Thứ Năm, 6 tháng 2, 2025

Thực thi quyền bình đẳng giữa các dân tộc, nghiêm trị âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc


Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn ưu tiên đầu tư toàn diện đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc.

 

Đại đoàn kết toàn dân tộc là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác dân tộc. Bình đẳng để đoàn kết là vấn đề cốt lõi trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam.

Bác Hồ đã khẳng định: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau."

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (hơn 14 triệu người, chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước). Quy mô dân số của các dân tộc không đồng đều, có 6 dân tộc trên 1 triệu người, 14 dân tộc dưới 10.000 người, 5 dân tộc dưới 1.000 người.

Hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số sống tại miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa, tập trung ở 463 huyện thuộc 51 tỉnh tại Đông và Tây Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.

Hiến pháp năm 2013 quy định: "Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc."

Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIII nêu rõ mục tiêu "bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển," đồng thời "chống kỳ thị dân tộc, dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc."

Đảng và Nhà nước ta thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc theo hướng:

Về chính trị, việc đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm cán bộ người dân tộc thiểu số, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số được chú trọng. Quốc hội khóa XV có 17,84% tổng số đại biểu là người dân tộc thiểu số, cao nhất từ trước đến nay. Đây cũng là lần đầu tiên Quốc hội nước ta có thêm đại diện của hai dân tộc thiểu số rất ít người là Lự và Brâu. Như vậy, trong tổng số 54 dân tộc, hiện chỉ còn hai dân tộc là Ơ Đu và Ngái là chưa có đại diện tham gia Quốc hội.

Về kinh tế, Nhà nước tăng cường ưu tiên các nguồn lực để phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo Ủy ban Dân tộc, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2022 được đầu tư 626.229 tỷ đồng từ ngân sách.

Về văn hóa-xã hội, Nhà nước có chính sách bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc thiểu số, bảo tồn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.

Ngày 14/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn 1 từ 2021-2025. Trong chương trình có Dự án "Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch."

Dự án có mục tiêu khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ văn hóa; hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bị văn hóa cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để nâng cao mức thụ hưởng về văn hóa cho đồng bào các dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng.

Về quyền tiếp cận giáo dục, Nhà nước ta ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn. Báo cáo của Ủy ban Dân tộc cho biết, nhiều địa phương thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thực hiện hiệu quả Đề án 522 của Thủ tướng Chính phủ về "Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025"; Đề án xây dựng xã hội học tập; quan tâm công tác dạy học tiếng dân tộc thiểu số.

Về việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Nhà nước quan tâm phát triển mạng lưới y tế, hệ thống bệnh viện tỉnh-huyện và trạm y tế xã. Nhờ đó, đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản. Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kết quả Chương trình xây dựng nông thôn mới tại vùng đặc biệt khó khăn, cho biết hơn 50% số xã trong vùng có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, 100% đồng bào dân tộc thiểu số có bảo hiểm y tế miễn phí.

Đảng và Nhà nước ta luôn ưu tiên đầu tư toàn diện đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc.

Tuy nhiên, một thực tế khách quan là do các yếu tố lịch sử, địa lý, nhận thức mà trình độ phát triển kinh tế-xã hội của các dân tộc ở nước ta chưa đồng đều.

Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2022 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 trên phạm vi toàn quốc do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội công bố, cho thấy khu vực Trung du và miền núi phía Bắc có số hộ nghèo đa chiều cao nhất cả nước, chiếm 21,92% với 701.461 hộ; khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là 10,04% với 571.251 hộ; Tây Nguyên là 15,39% với 236.766 hộ; trong khi con số này tại khu vực Đông Nam Bộ là 0,34% với 15.787 hộ; Đồng bằng sông Hồng là 2,45% với 169.566 hộ; Đồng bằng sông Cửu Long là 5,73% với 277.936 hộ.

Để thu hẹp, tiến tới xóa nhòa khoảng cách giàu-nghèo, trình độ phát triển giữa các dân tộc và các vùng miền, Việt Nam cần nhiều thời gian cùng với những chính sách thiết thực của Đảng, Nhà nước và sự nỗ lực vươn lên của bản thân đồng bào dân tộc thiểu số.

Song các thế lực thù địch đã và đang ra sức lợi dụng sự chênh lệch về sự phát triển giữa các vùng miền, về trình độ sản xuất-kinh doanh giữa các dân tộc để chống phá, gây chia rẽ, hận thù. Chúng phủ nhận toàn bộ những thành tựu giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong nhiều chục năm qua ở nước ta.

Nhà nước ta đã từng thực hiện chính sách vận động di dân có kế hoạch (sau năm 1954 và năm 1975) từ vùng đồng bằng lên khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên để xây dựng vùng kinh tế mới. Tiếp đó là hiện tượng di dân ngoài kế hoạch của đồng bào các dân tộc từ miền núi phía Bắc, Trung Bộ vào các tỉnh Tây Nguyên (trong giai đoạn 1980-1990). Việc di dân này làm thay đổi sự phân bố dân cư, cơ cấu dân số và làm gia tăng mật độ dân số. Kinh tế phát triển, song lại nảy sinh vấn đề đất đai, rừng và các nguồn tài nguyên khác bị chia sẻ, môi trường thiên nhiên bị ảnh hưởng.

Lợi dụng những mặt phát sinh từ việc di dân, các thế lực thù địch cố tình phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc ở Việt Nam, kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đòi để một số dân tộc thiểu số lập ra "vương quốc" riêng mà không dựa trên bất cứ cơ sở lịch sử-địa chính trị nào. Chúng đòi xét lại lịch sử, thậm chí là bóp méo lịch sử để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chính vì vậy, cần tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, giúp đồng bào các dân tộc hiểu rõ và cùng thực thi các chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, không mơ hồ nghe theo kẻ xấu xúi giục, kích động; đồng thời kiên quyết đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Vụ việc xảy ra tại xã Ea Tiêu và xã Ea Ktur, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk vừa qua là một ví dụ đau lòng, các đối tượng đã dùng súng tấn công trụ sở Ủy ban Nhân dân hai xã làm 9 người chết, 2 người bị thương.

Các lực lượng chức năng đã nhanh chóng vào cuộc, truy bắt các đối tượng phạm tội, ổn định đời sống nhân dân. Đáng chú ý, lực lượng chức năng đã xử lý hơn 100 trường hợp đăng tải các thông tin xấu, độc liên quan đến vụ việc.

Các đối tượng vi phạm chủ yếu là với mục đích "câu like" đã chia sẻ lại thông tin chưa được kiểm chứng từ các trang Facebook, TikTok… của các cá nhân. Họ không ý thức được hậu quả của việc lan truyền những thông tin không đúng sự thật trên các trang mạng xã hội. Khi được giải thích, các trường hợp này đều đã nhận ra hành vi sai phạm, tự gỡ bỏ bài đăng và cam kết không tái phạm.

Công an tỉnh Đắk Lắk khuyến cáo mỗi người dân khi sử dụng mạng xã hội cần kiểm tra nguồn tin, tính chính xác, tránh "sập bẫy" các đối tượng xấu, đặc biệt là trước các luồng thông tin, hình ảnh từ các trang cá nhân hoặc tổ chức chống Nhà nước. Việc đăng tải thông tin chưa được kiểm chứng, thông tin bịa đặt, sai sự thật sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Để các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về ưu tiên phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số đi vào hiện thực cuộc sống, đồng bào các dân tộc chính là chủ thể thực thi và đối tượng thụ hưởng. Khơi dậy và phát huy tinh thần đại đoàn kết, lấy chủ nghĩa yêu nước là hạt nhân, chính là động lực để triển khai hiệu quả các chính sách tốt đẹp đó, để cộng đồng các dân tộc Việt Nam ngày càng đoàn kết, gắn bó, không thể tách rời. 

Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ chính trị đồn Biên phòng trong đấu tranh chống âm mưu “Phi chính trị hóa” quân đội

 

  

“Phi chính trị hóa” (PCTH) quân đội (QĐ) là âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh. Thực chất đây là âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐ; làm cho QĐ suy yếu về chính trị, từ bỏ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, tiến tới bị vô hiệu hóa, không còn là công cụ bạo lực vũ trang bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN.

Thời gian qua, lực lượng cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với số chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ chức như Việt Tân, Việt Nam phục quốc, Triều đại Việt... Cùng với đó, một số cán bộ, đảng viên (có những đảng viên đã từng giữ chức vụ trung, cao cấp trong bộ máy, hệ thống chính trị của nước ta) suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Lực lượng này len lỏi, phức tạp, không khó để nhận ra nhưng lại rất khó để đấu tranh. Đây là những người phản bội lại quá khứ, phản bội lại lý tưởng và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi lại bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác.

Nhằm thực hiện PCTH QĐ, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, internet, mạng xã hội... để tuyên truyền những quan điểm sai trái, thù địch, phản khoa học về nguồn gốc, bản chất QĐ. Chúng rêu rao rằng: QĐ là lực lượng “siêu giai cấp”, “trung lập về chính trị”..., hòng tạo sự mơ hồ trong cán bộ, chiến sĩ (CBCS) và nhân dân ta về bản chất giai cấp của QĐ, đánh đồng bản chất QĐ ta với QĐ tư sản.

Với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐ, chúng phủ nhận Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành của nước ta xác định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; tuyên truyền, bóp méo, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót cả về đường lối, sự chỉ đạo thực tiễn trong quá khứ, những vấp váp trong công cuộc đổi mới hiện nay; đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”.

Chúng xuyên tạc bản chất, truyền thống của QĐ ta, xuyên tạc tính chất chính nghĩa của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta; kích động, chia rẽ nội bộ QĐ và Công an, chia rẽ QĐ với các cơ quan của Đảng, Nhà nước; chia rẽ QĐ với nhân dân, nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với QĐ, làm phai nhạt hình ảnh cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

Trong bối cảnh hiện nay ở nước ta, đấu tranh chống PCTH QĐ phải kết hợp chặt chẽ đấu tranh chống chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Đó cũng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của lực lượng BĐBP, trong đó, đội ngũ cán bộ chính trị (CBCT) đồn Biên phòng là lực lượng quan trọng, trực tiếp tham gia xây dựng đồn Biên phòng vững mạnh về chính trị, đồng thời đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn PCTH QĐ của kẻ thù. Theo đó, cần nhận thức đúng và phát huy tốt vai trò của CBCT đồn Biên phòng trong đấu tranh chống PCTH QĐ của các thế lực thù địch.

Là những người chủ trì về chính trị hoặc đảm nhiệm hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị ở đồn Biên phòng, CBCT giữ vai trò chủ chốt trong việc xây dựng QĐ vững mạnh về chính trị. Trong tình hình mới, đòi hỏi CBCT không những phải kiên định, vững vàng, nhạy bén về chính trị, mà còn phải tích cực tham gia đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn PCTH QĐ, giữ vững trận địa tư tưởng, xây dựng đồn Biên phòng vững mạnh về chính trị, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Vai trò của CBCT trong đấu tranh chống PCTH QĐ là chức năng, tác dụng của họ trong phát hiện, ngăn chặn các hoạt động chống phá QĐ về chính trị nhằm giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với QĐ. Vai trò của CBCT đồn Biên phòng trong đấu tranh chống PCTH QĐ được biểu hiện ở những nội dung sau:

Một là, góp phần giữ vững, tăng cường trận địa tư tưởng, chính trị của đồn Biên phòng, nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị về chính trị. Sự nghiệp xây dựng lực lượng BĐBP hiện nay phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng vững mạnh về chính trị. Giữ vững, tăng cường trận địa tư tưởng, chính trị, nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị về chính trị là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của lực lượng nòng cốt bảo vệ biên cương của Tổ quốc.

Là lực lượng cơ bản trong hệ thống CBCT của lực lượng BĐBP, đội ngũ CBCT đồn Biên phòng có nhiệm vụ trực tiếp tham gia giữ vững, tăng cường trận địa tư tưởng, chính trị ở đơn vị. Do vậy, họ giữ vai trò cốt cán, quan trọng hàng đầu trong xây dựng, rèn luyện nâng cao phẩm chất, năng lực cho CBCS ở đồn Biên phòng, đặc biệt là về chính trị, tư tưởng. Mặt khác, đội ngũ CBCT cũng trực tiếp tham gia tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, đóng góp cho Đảng và QĐ những ý kiến quý báu về hoạch định đường lối, chính sách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Hai là, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Để đấu tranh chống PCTH QĐ, đòi hỏi đội ngũ CBCT phải hiểu rất sâu sắc, toàn diện hệ thống lý luận Mác xít, biết phân tích, luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn một cách khoa học; nghiên cứu, bổ sung và vận dụng sáng tạo lý luận đó trong thực tiễn; kiên quyết chống lại những luận điệu xuyên tạc, chống phá của kẻ thù.

Qua đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng liên tục được luận giải, chứng minh, vận dụng vào thực tiễn, được thẩm thấu vào họ và lan tỏa đến mọi CBCS ở các đơn vị. Nhờ đó, đội ngũ CBCT nâng cao hiệu quả đấu tranh chống lại các luận điệu nhằm thực hiện âm mưu PCTH QĐ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới.

Đối tượng tác động trực tiếp của đội ngũ CBCT là CBCS, công nhân viên quốc phòng đang công tác tại các đồn Biên phòng. Họ được tiếp thu kiến thức, tác phong công tác, khả năng tổ chức hoạt động thực tiễn, vận dụng lý luận vào thực tiễn đấu tranh chống PCTH QĐ của đội ngũ CBCT. Vì vậy, hoạt động đấu tranh chống PCTH QĐ của CBCT góp phần trực tiếp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống lại các luận điệu thù địch, để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng cho CBCS ở đơn vị; mở rộng ra các đối tượng khác trong và ngoài QĐ, nhất là cán bộ, nhân dân ở khu vực biên giới.

Ba là, góp phần nâng cao giác ngộ chính trị, xây dựng bản lĩnh vững vàng cho CBCS ở đồn Biên phòng. Bằng năng lực, trách nhiệm của mình, thông qua đấu tranh chống PCTH QĐ, đội ngũ CBCT góp phần nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của CBCS. Họ góp phần củng cố, làm sâu sắc thêm những kiến thức, kỹ năng mà CBCS đã được trang bị trong quá trình huấn luyện. Đây là cơ sở vững chắc để CBCS nâng cao giác ngộ chính trị, xây dựng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu đúng đắn.

Với tinh thần trách nhiệm cao trong đấu tranh chống PCTH QĐ, đội ngũ CBCT có cách thức hiệu quả nhất luận giải cho CBCS hiểu rõ tính tất yếu đi theo con đường XHCN; vạch trần âm mưu PCTH QĐ, xây dựng QĐ “trung lập” về chính trị của các thế lực thù địch; vạch trần các âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của kẻ thù trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Đội ngũ CBCT góp phần làm rõ bản chất tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của BĐBP, là một lực lượng chính trị tự giác đứng vững trên lập trường của Đảng, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Do đó, đội ngũ này càng phải cố gắng phấn đấu học tập và rèn luyện nâng cao nhận thức, giữ vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu.

Bốn là, góp phần tạo môi trường lành mạnh để bồi dưỡng, giáo dục nhân cách cho CBCS ở đồn Biên phòng. Là chủ thể tích cực, hoạt động của đội ngũ CBCT có vai trò to lớn trong xây dựng môi trường ở các đồn Biên phòng. Trong đó, hoạt động đấu tranh chống PCTH QĐ của họ góp phần to lớn làm “sạch” môi trường chính trị tư tưởng, lý luận; giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, tạo khả năng “miễn dịch” với các tư tưởng sai trái, phản động cho CBCS ở đơn vị cơ sở. Đội ngũ CBCT có cả về tri thức, kỹ năng, phương pháp hoạt động... và cả tình cảm, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng nên có tác dụng rất lớn trong giáo dục, rèn luyện CBCS. Họ có năng lực truyền thụ tri thức, kỹ năng hoạt động..., có hành vi gương mẫu, lời nói đi đôi với việc làm, là tấm gương mẫu mực cho CBCS trong đơn vị noi theo.

Hoạt động đấu tranh chống PCTH QĐ của đội ngũ CBCT có tính chiến đấu cao, có giá trị giáo dục sâu sắc, được thể hiện thường xuyên trong quá trình công tác của họ. Chính vì vậy, hoạt động đó góp phần xây dựng, củng cố tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình trong đơn vị, tạo môi trường thuận lợi cho giáo dục, rèn luyện CBCS. Từ đó, góp phần khắc phục các biểu hiện bàng quan, nể nang, né tránh phê bình những khuyết điểm của đồng đội, phê bình kiểu “đao to búa lớn”, vì mục đích vụ lợi; hoặc chỉ biết “phê” mà không chịu “tự phê”; nhằm đạt mục đích vừa khắc phục sai lầm, vừa tạo sự đoàn kết, thống nhất trong đơn vị. Đây là những điều kiện thuận lợi để bồi dưỡng, giáo dục nhân cách cho CBCS ở đồn Biên phòng.

Chung sức xây dựng khu vực biên giới biển vững mạnh

 

 

          Những năm qua, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ngọc Lâm, BĐBP Nam Định luôn sát cánh cùng địa phương thực hiện các chương trình, dự án phát triển cơ sở hạ tầng, giúp nhân dân phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân khu vực biên giới biển nắm vững và thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Qua đó, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, xây dựng khu vực biên giới biển ngày càng vững mạnh.

Chúng tôi theo chân đội công tác của Đồn Biên phòng Ngọc Lâm xuống địa bàn xã Nghĩa Hải, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định những ngày đầu tháng 6. Đi trên con đường trải rộng thênh thang, sạch sẽ, thoáng mát dẫn đến xóm 2, xã Nghĩa Hải, chúng tôi được ngắm những chậu hoa giấy đua nhau nở rộ, khoe sắc. Đồng chí cán bộ đi cùng cho biết, đoạn đường được trải bê tông này là một phần của mô hình Tuyến đường nông thôn mới (NTM) kiểu mẫu do Đồn Biên phòng Ngọc Lâm tham mưu với Đảng ủy, UBND xã Nghĩa Hải lựa chọn làm điểm xây dựng điểm. Sau khi huy động tổng lực sức dân, cùng với sự đóng góp công sức của cán bộ, chiến sĩ BĐBP, con đường liên xóm dài 0,1km bằng bê tông, mặt đường rộng 5m, dày từ 20-25cm đã được đầu tư gần 400 triệu đồng để xây dựng. Ngay sau khi hoàn thiện, con đường còn được nhân dân trong xã đóng góp, lắp đặt thêm 18 cột đèn điện chiếu sáng, trồng hàng chục cây bóng mát xung quanh...

Ông Phạm Văn Điện, Bí thư chi bộ, Trưởng ban Công tác mặt trận xóm 2, xã Nghĩa Hải cho biết: “Sau khi được công nhận huyện đạt chuẩn NTM, huyện Nghĩa Hưng đã chuyển trọng tâm sang xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu theo các tiêu chí mới. Đứng chân trên địa bàn, phụ trách xã Nghĩa Hải, Đồn Biên phòng Ngọc Lâm đã tham mưu cho Đảng ủy, UBND xã lựa chọn xây dựng khu dân cư kiểu mẫu ở xóm 2 của xã Nghĩa Hải. Trong 3 năm qua, đường ngõ đi lại trong xóm 2 đã được đầu tư xây dựng theo quy chuẩn NTM nâng cao, việc đi lại sinh hoạt của người dân ngày một thuận lợi. Xóm 2 có được bộ mặt đổi mới như hôm nay có sự đóng góp phần công sức không nhỏ của các cán bộ Biên phòng”.

Ông Nguyễn Văn Nam, Trưởng xóm 2, xã Nghĩa Hải chia sẻ: “Việc triển khai mô hình Tuyến đường NTM kiểu mẫu do những người lính Biên phòng khởi xướng trong mấy năm qua đã mang lại giá trị tinh thần vô cùng to lớn cho bà con. Mỗi lần đi làm về, đi trên con đường bê tông rộng rãi, sạch sẽ, được ngắm những chậu hoa sắc màu hai bên đường thì bao muộn phiền, mệt mỏi của chúng tôi dường như tan biến”.

Ngoài tham quan mô hình Tuyến đường NTM kiểu mẫu, chúng tôi còn được Thiếu tá Nguyễn Văn Tuấn, cán bộ Đội Vận động quần chúng của đồn giới thiệu tham quan mô hình trồng bưởi Diễn của một số hộ dân tại xã Nghĩa Hải. Điển hình là gia đình ông Phạm Xuân Ban đang thực hiện mô hình trồng cây bưởi Diễn, mỗi năm cho thu nhập khoảng 20-30 triệu đồng. Nhìn thấy chúng tôi, ông chạy tới tay bắt, mặt mừng, rồi hồ hởi khoe: “Năm vừa qua, nhờ có vườn bưởi thu nhập khá nên gia đình tôi đã đầu tư xây thêm được một gian nhà bếp khang trang. Năm nay, hy vọng sẽ có thu nhập tốt hơn để gia đình tôi cưới vợ cho cậu út”.

Được biết, vườn bưởi Diễn rộng hơn 2 sào, với 50 gốc của gia đình ông Phạm Xuân Ban là một trong 7 mô hình phát triển kinh tế do cán bộ Đồn Biên phòng Ngọc Lâm phối hợp với Hội Nông dân huyện Nghĩa Hưng triển khai từ năm 2016. Theo đó, để hỗ trợ cho bà con trên địa bàn tuyến biên phòng, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ngọc Lâm đã đóng góp kinh phí mua cây giống, Hội Nông dân huyện chuyển giao khoa học kỹ thuật chăm sóc cây trồng cho các hộ. Đến nay, các hộ gia đình thực hiện mô hình này đều phát triển tốt, có thu nhập trong tương lai.

Một số giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề dân tộc trên địa bàn Tây Nguyên

 

1.     

Để phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề dân tộc trên địa bàn Tây Nguyên cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh, phòng, chống âm mưu của các thế lực thù địch vùng DTTS. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, đồng bào vùng DTTS nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bọn phản động trong và ngoài nước. Tiếp tục tuyên truyền, khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta. Thực hiện nghiêm, hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018 của Ban Bí thư khóa XII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN...

Hai là, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS. Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề khó khăn trong đời sống của đồng bào DTTS để chống phá. Các cấp, các ngành cần triển khai hiệu quả các chủ trương, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ; giải quyết tốt tình trạng tranh chấp đất đai, đẩy nhanh tiến độ giao đất, khoán rừng, tổ chức lại sản xuất cho đồng bào các DTTS, tạo việc làm ổn định, giúp đồng bào an cư lạc nghiệp, trọng tâm là việc triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội ngày 18/11/2014 về phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030; Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030...

          Ba là, thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ “cơ bản, toàn diện, liên hoàn, vững chắc”; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Tây Nguyên nói chung, tỉnh Đắk Nông nói riêng. Chủ động triển khai hiệu quả các biện pháp chống biểu tình, bạo loạn; làm tốt công tác kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh các phương án bảo vệ an ninh ở địa phương, cơ sở. Đồng thời, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, chủ động phòng, chống các hoạt động tình báo, gián điệp của địch, củng cố trận địa an ninh nhân dân vững mạnh, làm cơ sở, chỗ dựa vững chắc cho đồng bào các DTTS trên địa bàn.

Bốn là, đổi mới và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, chính quyền cơ sở, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt là người DTTS vững mạnh về mọi mặt. Cấp ủy, chính quyền các địa phương cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên là người DTTS tại chỗ; đồng thời tăng cường cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức cho cơ sở vùng đồng bào DTTS, vùng tôn giáo, nhất là ở những địa bàn trọng điểm...

Năm là, chủ động phát hiện, kịp thời đấu tranh vô hiệu hóa các hoạt động truyền bá, kích động cực đoan gây chia rẽ các dân tộc. Chủ động đấu tranh với các thế lực thù địch chỉ đạo, hậu thuẫn số đối tượng bên trong đòi ly khai, tự trị; đấu tranh với các hoạt động quốc tế hóa vấn đề dân tộc và sự can thiệp từ bên ngoài. MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội cần bám sát, nắm chắc tư tưởng của quần chúng, vận động họ tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương. Đồng thời, cần xây dựng nội dung, phương thức phù hợp để chủ động nhận diện và tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng và Nhà nước, chính quyền các cấp của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề dân tộc ở địa bàn các tỉnh Tây Nguyên nói chung, tỉnh Đắk Nông nói riêng

Phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam


 

          Phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật là vấn đề hết sức quan trọng, góp phần bảo đảm cho quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được hiện thực hóa, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao và cấp bách nhằm đáp ứng sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Mục tiêu nhất quán, xuyên suốt của Đảng là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, mà trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một nội dung quan trọng. Để đạt được mục tiêu đó, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cơ quan lập pháp đã tập trung thực hiện công tác xây dựng pháp luật, trong đó, chú trọng sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới nhiều bộ luật, xây dựng các luật quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, điều chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, môi trường, dân tộc, tôn giáo, y tế, quốc phòng - an ninh, trật tự, an toàn xã hội phù hợp với tình hình thực tiễn... nhằm tạo lập hệ thống pháp lý vững chắc, lành mạnh, hiệu lực, hiệu quả, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24-5-2005, “Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 2-6-2005, “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, công tác xây dựng pháp luật đã có những kết quả rất tích cực, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, từ tháng 5-2005 đến tháng 8-2021, Quốc hội đã ban hành hơn 300 văn bản pháp luật (mỗi năm trung bình khoảng 19 văn bản); trong khi, 20 năm đổi mới trước đó (1986 - 2005) mới ban hành tổng số 140 văn bản pháp luật, trung bình mỗi năm khoảng 7 văn bản (1).

Xây dựng pháp luật là hoạt động phức hợp bao gồm nhiều hoạt động nối tiếp nhau theo trình tự, thủ tục chặt chẽ, được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền với chức năng, nhiệm vụ khác nhau. Mỗi giai đoạn trong quy trình xây dựng pháp luật được hoàn thành là một lần củng cố thêm tính logic, khoa học, phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội. Xây dựng pháp luật là một trong những phương diện hoạt động quan trọng nhất của Nhà nước, nhằm mục đích trực tiếp tạo ra các quy phạm pháp luật, cũng như sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống các quy phạm một cách phù hợp nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội đang diễn ra. Hiểu một cách khái quát, xây dựng pháp luật là hoạt động soạn thảo, ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ các quy định của pháp luật cho phù hợp với nhu cầu điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội.

 “Diễn biến hòa bình” là khái niệm đã được nhiều công trình nghiên cứu, đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Hiểu một cách phổ biến và khái quát: “Diễn biến hòa bình” là diễn biến dần dần, đi đến cuối cùng chuyển sang một chế độ chính trị khác, không qua bạo lực (thường nói về chiến lược không dùng chiến tranh mà dùng hàng loạt phương thức và thủ đoạn, nhằm tạo ra một quá trình diễn biến hòa bình để lật đổ chế độ chính trị ở nước khác) (2).

“Diễn biến hoà bình” trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam là hoạt động của các thế lực thù địch thông qua các phương thức, thủ đoạn phi quân sự tác động, can thiệp, gây sức ép vào quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam, từ đó, hướng lái, chuyển hóa, tiến tới thay đổi bản chất hệ thống pháp luật và chế độ chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thực tiễn cho thấy, các thế lực thù địch tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với nước ta trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, hiện nay, lĩnh vực xây dựng pháp luật được coi là tâm điểm công phá của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Bởi, pháp luật không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là vấn đề sống còn của chế độ chính trị, của thượng tầng kiến trúc xã hội.

Hệ thống pháp luật nước ta thể hiện vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng; ý chí, bản chất chính trị của Nhà nước, là công cụ để quản lý, điều hành xã hội, duy trì trật tự, kỷ cương, pháp chế của Nhà nước. Do đó, thế lực thù địch luôn hướng tới mục tiêu chi phối quá trình lập pháp, gây sức ép, tác động, chuyển hóa, hướng lái hệ thống pháp luật Việt Nam theo ý đồ của chúng là thay đổi bản chất hệ thống pháp luật Việt Nam theo quan điểm giá trị dân chủ, nhân quyền phương Tây; tạo cơ sở, hành lang pháp lý cho việc thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, thay đổi bản chất giai cấp, bản chất chế độ chính trị của hệ thống pháp luật, tiến tới thay đổi chế độ chính trị của Nhà nước ta. 

Khẳng định Đảng lãnh đạo nhân dân ta giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác là có cơ sở khoa học


Bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch. Song, chúng không bác bỏ được cơ sở khoa học của việc Đảng lãnh đạo nhân dân ta giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

Nhằm bác bỏ vai trò của Đảng, các thế lực thù địch đã trích dẫn một số câu nói của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, như câu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong diễn văn khai mạc lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2020): “Không có một lực lượng nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn”... rồi cho rằng: “Mức độ tự huyễn của những lời phát ngôn dẫn thượng khiến tôi nhớ đến lời than phiền, nghe được từ hồi cuối thế kỷ trước, của ông Hà Sỹ Phu: “Đảng Cộng sản Việt Nam như người đi đường không biết dùng bản đồ. Thỉnh thoảng lại sa xuống hố. Lóp ngóp bò lên được thì hô vang thắng lợi. Cứ thế, Ðảng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” [1] (!).

Viết vậy chứng tỏ các đối tượng này đã cố tình “quên” cảnh đất nước ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Đó là cảnh “nước mất, nhà tan”, dù các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi, không ngừng khắp Bắc, Trung, Nam. Mặc dù các phong trào kể trên đều sáng ngời tinh thần yêu nước, bất khuất, song, tất cả đều lâm vào bế tắc và cuối cùng thất bại. Các phong trào đó cho thấy, tất cả các phương án chính trị của các giai cấp đều đã được đưa ra và được lịch sử khảo nghiệm - từ đường lối cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, đến những đường lối theo lập trường nông dân, lập trường tiểu tư sản, lập trường tư sản. Ðường lối của Việt Nam Quốc dân Ðảng theo hệ tư tưởng tư sản thiết tưởng có cái mới, tích cực nhất lúc bấy giờ, nhưng khởi nghĩa Yên Bái vừa bùng lên đã tắt ngấm.

Giữa lúc, “tình hình đen tối như không có đường ra” ấy, sự ra đời, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không phải là sự áp đặt chủ quan, trái lại, bắt nguồn một cách khách quan từ tính tất yếu lịch sử, từ nhu cầu thiết thân của nhân dân trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc, xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân và bảo vệ Tổ quốc. Vậy là, chỉ khi Đảng Cộng sản ra đời mới lãnh đạo nhân dân ta giành được thắng lợi, thiết lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Việt Nam mới lại có tên trên bản đồ thế giới. Điều ấy chứng tỏ, trong thời đại ngày nay, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhân dân ta mới giành được độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc.

Trong lịch sử dân tộc ta, có lúc, ngoài Đảng Cộng sản còn có các đảng khác, như: Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội... Đảng Dân chủ Việt Nam là “chính đảng của tư sản dân tộc và tiểu tư sản, trí thức yêu nước và tiến bộ Việt Nam”, hoạt động từ tháng 6/1944 đến tháng 10/1988. Đảng Xã hội Việt Nam được thành lập ngày 22/7/1946, dưới vận động của Mặt trận Việt Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương nhằm “tập hợp, đoàn kết mọi trí thức yêu nước và dân chủ”. Cả hai đảng trên đều tự giải tán cùng vào năm 1988 và thừa nhận vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã giành được nhiều thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống xâm lược và cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc đều đã rõ ràng, thế giới thừa nhận, nên không cần nhắc lại.

Trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, nhất là từ khi đổi mới đất nước (năm 1986) đến nay, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng giành thắng lợi to lớn, tạo nên nhiều “ấn tượng” với bạn bè quốc tế. Đồng thời, bạn bè quốc tế dành nhiều tình cảm tốt đẹp cho Việt Nam với sự nể phục, coi Việt Nam là “hình mẫu” để học tập.

Tại hội thảo với chủ đề “Đảng Cộng sản Việt Nam: 90 năm thành tựu và đoàn kết quốc tế” do Hội Hữu nghị Canada - Việt Nam (CVFS) tổ chức ở thành phố Toronto, ngày 1 đến ngày 2/2/2020, ông Philip Fernandez, thành viên của CVFS, đảng viên Đảng Cộng sản Canada nhấn mạnh: “Uy tín và vị thế cao của Việt Nam trên trường quốc tế đã phản ánh sức mạnh chính trị và ý thức hệ của Đảng, cũng như khả năng tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam khi tìm ra phương hướng trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay và cùng với sự tham gia của nhân dân để đưa ra chương trình nghị sự nhằm xây dựng một nước Việt Nam hiện đại.

Một ưu điểm nổi bật của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là khả năng ứng dụng một cách sáng tạo các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện của Việt Nam để đạt được các mục tiêu ở quy mô quốc gia và quốc tế. Điều này cũng phản ánh niềm tin của người dân Việt Nam vào sự lãnh đạo của Đảng; niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã được thể hiện khi Việt Nam đã trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối”.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Argentina Victor Kot cho rằng, trong thế kỷ XX và những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, Việt Nam đã tạo ra được sự khích lệ lớn lao cho việc hình thành phong trào quốc tế cộng sản, cho cuộc đấu tranh của những người cộng sản và cách mạng, cũng như lịch sử nhân loại. Ông cũng tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản, Việt Nam sẽ tiếp tục triển khai thành công các chiến lược phát triển đất nước, cũng như đạt được nhiều thành tựu mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Vì vậy, Việt Nam được tín nhiệm bầu vào nhiều vị trí, cơ quan quan trọng hàng đầu của Liên hợp quốc; đồng thời đã và đang đảm nhiệm, phát huy vai trò “chủ động, tích cực và có trách nhiệm” tại các diễn đàn này, như: Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (2008 - 2009; 2020 - 2021), Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (2014 - 2016), Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc (1998 - 2000; 2016 - 2018)...

Tất nhiên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng không phải không mắc sai lầm, khuyết điểm. Điều đó đã được Đảng ta nhìn thấy và thẳng thắn thừa nhận, nhưng khuyết điểm đó chỉ tạm thời với từng vụ việc cụ thể, hoặc trong thời gian ngắn, còn xuyên suốt cả quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn giành thắng lợi. Cho nên, khẳng định Đảng lãnh đạo nhân dân ta giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác là hoàn toàn có cơ sở khoa học.

Điều ấy cũng chứng tỏ khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong thời đại ngày nay: “Không có một lực lượng nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn” là hoàn toàn có cơ sở lý luận và thực tiễn./. 

Đập tan âm mưu thành lập nhà nước riêng

 


Xét về yếu tố địa hình, lịch sử, văn hóa, KVBG Điện Biên (gồm 29 xã thuộc 4 huyện Điện Biên, Mường Chà, Nậm Pồ và Mường Nhé) có nhiều điểm khác biệt so với các địa phương khác. Có tới 16 dân tộc cùng sinh sống tại KVBG Điện Biên, trong đó, dân tộc Mông đông nhất, chiếm 49,85%, dân tộc Thái chiếm 23,97%. Sự đa dạng về tộc người, khác biệt về văn hóa và trình độ nhận thức của người dân cũng như giữa các dân tộc không đồng đều chính là một trong những yếu tố khiến công tác dân tộc ở Điện Biên gặp nhiều thử thách

Trước những khó khăn, thách thức từ thực tế, thực hiện Chỉ thị số 572-CT/QUTW của Quân ủy Trung ương “Về Quân đội thực hiện công tác dân tộc trong tình hình mới” (2012-2022), BĐBP Điện Biên đã phối hợp với chính quyền địa phương các xã biên giới triển khai nhiều hoạt động cụ thể nhằm giữ vững ổn định về an ninh, trật tự vùng dân tộc thiểu số, giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống.

Trong những năm trước đây, KVBG Điện Biên là trọng điểm của tình trạng di dịch cư tự do. Đặc biệt, ở vùng người Mông di cư tự do, các đối tượng phản động lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân để tăng cường truyền đạo trái phép, lôi kéo người dân tụ tập đông người biểu tình, chống đối chính quyền, đòi thành lập nhà nước riêng.

Trước thực trạng đó, BĐBP Điện Biên thường xuyên phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng nắm tình hình địa bàn, tổ chức tuyên truyền, vận động các hộ gia đình theo tà đạo “Giê Sùa”, “Bà Cô Dợ” (thực chất là lôi kéo người Mông tham gia hoạt động ly khai tự trị dân tộc) tự giác từ bỏ tà đạo, chuyển sang theo các hệ phái tôn giáo chính thống, được Nhà nước cho phép.

Trong 10 năm qua, BĐBP Điện Biên đã tham mưu thành lập thêm 7 đảng bộ xã, 115 chi bộ bản, xóa 99 bản chưa có đảng viên; tham gia củng cố 2.149 chi bộ thôn, bản; 1.837 tổ chức chính trị - xã hội ở 29 xã biên giới; tham mưu quy hoạch nhân sự phục vụ việc chia tách, thành lập mới 14 xã đảm bảo đúng đối tượng, tiêu chuẩn.

Cùng với đó, BĐBP Điện Biên đã tham mưu giải quyết kịp thời một số vụ việc phức tạp như: Tranh chấp địa giới hành chính giữa nhân dân xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ với xã Nậm Kè,huyện Mường Nhé; chặt phá rừng tại bản Na Cô Sa 4, xã Na Cô Sa; đền bù giải phóng mặt bằng tại bản Ca Hâu, xã Na Ư, huyện Điện Biên; chống người thi hành công vụ tại bản Huổi Thủng 3, xã Na Cô Sa; tranh chấp đất đai tại xã Thanh Luông và xã Mường Pồn, huyện Điện Biên... Đồng thời, vận động được 7.916 hộ/42.777 nhân khẩu không di dịch cư tự do, ổn định lao động sản xuất, phát triển kinh tế.

Trên cơ sở nắm chắc địa bàn, giải quyết kịp thời các vụ việc phức tạp, BĐBP Điện Biên đã vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, kích động, tập hợp lực lượng thành lập “Nhà nước Mông”, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đồng bào dân tộc thiểu số ở KVBG; củng cố niềm tin của đồng bào với Đảng, Nhà nước và lực lượng BĐBP, góp phần giữ vững tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở KVBG.

Chủ động phòng ngừa, đấu tranh với thủ đoạn xuyên tạc việc xây dựng, kiện toàn lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở

 

Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ  6 ngày 28 tháng 11 năm 2023 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2024. Đây là sự kiện quan trọng, khẳng định tính pháp lý, vị trí, vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở trong công tác bảo đảm ANTT trong tình hình mới.

Tuy nhiên, cũng như đối với các bộ Luật khác quá trình thực hiện các đối tượng thù địch, phản động không ngừng đưa ra các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong việc xây dựng Luật và kiện toàn lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta. Hoạt động xuyên tạc, chống phá của các đối tượng thù địch, phản động diễn ra ngay từ giai đoạn xây dựng dự thảo luật, lấy ý kiến đóng góp của quần chúng nhân dân cũng như quá trình Quốc hội thảo luận, cho ý kiến và biểu quyết thông qua Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Các thế lực thù địch, phản động đã liên tục đưa ra các quan điểm, luận điệu xuyên tạc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của lực lượng này đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Khi Luật được thông qua chính thức có hiệu lực, những luận điệu xuyên tạc, chống phá như: “lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là gánh nặng cho người dân”, “mục đích thành lập lực lượng này là nhằm đàn áp nhân dân”, “việc gia tăng lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là để quản lý người dân, doanh nghiệp và chính đảng viên để có thể trừng trị bất cứ khi nào”, “lập thêm lực lượng để bòn rút nhân dân”… tiếp tục bị các đối tượng, phần tử xấu trong và ngoài nước chống phá, đăng tải trên các báo, đài nước ngoài, trang thông tin, trang mạng xã hội phản động… Các quan điểm trên thể hiện tính vô căn cứ, mang tính áp đặt, cực đoan với mục đích gây tâm lý hoài nghi, dao động, mất niềm tin trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến mục tiêu giữ vững sự ổn định và bảo đảm an ninh, trật tự từ địa bàn cơ sở. 

Về mặt pháp lý, việc xây dựng Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là sự cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Đảng, Nhà nước luôn xác định nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị với sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, trong đó lực lượng Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt, cùng với các lực lượng khác thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự  từ sớm, từ xã và ngay từ cơ sở.

Theo quy định, Luật lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã đề ra 06 nhóm nhiệm vụ gồm: Hỗ trợ nắm tình hình về ANTT; hỗ trợ xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; hỗ trợ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; hỗ trợ quản lý hành chính về trật tự xã hội; hỗ trợ vận động, giáo dục người đã có hành vi vi phạm pháp luật đang cư trú tại cơ sở; hỗ trợ tuần tra bảo đảm an ninh, trật tự, trật tự an toàn giao thông và thực hiện các nhiệm vụ khác khi được điều động… 

Quá trình thực hiện nhiệm vụ, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở có trách nhiệm tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; dựa vào nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Đặc biệt, pháp luật nghiêm cấm hành vi lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ bảo vệ ANTT để vi phạm pháp luật, nhũng nhiễu, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Về mặt thực tiễn cho thấy, những vụ việc, hiện tượng liên quan đến ANTT phần lớn đều xảy ra tại các địa bàn cơ sở, xuất phát từ cơ sở, do đó công tác bảo đảm ANTT ở cơ sở được xác định là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, cấp bách. Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở không phải là lực lượng được ra đời mới hoàn toàn. Về mặt bản chất, đây là sự điều chỉnh, hợp nhất các lực lượng có sẵn với nhiều tên gọi khác nhau được thành lập, hoạt động ở địa bàn cơ sở từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, bao gồm Công an xã bán chuyên trách, bảo vệ dân phố và các chức danh Đội trưởng, Đội phó dân phòng. Những năm qua, lực lượng này đã góp phần quan trọng trong công tác đấu tranh làm thất bại các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ bình yên của Tổ quốc. Bởi vậy, để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, bất cập phát sinh từ thực tiễn, việc thống nhất các lực lượng trên thành 01 lực lượng với tên gọi chung là lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là rất cần thiết, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Do đó, không hề có việc “chính quyền gia tăng lực lượng để đàn áp người dân” như luận điệu xuyên tạc mà các đối tượng xấu đã tung ra.

Mặt khác, ngay sau khi được chính thức ra mắt, với sự chủ trì tham mưu của lực lượng Công an, cấp uỷ, chính quyền các cấp đã nhanh chóng ổn định tổ chức, đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, chú trọng tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, phát huy hiệu quả vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở trong công tác hỗ trợ lực lượng Công an tham gia bảo ANTT và xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc tại địa bàn.

Như vậy, có thể khẳng định việc xây dựng, kiện toàn, ra mắt lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở chính là để huy động sức mạnh nhân dân tham gia giữ gìn ANTT, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Mỗi người, mỗi nhà cần tăng cường nhận thức, hiểu biết đúng đắn về vị trí, vai trò của lực lượng bảo vệ ANTT tại cơ sở; tỉnh táo, nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, ý đồ, hoạt động lợi dụng việc xây dựng, kiện toàn lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta./.

 

Nhận diện thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân

“Nước Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử và kinh tế, và không một lực lượng nào trên thế giới có thể chia cắt được Việt Nam”. Đây là khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Diễn từ tiệc chiêu đãi ở Bêôgrát (Nam Tư)”, Báo Nhân dân đăng trên số 1248, ngày 8/8/1957. Tinh thần đoàn kết toàn dân tộc đã giúp chúng ta vượt qua những thách thức, cam go của lịch sử, đánh thắng các kẻ thù xâm lược, bảo vệ và xây dựng đất nước đi lên CNXH. Thế nhưng, các thế lực thù địch chống phá Việt Nam lại không mong muốn điều đó, họ luôn ra sức tung hô, cổ xúy cho các hành vi kích động bạo lực, gây hận thù dân tộc, chia rẽ đồng bào lương giáo, ngăn cách đồng bào các dân tộc thiểu số, phá vỡ sự kết nối giữa lòng dân với ý Đảng.

Giáo sư, Tiến sĩ Mạch Quang Thắng, giảng viên cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh phải luôn giữ vững được niềm tin của nhân dân, đó là cơ sở cho sự đoàn kết, thống nhất trong toàn dân. “Tài sản lớn nhất của Đảng là niềm tin của dân. Mất niềm tin là mất tất cả”.

Ở nước ta, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, các thế lực thù địch, phản động xoáy sâu vào những điểm nóng, tập trung mũi nhọn chống phá vào các vấn đề dân tộc, tôn giáo. Thời gian gần đây, các đối tượng nước ngoài liên tục tung tiền, chi phối, giật dây điều khiển các đối tượng cơ hội chính trị trong nước, kích động, lôi kéo nhân dân, tập hợp lực lượng để thành lập các Nhà nước tự xưng như Nhà nước của người Mông, Nhà nước Đề Ga tự trị, Nhà nước của đồng bào Khmer…

Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Thủy, Chủ nhiệm Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị phân tích: “Chúng kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc, lôi kéo quần chúng, chống đối chính quyền, kích động đồng bào dân tộc thiểu số di cư trái phép, gây mất ổn định về chính trị xã hội, từ đó, tạo cớ để các lực lượng chính trị bên ngoài can thiệp. Chúng lợi dụng những vấn đề có tính lịch sử để lại để đòi li khai tự trị, tìm cách luật pháp hóa, quốc tế hóa những vấn đề dân tộc, tôn giáo để từ đó tiếp cận chỉ đạo bọn phản động trong nước và ngoài nước kết hợp với nhau hỗ trợ bọn phản động cực đoan trong nước để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta”.

Thực tế cho thấy, đồng bào các dân tộc, tôn giáo trên lãnh thổ Việt Nam đều được chung sống hòa bình, bình đẳng và tích cực đóng góp cho công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Các đồng bào tôn giáo đều một lòng hướng thiện, sống tốt đời đẹp đạo, kính chúa yêu nước, chỉ những người nhẹ dạ, cả tin hoặc những chức sắc tôn giáo bị tác động, chi phối bởi các thế lực thù địch mới luôn có tư tưởng và âm mưu chia rẽ đồng bào lương giáo. Đại đức Thạch Dương Trung, Trụ trì chùa Cót Đôn, tỉnh Bạc Liêu và Linh mục Vũ Thanh Lịch, thuộc Giáo phận Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắk Lắk khẳng định như vậy.

“Đảng, Nhà nước chúng ta luôn hỗ trợ, ủng hộ các tôn giáo đều sinh hoạt tín ngưỡng bình đẳng với nhau. Các dân tộc đều có quyền sinh sống bình đẳng, không có sự đàn áp một dân tộc nào. Không chỉ dân tộc Khmer, các dân tộc khác cũng đều như vậy, đều sống bình đẳng” - Đại đức Thạch Dương Trung nói.

Linh mục Vũ Thanh Lịch nhấn mạnh: “Đạo công giáo với tinh thần bác ái, yêu thương, phục vụ và ai cũng có trách nhiệm đối với quê hương, đất nước. Và đặc biệt là người Việt Nam chúng ta, bất kể tôn giáo nào đều có lòng yêu nước thiết tha và sẵn sàng đóng góp mọi mặt cho quê hương mình”.

Theo phân tích của nhà báo Hồng Thanh Quang, nguyên Tổng Biên tập Báo Đại đoàn kết, một số quốc gia hiện nay đang rơi vào chiến tranh, ly khai, loạn lạc đều có bàn tay can thiệp, đạo diễn từ các thế lực bên ngoài. Thông qua đồng tiền, các thế lực bên ngoài khống chế, hà hơi tiếp sức cho các thế lực đối lập, phản động trong nước, thổi bùng lên thành những mâu thuẫn và sau đó dẫn đến sự can thiệp của nước ngoài, dưới hình thức bảo vệ nhân quyền, bảo vệ dân chủ, nhưng kết cục thì hoàn toàn ngược lại.

Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam là một thực thể thống nhất, đồng bào các dân tộc, tôn giáo đều là người dân nước Việt Nam, được quan tâm, chăm lo và bình đẳng trước pháp luật. Mỗi người dân đều có trong mình lòng yêu nước và tinh thần tự tôn dân tộc. Giáo sư Hoàng Chí Bảo cho rằng, lòng yêu nước và truyền thống yêu nước của dân tộc từ bao lâu nay trong lịch sử đã trở thành tài sản, giá trị thiêng liêng, cao quý của dân tộc Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam, không chỉ ôm giữ niềm tự hào, mà cần phải đánh thức, làm sống dậy niềm tự hào đó. Trước hết đó là, bảo vệ tinh thần đoàn kết dân tộc, không nghe theo những xúi giục, kích động của các phần tử bất mãn và các thành phần chống phá chế độ.

“Người dân thì có thể do thiếu hiểu biết, thiếu thông tin, thiếu cân nhắc, tỉnh táo khi quyết định hành vi ứng xử của mình, nhưng kẻ xấu thì làm việc này có tính toán. Chúng chống phá sự phát triển tốt đẹp, bình yên của đất nước chúng ta, chống phá chế độ và muốn chúng ta đi chệch con đường mà Đảng ta, nhân dân ta đã lựa chọn, đó là con đường CNXH” - Giáo sư Hoàng Chí Bảo khẳng định.

Cách đây 6 thế kỷ, sau khi đập tan ách thống trị, đô hộ 20 năm của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”. Tinh thần và tư tưởng đoàn kết toàn dân, đoàn kết quân dân và binh sĩ đã trở thành mạch nguồn làm nên sức mạnh để chúng ta đương đầu vượt qua mọi khó khăn, thách thức.

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp như hiện nay, cùng với việc nâng cao tinh thần chủ động phát hiện, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, cũng cần huy động sự vào cuộc tích cực của nhân dân. Đây sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Đấu tranh phản bác luận điệu “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là đi vào vết xe đổ của Liên Xô” của các thế lực thù địch

 

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiếp tục sử dụng các thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt để thực hiện mục tiêu xuyên suốt không bao giờ thay đổi là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng thường xuyên tung lên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là các trang mạng xã hội những luận điệu xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ lịch sử, phủ nhận con đường phát triển của đất nước. Trong đó, luận điệu: “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là đi vào “vết xe đổ của Liên Xô” là một trong những điển hình của những thủ đoạn thâm độc đó.

Thực chất luận điệu trên của các thế lực thù địch nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nước ta, hướng lái con đường cách mạng sang chủ nghĩa tư bản. Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm, tác động không nhỏ đến việc định hướng, củng cố niềm tin của Nhân dân với con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã chọn từ năm 1930. Do đó, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại luận điệu xuyên tạc đó của các thế lực thù địch, góp phần củng cố, kiên định niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là vấn đề luôn có tính cấp thiết hiện nay.

Trước hết, chúng ta cần nhận thức rõ rằng, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở ở Liên Xô vào năm 1991 là một thực tế lịch sử không phủ nhận, do những nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, trong đó nguyên nhân “cốt tử” đó là do trong thời điểm đó, Đảng Cộng sản Liên Xô và một số cá nhân trong ban lãnh đạo của đảng đã xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; sai lầm trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội hoặc cứng nhắc, máy móc, giáo điều trong vận dụng, thậm chí sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính trị (cải tổ chính trị trước cải tổ kinh tế...); sai lầm về công tác tư tưởng và công tác tổ chức, thậm chí có sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ lãnh đạo cao cấp (nhất là người đứng đầu, như Goócbachốp...). Cùng với đó, các thế lực thù địch, phản động thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ, tìm mọi cách tác động vào công cuộc cải tổ của Liên Xô, lợi dụng những sai lầm từ bên trong đảng, nhà nước, đội ngũ cán bộ để thực hiện mục tiêu xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô... Sự đổ vỡ ấy là tổn thất vô cùng to lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của chủ nghĩa xã hội hiện thực, và vô hình chung đã tạo thành “vết xe đổ” trên con đường hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Nhưng xét một cách khách quan về thực tiễn, chính “vết xe đổ” ấy là bài học kinh nghiệm vô cùng “đắt giá” cho những người mác xít chân chính, các đảng cộng sản nhìn nhận, đánh giá, đúc rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, cải cách ở đất nước mình, dân tộc mình. Trên thực tế, vấn đề có tính quy luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đó là: Nếu các đảng cộng sản không kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, không giữ vững nguyên tắc định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản - nhân tố quyết định sự thắng lợi của cách mạng vô sản; không vận dụng sáng tạo, linh hoạt trong quá trình đổi mới, cải cách; việc định ra đường lối, chiến lược, sách lược không đúng đắn, phù hợp với tình hình, điều kiện lịch sử, văn hóa của dân tộc... thì sớm hay muộn sẽ “đi vào vết xe đổ” ấy của Liên Xô. Ngược lại, nếu các Đảng Cộng sản thật sự nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, luôn trung thành và kiên định, vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, giữ vững nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội, luôn sáng tạo, linh hoạt trong quá trình đổi mới, cải cách, định ra đường lối, chiến lược, sách lược đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và điều kiện của từng nước, luôn cảnh giác, đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch... thì nhất định công cuộc đổi mới, cải cách sẽ thành công, và cố nhiên sẽ không thể và không bao giờ đi vào “vết xe đổ của Liên Xô”. Điều đó được minh chứng bằng sự đổi mới, cải cách thành công của các nước xã hội chủ nghĩa: Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Lào...

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng: Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội sẽ không thể và không bao giờ đi vào “vết xe đổ của Liên Xô” như các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang rêu rao, xuyên tạc, phủ nhận. Bởi vì, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã được Đảng, Bác Hồ, Nhân dân ta đã lựa chọn từ năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đây là sự lựa chọn của lịch sử, của lương tri và phẩm giá của con người Việt Nam, là sự lựa chọn duy nhất đúng và được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng đắn, hợp với quy luật phát triển của lịch sử loài người và điều kiện lịch sử của Việt Nam đầu thế thế kỷ XX. Chính lựa chọn con đường đúng đắn đó đã trở thành mục tiêu, động lực cho cách mạng Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên độc lập, tự do, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bảo vệ hai đầu biên giới phía Tây Nam và phía Bắc... đã chứng minh sự lựa chọn đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là hoàn toàn đúng, đưa Việt Nam bước phát triển trong Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, do Đảng ta đã tuyệt đối trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện của Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định với đường lối đổi mới, nhất là kiên định với những nguyên tắc xây dựng Đảng Cộng sản, cùng với việc khơi dậy và phát huy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, kết hợp chặt chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại... cách mạng Việt Nam đã đổi mới thành công, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay”. Đây là những điều kiện, tiền đề quan trọng để nước ta vượt qua Kỷ nguyên đổi mới, phát triển, bước vào Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Thành tựu to lớn ấy càng minh chứng: Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội hoàn toàn đúng đắn, phù hợp không phải là “đi vào vết xe đổ của Liên Xô”, mà là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, đáp ứng ước nguyện của toàn thể dân tộc và là con đường duy nhất đúng trong thời đại ngày nay - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, mở đầu bằng cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.

Như vậy, luận điệu “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là đi vào vết xe đổ của Liên Xô” là hoàn toàn sai trái, thù địch, nhằm xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Do đó, hơn lúc nào hết chúng ta phải luôn luôn cảnh giác, nêu cao tinh thần đấu tranh cách mạng, luôn tin tưởng, kiên định con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân đã chọn, phấn đấu thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn “Xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng…”


Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng n của mạng Internet, các mạng xã hội toàn cầu và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường; các thế lực thù địch, phản động có những chiêu thức, thủ đoạn mới chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mi, cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đấu tranh bảo vệ nền tảng của Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong xây dựng Đảng về chính trị, tổ chức và đạo đức, gắn liền với nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Chính vì vậy, chúng ta cần phải nhận diện rõ hơn, chi tiết hơn những âm mưu thủ đoạn, nội dung phá hoại của các thế lực thù địch để có những giải pháp thật sự đồng bộ, chủ động tiến công, thích ứng nhanh chóng với thực tiễn và đạt hiệu quả cao.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn “Xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng…”

Đây là âm mưu, thủ đoạn, nội dung hàng đầu, cốt lõi, xuyên suốt trong mọi hoạt động chống phá của các thế lực thù địch (chúng). Chúng tung tin hỏa mù, với hàng nghìn bài viết, bài phỏng vấn, thư ngỏ bằng các luận điệu vu cáo bĩnh luận thâm độc, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng; phủ nhận, bác bỏ những nội dung cốt lõi, then chốt trong đường lối chính trị, quan điểm cơ bản của Đảng, đòi từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng xã hội chủ nghĩa; đề cao mô hình thể chế hóa nhà nước tư bản chủ nghĩa, tam quyền phân lập, tô hồng, ca ngợi sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học, công nghệ của chủ nghĩa tư bản; sử dụng thủ đoạn cung cấp các thông tin thật, giả lẫn lộn để bịa đặt, hư cấu. Đó là lợi dụng những hình ảnh, thông tin từ các hoạt động của Đảng, Nhà nước ta, sau đó cất xen không đầy đủ, để đưa lên mạng xã hội bình phẩm làm cho người đọc hiểu lầm; các bài viết đều có dung lượng mặt trái trên 80%, chỉ có rất ít dung lượng tích cực để dẫn dắt, hư cấu, lôi cuốn người đọc hiểu lầm, thậm chí cả những người có ừình độ, có lý luận cao cấp vẫn bị vấp ngã.. Các bài viết được “sản xuất” hằng ngày, hàng giờ, được tung lên trên các “mặt trận”, chủ yếu trên các nền tảng mạng xã hội. 

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 - Chiến thắng mang ý nghĩa thời đại

 

11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc lập, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thống nhất hai miền Nam - Bắc, đưa non sông về một mối. Đây cũng là chiến thắng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử dân tộc ta; mở ra thời kỳ mới - thời kỳ độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Tháng 1/1973, dù đã ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, nhưng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, Mỹ tiếp tục viện trợ kinh tế, quân sự và chỉ đạo chính quyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định, mở hàng ngàn cuộc hành quân “bình định, lấn chiếm” nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam. Trước tình hình trên, tháng 7/1973, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 nhấn mạnh: Bất kể trong tình huống nào, con đường giành thắng lợi của cách mạng cũng là sử dụng bạo lực cách mạng, do đó phải nắm vững chiến lược tiến công, kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh trên 3mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao để giành toàn thắng.

Thực hiện nghị quyết của Đảng, quân dân ta trên chiến trường đã mở những cuộc phản công, tiến công trực tiếp giáng trả mọi hành động của địch; đánh bại kế hoạch “bình định, lấn chiếm” của chúng; bảo vệ, mở rộng vùng giải phóng, tạo ra thế và lực mới cho kháng chiến. Đặc biệt, ta giành thắng lợi lớn trong chiến dịch Đường 14 - Phước Long (từ ngày 13/12/1974 đến 6/1/1975), loại khỏi vòng chiến đấu trên 4.000 tên địch, giải phóng toàn tỉnh Phước Long (Đông Nam bộ) với trên 50.000 dân. Chiến thắng tạo thêm cơ sở cho cơ quan chỉ đạo chiến lược cách mạng hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Từ ngày 18/12/1974 đến ngày 8/1/1975, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng đã ra nghị quyết lịch sử, hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong thời gian 2 năm (1975-1976). Theo kế hoạch, trong năm 1975, cách mạng sẽ tranh thủ thời cơ bất ngờ tiến công địch trên quy mô lớn, rộng khắp, tạo tiền đề để trong năm 1976 tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa giành toàn thắng. Tuy đề ra kế hoạch 2 năm, nhưng Bộ Chính trị cũng chỉ rõ: Nếu thời cơ đến sớm thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Về phương hướng, yêu cầu đặt ra, Bộ Chính trị nhấn mạnh: Cần tranh thủ thời cơ thực hiện tổng công kích - tổng khởi nghĩa, phải đánh thắng nhanh để giảm thiệt hại về người và của cho nhân dân, đồng thời giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn hóa, giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh.

Từ tháng 4/1975, các tuyến phòng ngự của địch bị phá vỡ, địch co về phòng ngự trực tiếp thành phố Sài Gòn với 3 tuyến phòng ngự: vòng ngoài (bán kính 25-30 km), vòng ven và nội đô. Giữa tháng 4/1075, ta quyết định mở “Chiến dịch Hồ Chí Minh” nhằm giải phóng Sài Gòn và toàn bộ miền Nam trước mùa mưa.
Từ 26-28/4/1975, ta chọc thủng tuyến phòng ngự vòng ngoài, đập tan sự kháng cự của các sư đoàn địch, tiếp cận Sài Gòn. Ngày 29/4/1975, quân ta tổng tiến công. Sáng 30/4/1975, trong thế thua đã rõ ràng, địch xin ngừng bắn, bộ đội ta vẫn kiên quyết tiến công. Các quân đoàn nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu. 11h30 ngày 30/4/1975, sau khi Dinh Độc Lập thất thủ, Tổng thống ngụy Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Ngày 1/5/1975, toàn bộ lực lượng còn lại của quân ngụy tan rã;ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc “Chiến dịch Hồ Chí Minh” lịch sử.

Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Chiến thắng này đã đập tan hơn 1 triệu quân ngụy, lật đổ hoàn toàn chế độ ngụy quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam, buộc Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và tay sai. Đồng thời, đánh dấu kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ; kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; lật đổ chế độ đế quốc và tay sai, hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp cách mạng dân chủ nhân dân, đưa đất nước ta tiến vào kỷ nguyên mới.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 cũng là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, hiển hách nhất của lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, cùng với trận Bạch Đằng (1288) chống quân Nguyên Mông, trận Chi Lăng (1427) chống quân Minh, trận Đống Đa (1789) chống quân Thanh, chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) chống thực dân Pháp; tô đậm truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 nói riêng và cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung không chỉ là thắng lợi riêng của dân tộc Việt Nam, mà còn là thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược là trang sử hào hùng, mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.