dâng cao cả trong và ngoài nước, tháng 1-1973, Mỹ buộc phải ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút quân về nước. Nhưng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, Mỹ tiếp tục viện trợ kinh tế, quân sự chỉ đạo chính quyền, quân đội Sài Gòn phá hoại Hiệp định vừa ký kết, mở hàng ngàn cuộc hành quân “bình định, lấn chiếm”, các chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ” nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam. Chính phủ Mỹ còn thi hành chính sách ngoại giao xảo quyệt, thỏa thuận với các nước lớn xã hội chủ nghĩa cắt giảm viện trợ, gây áp lực hạn chế thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trước âm mưu và hành động chiến tranh mới của địch, cách mạng miền Nam gặp những khó khăn, tổn thất nhất định. Nhiều địa phương tỏ ra lúng túng, nhấn mạnh đến hòa bình, hòa hợp, buông lỏng tư tưởng chiến lược tiến công nên trên một số địa bàn bị mất đất, mất dân. Chỉ tính riêng trong năm 1973, địch đóng thêm 500 đồn bốt, chiếm thêm 70 xã và gần 1.000 ấp, kiểm soát thêm 65 vạn dân...

Nắm bắt tình hình trên, tháng 7-1973, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 nhấn mạnh: Bất kể trong tình huống nào, con đường giành thắng lợi của cách mạng cũng là sử dụng bạo lực cách mạng, do đó phải nắm vững chiến lược tiến công, kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao để giành toàn thắng. Thực hiện nghị quyết của Đảng đề ra, quân dân ta trên chiến trường đã kiên quyết mở những cuộc phản công, tiến công trực tiếp giáng trả mọi hành động chiến tranh, tiêu hao, tiêu diệt một phần sinh lực địch, đánh bại cơ bản kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” của chúng, bảo vệ, mở rộng vùng giải phóng, tạo ra thế và lực mới cho kháng chiến. Đặc biệt, ta giành thắng lợi lớn trong chiến dịch Đường 14 - Phước Long (từ ngày 13-12-1974 đến 6-1-1975) loại khỏi vòng chiến đấu trên 4.000 địch, giải phóng toàn tỉnh Phước Long (Đông Nam Bộ) với trên 50.000 dân. Chiến thắng này cho thấy khả năng chiến đấu của quân chủ lực ta đã hơn hẳn quân chủ lực của địch, đồng thời cho thấy khả năng phản ứng rất hạn chế của Mỹ, tạo thêm cơ sở cho cơ quan chỉ đạo chiến lược cách mạng hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Cuối năm 1974, đầu năm 1975, so sánh lực lượng ở miền Nam có sự chuyển biến mau lẹ theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng, trên cơ sở đó, Hội nghị Bộ Chính trị (từ 30-9 đến 7-10-1974) và Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (từ 18-12-1974 đến 8-1-1975) đã ra nghị quyết lịch sử, hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước trong thời gian 2 năm (1975-1976). Theo kế hoạch đề ra, trong năm 1975, cách mạng sẽ tranh thủ thời cơ bất ngờ tiến công địch trên quy mô lớn, rộng khắp, tạo tiền đề để trong năm 1976 tiến hành tổng công kích-tổng khởi nghĩa giành toàn thắng. Tuy đề ra kế hoạch 2 năm, nhưng Bộ Chính trị cũng chỉ rõ: Nếu thời cơ đến sớm thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Về phương hướng, yêu cầu đặt ra, Bộ Chính trị nhấn mạnh: cần tranh thủ thời cơ thực hiện tổng công kích-tổng khởi nghĩa, phải đánh thắng nhanh để giảm thiệt hại về người và của cho nhân dân, đồng thời giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn hóa, giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh.

Đây thực sự là một sáng tạo lớn trong nghệ thuật chỉ đạo kết thúc chiến tranh, thể hiện tầm cao trí tuệ, tư tưởng và truyền thống nhân văn sâu sắc của dân tộc Việt Nam, điều đó vượt lên trên mọi toan tính của các nhà hoạch định chính sách phía Mỹ, đồng thời đập tan những luận điệu xuyên tạc về “các cuộc tắm máu” mà các thế lực thù địch, phản động ở trong và ngoài nước rêu rao. Trên thực tế khi bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, nắm bắt kịp thời những diễn biến của chiến trường, Bộ Chính trị không ngừng bổ sung quyết tâm chiến lược, quyết định rút ngắn thời gian: giải phóng hoàn miền Nam ngay trong năm 1975 (cuộc họp ngày 18-3-1975), giải phóng hoàn miền Nam trước mùa mưa năm 1975 (cuộc họp ngày 25-3-1975), giải phóng hoàn miền Nam trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là ngay trong tháng 4 năm 1975 (cuộc họp ngày 1-4-1975).

Thực hành tổng tiến công và nổi dậy toàn diện, triệt để, nhanh gọn

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 của quân dân Việt Nam bắt đầu từ ngày 4/3/1975 và kết thúc vào ngày 30/4/1975, trong đó tiến công quân sự đóng vai trò quyết định với ba chiến dịch chiến lược liên tục về thời gian và liên kết về không gian đi đến đánh sập quân đội Sài Gòn. Mỗi chiến dịch chiến lược lại có cách thức tổ chức thực hiện độc đáo, sáng tạo khác nhau.

Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4-3 đến 3-4-1975) là đòn giáng mở đầu Tổng tiến công và nổi dậy nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng các tỉnh nam Tây Nguyên, mở rộng hành lang nối liền Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ và đồng bằng Khu 5, thực hiện chia cắt chiến lược, tạo cục diện mới cho chiến trường. Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên xác định trận tiến công Thị xã Buôn Ma Thuột là trận then chốt. Lực lượng cách mạng hoàn toàn áp đảo. Ta sử dụng cách đánh mới: tổ chức các mũi đột kích binh chủng hợp thành kết hợp với các đơn vị đặc công và bộ binh bí mật triển khai trước đánh thẳng vào trung tâm thị xã, nhanh chóng tiêu diệt cơ quan chỉ huy đầu não địch rồi mới phát triển trở ra bên ngoài thị xã. Ngày 10 tháng 3 năm 1975, tiếng súng đánh chiếm Buôn Ma Thuột bắt đầu. Đại bộ phận các đơn vị bộ binh cơ giới, xe tăng thọc sâu tại các vị trí chờ đợi từ xa trên các hướng, các trục đường khác nhau theo lệnh vượt qua các tuyến vòng ngoài ào ạt đánh chiếm những mục tiêu chủ yếu trong thị xã. Có những đơn vị phải vượt qua chặng đường dài 30-40km nhưng vẫn bảo đảm thời gian hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đòn tiến công đã làm cho Mỹ, chính quyền Sài Gòn hoàn toàn bị bất ngờ, choáng váng. Mọi sự kháng cự và ứng cứu của địch đều bị đập tan. Đến trưa ngày 11 tháng 3, quân ta hoàn toàn làm chủ thị xã. Việc đánh chiếm giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột trong hơn một ngày đêm là một trong những chiến công vang dội của cách mạng miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trực tiếp mở ra thắng lợi của toàn chiến dịch Tây Nguyên nói riêng, toàn bộ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nói chung.

Tiếp theo là đòn tiến công giải phóng Huế - Đà Nẵng (26-3 đến 29-3-1975). Sau khi mất Tây Nguyên, chính quyền và quân đội Sài Gòn rơi vào tình trạng hoang mang, rối loạn. Địch tập trung quân về giữ thành phố Huế và khu liên hợp quân sự Đà Nẵng, chờ đợi viện binh từ phía Nam ra phản công. Nhạy bén tranh thủ thời cơ, ta nhanh chóng mở cuộc tiến công trong hành tiến giải phóng Huế (26/3), sau đó phát triển thành chiến dịch tiến công quy mô lớn bằng thế hợp vây của ba cánh quân từ ba hướng Bắc, Tây, Nam đánh vào Đà Nẵng, phá tan thế co cụm, diệt và làm tan rã 10 vạn địch, làm thay đổi hẳn tương quan so sánh lực lượng trên chiến trường. 

Đến những ngày cuối tháng 4 năm 1975, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam dồn sức cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng: Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định 5 mục tiêu quan trọng nhất cần đánh chiếm bằng được: Bộ Tổng tham mưu, Dinh Độc lập, Biệt khu thủ đô, Tổng nha cảnh sát, sân bay Tân Sơn Nhất. Về mặt lực lượng, quân ta vẫn chiếm ưu thế áp đảo. Nhưng đánh bằng cách nào có hiệu lực nhất, để vừa phát huy hết sức mạnh của tất cả lực lượng, giành thắng lợi nhanh nhất, vừa giảm thiểu được sự tàn phá của chiến tranh (giữ được Sài Gòn hầu như nguyên vẹn) là vấn đề đặt ra cấp thiết. Lúc này, trong nội thành Sài Gòn, địch tổ chức phòng thủ thành 5 liên khu do toàn bộ lực lượng cảnh sát, phòng vệ dân sự phụ trách. Ở vòng ngoài, chúng bố trí các sư đoàn chủ lực mạnh muốn ngăn chặn quân ta từ xa 30-50km, đề phòng khi bị tiến công, chúng sẽ từng bước lùi dần và co cụm về Sài Gòn “tử thủ”. Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng cách đánh hết sức linh hoạt, sáng tạo, đó là dùng một bộ phận lực lượng thích hợp trên từng hướng, đủ sức hình thành bao vây, tiêu diệt, làm tan rã tại chỗ các sư đoàn chủ lực của địch ở vòng ngoài; đồng thời dùng đại bộ phận lực lượng nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm các địa bàn then chốt ven đô, mở đường cho các binh đoàn đột kích cơ giới hóa mạnh đã được tổ chức chặt chẽ, tiến nhanh theo các trục đường lớn đánh thẳng vào 5 mục tiêu đã được lựa chọn trong nội thành. Với cách đánh như vậy, quân ta hoàn toàn tập trung được sức mạnh để đánh vào các mục tiêu chủ yếu đã lựa chọn kết hợp với tiêu diệt địch ở vòng ngoài không cho địch trong ngoài ứng cứu làm giảm bước tiến quân của ta.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử thắng lợi vẻ vang đã khẳng định cho cách đánh này là hoàn toàn đúng đắn. Đặc biệt, cách mạng đã giữ được thành phố Sài Gòn hầu như nguyên vẹn. Đó là một thành công to lớn mà cả thế giới thấy kinh ngạc. Phối hợp chặt chẽ với các đòn quân sự then chốt là các cuộc tiến công và nổi dậy của quân dân các địa phương khắp chiến trường (đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long) theo phương thức xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh. Đến ngày 2-5-1975, miền Nam nước ta hoàn toàn giải phóng. 

Như vậy, trong một thời gian ngắn (55 ngày đêm), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân Việt Nam đã giành thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng đã diệt và làm tan rã hơn 1 triệu quân chủ lực và khoảng 1,5 triệu quân thuộc lực lượng phòng vệ dân sự của địch, đập tan bộ máy chính quyền và quân đội Sài Gòn, giải phóng miền Nam, kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; đồng thời kết thúc vẻ vang cuộc trường chinh 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc (1945-1975), mở ra kỉ nguyên mới của dân tộc Việt Nam: cả nước độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 chính là “cột mốc vàng” của lịch sử dân tộc, khẳng định nét độc đáo, sáng tạo trong nghệ thuật chỉ đạo kết thúc chiến tranh của Đảng Lao động Việt Nam phù hợp với yêu cầu của thời cơ quân sự, thời cơ chính trị và hơn hết khẳng định cho trí tuệ, tài thao lược Việt Nam trong “cuộc đụng đầu lịch sử” chống đế quốc Mỹ xâm lược.

 

Cảnh giác đề phòng và đấu tranh phản bác luận điệu xuên tác của kẻ thù đối với các vị lãnh đạo tiến bối của Đảng

 

Trải qua 95 năm trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định được vai trò của mình đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua các thời kỳ, đây là sự thật khách quan không thể phủ nhận. Thế nhưng trong thực tế, các thế lực thù địch vẫn luôn tìm đủ mọi cách phủ nhận vai trò của Đảng ta thông qua việc xuyên tạc lịch sử, bôi xấu thân thế và công trạng các vị lãnh đạo tiền bối, nhằm hạ thấp uy tín cá nhân anh hùng và hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là thủ đoạn vô cùng thâm hiểm, cần phải hết sức cảnh giác đề phòng và kiên quyết đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc của kẻ thù.

Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch, phản động thường xuyên sử dụng đó là việc cố tình dựng lên những câu chuyện hư cấu để bôi nhọ đời tư của các cá nhân lãnh đạo tiền bối; bịa đặt ra một số sự vụ không có thật để để xuyên tạc lịch sử hoặc trực tiếp dựng lên những tình tiết về mối quan hệ không có thật giữa các vị lãnh đạo trong Đảng… Qua đó trực tiếp hạ thấp uy tín của từng cá nhân, phủ nhận công trạng của các vị lãnh đạo tiền bối, tạo ra sự hoài nghi hoặc nhận thức mơ hồ trong một bộ phận không nhỏ trong các tầng lớp nhân dân ta.

Đặc biệt là trong thời gian gần đây, trước thềm Lễ Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024). Trên không gian mạng, nhất là các diễn đàn trên nhiều trang mạng xã hội xuất hiện rất nhiều bài viết, video clip hoặc các dạng truyền thông khác cố tình xuyên tạc, phủ nhận vai trò của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Chiến thắng Điện Biên Phủ. Chúng cho rằng “Đại tướng Võ Nguyên Giáp chẳng có công lao gì trong chiến thắng Điện Biên Phủ mà thực chất là do cố vấn Trung Quốc chỉ đạo mới giành được chiến thắng”.

Thật là một trò hề lố bịch của nhưng kẻ “Ném đá giấu tay”, sự xuyên tạc trắng trợn của những tên “Ăn cháo đá bát” không quê hương. Nói về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một con người đức độ chuẩn mực, tài thao lược của Đại tướng là không thể phủ nhận; không chỉ bởi người dân Việt Nam ghi nhận, mà hầu hết nhân dân các nước trên thế giới và ngay cả đối thủ của Đại tướng trước đây cũng đã từng thừa nhận sự thật hiển nhiên đó.

Thực tế, trong Bách khoa toàn thư của nhiều nước trên thế giới, tên tuổi và hình ảnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được ghi lại như là một trong những vĩ nhân quân sự hiển hách nhất mọi thời đại. Tác giả G.Bonnet, trong Từ điển Bách khoa toàn thư của Pháp đã viết “Là người tổ chức quân đội nhân dân, ông Giáp đã thực hiện được một sự tổng hợp độc đáo các học thuyết quân sự mácxít, kết hợp nhuần nhuyễn với truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, vận dụng khôn khéo vào những điều kiện của một quốc gia có đất đai tương đối hẹp”.

Tân Bách khoa toàn thư của Anh (1985) trong chuyên mục giới thiệu các danh tướng thế giới từ thời cổ đại cho đến ngày nay, cùng với Hannibal, Kutudôp, Napoléon, Zukop... đã giới thiệu hai danh tướng Việt Nam là Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (tập 10, tr. 493-494). Một học giả người Anh khác từng nhận xét về Đại tướng “Chúng ta khó mà so sánh ông với các tướng lĩnh khác về sự điều hành ở tầm cao của cuộc chiến tranh du kích với các cuộc hành binh lớn, Võ Nguyên Giáp đã chứng minh rằng ông có những đức tính ngoài tầm cỡ bình thường trên mọi lĩnh vực của chiến tranh”.

Bách khoa toàn thư Quân sự Bộ quốc phòng Mỹ (1993) có viết “Tài thao lược của tướng Giáp về chiến lược, chiến thuật và hậu cần được kết hợp nhuần nhuyễn với chính trị và ngoại giao; sức mạnh hơn hẳn về kinh tế, tính ưu việt về công nghệ cùng với sức mạnh áp đảo về quân sự và hỏa lực khổng lồ của các quốc gia phương Tây đã phải khuất phục trước tài thao lược của một vị tướng từng một thời là thầy giáo dạy sử”. Tướng Mỹ Westmoreland, một đối thủ trước đây đã đánh giá Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người đã hội tụ được tất cả những phẩm chất làm nên một thống lĩnh quân sự vĩ đại gồm “Khả năng quyết đoán, sức mạnh tinh thần, sự tập trung và trí tuệ”

Hay trong tác phẩm “Chiến thắng bằng mọi giá - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiên tài của Việt Nam”, nhà sử học quân sự người Mỹ Cecil B.Currey tiếp tục bày tỏ sự kính phục của mình đối với Đại tướng “Ông không chỉ trở thành một huyền thoại mà có lẽ còn trở thành một thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỷ XX, và một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của tất cả các thời đại. Ông Giáp là chuyên gia hiện hữu vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân”.

Như vậy, sau tất cả những đánh giá của các nhà nghiên cứu tên tuổi và của chính lịch sử đã khẳng định và thừa nhận tài năng xuất chúng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đặc biệt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng chính là người đưa ra quyết định thay đổi phương châm từ “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc”. Một quyết định khó khăn, nhưng đúng đắn trong thời khắc lịch sử, điều chỉ có ở những vĩ nhân, thiên tài quân sự kiệt xuất của thời đại, vấn đề không cần bàn cải, chỉ những kẻ “Thiểu năng” về tư duy mới không nhận biết được điều đó.

Bên cạnh đó, bọn chúng còn hư cấu ra một số câu chuyện để cố tình bịa đặt mối quan hệ không tốt đẹp giữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng Bí thư Lê Duẩn với đủ điều xuyên tạc. Thậm chí bọn chúng còn cho rằng “Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã bị Tổng Bí thư Lê Duẩn loại khỏi chính trường bằng cách tước bỏ hết mọi quyền lực của ông mà đỉnh điểm là trong Tết Mậu Thân năm 1968, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã bị truất quyền chỉ huy quân đội”.

Hơn thế nữa, chúng còn cho rằng “Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh mất, không còn ai đứng ra bảo vệ Đại tướng Võ Nguyên Giáp nên đã bị Tổng Bí thư Lê Duẩn cấu kết với Lê Đức Thọ và một số thành viên khác trong Đảng hạ bệ Võ Nguyên Giáp và giáng Đại tướng xuống làm Trưởng ban Kế hoạch hóa gia đình để làm nhục ông trước đồng bào quốc dân và nhân dân các nước trên thế giới đã từng kính trọng Đại tướng Võ Nguyên Giáp”.

Vậy trong thực tế, có thật là Tổng Bí thư Lê Duẩn làm như thế hay không và vì sao lại có nhiều lời đồn đoán, bài viết phản ánh không đúng sự thật xung quanh vấn đề này. Điều này hiện chúng ta có đủ luận cứ khách quan, bằng chứng đanh thép để khẳng định và phản bác rằng điều đó là không, không hề có thật.

Trước hết nói về cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, với 79 năm tuổi đời, 56 năm tuổi Đảng và gần 60 năm hoạt động cách mạng sôi nổi, đồng chí Lê Duẩn đã có nhiều đóng góp to lớn đối với cách mạng Việt Nam, thể hiện ở những quyết sách mang tính đột phá và tầm nhìn xa trong tư duy lãnh đạo của mình; là một trong những “Kiến trúc sư” hàng đầu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ với việc vạch ra chiến lược cách mạng ở miền Nam Việt Nam bằng bản “Đề cương cách mạng miền Nam”. Tên tuổi và sự nghiệp của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX được thể hiện rất rõ nét đó là khi ông mất, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc khi đó đã có bức điện chia buồn “... Ngài Tổng Bí thư Lê Duẩn, người đã giữ một vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử của Việt Nam...”. (Điện của Tổng Thư ký liên hiệp quốc Javier Pérez de Cuéllar).

Còn nói về mối quan hệ của Tổng Bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì chính Đại tướng đã viết rằng “Với tôi, những năm công tác trong Bộ Chính trị, Anh đã thường xuyên trao đổi ý kiến, thường là nhanh chóng đi đến nhất trí trong những vấn đề lớn; khi có ý kiến khác nhau thì tranh luận thẳng thắn, những điều chưa nhất trí thì chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Lúc mới ra Bắc, Anh thường tâm sự với tôi những khó khăn trong công việc... Từ sau Đại hội III và Đại hội IV, tôi đã ba lần đề nghị Anh là Tổng Bí thư kiêm luôn Bí thư Quân ủy Trung ương, nhưng Anh nói “Anh là Tổng chỉ huy lâu năm nên tiếp tục làm Bí thư Quân ủy Trung ương, như vậy có lợi cho lãnh đạo”.

Điều này có thể thấy mối quan hệ giữa Tổng Bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cả hai đối xử với nhau trên tinh thần đồng chí cao, cả hai người đều là những người học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên các cương vị công tác khác nhau họ đã đoàn kết cùng nhau dẫn dắt dân tộc đến bến bờ vinh quang, thống nhất nước nhà và thực hiện thắng lợi mong muốn của Bác Hồ vĩ đại. Tên tuổi của họ trong lòng mỗi người dân Việt Nam mãi là hai tượng đài vĩ đại bất tử vì những cống hiến vô cùng to lớn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân ta… Vậy thì các thành phần xét lại lịch sử muốn mang họ ra so sánh với nhau theo hướng hạ bệ thần tượng với mục đích gì?

Đó là một chuỗi mục đích của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, trò dối trá của các thế lực thù địch và bọn phản động đang muốn đánh vào tư tưởng của số đông quần chúng. Đặc biệt là đánh vào nhận thức chưa thật sự đầy đủ, vững vàng của một bộ phận nhân dân bằng thủ đoạn ca ngợi người nọ để bôi xấu người kia hoặc vừa ca ngợi nhưng đồng thời lồng ghép một cách tinh vi các thông tin sai lệch nhằm chuyển hoá nhận thức của các đối tượng tác động từ tôn kình dần chuyển sang nghi ngờ, rồi sụp đổ niềm tin không chỉ với cá nhân lãnh tụ mà cả với chế độ và lịch sử quốc gia dân tộc.

Trong quá trình đó, chí ít chúng cũng tạo được hiệu ứng nhiễu loạn thông tin, phục vụ cho mục đích của các nhóm lợi ích và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng bằng cách làm xáo trộn lòng tin của quân đội vào Đảng, gây nghi ngờ trong nhân dân… Thực chất đây là kế ly gián của kẻ thù, chúng dùng mưu hèn, kế bẩn nhằm mục đích xấu xa là muốn hạ thấp vai trò trò lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp của Đảng đối với quân đội, phục vụ cho mưu đồ phi chính trị hóa quân đội.

Như chúng ta biết cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng Bí thư Lê Duẩn là hai nhân cách lớn đã được những người Việt Nam chân chính ghi nhận và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới công nhận điều đó. Thế nhưng các thế lực thù địch và bọn phản động vẫn cố tình xuyên tạc, luôn tìm đủ mọi cách bôi xấu nhân cách của các vị lãnh đạo tiền bối bằng cách dùng uy tín tuyệt đối của người này để bôi xấu, xuyên tạc và hạ bệ người kia; thủ đoạn không mới nhưng vô cùng thâm hiểm, cần phải hết sức cảnh giác đề phòng.

Trong thực tế, ở một mức độ nào đó vẫn có nhiều người đã nhầm tưởng, dẫn đến các thế lực thù địch và bọn phản động ngộ nhận về sự thành công của chúng. Nhưng không và không bao giờ, không gì có thể làm lay chuyển được nhân cách, uy tín của Tổng Bí thư Lê Duẩn và công lao trời bể của Người đối với sự nghiệp thống nhất đất nước cũng như không bao giờ thực hiện được ý đồ lợi dụng thanh thế của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để bịa đặt ra những việc không có thật mà cả đời Đại tướng vô cùng căm ghét và khinh bỉ.

Trong tình hình hiện nay, là thế hệ những cán bộ, đảng viên lớn lên sau ngày hòa bình phải luôn khắc cốt, ghi tâm công lao trời bể của các vị lão thành cách mạng tiền bối; đội ngũ giảng viên trẻ của Học viện Lục quân đảm trách sự nghiệp trồng người trong điều kiện mới cần phải nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn và các hoạt động chống phá của kẻ thù. Đồng thời, hết sức cảnh giác đề phòng và kiên quyết phản bác lại những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, trực tiếp làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của địch trước thềm Đại hội lần thứ XIV của Đảng; góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

Đại thắng mùa Xuân 30/4/1975 là một trong những mốc son chói lọi nhất của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

 

Cứ mỗi năm, đến ngày 30/4 cả dân tộc Việt Nam được sống lại trong không khí hân hoan, phấn khởi của ngày chiến thắng lịch sử. Trang sử chói lọi đó đã và đang được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta biến thành khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh. Thế nhưng, các thế lực thù địch lại dựng lên các luận điệu sai trái nhằm phủ nhận, xuyên tạc giá trị và ý nghĩa sự kiện 30/4/1975.

Khẳng định những giá trị sâu sắc của chiến thắng 30/4/1975, các thế hệ người Việt Nam càng cảm nhận sâu sắc và biết ơn sự mất mát, hy sinh to lớn của những chiến sĩ cách mạng đã dành trọn cả thanh xuân, cả cuộc đời để phụng sự đất nước không gì bù đắp được. Hơn 3 triệu đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống; hàng ngàn làng mạc, thành phố bị san phẳng; đến nay vẫn còn hàng vạn người dân Việt bị di chứng của chất độc diôxin, phải gánh chịu hậu quả nặng nề đầy thương tâm. Song, với cuộc chiến tranh này chính sự anh dũng, gan dạ, kiên cường, bất khuất của quân và dân Việt Nam, chiến thắng đã thuộc về dân tộc Việt Nam. Đánh giá về tầm vóc và ý nghĩa sự kiện lịch sử trọng đại này, Đại hội lần thứ IV của Đảng đã nhận định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã khẳng định sức mạnh của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam. Nhớ đến Đại thắng mùa Xuân 1975, chúng ta không thể nào quên những năm tháng kháng chiến đầy gian khổ “nằm gai, nếm mật” nhưng đầy hào hùng của dân tộc. Đây là một cuộc chiến đấu giành lấy những điều cao quý là độc lập, tự do, hạnh phúc, chứ không phải là cuộc chiến đấu vô nghĩa và những người con anh hùng của dân tộc đã nguyện hy sinh tất cả để cho “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, tạo thành nguồn sức mạnh cho cả dân tộc có thêm bản lĩnh, niềm tin để vượt lên mọi khó khăn, xây dựng và phát triển đất nước hùng cường. Khát vọng đó của dân tộc rất thiêng liêng và mãnh liệt mà không thế lực nào có thể ngăn cản nổi.

Chiến thắng 30/4/1975 là mốc son chói lọi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, cả thế giới ngưỡng mộ và tôn vinh. Mọi sự chống phá, xuyên tạc của kẻ thù, của các phần tử cơ hội chính trị đều không làm phai nhạt giá trị, ý nghĩa sự kiện 30/4/1975. Thế nhưng, vào dịp chúng ta kỷ niệm ngày 30/4 cũng là dịp các tổ chức phản động, các phần tử cực đoan chính trị lại luôn rêu rao những luận điệu xuyên tạc để tạo các luồng thông tin ngược dòng lịch sử, phủ nhận chiến thắng vĩ đại 30/4, xuyên tạc thành tựu của đất nước trong công cuộc xây dựng, đổi mới. Chúng lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ và mạng lưới Internet, các thế lực thù địch ngày đêm điên cuồng đăng tải các bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc trên các trang mạng xã hội như Việt Tân, Nhật ký yêu nước, RFA Việt ngữ… Tổ chức phản động Việt Tân còn chỉ đạo các “chân rết” cùng các phần tử chống phá trong nước tập trung vào một bộ phận cộng đồng dân cư mạng còn hạn chế về nhận thức hoặc những người có tư tưởng bất mãn để lôi kéo, tạo luồng dư luận “xấu”, “độc”, tạo các commet ảo trên không gian mạng, tổ chức livestream để phủ nhận thành quả của cuộc kháng chiến trường kỳ của quân và dân cả nước.

Mọi hành động và âm mưu xảo quyệt nhằm xuyên tạc, bóp méo sự thật của chúng ngày càng khẳng định rõ bản chất ngông cuồng, xảo trá và thù hận, đi ngược lại với tinh thần chính nghĩa của Nhân dân ta. Nguy hại hơn là các thế lực thù địch đẩy mạnh tấn công tư tưởng vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên nhằm thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ cố tình xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta là “hoàn toàn vô nghĩa, lẽ ra dân tộc Việt Nam đã có thể tránh được cuộc chiến tranh này”, cuộc “nội chiến”, “huynh đệ tương tàn” giữa hai miền Nam - Bắc, “không có kẻ thua, người thắng, chỉ Nhân dân là chịu thiệt thòi”, cuộc chiến tranh Việt Nam là “không cần thiết” và hoàn toàn “có thể tránh khỏi”… Hoặc gần đây, trên một số trang mạng, website, blog cá nhân như: Việt Tân, BBC News Tiếng Việt, RFAVietnam, Chân trời mới Media, tiengdanbao... các phần tử cơ hội, chính trị phát tán nhiều tin, bài xuyên tạc lịch sử. Họ còn có luận điệu sai lệch, đòi “định danh lại ngày 30/4 cho phù hợp”, vì không chấp nhận 30/4 là ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; còn đưa tin “không nên gọi ngày 30/4 là ngày giải phóng”; xuyên tạc “người Việt trẻ gọi 30/4 là một biến cố buồn”; nếu không có ngày 30/4/1975 thì miền Nam Việt Nam ngày nay phát triển không kém gì Hàn Quốc, vượt xa Thái Lan… Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, bịa đặt, đã phủ nhận sự thật lịch sử một cách trắng trợn và lố bịch của các thế lực thù địch chống đối Đảng, Nhà nước ta.

Phát huy mạnh mẽ tinh thần và khí thế hào hùng của Đại thắng mùa Xuân 1975 vào công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, chúng ta mãi tự hào và biết ơn sự hy sinh to lớn của các anh hùng, các thế hệ cha ông ta đã chiến đấu anh dũng vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Chúng ta càng tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào tinh thần quật cường bất khuất và trí thông minh, sáng tạo của Nhân dân ta. Mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên và các tầng lớp Nhân dân tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân, quyết tâm chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; kiên quyết, chủ động tuyên truyền, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, phản động của các thế lực thù địch, kịp thời ngăn chặn, uốn nắn những nhận thức, quan điểm lệch lạc trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên, góp phần làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

Cần lên án những luận điệu xuyên tạc về Ngày Giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước 30/4/1975

 

Năm nào cũng vậy, cứ vào dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30/4, các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ chiến thắng vĩ đại này của dân tộc Việt Nam. Nhưng lịch sử chỉ có một, sự thật không thể thay đổi, ý nghĩa của Chiến thắng 30/4/1975 không vì những lời bóp méo ấy mà bị phủ nhận.

Những ngày này, trên một số website, blog, tài khoản mạng xã hội cá nhân, những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị lại điên cuồng bày ra các chiêu trò để bóp méo giá trị, ý nghĩa lịch sử của chiến thắng 30/4/1975. Chúng ra sức nhào nặn những clip xưa cũ, cắt gọt sự thật để cố tạo ra những bài viết dối trá tung lên mạng xã hội. Chúng còn trắng trợn xuyên tạc “Chiến thắng Mùa Xuân năm 1975” thành “cuộc chiến tranh xâm lược của miền Bắc với miền Nam”, láo xược đòi đổi ngày chiến thắng, ngày thống nhất đất nước là “ngày quốc hận”; cho rằng tháng 4 lịch sử là “tháng tư đen”… Năm nay, do sự bùng phát của dịch COVID-19 trên toàn thế giới, chúng không có cơ hội thực hiện những chiêu trò kích động biểu tình trên đường phố, thì chúng ra sức kêu gọi chống phá, thậm chí còn lên kế hoạch tổ chức buổi hội luận trực tiếp trên mạng xã hội. Tất cả những “mưu hèn, kế bẩn” của chúng chỉ nhắm tới mục đích cuối cùng là kích động nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá thành quả cách mạng mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đạt được.

Lịch sử là thước đo của chân lý và bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đã được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, vậy mà vẫn còn có những luận điệu lạc lõng vẫn đang cố tình phủ nhận đi giá trị của lịch sử với động cơ, mục đích đen tối, định kiến thù địch. Tìm cách đổi trắng thay đen giữa kẻ đi xâm lược đã từng gây tội án cho dân tộc với những người đã không tiếc máu xương hy sinh vì hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

Khẳng định giá trị, ý nghĩa và tầm vóc lịch sử của Chiến thắng 30/4/1975, chúng ta phải giữ vững lập trường tư tưởng, luôn tỉnh táo sàng lọc thông tin để không mắc bẫy theo những xúi giục, kích động của các phần tử xấu; đồng thời chúng ta cũng cần đấu tranh phê phán, bác bỏ mọi luận điệu lệch lạc, xuyên tạc sự thật lịch sử của các thế lực thù địch.

 

Chống âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội - Yêu cầu cơ bản của cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng hiện nay

 

Âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội được các thế lực thù địch thực hiện hòng làm cho Quân đội ta đứng ngoài chính trị, mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu. Quân đội ta là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là nguyên tắc căn bản trong xây dựng quân đội, quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta.

"Phi chính trị hóa" quân đội là từ bỏ nguyên tắc đó, Quân đội ta sẽ không còn là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, không còn là quân đội của dân, do dân, vì dân. Vì thế, đấu tranh chống âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội là một nội dung, nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của cuộc đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" mà các thế lực thù địch đang tiến hành chống phá cách mạng Việt Nam. Đây vừa là yêu cầu cấp bách của cuộc đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng hiện nay, vừa là yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Quân đội ta về chính trị trong giai đoạn cách mạng mới.

Hiện nay thực hiện âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội ta, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền cái gọi là "quân đội đứng ngoài chính trị", "quân đội phi giai cấp", hay quân đội "không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào… trên không gian mạng. Các luận điệu phản động đó, cùng với những diễn biến phức tạp của tình hình chính trị, quân sự trên thế giới, nhất là xung đột quân sự giữa Nga và Ukraina, những tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tư tưởng, tâm lý, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ quân đội ta.

Âm mưu "phi chính trị hóa" Quân đội ta của các thế lực thù địch thật sự nguy hiểm, dễ gây nên sự xao xuyến, dao động nhất định về tư tưởng trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, có thể làm cho một bộ phận quân nhân hoài nghi, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, dễ dẫn đến những biểu hiện xem nhẹ sự lãnh đạo của Đảng, nhất là đối với các tổ chức đảng ở cơ sở.

Trong tình hình đó, vấn đề giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; nâng cao bản chất giai cấp công nhân, kiên định mục tiêu lý tưởng chiến đấu cho quân đội; xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần, giữ vững và phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới, đứng trước những thách thức mới, đòi hỏi chúng ta phải chủ động tiến công, triển khai có hiệu quả cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình", âm mưu bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, làm thất bại âm mưu "phi chính trị hóa" Quân đội ta của chúng.

Thứ nhất, phải làm rõ tính chất phản động và phản khoa học của cái gọi là "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực thù địch

Lịch sử ra đời và phát triển của các kiểu quân đội trên thế giới đã chứng tỏ rằng, quân đội là sản phẩm và là yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, bao giờ cũng do một giai cấp, một nhà nước tổ chức ra. Do đó, bản chất giai cấp của quân đội là mang bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức ra nó. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội là phục vụ cho giai cấp và nhà nước đã tổ chức ra nó. Quân đội của nhà nước tư sản mang bản chất của giai cấp tư sản, giai cấp bóc lột, phục vụ cho đường lối đối nội, đối ngoại của nhà nước tư sản.

Do đó, luận điệu cho rằng, quân đội "đứng ngoài chính trị", quân đội "phi giai cấp" là luận điệu vô căn cứ, phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn, để đánh lừa người khác mà thôi. Nhưng điều nguy hiểm hiện nay là nó lại được tuyên truyền khéo léo làm ra vẻ khách quan, nào là quân đội chỉ là của quốc gia, dân tộc, chỉ phục vụ cho quốc gia, nào là quân đội cần phải đứng "trung lập", "khách quan" trong các cuộc đấu tranh trong nội bộ quốc gia, không chịu sự lãnh đạo của giai cấp nào, của lực lượng chính trị nào. Trong điều kiện mới của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, của kinh tế tri thức, với tư tưởng "kỹ trị" đề cao, tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố khoa học kỹ thuật, xem nhẹ nhân tố chính trị, tinh thần của các học giả tư sản làm cho các quan điểm phản động trên càng có điều kiện thẩm thấu vào tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Sự phản động về khoa học và chính trị ấy cũng như tính nguy hiểm của nó cần phải bị kiên quyết đấu tranh, vạch rõ. Cần làm cho nhân dân và quân đội ta, mọi cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ mục đích chính trị thực sự của âm mưu "phi chính trị hóa" Quân đội ta của các thế lực thù địch là nhằm lái chính trị của Quân đội ta theo chiều hướng chính trị khác, chính trị tư sản chứ không thể có và không bao giờ có thứ quân đội "phi giai cấp", "phi chính trị". Trên cơ sở đó, củng cố tư tưởng, niềm tin và ý chí quyết tâm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong cuộc đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" nói chung, chống âm mưu "phi chính trị hóa" Quân đội ta nói riêng; nâng cao ý thức trách nhiệm cho họ đối với sự nghiệp xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, tăng cường tiềm lực chính trị, tinh thần nâng cao năng lực đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ quân đội

Muốn vô hiệu hóa và làm thất bại âm mưu "phi chính trị hóa" Quân đội ta của các thế lực thù địch thì vấn đề cơ bản, có tầm quan trọng đặc biệt là tự chúng ta phải vững vàng về chính trị. Âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội chỉ có thể bị vô hiệu hóa khi chính Quân đội ta, bản thân mỗi quân nhân phải thực sự vững mạnh về chính trị. Theo đó, vấn đề tăng cường tiềm lực chính trị, tinh thần cho quân đội, tạo ra sự "đề kháng, miễn dịch" cao cho mọi quân nhân là đòi hỏi bức thiết của tình hình hiện nay. Ở đây, việc giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ của quân đội…, là yêu cầu cơ bản, thường xuyên trong việc xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần của quân đội.

Phải không ngừng bồi dưỡng, nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu là độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội cho quân đội, nhất là đối với số chiến sĩ mới, đối với chiến sĩ con em các dân tộc tiểu số, tôn giáo, đối với các chiến sĩ hoạt động trên các lĩnh vực kỹ thuật công nghệ cao. Đồng thời, nâng cao năng lực đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Quân đội không những phải vững mạnh về chính trị, mà còn phải thực sự tinh nhuệ về chính trị; thực sự là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, là lực lượng chính trị tin cậy bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân. Yêu cầu của sự tinh nhuệ về chính trị không chỉ ở sự vững vàng, lòng trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, mà còn ở khả năng làm tròn phận sự trung tâm ấy, kịp thời xử lý những tình huống phức tạp có thể xảy ra; đề phòng nguy cơ "tự diễn biến" từ trong nội bộ, "chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Thứ ba, đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh phương hướng xây dựng Quân đội ta trong tình hình mới: "Xây dựng Quân đội nhân dân… cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội… tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ… tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống". Đó là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị, đòi hỏi phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ và toàn diện. Đây là phương hướng cơ bản trong việc xây dựng quân đội ta. Yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới, đòi hỏi Quân đội ta vừa phải có đủ sức mạnh để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển đất nước; vừa phải có đủ khả năng và trình độ làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thủ địch, ngăn chặn, đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh và sẵn sàng đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược với mọi quy mô và trình độ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, quân đội phải có đủ khả năng và tham gia có hiệu quả trong hợp tác quân sự, quốc phòng, đối ngoại quốc phòng và đấu tranh quốc phòng trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, góp phần gia tăng sức mạnh và điều kiện để xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đây là những vấn đề rất cơ bản mà nhiệm vụ xây dựng quân đội trong tình hình mới phải hướng tới và đáp ứng.

Điều cốt lõi nhất, cơ bản nhất của phương hướng này là vấn đề bản chất giai cấp, bản chất chính trị của quân đội. Trước sự chống phá của các thế lực thù địch, trước âm mưu "phi chính trị hóa" Quân đội ta của chúng thì vấn đề xây dựng bản chất giai cấp công nhân, bản chất chính trị cho Quân đội ta càng trở nên quan trọng. Vì vậy, xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở để xây dựng các nhân tố khác, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội là đòi hỏi bức thiết của việc thực hiện phương hướng trên. Cho nên, yêu cầu đặt ra trong xây dựng quân đội trước hết là cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại về chính trị.

Theo đó, những vấn đề: bản chất giai cấp công nhân của quân đội, bản lĩnh chính trị vững vàng; sự trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; sự tinh nhuệ về chính trị... là những vấn đề cốt lõi của việc xây dựng quân đội nhằm làm thất bại âm mưu "phi chính trị hóa" Quân đội ta của các thế lực thù địch. Để xây dựng những vấn đề cốt lõi ấy thì điều trước hết và quyết định nhất là phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: "Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng - an ninh".

Để có thể giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, vấn đề cơ bản đầu tiên Đảng phải tự đổi mới nâng cao năng lực lãnh đạo ngang tầm với nhiệm vụ, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, lãnh đạo quân đội; đồng thời, Đảng phải thường xuyên đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo phù hợp với thời kỳ mới. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: "tăng cường công tác xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước".

Các nội dung trên là những vấn đề cơ bản, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ, có hiệu quả thì mới có thể làm thất bại mưu đồ chống phá Quân đội ta của các thế lực thù địch. Sự chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, âm mưu "phi chính trị hóa" Quân đội ta của chúng có bị thất bại, bị vô hiệu hóa hay không, thì điều quyết định phụ thuộc vào sự vững mạnh và tích cực đấu tranh của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Do đó, hơn lúc nào hết, cần phải kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm mơ hồ, sai trái và những luận điệu phản động, thù địch, phải đặt đúng mức việc đổi mới nội dung, phương pháp công tác tư tưởng, lý luận trong trong tình hình mới./.

 

Cách mạng tháng Tám - Cuộc cách mạng của lòng dân

 

Sức mạnh của lòng dân và tinh thần đoàn kết đã làm nên thắng lợi vĩ đại Cách mạng tháng Tám và tiếp tục đưa Việt Nam vượt qua khó khăn, lập nhiều kỳ tích mới trong công cuộc phát triển và dựng xây đất nước.

Cách đây 80 năm, Cách mạng Tháng Tám thành công, đánh dấu sự thành công của cách mạng Việt Nam, đưa đất nước thoát khỏi sự áp bức bóc lột gần 100 năm của thực dân Pháp, xóa bỏ hoàn toàn chế độ phong kiến, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Những ngày mùa Thu tháng Tám lịch sử ấy, từ Khu giải phóng Tân Trào, lệnh Tổng Khởi nghĩa đã được truyền đi khắp cả nước. Hơn 20 triệu người dân Việt Nam đã đồng lòng đứng lên, làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám, giành chính quyền về tay nhân dân. Đây có thể nói là một cuộc tập hợp lực lượng khổng lồ mà truớc đó chưa từng có ở Đông Dương.

Hội nghị toàn quốc của Đảng ta được triệu tập tại Tân Trào, Tuyên Quang vào ngày 13 tháng 8 năm 1945 đã khẳng định những điều kiện tiến hành Tổng khởi nghĩa đã đầy đủ và thời cơ cách mạng đã tới. Hội nghị cũng xác định 3 nguyên tắc chỉ đạo tổng khởi nghĩa là “tập trung, thống nhất và kịp thời”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu nhân dân ta từ Bắc đến Nam đã tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa.

Ngay sau khi thành lập năm 1930, Đảng ta xác định: muốn tiến hành cuộc cách mạng thì cần phải có lực lượng. Do vậy, việc xây dựng lực lượng được xác định trên 2 mặt là chuẩn bị lực lượng chính trị quần chúng và xây dựng lực lượng vũ trang, với phương pháp cách mạng sử dụng đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh bạo lực cộng với nghệ thuật khởi nghĩa từng phần, tiến tới tổng khởi nghĩa.

Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo, chuyên gia cao cấp Hội đồng lý luận Trung ương, khi đó, Đảng ta mới chỉ 15 tuổi, với số lượng ít ỏi gần 5 nghìn Đảng viên nhưng công tác dân vận, tuyên truyền của Đảng đã thành công, đã thức tỉnh được sức mạnh trong nhân dân, đưa lý tưởng giải phóng dân tộc giác ngộ nhân dân.

“Cuộc cách mạng tháng Tám ở nước ta năm 1945 là một minh chứng điển hình cho sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy được lòng yêu nước đó là một giá trị truyền thống rất quan trọng làm nên sức mạnh của cả dân tộc. Cuộc cách mạng ấy, lại khai sinh ra được một chính thể hoàn toàn thể hiện quyền lực của nhân dân sau ngót 1 thế kỷ bị nô lệ áp bức và cũng là hàng ngàn năm trong chế độ quân chủ phong kiến đã lỗi thời”, GS.TS Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh.

Cùng với đoàn kết nội bộ, Đảng ta không ngừng xây dựng, củng cố khối liên minh công-nông và coi trọng việc đoàn kết, tập hợp các lực lượng khác như thanh niên, phụ nữ, học sinh, trí thức, tiểu thương, tư sản, địa chủ…

Từ Tân Trào, lệnh Tổng khởi nghĩa được phát đi và được toàn thể nhân dân đồng tình hưởng ứng. Sáng ngày 19/8, hàng chục vạn nhân dân tiến về Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội. Cuộc mít tinh trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm Phủ Khâm sai Bắc Kỳ, trại lính bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn, đánh dấu mốc son lịch sử của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám.

Thiếu tướng, PGS.TS Vũ Quang Đạo, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam khẳng định, trực tiếp dẫn đến cách mạng Tháng Tám là ở Tân Trào. Bởi vì đó là nơi lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, Thường vụ Trung ương đã quyết định và đã triệu tập Quốc dân Đại hội Tân trào. “Chính Quốc dân Đại hội Tân Trào lúc đó, mặc dù chưa có điều kiện tập hợp hết tất cả các đại diện tầng lớp dân chúng, nhưng cơ bản đã đại diện cho Nhân dân Việt Nam những người yêu nước cách mạng để quyết định vấn đề hệ trọng nhất đối với cả đất nước. Đó là phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Đó là quyết định lịch sử”.

Việc xây dựng lực lượng được thực hiện trong 15 năm từ 1930 đến 1945. Trong mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau, lực lượng cách mạng lại phát triển, được rèn luyện qua các phong trào như phong trào 1930-1931, phong trào dân chủ 1936-1939…Đồng thời, việc xây dựng lực lượng được xác định trên cơ sở tập hợp sức mạnh tổng hợp không phân biệt giai cấp, thành phần, tôn giáo từ nông dân, công nhân đến trí thức, trong một tổ chức thống nhất là Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng Minh hay có tên gọi tắt là Mặt trận Việt Minh là một quyết định quan trọng và chính xác.

Theo PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, sự ra đời, phát triển của mặt trận Việt Minh đánh dấu một bước ngoặt sáng tạo trong đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, phát huy cao độ nguồn sức mạnh nội lực của toàn dân tộc cho một cuộc vùng lên vĩ đại. “Thành công của Cách mạng Tháng Tám là sự tổng hòa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân mà yếu tố hàng đầu là yếu tố lãnh đạo. Quyết sách ấy là trên cơ sở của sự phát triển đường lối giải phóng dân tộc, đồng thời dựa trên những phân tích tình hình cách mạng thực tiễn ở Việt Nam, Đông Dương và thế giới. Quyết định của Đảng là phải khởi nghĩa ngay. Thứ 2 là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, trong đó linh hồn là Mặt trận Việt Minh. Thứ 3 là Đảng và Bác đã xử trí rất tài tình nhân tố thời cơ và nguy cơ”.

Ngày 2/9/1945, trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, cả dân tộc bước vào thời kỳ “kháng chiến kiến quốc.” Đây là thời kỳ vô cùng khó khăn khi ta phải đương đầu với cả giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm…

Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn. Với tư cách là người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tiếp tục giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc. Quốc hội ra đời với các đại biểu đến từ tất cả các giai tầng trong xã hội, từ công nhân, nông dân, tiểu tư sản, người dân tộc thiểu số thuộc mọi ngành, lĩnh vực văn hóa, tôn giáo…

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc cho rằng: Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã để lại nhiều bài học quý báu cho Đảng và nhân dân ta trong tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, đặc biệt là bài học về xây dựng đường lối chính trị và công tác tư tưởng tạo sự gắn kết, đoàn kết giữa các tầng lớp trong xã hội. “Có thể nói công tác tư tưởng của Đảng trong cao trào giải phóng dân tộc rất thành công, trước hết là khơi gợi tinh thần yêu nước mạnh mẽ, nêu cao ngọn cờ dân tộc, cho nên ở những thời điểm lịch sử quan trọng công tác tư tưởng càng phải được chú trọng. Bài học từ Cách mạng Tháng Tám cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị”, PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc nhấn mạnh.

80 năm trôi qua, Cách mạng Tháng Tám - Cuộc cách mạng của lòng dân đã cho thấy bài học đoàn kết, lấy dân làm gốc có ý nghĩa sâu sắc, bởi gốc có vững, cây mới bền.

 

Chiến thắng Ngày 30/4/1975 mốc son lịch sử chói lọi trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc ta

 

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giành thắng lợi hoàn toàn. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Trải qua 50 năm kể từ sau Chiến thắng 30/04/1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn thể dân tộc Việt Nam đã đồng lòng, chung sức, phát huy trí tuệ, tập trung mọi nguồn lực để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, kinh tế - xã hội; vị thế, uy tín của đất nước ngày càng được khẳng định, tỏa sáng trên trường quốc tế. Đây cũng là dịp để mỗi người dân hồi tưởng về chiến công oanh liệt của các thế hệ cha, anh đã cống hiến, hy sinh trong gian khổ, máu và nước mắt; là thành quả vĩ đại của đất nước trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là niềm tự hào để giáo dục thế hệ trẻ hôm nay xây đắp niềm tin về truyền thống hào hùng của dân tộc.

Trở lại thời khắc lịch sử cuối năm 1974 đầu năm 1975, Đảng ta nhận thấy tình hình so sánh tương quan lực lượng ở chiến trường miền Nam có sự thay đổi nhanh, tạo ra thuận lợi cho cách mạng. Trung ương Đảng mà trực tiếp là Bộ Chính trị đã đề ra kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước trong hai năm 1975 và 1976. Trong đó nhấn mạnh “cả năm 1975 là thời cơ”, “nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975”; tranh thủ thời cơ đánh thắng nhanh để đỡ thiệt hại về người và của cho nhân dân, giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn hóa, giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh.

Ngay sau thắng lợi từ Chiến dịch Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng. Bộ Chính trị nhận định: “thời cơ chiến lược đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam” và đã đưa ra quyết định: “phải tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí kỹ thuật và vật chất giải phóng miền Nam trước mùa mưa”, đồng thời chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định được Bộ Chính trị quyết định mang tên “chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Để giành thắng lợi, ta đã tiến công giải phóng Xuân Lộc, thị xã Phan Rang…, đây là những căn cứ phòng thủ trọng yếu của ngụy quân từ phía Đông; 17 giờ 00 ngày 26/4/1975, ta đã nổ súng mở đầu chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Năm cánh quân vượt qua tuyến phòng thủ của địch để tiến vào trung tâm Sài Gòn, đánh chiếm các cơ quan đầu não của ngụy quân, ngụy quyền, đến 10 giờ 45 phút ngày 30/4/1975, bộ đội ta tiến vào Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ Nội các của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn. Dương Văn Minh đã phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mãi mãi được ghi vào lịch sử vinh quang, hào hùng của Dân tộc Việt Nam, thể hiện sức mạnh của khát vọng “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó là sức mạnh bắt nguồn từ truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự ủng hộ, giúp đỡ chí nghĩa, chí tình, hiệu quả của các nước anh em bầu bạn trên thế giới. Thực hiện ước mơ, nguyện vọng thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Tự hào về ngày Chiến thắng 30/4/1975, mỗi cán bộ, giảng viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện Quốc phòng hôm nay luôn ghi nhớ và biết ơn sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sỹ, các thế hệ cha ông ta đã chiến đấu anh dũng vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Nguyện phấn đấu thi đua dạy tốt, học tốt; hoàn thành mọi chức trách, nhiệm vụ trên từng cương vị công tác, góp phần xây dựng Học viện chính quy, tiên tiến, mẫu mực, xứng đáng là trung tâm giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học quân sự hàng đầu của Quân đội và đất nước, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.