Thứ Năm, 6 tháng 2, 2025

Cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận sự kiện lịch sử 30/4/1975

 

        Thời gian qua, lợi dụng cuộc xung đột Nga - Ukraine và quan điểm ngoại giao của Việt Nam tại Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc về tình hình Ukraine, một số tổ chức, cá nhân chống đối và thiếu thiện cảm với Việt Nam liên tục đưa ra những luận điệu sai trái nhằm suy diễn, xuyên tạc để bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước; những luận điệu lập lờ, nghi vấn mang tính quy chụp, bôi nhọ, hạ uy tín Việt Nam trong quan hệ đối ngoại.

Bên cạnh đó, như một quy luật, trong những ngày tháng 4 lịch sử hào hùng, hướng đến kỷ niệm 47 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2022), các đối tượng xấu, chống đối vẫn không quên đào xới quá khứ, xuyên tạc bản chất, tính chất chính nghĩa cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta. Phải kể đến là những trang mạng xã hội như Việt Tân, Đài Á Châu tự do…. với các bài viết dù mới về cách đặt tiêu đề nhưng vẫn “nhai đi, nhai lại” những nội dung xuyên tạc lạc lõng, cũ rích nhằm phủ nhận ý nghĩa “giải phóng đất nước”, phủ nhận giá trị, ý nghĩa sự kiện 30/4 trong bối cảnh xã hội hiện nay; xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lực lượng quân giải phóng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hay hoài niệm về “huy hoàng giả tạo” trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa nhằm phủ nhận chiến thắng, bi kịch hóa số phận một nhóm người bị mất trắng mọi quyền lợi sau 30/4 để đổ vây tội ác cho cộng sản như: “Giải phóng: Hai từ ám ảnh người dân miền Nam suốt 47 năm qua”; “Gần đến 30/4 nhớ lại hình ảnh các chú bộ đội giải phóng miền Nam trước 1975 và sau 1975, hình ảnh in sâu vào ký ức không bao giờ quên”; “Chuyện hai thành phố ai giải phóng ai”…

Phải khẳng định rằng, chiến thắng 30/4/1975 là một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và các thế lực phản động, tay sai. Để đi đến thắng lợi cuối cùng, dân tộc ta đã phải trải qua biết bao khó khăn, gian khổ, mất mát và hy sinh, đồng thời cũng đã lập nên biết bao thành tựu trong sự nghiệp dựng xây, phát triển đất nước. Với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, biết bao anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống cho hòa bình, độc lập; biết bao máu xương, nước mắt của thế hệ cha anh đã rơi nơi đầu tuyến lửa và trong lòng đất mẹ sâu thẳm còn nhiều lắm những hài cốt vẫn nằm đâu đó chưa được tìm thấy, nhiều lắm những “vết thương chiến tranh” còn hằn lại trong mỗi người lính trở về sau cuộc chiến.

Chúng ta đang được sống trong không khí đầy tự hào của những ngày tháng tư lịch sử. Cách đây 47 năm, vào 11h30 phút ngày 30/4/1975 lá cờ độc lập của Quân giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của Đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam Việt Nam, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, Bắc - Nam sum họp một nhà, non sông quy về một mối. Nhìn lại những mốc son chói lọi đã qua, chúng ta càng thêm tự hào và hãnh diện về truyền thống vẻ vang của dân tộc và chắc chắn rằng không có một luận điệu xuyên tạc nào có thể phủ nhận chiến thắng 30/4 là chiến thắng của chính nghĩa và sức mạnh của sự đoàn kết dân tộc; là thắng lợi trọn vẹn nhất, vững chắc nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, của độc lập, tự do đi lên Chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam.

“Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” tại Cao Bằng - Ấm áp tình quân dân

 

1.     

          Chiều 31/12, tại Khu di tích Bác Hồ với Chiến thắng Biên giới 1950 (xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng), Đồn Biên phòng Đức Long, BĐBP tỉnh Cao Bằng phối hợp với UBND xã Đức long, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Huyện đoàn huyện Thạch An tổ chức Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” mừng Xuân Ất Tỵ 2025.

Tham dự chương trình có Đại tá Đặng Hồng Quân, Chính ủy BĐBP tỉnh Cao Bằng; đại diện lãnh đạo Huyện ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện Thạch An cùng đông đảo cán bộ, chiến sĩ và bà con nhân dân các dân tộc trên địa bàn xã Đức Long.

Với mong muốn chia sẻ khó khăn cùng đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới, góp phần giúp người dân đón một cái Tết đầy đủ và ấm tình quân dân, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã tặng quà tết cho 2 xóm Bản Pò và Bản Mới, xã Đức Long; tặng 5 phần quà trị giá 2,5 triệu đồng cho các hộ gia đình chính sách.

Ban tổ chức Chương trình trao tặng 15 phần quà trị giá 7,5 triệu đồng cho các hộ nghèo, gia đình chính sách, các cháu học sinh có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn xã Đức Long.

Dịp này, Hội phụ nữ BĐBĐ tỉnh cũng đã trao tặng áo ấm cho 2 cháu thuộc chương trình "Con nuôi đồn Biên phòng".

Trong không khí ngày xuân, nhiều hoạt động bổ ích, thiết thực được tổ chức cũng đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân và các đại biểu tham gia như: Thi gói bánh chưng, biểu diễn văn nghệ, kéo co, đẩy gậy, lày cỏ, cắt tóc miễn phí cho học sinh và nhân dân trên địa bàn. Với sự chuẩn bị chu đáo, Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” đã mang đến cho người dân địa phương tinh thần vui tươi, phấn khởi đón chào năm mới.

Thông qua các hoạt động nhằm phát huy truyền thống tương thân, tương ái nhằm hỗ trợ các hộ nghèo, gia đình chính sách đón một cái tết đầy đủ, vui tươi, đầm ấm. Đây cũng là dịp để quân và dân khu vực biên giới thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết, gắn bó.

Đại thắng mùa Xuân 1975 – Khải hoàn ca vang mãi

 

Chiến tranh đã lùi xa nhưng cứ mỗi độ tháng 4 về, triệu triệu con tim Việt Nam lại trào dâng cảm xúc đặc biệt về ký ức hào hùng và bi tráng của cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975, để rồi ngày 30/4/1975 đã mãi khắc sâu trong tâm khảm của qua bao thế hệ người Việt Nam yêu nước, ngày mà cả dân tộc vỡ ào trong niềm vui giải phóng, ngày mà tất cả chúng ta đón nhận niềm hân hoan bất tận khi nước nhà được độc lập, non sông thu về một dải, Bắc Nam sum họp một nhà. Hòa bình lập lại, toàn thể dân tộc ta như được hồi sinh, lịch sử dân tộc sang trang mới, mở ra kỷ nguyên của độc lập, tự do, thống nhất và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội…

Hồi tưởng lại thời khắc thiêng liêng ấy, mỗi chúng ta lại càng thấu hiểu sâu sắc hơn, trọn vẹn hơn giá trị và ý nghĩa to lớn của đại thắng mùa Xuân năm 1975 trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại thắng mùa Xuân 1975 – thắng lợi của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, khát vọng vươn tới độc lập, tự do và luôn đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Có sự thật dường như đã trở thành chân lý là đến trước thời điểm diễn ra cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975, trên thế giới, chưa có quốc gia nào từng phải gánh chịu nỗi đau và sự tàn phá khủng khiếp từ chiến tranh như Việt Nam. Một ngàn năm dân tộc ta chịu sự kìm kẹp của phong kiến phương Bắc, hơn một trăm năm cùng khổ dưới ách đô hộ của chế độ thực dân và hai mươi năm, nhân dân Việt Nam phải từng ngày chống chọi với cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Hơn ai hết, dân tộc Việt Nam thấu hiểu được sự lầm than, khốn cùng khi phải sống trong thân phận đọa đày, đau khổ, phải chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan, quê hương bị giày xéo, đất nước bị chia cắt bởi âm mưu xâm lược, thôn tính của kẻ thù. Thế nhưng, trải qua những khó khăn, nghịch cảnh, mất mát, hy sinh, hơn hết Nhân dân Việt Nam hiểu rõ được giá trị của hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước.

Cùng với sự phát triển của tình thế cách mạng dân tộc, khát vọng ấy ngày càng mãnh liệt hơn, tạo nên khí phách, bản lĩnh, trí tuệ và niềm tin son sắc vào ngày toàn thắng của cách mạng, khát vọng ấy đã trở thành mắc xích vô hình kết nối toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đoàn kết, đồng lòng tổng tiến công và nổi dậy tiến về Sài Gòn giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cũng từ đó, trong mỗi người dân Việt Nam đã sục sôi ý chí “quyết chiến, quyết thắng”, “thần tốc, táo bạo”, “không có gì quý hơn độc lập, tự do” với quyết tâm “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, khát vọng ấy đã hun đút lên ngọn lửa cách mạng chân chính “vì độc lập, vì tự do” “đánh cho Mỹ cút”, “đánh cho ngụy nhào”. Để rồi từ sức mạnh vô địch được kết tinh từ khát vọng ấy, quân và dân ta đã giành thắng lợi vang dội trên chiến trường, đập tan bộ máy cai trị của chính quyền Việt Nam cộng hòa trên toàn miền Nam, chính thức đặt dấu chấm hết cho cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Đại thắng mùa xuân năm 1975 – đỉnh cao của nghệ thuật lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh cách mạng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, trong đó, rõ nhất là với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhân tố ấy chính là: Sự kiên định, vận dụng đúng đắn, sáng tạo, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng; chủ trương, quyết sách đúng đắn, kịp thời trong mỗi thời kỳ, giai đoạn cách mạng; sự nhạy bén, linh hoạt và uyển chuyển trong những thời khắc quyết định của tình thế cách mạng; khả năng nắm bắt, chớp lấy thời cơ cách mạng để tổng tiến công nổi dậy, giành chính quyền; sự quy tụ và phát triển phong trào cách mạng cũng như khả năng vận động, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế đối với công cuộc giải phóng dân tộc…

Bao trùm lên tất cả là sức mạnh lãnh đạo tài tình, thao lược và sáng tạo Đảng mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đảng đã biết khai thác, khơi dậy mọi tiềm năng thế mạnh của nhân tố con người và kết hợp chặt chẽ các nhân tố đó với nhau làm cho sức mạnh toàn dân tộc tăng lên bội phần. Đó là nghệ thuật kết hợp từ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên chiến lược chiến tranh cách mạng. Đó là cuộc đấu tranh toàn dân, toàn diện với tư tưởng chiến lược cách mạng tiến công không ngừng, với phương châm chiến lược đánh lâu dài và nghệ thuật giành thắng lợi từng bước. Trong đó, dựa vào hai lực lượng (chính trị quần chúng và vũ trang nhân dân); ba mũi giáp công (quân sự, chính trị và binh vận); ba vùng chiến lược (rừng núi, đồng bằng và đô thị); nghệ thuật trong sự kết hợp biện chứng, nhịp nhàng giữa nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy; giữa sức mạnh hậu phương lớn miền Bắc với sức mạnh của tiền tuyến lớn miền Nam; giữa sức mạnh nội sinh và sức mạnh quốc tế, giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nghệ thuật đồng thời giải quyết hai nhiệm vụ cách mạng: Giải phóng miền Nam với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Không có gì là quá đáng, khi khẳng định rằng, những gì tinh túy nhất, giá trị nhất của đường lối chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hội tụ đầy đủ nhất, toàn diện nhất trong Chiến dịch Hồ Chí Minh mà điểm nút của nó chính là đại thắng mùa xuân vào ngày 30/4 lịch sử.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 - Biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Trong đó trước tiên phải kể đến là những phẩm chất sáng ngời của ý chí và tinh thần đoàn kết, chung sức đồng lòng của tình dân quân, nghĩa đồng bào; sự chi viện, kề vai sát cánh của hậu phương miền Bắc đối với tuyến miền Nam, đó cũng là mối quan hệ khăng khít không thể tách rời của cách mạng xã hội chủ nghĩa với cách mạng giải phóng dân tộc qua các phong trào thi đua yêu nước như: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, thanh niên “ba sẵn sàng”, phụ nữ “ba đảm đang”... ở miền Bắc. Nhờ đó, chỉ trong ba tháng đầu năm 1975, hậu phương miền Bắc đã dốc sức đưa vào chiến trường miền Nam gần 12 vạn cán bộ, chiến sĩ; chi viện 230 nghìn tấn vật chất các loại, bảo đảm 81% vũ khí, 60% xăng dầu, 65% thuốc men, 85% xe vận tải... những điều kiện cần thiết, tối quan trọng góp phần thắng lợi lớn của cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Song song đó là biểu tượng sáng ngời về tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của quân và dân miền Nam với các phong trào như “Bám đất, giữ làng”, “Một tấc không đi, một li không dời”, “Giết giặc lập công”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”... Biểu tượng sáng ngời về chiến đấu kiên cường, anh dũng, sự hy sinh cao cả, không tiếc máu xương của biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ, đồng bào ta để làm nên ngày toàn thắng, cho nước nhà độc lập, cho non sông thống nhất, cho Tổ quốc vẹn nguyên, cho khúc hát hòa bình được vang mãi. Đó còn là biểu tượng sáng ngời về ý chí và tinh thần lạc quan cách mạng, về niềm tin “kháng chiến nhất định thắng lợi”, “đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng đất nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như mong ước lúc sinh thời của Bác Hồ… Tất cả đã làm nên bền bỉ trong ý chí, tinh thần và bản lĩnh Việt Nam, sự toàn thắng của trí tuệ, niềm tin và sức mạnh Việt Nam. Những giai điệu tự hào ấy đã góp phần viết nên bản hùng ca sáng chói của cả dân tộc Việt Nam, biểu tượng anh hùng của thế kỷ XX – dường như là đó là chân lý không ai có thể phủ nhận được.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 - sự kiện mang tầm quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc. Thắng lợi ngày 30/4/1975 không chỉ là mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mà chiến công ấy còn mang ý nghĩa quốc tế sâu sắc và tầm vóc thời đại to lớn. Bởi sau thực dân Pháp của hơn 20 năm về trước, dân tộc ta lại đánh bại một kẻ thù xâm lược hiếu chiến, tàn bạo và nguy hiểm đe dọa đến nền hòa bình và sự tồn vong của nhân loại tiến bộ, của phong trào cách mạng quốc tế lúc bấy giờ. Điều mà nhiều nhà chính trị gia trên thế giới sau này đã phải thừa nhận và đưa vào trong các nghiên cứu của mình về Việt Nam. Đại thắng mùa Xuân 1975, đã có tác động và ảnh hưởng sâu sắc đến chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ, đến phong trào giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân mới, đến cán cân giữa xã hội chủ nghĩ và tư bản chủ nghĩa, bồi đắp thêm những chính nghĩa cho nhân loại. Hình ảnh lá cờ chiến thắng của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập - Phủ Tổng thống của chính quyền Sài Gòn – toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn bị bắt và phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào trưa ngày 30/4/1975 không chỉ là biểu tượng bất tử của cách mạng Việt Nam mà nó còn là niềm tự hào của phong trào cách mạng tiến bộ, của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Từ đây cách mạng Việt Nam đã chính thức hòa vào dòng thác của cách mạng thế giới, đường lối chiến tranh nhân dân với tinh thần quyết chiến quyết thắng của Việt Nam lần đầu tiên được góp mặt trong bảo tàng lịch sử quân sự quốc tế…, đưa Việt Nam trở thành “trung tâm”, “chỗ dựa” của phong trào cách mạng vô sản thế giới; sự anh dũng, can trường và quật khởi của Nhân dân Việt Nam trong kháng chiến cứu quốc đã trở thành tấm gương tiêu biểu cho phong trào đấu tranh vì hòa bình, vì mục tiêu dân sinh, dân chủ và giải phóng dân tộc trên thế giới; tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành chân lý của thời đại, và khi ấy “vị thế và uy tín của nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam… lên ngang tầm các nước, các dân tộc trên thế giới”. Điều đó đã được thừa nhận không chỉ trong nội bộ của những người cộng sản anh em, trong dư luận của nhân loại tiến bộ mà ngay cả trong chính những nhân vật đã từng nếm trải thất bại cay đắng trong cuộc đụng độ lịch sử với dân tộc Việt Nam – năm tháng sẽ trôi qua nhưng lịch sử đấu tranh của nhân dân Việt Nam anh hùng sẽ không bao giờ phai mờ trong trí nhớ loài người.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 – mở ra kỷ nguyên hòa bình, độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong suốt chiều dài của lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam ở mỗi thời đại đều ghi dấu những chiến công lẫy lừng. Trong đó, có thể khẳng định, đại thắng của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là một trong những chiến công hiển hách nhất, lẫy lừng nhất, vang dội nhất của dân tộc Việt Nam qua mọi thời đại. Thắng lợi này không chỉ có ý nghĩ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, giang sơn thu về một dải. Mà còn đưa lịch sử dân tộc bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của hòa bình, hòa hợp dân tộc; kỷ nguyên của độc lập, tự do; kỷ nguyên của đổi mới, hội nhập và phát triển; kỷ nguyên của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mặc dù chiến tranh lùi xa, sự kiện 30/4/1975 chỉ còn trong ký ức của nhiều thế hệ, nhưng những giá giá trị, ý nghĩa và tầm vóc của Đại thắng mùa Xuân năm 1975 vẫn còn vẹn nguyên, đó sẽ tiếp tục là động lực tinh thần to lớn, là bệ đỡ tư tưởng quan trọng, là sức sống vô biên cổ vũ, khích lệ và đồng hành cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đoàn kết, vững tin hướng về phía trước, thực hiện thắng mọi mục tiêu, nhiệm vụ của dân tộc và thời đại, nhằm xây dựng đất nước Việt Nam phát triển, thịnh vượng, hùng cường.

Trong giai đoạn hiện nay, cách mạng Việt Nam đã và đang có những bước tiến rõ rệt với nhiều thời cơ lớn, nhưng đồng thời với đó cũng gặp phải không ít những thách thức đan xen, trong đó có phải kể đến những thách thức đến từ sự phai nhạt, những cái nhìn sai lệch về giá trị lịch sử dân tộc, đặc biệt là truyền thống kháng chiến kiến quốc của nhân dân ta. Hơn ai hết, hễ là người Việt Nam, chúng ta phải nhận thức sâu sắc, đúng đắn, đầy đủ và toàn diện và trân trọng lịch sử dân tộc cũng như thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là tính chính nghĩa của đại thắng mùa Xuân năm 1975. Đồng thời, góp sức, chung tay cùng cả hệ thống chính trị kiên quyết đấu tranh, loại bỏ những âm mưu, ý đồ xấu, nhằm xuyên tạc, bóp méo và xét lại lịch sử về chiến thắng 30/4/1975, về sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước. Đó là nghĩa vụ và trách nhiệm thiêng liêng của tất cả chúng ta để Đại thắng mùa Xuân năm 1975 không chỉ là khúc ca khải hoàn của ngày hôm qua mà sẽ còn vang mãi hôm nay và cho đến tận mai sau.

 

Cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc về Ngày Giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước 30/4/1975

 

Đối với mỗi người Việt Nam, ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một mốc son lịch sử trong bản hùng ca của dân tộc. Đó là ngày đất nước sạch bóng quân xâm lược, hòa bình được lập lại trên toàn lãnh thổ Việt Nam; đó là ngày đoàn tụ mà Bác Hồ kính yêu vẫn hằng mong mỏi: "Nước Việt Nam ta nhất định phải thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà". Ngày 30 tháng 4 còn là ngày hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù để mỗi người Việt Nam cùng hướng về mục tiêu chung: Hòa bình, thống nhất, độc  lập, tự do, đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước văn minh, giàu đẹp hơn…

Thế nhưng, những ngày này, trên các đài báo, trang mạng xã hội "Việt Tân", "Đài Á Châu tự do", "Dân làm báo", "Chân trời mới Media"… liên tục phát tán nhiều tin, bài xuyên tạc trắng trợn lịch sử; đăng bài, chế ảnh, video có nội dung sai lệch, bóp méo sự thật, giá trị và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng 30/4/1975 khiến người đọc lầm tưởng về lịch sử ngày 30/4/1975 là cuộc "xâm chiếm của miền Bắc đối với miền Nam", vu cáo đây là cuộc "nội chiến", "huynh đệ tương tàn" giữa hai miền Nam- Bắc, ngày thống nhất đất nước là "ngày quốc hận"… Mục đích là để chia rẽ khối đại đoàn kết, kích động lòng hận thù dân tộc, chống phá thành quả cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Thực tiễn, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn luôn nhất quán chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và khát vọng về đất nước phồn vinh, hạnh phúc để xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, hòa hợp, hòa giải dân tộc phải dựa trên sự tôn trọng lịch sử; bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc; xuất phát từ sự chân thành, thiện chí của các bên. Bản chất cuộc kháng chiến xày, quân và dân Việt Nam chiến đấu chống kẻ thù xâm lược là đế quốc Mỹ và lực lượng ngụy quân, ngụy quyền chứ không có chuyện miền Bắc xâm lược miền Nam, không có chuyện "nội chiến", "huynh đệ tương tàn".

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Chiến thắng đó được làm nên bởi sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam; truyền thống yêu nước, kiên cường, đoàn kết một lòng của nhân dân Việt Nam được đúc kết qua hàng ngàn năm lịch sử. Trong không khí thiêng liêng của những ngày cuối tháng 4 này, cũng như bao con dân Việt Nam khác, chúng ta có quyền tự hào và khẳng định: Ngày 30 tháng 4 năm 1975 mãi mãi là Ngày vui toàn thắng, Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất hoàn toàn đất nước.

Lịch sử, hiện tại và tương lai sẽ luôn khẳng định: Đây là cuộc đấu tranh anh dũng của quân và dân hai miền Nam, Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng; là cuộc đấu tranh chính nghĩa để thực hiện khát vọng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, mang lại tự do, độc lập cho toàn thể nhân dân ta. Vì vậy, chúng ta phải giữ vững lập trường tư tưởng, luôn tỉnh táo chọn lọc, nhận diện thông tin; nêu cao cảnh giác, không nghe theo các đối tượng thù địch, phản động lôi kéo, kích động tham gia tuần hành, biểu tình gây rối an ninh trật tự, không có các hành vi quá khích, vi phạm pháp luật. Đồng thời tích cực lên án, đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử về Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

 

Đại thắng mùa Xuân 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là đỉnh cao của trí tuệ, sức mạnh Việt Nam

 

Cách đây gần 50 năm, vào ngày 30/4/1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã kết thúc thắng lợi. Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước ca khúc khải hoàn, non sông nối liền một dải.

Đại thắng mùa Xuân 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là đỉnh cao của trí tuệ, sức mạnh Việt Nam. Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả vĩ đại nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước mấy ngàn năm của dân tộc. Nhân dân ta đánh thắng kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất của loài người tiến bộ; kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập tự do, thống nhất cho đất nước; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; đánh dấu bước ngoặt quyết định trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập tự do, cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là chiến thắng vĩ đại của lòng yêu nước, khát vọng hòa bình, độc lập của dân tộc Việt Nam. Đây cũng chính là mốc sơn chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Để có được hòa bình, độc lập ấy, biết bao thế hệ người Việt Nam đã xếp bút nghiên lên đường ra trận. Dân tộc Việt Nam không muốn chiến tranh, nhưng buộc phải cầm súng. Chịu nhiều mất mát đau thương nên người Việt Nam hiểu hơn ai hết giá trị của hòa bình. Hòa bình, độc lập, thống nhất hôm nay được đổi bằng máu và nước mắt của nhiều thế hệ người Việt Nam.

50 năm sau Ngày Giải phóng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng, phát huy tinh thần chiến thắng 30/4 bất diệt, đất nước ta tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng và chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay. Toàn dân tộc chung một khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, để đến năm 2045 khi đất nước kỷ niệm 100 năm ngày thành lập, Việt Nam sẽ trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Trong công cuộc kiến tạo mới của đất nước, mỗi người Việt Nam hôm nay không được phép lãng quên lịch sử, không được phép nguôi quên những đau thương, mất mát của chiến tranh. Trân trọng quá khứ để tri ân những thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì hòa bình, độc lập của dân tộc và là cách tốt nhất để hướng tới tương lai.

Kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước chính là dịp chúng ta ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, nhìn lại chặng đường phấn đấu xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời nhận thức sâu sắc hơn giá trị, những bài học kinh nghiệm được tổng kết từ trong thực tiễn đấu tranh của dân tộc để tiếp thêm sức mạnh, ý chí quyết tâm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để đồng sức, đồng lòng xây dựng một Việt Nam cường thịnh trong dòng chảy mới của thời đại.

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước trong dịp kỷ niệm Ngày giải phóng Miền Nam 30/4

 

Mỗi khi chuẩn bị tới sự kiện lịch sử của dân tộc - Kỷ niệm Ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975, cả nước hân hoan chuẩn bị đón mừng thì các đối tượng phản động lại tích cực hoạt động, đưa ra những luận điệu xuyên tạc, sai lệch lịch sử nhằm phá hoại tinh thần dân tộc, nói xấu Đảng và Nhà nước ta.

Luận điệu xuyên tạc của các đối tượng phản động

Thực hiện âm mưu phá hoại nước ta trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, chúng lợi dụng việc trốn ra nước ngoài bằng thuyền của một bộ phận người dân sau ngày 30/4/1975 mà chúng gọi đó là hành trình vượt biển hay hành trình tìm tự do để tạo dư luận trên trang mạng xã hội, xuyên tạc nói xấu Đảng, Nhà nước.

Thực chất của hành trình vượt biển hay hành trình tìm tự do đó là sau khi đất nước thống nhất năm 1975, còn gặp nhiều khó khăn trong việc khôi phục phát triển kinh tế, kèm theo những luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động, dụ dỗ về cuộc sống phồn hoa tươi đẹp ở phương Tây, một bộ phận người dân đã tìm cách vượt biên trái phép để sang các nước tư bản. Nhưng chỉ số ít thành công, đa số đều trắng tay trở về hoặc bị đưa vào các trại tỵ nạn, trải qua cuộc sống như bị giam lỏng do vượt biên trái phép.

Chúng lợi dụng sự việc trên tạo dư luận trên mạng xã hội, đưa ra những thông tin vô căn cứ, sáo rỗng, thiếu hiểu biết, nói xấu Nhà nước ta để cho dân nghèo khổ, thiếu tự do dân chủ nên phải đi tìm kiếm tự do, xuyên tạc về cuộc sống ở Việt Nam phải hít khí độc, uống nước bẩn, lội nước cống…

Từ thực tế nhận thấy, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đất nước ta đang ngày càng phát triển và vững mạnh, cuộc sống của người dân được cải thiện, nâng cao. Sau khi thống nhất đất nước, giai đoạn năm 1976-1985, đất nước ta thực hiện 02 kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là Kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980) và Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981-1985) nhằm khắc phục từng bước những hậu quả nặng nề của chiến tranh; khôi phục cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, giao thông ở Miền Bắc và xây dựng lại các vùng nông thôn ở miền Nam bị chiến tranh tàn phá. Giai đoạn này tuy đất nước phát triển chậm nhưng đã giải quyết được các vấn đề về giáo dục, y tế như đến đầu năm 1978, tất cả các tỉnh và thành phố miền Nam đã căn bản xoá nạn mù chữ; hệ thống y tế được mở rộng, xây mới và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Giai đoạn năm 1986-2000, Nhà nước bắt đầu có một số thay đổi trong chính sách quản lý kinh tế, đổi mới đường lối, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Một trong những thành tựu kinh tế to lớn giai đoạn này là phát triển sản xuất nông nghiệp, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn, đánh dấu sự mở đầu của thời kỳ đổi mới trong nông nghiệp và nông thôn nước ta. Ngành nông nghiệp đã giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đưa Việt Nam từ nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Thu nhập bình quân đầu người một tháng của dân cư tăng từ khoảng 1.600 đồng (năm 1986) lên đến 295.000 đồng (năm 1999). Thu nhập tăng nhanh góp phần làm cho công cuộc xóa đói giảm nghèo của nước ta trong giai đoạn này đạt được những kết quả đáng kể, năm 1993, tỷ lệ nghèo chung của Việt Nam là 58,1%, thì đến năm 1998 tỷ lệ nghèo này giảm xuống còn 37,4%.

Giai đoạn 2001 đến nay, kinh tế nước ta có sự phát triển mạnh mẽ. Năm 2008, nước ta đã ra khỏi nhóm nước và vùng lãnh thổ thu nhập thấp để gia nhập nhóm nước và vùng lãnh thổ thu nhập trung bình thấp, đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, đó là thành tựu nổi bật nhất trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Hệ thống giao thông, hạ tầng kỹ thuật được triển khai xây dựng đồng bộ, xuyên suốt tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, giao thương quốc tế. Đồng thời với sự phát triển kinh tế, chế độ chính sách hỗ trợ người dân cũng được quan tâm, chú trọng, việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo được chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước như Chương trình mục tiêu quốc gia Xoá đói giảm nghèo và Việc làm giai đoạn 2001-2005; Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo giai đoạn 2006-2010; Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015; Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020. Tỷ lệ nghèo chung của Việt Nam năm 2002 đang ở mức là 28,9%, đến năm 2018 đã giảm xuống 6,7%. Đặc biệt trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, dưới sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sự chung tay đóng góp của cả xã hội góp phần thể hiện được sự ưu việt trong hệ thống y tế Việt Nam như thúc đẩy ngoại giao vắc xin, thành lập Quỹ vắc xin... và phát động chiến dịch tiêm chủng miễn phí toàn dân, đưa nước ta từ một nước có tỷ lệ tiêm vắc xin rất thấp đã vượt lên là 1 trong 6 nước có tỷ lệ bao phủ tiêm vắc xin cao nhất trên thế giới.

Có thể thấy rằng, các đối tượng phản động luôn không từ thủ đoạn để thực hiện âm mưu phá hoại đất nước ta, chúng sẵn sàng đưa ra những luận điểm sai trái, vô căn cứ để xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước. Do đó, mỗi chúng ta cần phải nâng cao cảnh giác trước những thông tin tuyên truyền sai sự thật, xuyên tạc về Đảng, Nhà nước ta; tiếp nhận thông tin một cách khoa học, có chọn lọc từ các nguồn báo đài chính thống; cảnh giác trước những thông tin gây hoang mang, dẫn dắt dư luận trên mạng xã hội; tăng cường vốn hiểu biết và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, đặc biệt là Luật An ninh mạng khi đăng tải, chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội.

 

Đại thắng mùa Xuân 1975 mãi mãi thôi thúc dân tộc Việt Nam thời kỳ mới

 

Đại thắng mùa Xuân 1975 mở ra một thời kỳ mới, mãi là niềm tự hào, thôi thúc mỗi con người Việt Nam phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong thời kỳ mới.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Lòng yêu nước, khát vọng độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc; sự giác ngộ lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tinh thần quyết chiến, quyết thắng quân xâm lược... là nội dung cốt lõi của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, tạo nên khí thế hào hùng của cả dân tộc, làm nên sức mạnh Đại thắng mùa Xuân 1975, cũng như công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Tinh thần, khí thế của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam được nuôi dưỡng, hun đúc và kìm nén suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, được phát huy đến độ rực rỡ trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Sau 47 năm chiến tranh đã chấm dứt, hòa bình được lập lại, những con cháu của thế hệ chống Mỹ năm xưa, nay vẫn cảm nhận sâu sắc và luôn được thôi thúc bởi khí thế đó, tiến lên giành nhiều thành tựu hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng "đất nước ta phát triển nhanh, bền vững hơn, lập nên kỳ tích phát triển mới vì một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc ta”, theo lời hiệu triệu và kêu gọi của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

1. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã đúc kết: Chủ nghĩa anh hùng cách mạng là “tư tưởng và quyết tâm sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội, được thể hiện bằng những hành động anh hùng của một người, một tập thể hay một dân tộc trong lao động và đấu tranh. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam bắt nguồn từ truyền thống kiên cường, bất khuất, từ chủ nghĩa yêu nước chân chính và sự giác ngộ về mục tiêu lý tưởng cách mạng nên có sức mạnh to lớn, khiến cho mỗi con người, mỗi tập thể và cả dân tộc vượt qua những thử thách khốc liệt, chiến thắng mọi kẻ thù, đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đến thắng lợi”.

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là chủ nghĩa anh hùng của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới, với nội dung mới, chất lượng mới. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng; phẩm chất anh hùng được hình thành, tôi luyện và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Mỗi khi Tổ quốc bị lâm nguy, thì phẩm chất anh hùng ấy lại được phát huy cao độ, trở thành một giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc. Sự hình thành và nở rộ những hành động tiêu biểu về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là sự phát triển logic, tất nhiên từ truyền thống anh hùng của dân tộc, từ chủ nghĩa anh hùng truyền thống Việt Nam trong điều kiện lịch sử mới.

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là chủ nghĩa anh hùng tập thể mang ý nghĩa xã hội, cộng đồng lớn lao, được lập nên bởi những cá nhân, tập thể anh hùng và cả dân tộc anh hùng, mà xả thân chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì sự nghiệp cách mạng của Đảng là nội dung mới, chất mới và chủ yếu nhất. Cội nguồn sâu xa của nó từ lòng yêu nước, thương dân, sự giác ngộ về mục tiêu, lý tưởng cách mạng, tạo nên sức mạnh to lớn, có thể chịu đựng, vượt qua được những thử thách cực kỳ khó khăn, phức tạp, khốc liệt đưa sự nghiệp cách mạng giành những thắng lợi quan trọng, làm nên thắng lợi có tính chất quyết định.

2. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mà Xuân 1975 thực sự là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, thể hiện ở phương diện sau:

Vượt qua “thử thách khốc liệt” bởi “Cuộc đụng đầu lịch sử” của nhân dân ta với chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân Việt Nam không chỉ phải đương đầu trực tiếp với bộ máy chiến tranh khổng lồ của tên đế quốc hùng mạnh, giàu có nhất thế giới là đế quốc Mỹ, mà còn phải đối đầu với cả một thế giới tư bản chủ nghĩa và đế quốc, cùng bè lũ tay sai, với tiềm lực quân sự vô cùng to lớn. Đây là cuộc đụng đầu lịch sử, bởi đó không chỉ đơn thuần là cuộc đọ sức giữa sức mạnh dân tộc Việt Nam với sức mạnh của thế lực hiếu chiến và xâm lược là đế quốc Mỹ; mà còn là nơi tập trung thử sức giữa sức mạnh của nền độc lập dân tộc, nền hòa bình thế giới và hệ thống xã hội chủ nghĩa với sức mạnh của bè lũ đế quốc mưu toan ngăn chặn, phá hoại hòa bình và tiêu diệt chủ nghĩa xã hội thế giới đang hình thành, phát triển ở Việt Nam, Đông Nam Á ở thời kỳ đó. Như Đảng ta đã chỉ ra, bằng chiến tranh xâm lược Việt Nam, “Đế quốc Mỹ muốn chứng tỏ rằng, với lực lượng quân sự và kinh tế khổng lồ, chúng có thể đè bẹp mọi phong trào giải phóng dân tộc, chặn đứng bước tiến của chủ nghĩa xã hội ở bất cứ nơi nào trên thế giới”.

Việt Nam - một dân tộc đất không rộng, người không đông, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, vì nền độc lập dân tộc mà đứng nên kháng chiến chống Mỹ, chống tên đế quốc đầu sỏ, hùng mạnh, giàu có, tàn bạo nhất; đồng thời chống lại cả một thế lực chống Cộng trên thế giới, chống lại một cuộc gây chiến điển hình nhất của chủ nghĩa đế quốc đối với chủ nghĩa xã hội; những chiến lược, kế sách tàn bạo, “kinh nghiệm” chiến tranh xâm lược, cùng nền khoa học công nghệ chiến tranh hiện đại nhất của thế giới tư bản được Mỹ và bè lũ tay sai đã đem ra thử lửa... Vì vậy, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thực sự là “Cuộc đụng đầu lịch sử” quyết liệt giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa chống Cộng do đế quốc Mỹ - “sen đầm quốc tế” cầm đầu.

Những nội dung cơ bản của chủ nghĩa anh hùng cách mạng được thể hiện, phát huy rực rỡ, tạo nên sức mạnh thần kỳ của Đại thắng mùa Xuân 1975. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta được đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu - cội nguồn chủ yếu và nguyên nhân trực tiếp làm xuất hiện và phát triển chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, nhân tố cơ bản làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975.

Ý chí quyết đánh và quyết thắng là biểu hiện cơ bản đầu tiên của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ và trong Đại thắng mùa Xuân 1975. Biểu hiện này được Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ rõ trong “Cuộc gặp mặt lịch sử” tại Hà Nội năm 1997 giữa ông với Rôbét Mác Namara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ - người được coi là “kiến trúc sư trưởng” của chiến tranh Việt Nam, tác giả của “Hàng rào điện tử Mc Namara” tại vùng phi quân sự giữa hai miền Nam - Bắc trong Chiến tranh Việt Nam rằng: “Từ “lo sợ” không có trong tư duy quân sự của chúng tôi. Tại sao? - Vì “không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Chúng tôi nêu quyết tâm là phải thắng và nhất định thắng. Tổ tiên chúng tôi đã từng chiến thắng bao kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới bấy giờ. Nay chúng tôi phải thắng để con cháu xây dựng lại Tổ quốc”. Ý chí đó thể hiện ở lý tưởng “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, ở tinh thần quyết chiến, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược; được thăng hoa rực rỡ, trở thành động lực trực tiếp cho những hành động anh hùng của cả dân tộc và mỗi con người Việt Nam, để làm nên sức mạnh chiến thắng quân thù.

Hành động anh hùng, chiến đấu xả thân vì nước, vì dân, vì sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng là biểu hiện sâu sắc và cụ thể của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” đã trở thành lẽ sống tự nhiên của hàng vạn thanh niên; “cả nước ra quân, toàn dân đánh giặc” đã trở thành “lẽ tự nhiên, thường tình” của cả một thế hệ quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, được nhân lên thành cao trào mạnh mẽ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, trở thành động cơ bản làm nên chiến thắng mang tầm thời đại. Sự háo hức tham gia của mọi tầng lớp nhân dân, lớp lớp người già, người trẻ, phụ nữ, các giới đồng bào không phân biệt dân tộc, tôn giáo, trước hết là thanh niên trên mọi miền đất nước, tham gia phục vụ và bảo đảm mọi mặt cho chiến trường miền Nam, tập trung ở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là sự thể hiện sâu sắc, thăng hoa nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Chính ý chí anh hùng của một dân tộc anh hùng được sinh ra từ lý tưởng cao cả là ĐỘC LẬP, TỰ DO, đã làm nảy nở muôn vàn những hành động trong lao động và chiến đấu, hy sinh quên mình cho lý tưởng cao đẹp đó, như: “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “xe chưa qua, nhà không tiếc”, “thần tốc”, “táo bạo”, “tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”.

Sức mạnh chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh trong Đại thắng mùa Xuân 1975 vừa được hội tụ bởi sức mạnh dân tộc trong 21 năm chống Mỹ, vừa là sự phát huy đến cực điểm sức mạnh của cả dân tộc được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử vào chiến dịch quyết chiến chiến lược cuối cùng - Chiến dịch Hồ Chí Minh. Đó còn là sức mạnh tổng hợp của đất nước, của chế độ mới xã hội chủ nghĩa ưu việt ở miền Bắc, tạo động lực, ưu thế tuyệt đối, áp đảo so với quân thù. Tinh thần lên đường giải phóng miền Nam, khí thế ra trận nô nức như đi “trẩy hội” là biểu hiện sinh động nhất, thăng hoa nhất, rộng khắp, vững chắc nhất và sức mạnh vô địch của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong Đại thắng mùa Xuân 1975.

Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là sự hội tụ đến đỉnh điểm quyết tâm chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang và nhân dân cả nước nhằm mục tiêu “giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc”. Sự chỉ đạo chiến lược kiên quyết, sắc bén, linh hoạt; sự thực hành tổng tiến công và nổi dậy toàn diện, triệt để, nhanh gọn; cùng sự tiến công dũng mãnh, nhanh chóng giành thắng lợi của quân và dân ta khiến quân địch rối loạn và thất bại về chiến lược, cùng ý chí, tinh thần chiến đấu trước ba đòn tiến công: Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch tiến công giải phóng Huế - Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh... là thực tế sinh động nhất chứng minh về sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Chính chủ nghĩa anh hùng ấy làm cho sức mạnh chiến đấu của quân và dân ta trên mọi chiến trường, mọi chiến dịch không ngừng lớn mạnh và phát huy cao độ, trở thành sức mạnh “thần tốc”, “một ngày bằng hai mươi năm”, giành toàn thắng. Đúng như Đảng ta đã nhận định trong những trang sử vàng của mình rằng, Đại thắng mùa Xuân 1975 là đại thắng của “cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh, ngoan cường và bền bỉ, anh dũng và thông minh của nhân dân và quân đội cả nước”.

Tư duy quân sự cách mạng, hiện đại mà nền tảng lý luận quân sự vô sản, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối chiến tranh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân là biểu hiện sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại Hồ Chí Minh, được hội tụ, tỏa sáng ở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mà Xuân 1975. Tính chất anh hùng không chỉ là sự biểu hiện ở những hành động anh hùng của mỗi cá nhân, đơn vị, tập thể quân - dân hoặc cả dân tộc Việt Nam, mà còn biểu hiện ở sự tiếp thu, kế thừa, biết vận dụng lý luận quân sự cách mạng và hiện đại nhất của thời đại là lý luận quân sự vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng quân sự đặc sắc Hồ Chí Minh, cùng đường lối chiến tranh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân do Đảng ta xây dựng và tổ chức thực hiện trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc suốt những năm kháng chiến chống thực dân, đế quốc, được vận dụng và thể hiện một cách nhuần nhuyễn trong ở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mà Xuân 1975.

Chính tư duy quân sự cách mạng và hiện đại này đã đánh bại và chiến thắng tư duy quân sự kiểu cũ, điển hình là tư duy quân sự tư sản, mà đế quốc Mỹ là hiện thân tiêu biểu nhất cho lối tư duy đó. Chúng không thể hiểu được và tính đến một cách đầy đủ và toàn diện sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam; không lý giải được vì sao liên tiếp thất bại của các chiến lược và chiến dịch quân sự do chúng gây nên trên chiến trường Việt Nam, nhất là không thể hiểu nổi thế nào là sức mạnh vô dịch của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận xét về tư duy quân sự Hoa Kỳ: “đó là những bộ óc điện tử nhưng chưa hiểu thấu Việt Nam”; và cũng đúng như nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đã phải cúi đầu thừa nhận những nguyên nhân về sự thất bại thảm hại của Mỹ và bè lũ ngụy quân, ngụy quyền trong Chiến tranh Việt Nam, đó là: “sự dốt nát về lịch sử, văn hóa và chính trị Việt Nam”; cùng với sự cung cấp trang bị sai lầm cho một “đám người” không có lý tưởng chiến đấu, phục vụ cho các mục tiêu phi nghĩa, “vì đồng tiền”, “ham sống hưởng lạc, sợ chết”.

Sự hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh giúp cho toàn thể nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới hiểu được “Tại sao Việt Nam toàn thắng? Tại sao Mỹ thua?”. Nhờ đó mà hiểu được những hình ảnh anh hùng cao đẹp phát triển và nở rộ, những rất đỗi bình dị, gần gũi, thân quen đã làm nên chiến thắng lịch sử trong thế kỷ XX, cũng như những thành tựu vĩ đại trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay của những con người Việt Nam sau chiến tranh “súng gươm vứt bỏ, lại hiền như xưa”.

3. Đại thắng mùa Xuân 1975 mở ra một thời kỳ mới, mãi là niềm tự hào, thôi thúc mỗi con người Việt Nam phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong thời kỳ mới.

Với Đại thắng mùa Xuân 1975, miền Nam hoàn toàn được giải phóng, cả nước thống nhất, cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước. Tuy vậy, những thế lực diệt chủng ở Tây Nam và bành trướng, xâm lược ở phía Bắc vẫn theo đuổi và xâm phạm nền độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta, đã buộc quân và dân ta bước vào “một cuộc chiến đấu mới”. Nhờ chủ nghĩa anh hùng đã được vun đắp hàng nghìn năm của dân tộc, đặc biệt là nhờ vào niềm tự hào của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đã được thể hiện, khẳng định trong Đại thắng mùa Xuân 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần yêu nước, khắc phục, vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất sau 21 năm chiến tranh, để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong 14 năm kiên trường chiến đấu ở hai đầu biên giới, để lập lại nền hòa bình trọn vẹn và đúng nghĩa, tạo điều kiện cho cả dân tộc tiến hành khôi phục, xây dựng và phát triển đất nước.

Trong bối cảnh quốc tế, khu vực, đất nước hiện nay, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh được tỏa sáng từ Đại thắng mùa Xuân 1975 vẫn là động lực chính trị, tinh thần to lớn của sự nghiệp đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Dẫu là khó khăn, thách thức của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, của đòi hỏi cao về hội nhập quốc tế và những nguy cơ đang nảy sinh... nhưng chính chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam đã dạy cho chúng ta những tư tưởng, quan điểm về tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, nghị lực vượt qua thách thức, tận dụng thời cơ để đưa đất nước, con người Việt Nam tiến lên, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới; đồng thời tỏ rõ, dân tộc, con người Việt Nam không chỉ anh hùng trong chiến đấu, mà còn anh hùng, sáng tạo gấp nhiều lần trong lao động, xây dựng đất nước.  

T       rên cơ sở, tiền đề “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” sau 35 năm đổi mới, cả đất nước, dân tộc cũng như mỗi con người Việt Nam đang ra sức học tập, lao động, công tác và chiến đấu để phấn đấu hoàn thành tốt những mục tiêu, chỉ tiêu, phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 mà Nghị quyết Đại hội XIII và Chương trình hành động của Chính phủ đã đề ra. Với sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế… mọi tổ chức, lực lượng, con người Việt Nam đã, đang nỗ lực thích ứng một cách sáng tạo, vượt qua “trạng thái bình thường mới”, khắc phục kịp thời những hậu quả của đại dịch COVID-19, sự khủng hoảng, suy thoái, đứt gãy của nền kinh tế, tài chính, thương mại toàn cầu; tận dụng thời cơ, lợi thế quyết tâm giành được những chỉ tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra trong 5 năm 2021 - 2025, trước hết là trong năm 2022 này, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ lịch sử mới đối với dân tộc mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra đến năm 2045, nhân 100 năm ngày thành lập nước, mỗi con người, tập thể, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân cả nước không chỉ biết tự hào, giữ gìn những giá trị, biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đã xác lập trong thế kỷ XX, mà còn phải ra sức sáng tạo và thể hiện sinh động hơn nữa những biểu hiện của chủ nghĩa anh hùng đó trên mọi lĩnh vực công tác của mình, nhằm khẳng định “Dấu ấn Việt Nam” đến giữa thế kỷ XXI này. Có như vậy, những biểu trưng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, những giá trị anh hùng của dân tộc Việt Nam đã được thể hiện trong Đại thắng mùa Xuân 1975 sẽ trở nên gần gũi, thiết thực và tỏa sáng hơn trong mỗi con người, cả dân tộc Việt Nam, đồng thời vang vọng khắp thế giới trong những thập niên tới đây./.

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam

 

Trải qua gần 40 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc dưới cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo dữ liệu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), ở thời điểm năm 1986, GDP Việt Nam đạt khoảng 8 tỷ USD, chỉ xếp trên Myanmar (5,15 tỷ USD) trong số quốc gia Đông Nam Á. Tuy nhiên, giai đoạn 1986 - 2022, GDP Việt Nam đã tăng gấp 50 lần, đạt khoảng 406,45 tỷ USD, lọt top 5 nước có quy mô kinh tế tăng nhiều nhất thế giới. Ước tính năm 2023, GDP Việt Nam đạt 430 tỷ USD, tăng 5,05% so với năm 2022. Thế nhưng, trong thời gian gần đây, tổ chức khủng bố Việt Tân tích cực đăng tải những luận điệu sai trái, xuyên tạc bản chất, phủ định thành tựu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Luận điệu phản động của Việt Tân

Về mặt bản chất, kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường; là một kiểu tổ chức kinh tế phản ảnh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Tại Đại hội lần thứ VII (năm 1991), Đảng ta đã xác định nhiệm vụ “xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Thuật ngữ xây dựng “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” được Đảng sử dụng lần đầu tại Đại hội lần thứ IX (năm 2001). Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là hình thái kinh tế mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường, là cống hiến mới vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin trong đó kết tinh tính sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuất phát từ tổng kết thực tiễn Việt Nam và tiếp thu chắt lọc kinh nghiệm của nhân loại. Trong đó, kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là thể thống nhất, không tách rời nhau, là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế đặt dưới sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, nền kinh tế phi thị trường là thuật ngữ dùng để chỉ các nền kinh tế nơi chính phủ có độc quyền hoặc gần như độc quyền về thương mại và nhà nước ấn định giá cả nội địa. Một quốc gia xuất khẩu bị xem là phi thị trường thì các nguyên tắc tính toán giá thông thường sẽ không được sử dụng, dẫn tới tạo ra một số bất lợi lớn cho các nhà sản xuất, xuất khẩu từ các nền kinh tế bị xem là phi thị trường. Trên thực tế, mỗi quốc gia, nền kinh tế sẽ có quy định riêng về các tiêu chí xác định kinh tế phi thị trường. Đối với nền kinh tế của Việt Nam, hiện đã có 72 quốc gia công nhận là nền kinh tế thị trường, bao gồm các quốc gia phát triển như Canada, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh... Hiện, Hoa Kỳ cũng đang trong quá trình xem xét công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam.

Thực tế đã khẳng định: Nền kinh tế Việt Nam được các quốc gia, tổ chức, chuyên gia quốc tế đánh giá cao trong việc xây dựng cơ chế thị trường những năm qua, đạt được những thành tựu nhất định trong phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho quần chúng nhân dân. Do đó, mỗi chúng ta cần nâng cao tinh thần cảnh giác trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc./.


 

 

Đại thắng mùa Xuân 1975 là sự kết tinh ý chí, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

 

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã giành được thắng lợi to lớn, nhanh chóng và toàn diện nhất trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là thắng lợi của sự hội tụ sức mạnh dân tộc, sự kết tinh của ý chí, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong cuộc đối đầu cam go, quyết liệt nhất, trước kẻ thù hung bạo nhất trong lịch sử của dân tộc ta.

DIỄN BIẾN CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN 1975

Cuối năm 1974 đầu năm 1975, trước  tình hình so sánh tương quan lực lượng ở miền Nam thay đổi có lợi cho ta, Bộ Chính trị đã đề ra kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975, 1976. Kế hoach nhấn mạnh “cả năm 1975 là thời cơ” và “nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã diễn ra trong gần hai tháng (từ ngày 4/3 đến ngày 2/5) qua ba chiến dịch lớn: Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh đánh vào Sài Gòn. Mở đầu là Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4/3 đến ngày 24/3), một địa bàn chiến lược quan trọng mà ta và địch cố nắm giữ. Do nhận định sai hướng tiến công của ta, địch chỉ chốt giữ ở đây một lực lượng mỏng, nên Bộ Chính trị quyết định chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu trong năm 1975. Sau khi đánh nghi binh ở Pleiku và Kon Tum (10/3/1975), ta tiến công và giải phóng Buôn Ma Thuột. Ngày 12/031975, địch phản công chiếm lại nhưng không thành. Ngày 14/3/1975, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân khỏi Tây Nguyên về giữ vùng duyên hải miền Trung. Trên đường rút chạy, chúng bị quân ta truy kích tiêu diệt. Ngày 24/03/1975, ta giải phóng Tây Nguyên với 60 vạn dân. Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi đã chuyển cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước sang giai đoạn mới, từ tiến công chiến lược ở Tây Nguyên phát triển thành Tổng tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam.

Nhận thấy thời cơ chiến lược đến nhanh và hết sức thuận lợi, Bộ Chính trị quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam, trước hết là chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng. Ngày 25/3, ta tấn công vào Huế, (26/3) giải phóng Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên. Cùng thời gian, ta giải phóng thị xã Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Chu Lai, uy hiếp Đà Nẵng từ phía Nam. Đà Nẵng bị cô lập, hơn 10 vạn quân địch bị dồn về đây trở nên hỗn loạn, mất hết khả năng chiến đấu. Sáng 29/3, quân ta tiến công Đà Nẵng, đến 3 giờ chiều chiếm toàn bộ thành phố. Cùng thời gian này, các tỉnh còn lại ven biển miền Trung, Nam Tây Nguyên, một số tỉnh ở Nam Bộ lần lượt được giải phóng.

Sau hai chiến dịch, Bộ Chính trị nhận định: “Thời cơ chiến lược mới đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam... trước tháng 5/1975” với phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Giữa tháng 4, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch tiến công mang tên “Hồ Chí Minh” nhằm giải phóng Sài Gòn và toàn bộ miền Nam trước mùa mưa. Trước khi mở chiến dịch Hồ Chí Minh, quân ta đã đánh tan tuyến phòng thủ của địch ở Phan Rang (16/4/1975) và Xuân Lộc (21/4) - những căn cứ phòng thủ trọng yếu phía đông Sài Gòn của địch, làm cho Mỹ và Quân đội Sài Gòn hoảng loạn. Ngày 18/4/1975, Tổng thống Mỹ ra lệnh di tản người Mỹ khỏi Sài Gòn. Ngày 21/4, Nguyễn Văn Thiệu từ chức Tổng thống. 17 giờ ngày 26/4, quân ta nổ súng mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh. Từ 5 hướng, các quân đoàn đồng loạt tiến công Sài Gòn, lần lượt đánh chiếm các cơ quan đầu não của địch. 10 giờ 45 phút ngày 30/4, xe tăng của ta tiến vào Dinh Độc lập, bắt sống toàn bộ Chính phủ Trung ương Sài Gòn. Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện. 11 giờ 30 ngày 30/4, lá cờ cách mạng tung bay trên tòa nhà Phủ tổng thống (Dinh Độc lập), Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Các tỉnh còn lại của Nam Bộ, nhân dân đã nhất tề nổi dậy và tiến công theo phương thức xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh. Ngày 2/5/1975, Châu Đốc là tỉnh cuối cùng được giải phóng - miền Nam hoàn toàn giải phóng. Cùng với các tỉnh ở đất liền, đầu tháng 4 đến giữa tháng 4/1975, quân và dân ta đã giải phóng một loạt các đảo ven biển, các đảo thuộc quần đảo Trường Sa; sau ngày 30/4, đảo Côn Sơn, đảo Phú Quốc lần lượt được giải phóng. 

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, bằng ba chiến dịch then chốt (Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, Chiến dịch Hồ Chí Minh), diễn ra trong 55 ngày đêm với tốc độ “một ngày bằng hai mươi năm”, quân và dân ta đã giành thắng lợi nhanh chóng, trọn vẹn và đổ máu ít nhất. Đây là kết quả tổng hợp của sự phát triển liên tục tư duy chiến lược, ý chí, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trong suốt cả cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được bùng phát cao độ trong Chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh 1975.

Ý CHÍ, BẢN LĨNH VÀ TRÍ TUỆ VIỆT NAM TRONG ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975

Đại thắng mùa Xuân 1975 là sự kết tinh, hội tụ  ý chí, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam được thể hiện ở các điểm sau:

- Sau chuyến đi của Ních Xơn đến Bắc Kinh (2/1972) và Mátxcơva (5/1972), Mỹ đã thỏa thuận dành một số lợi ích và mối quan tâm của Trung Quốc, Liên Xô…, đổi lại, Trung Quốc và Liên Xô sẽ giảm sự ủng hộ, giúp đỡ đối với cách mạng Việt Nam. Trước tình hình bất lợi đó, Đảng ta và quân dân cả nước đã thể hiện rõ ý chí, bản lĩnh chính trị của mình, kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, hạn chế đến mức thấp nhất có thể được do thỏa thuận Mỹ - Trung Quốc - Liên Xô tác động, quyết tâm tiến hành cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn.

- Sau Hiệp định Pa-ri (1/1973), Đảng ta chủ trương vừa kiên quyết, vừa mềm dẻo trong đấu tranh để đòi Mỹ phải thực hiện Hiệp định Pa-ri, đồng thời kêu gọi nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta; tiếp tục khẳng định, con đường của cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực, cần khẩn trương nắm bắt thời cơ, kiên định giữ vững đường lối chiến lược tiến công, chớp thời cơ khi nó đến, thần tốc, táo bạo để thực hiện thắng lợi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

- Đến giữa năm 1974, mặc dù có xuất hiện thêm một số khó khăn mới, nhưng ta ngày càng mạnh lên, còn ngụy càng suy yếu rõ rệt, nước Mỹ lâm vào khủng hoảng nội bộ trầm trọng. Trước tình hình đó, Đảng ta hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong thời gian 2 năm 1975-1976, trong đó năm 1975 tranh thủ bất ngờ, tiến công rộng khắp tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam; bên cạnh đó còn dự kiến nếu thời cơ đến sớm, lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Cuối năm 1974 đầu năm 1975, Chiến dịch giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long thắng lợi, một phép thử cho thấy: Quân ngụy đã suy yếu nghiêm trọng, còn Mỹ không thể trở lại miền Nam Việt Nam. Điều này đã củng cố thêm quyết tâm chiến lược mà Đảng ta đã dự kiến trong năm 1974.

- Trên cơ sở đánh giá, phân tích, nhận định tình hình, thế và lực của hai bên, Đảng ta đã quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mở đầu là đòn đánh điểm huyệt vào thị xã Buôn Ma Thuột trong chiến dịch Tây Nguyên, giành thắng lợi. Đặc biệt, trước sai lầm chiến lược của Tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu khi vội vã rút bỏ địa bàn trọng yếu Tây Nguyên, gây nên cơn hoảng loạn không gì ngăn chặn nổi trong hàng ngũ viên chức chính quyền và Quân đội Sài Gòn, chớp thời cơ chiến lược “20 năm có một” xuất hiện, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã họp (ngày 18/3/1975), quyết định chuyển từ kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 năm sang kế hoạch thời cơ, quyết tâm dồn sức hoàn thành giải phóng miền Nam trong năm 1975, sớm nhất là trước mùa mưa (5/1975).

- Sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện một cách đúng đắn, sáng tạo, nghiêm túc nhưng mềm dẻo, có hiệu quả trong việc phối hợp giữa tiến công và nổi dậy, giữa tiến công quân sự và giải quyết vấn đề chính trị - chính quyền trong những ngày cuối cùng của chiến tranh,… nên Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã giành được thắng lợi một cách nhanh chóng, triệt để, trọn vẹn và ít đổ máu nhất.

- Diễn biến tình hình những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn với nhiều hoạt động trung gian hối hả của các phe nhóm, lực lượng ở miền Nam cũng như của nước ngoài, kể cả những câu nói bóng gió hàm ý ngăn đe, hòng xoay chuyển kết cục theo ý của họ… Nhưng chúng vẫn không lung lay, thay đổi lập trường kiên định của ta là giải phóng hoàn toàn miền Nam, giành chính quyền về tay nhân dân, thực hiện thống nhất đất nước. Điều đó càng khẳng định bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam.

Có thể khẳng định, thắng lợi nhanh chóng, trọn vẹn của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là kết quả của sự hội tụ sức mạnh dân tộc, sự kết tinh của ý chí, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam được hun đúc, rèn dụa trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và được bùng phát cao độ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong bối cảnh mới hiện nay, ý chí, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam nếu được tiếp tục bồi đắp, phát huy, nhất định sẽ là một nguồn lực, động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển đất nước nhanh, bền vững, đến 1945 sẽ trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao.