Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2025

Từ quá khứ đến hiện tại: Khởi đầu một kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và những thách thức mới của thế kỷ 21, việc nhìn lại chặng đường lịch sử hào hùng của Đảng không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn giá trị của sự lãnh đạo mà còn tạo động lực để xây dựng một tương lai tươi sáng. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đây là lúc toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân cần chung tay, tận dụng bài học từ quá khứ để định hướng một kỷ nguyên phát triển bền vững và thịnh vượng cho đất nước và hiện tại Việt Nam đang đứng trước thời điểm lịch sử mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Trong suốt gần 95 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò là ngọn cờ lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc vượt qua muôn vàn thử thách để đạt được những thắng lợi vĩ đại. Từ khi ra đời (3-2-1930), Đảng đã đoàn kết toàn dân tộc, lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945) và đưa đất nước đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ để giành độc lập, thống nhất. Trong thời bình, Đảng tiếp tục giữ vững vai trò lãnh đạo, khởi xướng công cuộc Đổi Mới (1986), đưa Việt Nam từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu trở thành một nền kinh tế năng động, có vị thế trên trường quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và những thách thức mới của thế kỷ 21, việc nhìn lại chặng đường lịch sử hào hùng của Đảng không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn giá trị của sự lãnh đạo mà còn tạo động lực để xây dựng một tương lai tươi sáng. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đây là lúc toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân cần chung tay, tận dụng bài học từ quá khứ để định hướng một kỷ nguyên phát triển bền vững và thịnh vượng cho đất nước và hiện tại Việt Nam đang đứng trước thời điểm lịch sử mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

1. Quá khứ vẻ vang: Hành trình xây dựng và lãnh đạo dân tộc

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930)

Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập ngày 3 tháng 2 năm 1930 trong bối cảnh đất nước chìm trong khủng hoảng và mất chủ quyền dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Sự ra đời của Đảng là kết quả tất yếu của sự giao thoa giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Việt Nam. Sự xuất hiện của Đảng đánh dấu bước ngoặt quan trọng, mở ra con đường giải phóng dân tộc khỏi áp bức và bóc lột. Vai trò của Hồ Chí Minh là yếu tố quyết định trong việc xây dựng nền tảng tư tưởng, tổ chức và mục tiêu cách mạng của Đảng.

Hồ Chí Minh đã tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, qua đó đề ra con đường cách mạng vô sản phù hợp với tình hình đất nước. Với cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, Đảng xác định nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ đế quốc và phong kiến, đưa dân tộc tới độc lập, tự do.

Những cột mốc lịch sử quan trọng

Một là, lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám 1945 và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chỉ trong 15 năm từ ngày thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân Việt Nam đã thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám 1945, đánh đổ ách thống trị thực dân, phong kiến, giành lại nền độc lập dân tộc. Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945 có sức mạnh xoay chuyển thời cuộc. Đây là một quyết định mang ý nghĩa lịch sử. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện “long trời lở đất”, một dân tộc “rũ bùn đứng dậy” đập tan xiềng xích nô lệ, giành độc lập dân tộc, đưa đất nước bước vào một kỷ nguyên mới. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, đánh dấu bước chuyển mình của Việt Nam từ một nước thuộc địa sang một quốc gia độc lập.

Hai là, vai trò trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, thống nhất đất nước (1954 -1975). Sau khi giành độc lập, Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với những thách thức lớn trong công cuộc bảo vệ thành quả cách mạng. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Hiệp định Giơ-ne-ve được ký kết, chấm dứt sự hiện diện của thực dân Pháp tại Việt Nam, đánh dấu thắng lợi đầu tiên của một dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống lại cường quốc thực dân làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, tạo cơ sở căn bản và quyết định, chấm dứt thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp tại Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung.

Tuy nhiên, đất nước bị chia cắt, miền Nam Việt Nam rơi vào sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Trong suốt 21 năm tiếp theo (1954-1975), Đảng đã lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân năm 1975. Thắng lợi này không chỉ giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước mà còn khẳng định ý chí và sức mạnh quật cường của dân tộc Việt Nam trước những kẻ thù hùng mạnh nhất. Trong bài “Chuyển đổi số - Động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới” - Tổng Bí thư Tô Lâm viết là “Giai đoạn 1954 - 1975” và không đặt tiêu đề, đó là đặt trong tổng thể thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ; còn đặt trong tổng thể tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam thì từ năm 1954 đến năm 1975 là thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà hoặc là thời kỳ tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược.

Ba là, thời kỳ khắc phục hậu quả chiến tranh và bước đầu hội nhập (1975-1986). Sau năm 1975, đất nước đối mặt với những khó khăn chồng chất. Hậu quả chiến tranh để lại nặng nề trên mọi phương diện: kinh tế kiệt quệ, xã hội bất ổn, và cơ sở hạ tầng bị phá hủy nghiêm trọng. Đảng đã lãnh đạo nhân dân vượt qua những khó khăn này bằng tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực tự cường.

Năm 1986, tại Đại hội VI, Đảng khởi xướng công cuộc Đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là bước ngoặt quan trọng, mở ra kỷ nguyên mới cho sự phát triển của đất nước, đồng thời thể hiện tầm nhìn và bản lĩnh lãnh đạo của Đảng trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế.

Từ hành trình xây dựng và lãnh đạo dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đúc kết nhiều bài học quý báu:

Lòng kiên định với mục tiêu và lý tưởng cách mạng. Sự kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là kim chỉ nam giúp Đảng dẫn dắt đất nước vượt qua mọi thử thách.

Tinh thần đoàn kết toàn dân. Đoàn kết là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Đảng luôn biết phát huy khối đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh của nhân dân với sự lãnh đạo sáng suốt để đạt được thắng lợi.

Tinh thần đổi mới và sáng tạo. Đảng không ngừng đổi mới tư duy, từ phương thức lãnh đạo đến chính sách phát triển, nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn và hội nhập với thế giới. Công cuộc Đổi mới năm 1986 là minh chứng rõ nét cho tinh thần này.

Phát huy giá trị truyền thống kết hợp với hiện đại hóa. Việc gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống, đồng thời tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, đã giúp đất nước vừa giữ được bản sắc dân tộc, vừa vươn lên mạnh mẽ trong kỷ nguyên toàn cầu hóa.

Hành trình xây dựng và lãnh đạo dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam là một câu chuyện về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần đổi mới không ngừng. Với những bài học quý báu từ quá khứ, Đảng đã và đang tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Từ những nền tảng cách mạng vững chắc, Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới với khát vọng vươn mình trở thành một quốc gia hùng cường, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Hiện tại: Đổi mới và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng

Công cuộc Đổi mới (1986) và những thành tựu nổi bật

Một là, chuyển đổi kinh tế từ kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử với việc khởi xướng công cuộc Đổi mới. Đây là quyết định chiến lược nhằm thoát khỏi những khó khăn, khủng hoảng kinh tế kéo dài trong giai đoạn trước, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Quá trình đổi mới được thực hiện đồng bộ trên nhiều lĩnh vực, từ cải cách thể chế kinh tế, mở cửa thị trường đến đổi mới tư duy lãnh đạo. Chính sách "mở cửa" và khuyến khích đầu tư nước ngoài đã đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư quốc tế. Đến nay, cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã có sự chuyển dịch tích cực, với tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng gia tăng. Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, GDP Việt Nam đạt khoảng 8 tỷ USD, xếp thứ 9/10 trong khối ASEAN. Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2023 ước đạt 10.221,8 nghìn tỷ đồng, tương đương 430 tỷ USD. GDP bình quân đầu người năm 2023 theo giá hiện hành ước đạt 101,9 triệu đồng/người, tương đương 4.284 USD, tăng 160 USD so với năm 2022. 

Hai là, thành tựu về tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân

Những thay đổi trong chính sách kinh tế đã mang lại thành tựu nổi bật. Từ một quốc gia nghèo nàn, thiếu lương thực vào những năm 1980, Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh. Quy mô nền kinh tế năm 2023 tăng gấp 96 lần so với năm 1986. Việt Nam trong nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài; có quan hệ ngoại giao với 193 nước là thành viên Liên hiệp quốc; xây dựng các mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới và khu vực..

Xóa đói, giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt, quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xây dựng đất nước. Quan điểm, chủ trương của Đảng về xóa đói giảm nghèo đã được thể hiện trong Văn kiện Đại hội Đảng qua nhiều thời kỳ, ngày càng sâu rộng, toàn diện hơn. Trong giai đoạn 2016-2022, thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo theo các quan điểm, chủ trương của Đảng như: Nghị quyết số 76/2014/QH13 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020 và chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, giai đoạn 2021-2025. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là quốc gia đầu tiên của châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, bảo đảm mức sống tối thiểu và thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (6 chiều về việc làm; y tế, giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin). Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong công tác xóa đói giảm nghèo.

Bên cạnh đó, đời sống xã hội được nâng cao rõ rệt. Hệ thống y tế và giáo dục được đầu tư mạnh mẽ, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức trung bình cao. Mạng lưới an sinh xã hội được mở rộng, đặc biệt chú trọng đến các nhóm yếu thế và vùng sâu, vùng xa, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trên hành trình phát triển.

Ba là, tham gia các tổ chức khu vực và quốc tế

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã xác định rõ vai trò của hội nhập quốc tế như một chiến lược quan trọng để phát triển kinh tế và nâng cao vị thế đất nước. Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 1995, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và tham gia các hiệp định thương mại tự do quan trọng như CPTPP, EVFTA và RCEP.

Việc tham gia các tổ chức quốc tế không chỉ mở ra cơ hội tiếp cận các thị trường lớn mà còn thúc đẩy cải cách trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, các hoạt động này góp phần khẳng định vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Bốn là, đẩy mạnh ngoại giao đa phương và nâng cao vị thế quốc gia

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã xây dựng một nền ngoại giao năng động, linh hoạt, với phương châm "làm bạn với tất cả các nước". Đất nước đã đảm nhiệm thành công vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc hai lần (2008-2009 và 2020-2021), góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề quốc tế như hòa bình, an ninh và phát triển bền vững.

Các hoạt động ngoại giao đa phương như tổ chức APEC 2017, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều tại Hà Nội năm 2019 đã nâng cao hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Những thách thức hiện nay

Một là, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng và bảo vệ chủ quyền quốc gia

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, Việt Nam vẫn đối mặt với không ít thách thức. Một trong những vấn đề nổi bật là cải cách hành chính, giảm bớt các thủ tục rườm rà và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Phòng chống tham nhũng cũng là nhiệm vụ hàng đầu nhằm xây dựng bộ máy lãnh đạo trong sạch, minh bạch, củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng.

Bên cạnh đó, việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, đặc biệt là tại Biển Đông, đặt ra yêu cầu cao về chiến lược và sự thống nhất trong hành động giữa các lực lượng.

Hai là, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững

Biến đổi khí hậu là thách thức lớn đối với Việt Nam, một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ nước biển dâng và thiên tai. Đảng đã đề ra chiến lược phát triển bền vững, chú trọng giảm phát thải khí nhà kính, phát triển năng lượng tái tạo và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.

Đồng thời, sự phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân. Đây là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo sự phát triển hài hòa, bền vững trong tương lai.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới và phát triển. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, Việt Nam đã vươn lên trở thành một quốc gia năng động, đầy triển vọng, với vị thế ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, để tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo trong kỷ nguyên mới, Đảng cần đối mặt và vượt qua các thách thức hiện nay, từ cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng đến ứng phó với biến đổi khí hậu. Với lòng tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam hoàn toàn có thể hiện thực hóa khát vọng trở thành một quốc gia phát triển, giàu mạnh và bền vững trong tương lai.

3. Khởi đầu một kỷ nguyên mới: Tầm nhìn và định hướng của Đảng

Bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức đòi hỏi sự lãnh đạo toàn diện, sáng tạo và đổi mới của Đảng. Với tầm nhìn dài hạn đến năm 2030 và 2045, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đặt mục tiêu phát triển kinh tế mà còn khẳng định vai trò dẫn dắt trong xây dựng một quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập toàn cầu và bảo tồn những giá trị truyền thống. Để tạo nền tảng cho “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, nhằm hiện thực hóa mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra: “Đến năm 2025: Là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”, trước mắt phải “dồn lực” để hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu Nghị quyết XIII của Đảng.

Một là, định hướng phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn 2045

Mục tiêu lớn nhất mà Đảng đặt ra là Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu.

Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

Đến năm 2045, trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Chuyển đổi số được xem là đòn bẩy quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế hiện đại hóa. Theo kế hoạch, đến năm 2030, kinh tế số sẽ đóng góp 30% GDP, với trọng tâm là xây dựng hạ tầng số, cải thiện năng lực cạnh tranh và tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, hiệu quả. Các ngành công nghiệp chủ chốt như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo và dịch vụ tài chính kỹ thuật số đang được định hình như những mũi nhọn để Việt Nam không chỉ bắt kịp mà còn vươn lên trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Hai là, củng cố và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rõ rằng để đạt được những mục tiêu lớn, việc củng cố và đổi mới sự lãnh đạo là yếu tố then chốt. Trước hết, Đảng cần xây dựng và duy trì một tổ chức vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Những giá trị cốt lõi như kiên định với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tinh thần đoàn kết toàn dân phải tiếp tục được bảo vệ và phát huy. Đồng thời, Đảng cần đổi mới tư duy lãnh đạo, tránh rập khuôn và cứng nhắc, nhằm thích nghi với những thay đổi nhanh chóng của bối cảnh toàn cầu.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo trẻ, có năng lực và tầm nhìn, là nhiệm vụ cấp bách. Các chính sách đào tạo thế hệ lãnh đạo trẻ cần tập trung vào việc nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng lãnh đạo và khả năng ứng dụng công nghệ mới. Đảng cũng khuyến khích sự tham gia tích cực của giới trẻ trong các hoạt động chính trị, kinh tế và xã hội, xem đây là lực lượng kế thừa quan trọng trong quá trình phát triển đất nước.

Tập trung tinh gọn bộ máy, tổ chức các cơ quan của Đảng, thực sự là hạt nhân trí tuệ, bộ “tổng tham mưu”, đội tiên phong lãnh đạo cơ quan nhà nước. Bảo đảm nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng không trùng với nhiệm vụ quản lý; phân biệt và quy định rõ nhiệm vụ cụ thể của các cấp lãnh đạo trong các loại hình tổ chức đảng, tránh tình trạng bao biện làm thay, hoặc tồn tại song trùng, hình thức.

Đồng thời, đổi mới mạnh mẽ việc ban hành và quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng; xây dựng các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên thật sự là các “tế bào” của Đảng. Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các hoạt động của Đảng. Ban hành Quy định phân cấp thẩm quyền kiểm tra, giám sát gắn với phát hiện, xử lý nghiêm mọi hành vi lợi dụng kiểm tra, giám sát để tham nhũng, tiêu cực. Công tác phòng chống tham nhũng tiếp tục là ưu tiên hàng đầu trong việc củng cố niềm tin của Nhân dân. Một Đảng trong sạch, minh bạch và kiên quyết xử lý các hành vi sai trái sẽ tạo nên sức mạnh nội lực để lãnh đạo đất nước tiến xa hơn.

Ba là, sự gắn kết giữa truyền thống và hiện đại

Kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu không chỉ đổi mới mà còn bảo tồn những giá trị truyền thống quý báu. Đảng luôn nhấn mạnh rằng quá trình hiện đại hóa không thể tách rời khỏi việc kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc. Những giá trị văn hóa truyền thống, tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững.

Tuy nhiên, sự gắn kết này không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn mà còn phải được thực hiện một cách sáng tạo. Đảng khuyến khích việc tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của thế giới, từ đó làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc và tăng cường khả năng hội nhập quốc tế. Các lĩnh vực như nghệ thuật, giáo dục, và khoa học công nghệ đều cần có sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại để không chỉ đáp ứng yêu cầu trong nước mà còn tạo dấu ấn trên trường quốc tế.

Kỷ nguyên mới mở ra những cơ hội lớn nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với sự lãnh đạo của Đảng. Tầm nhìn đến năm 2030 và 2045 là kim chỉ nam, thể hiện khát vọng và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân trong việc đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc. Với các định hướng rõ ràng, chiến lược phát triển toàn diện và sự đổi mới không ngừng, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục là hạt nhân chính trị, lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thách thức, viết tiếp những trang sử vẻ vang trong hành trình hội nhập và phát triển.

Trong hành trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là nhân tố quyết định giúp đất nước vượt qua thử thách và đạt được những thành tựu to lớn. Từ khi ra đời vào năm 1930, Đảng đã lãnh đạo dân tộc qua nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng, đặc biệt là trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, góp phần giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Sau khi đất nước thống nhất vào năm 1975, Đảng tiếp tục lãnh đạo công cuộc xây dựng đất nước trong bối cảnh chiến tranh tàn phá nặng nề. Với sự lãnh đạo sáng suốt, Đảng đã đưa đất nước từng bước vượt qua khó khăn, khôi phục nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và khẳng định vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Kể từ Đại hội VI năm 1986, khi Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ từ một nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Những chính sách kinh tế đúng đắn, sự quyết đoán trong xử lý các vấn đề quan trọng như phòng chống tham nhũng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Đảng không chỉ duy trì vai trò lãnh đạo đất nước mà còn đổi mới cách thức lãnh đạo, đảm bảo sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước.

Những thành tựu đã đạt được không thể thiếu sự đóng góp của từng cán bộ, đảng viên và người dân. Để đưa đất nước tiến lên trong kỷ nguyên mới, mỗi người dân, mỗi đảng viên cần phải nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng đã chỉ ra những mục tiêu lớn và hướng đi rõ ràng cho sự phát triển, nhưng để thực hiện thành công những mục tiêu đó, sự tham gia tích cực của toàn xã hội là điều không thể thiếu. Mỗi cán bộ, đảng viên phải là tấm gương mẫu mực trong công việc và cuộc sống, gương mẫu trong việc chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước, đồng thời phải luôn nỗ lực hết mình trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách của đất nước.

Mỗi người dân, với trách nhiệm công dân, cũng cần nỗ lực đóng góp vào sự phát triển chung, từ việc tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước, đến việc bảo vệ môi trường, cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao văn hóa cộng đồng. Chỉ khi toàn thể xã hội đồng lòng, cùng chung sức thực hiện mục tiêu chung, chúng ta mới có thể xây dựng được một kỷ nguyên mới, đưa Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, mạnh mẽ và vững vàng trong mọi thách thức./.

ST.


95 mùa xuân Đảng cùng nhân dân xây lầu thắng lợi

Mỗi khi mùa Xuân về đều mang theo rất nhiều cung bậc cảm xúc và niềm hân hoan khác nhau. Xuân về, đất trời rạo rực hơn bởi thời tiết ấm áp, cây cối đơm chồi, nảy lộc. Xuân về là thời điểm kết thúc năm cũ đầy biến động, mở ra một năm mới tràn hy vọng.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa xuân, ngày 3-2-1930. Từ đó Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức bước lên vũ đài chính trị, gánh trọng trách lãnh đạo dân tộc giành độc lập, tự do. Mùa xuân ấy không chỉ kết thúc năm cũ đầy biến động mà còn là mùa Xuân kết thúc ngót một thế kỷ dân ta dưới ách nô lệ của thực dân Pháp, dân tộc ta bước vào một thời đại mới - thời đại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tiêu ngữ: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Kể từ đấy, trải qua nhiều thăng trầm, vượt lắm nguy nan, thác ghềnh hiểm trở, Đảng Cộng sản Việt Nam - người chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam - bất khuất, kiên cường, sai lầm gắng sửa, vấp ngã đứng lên, đầu rơi máu chảy không lùi, toàn tâm, toàn ý phục vụ Nhân dân, đã cùng Nhân dân “xây lầu thắng lợi”, rửa sạch nỗi hận nhục mất nước cho toàn dân tộc. “Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong”, nước ta “có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc” (Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh). 

Vượt lên mọi bộn bề của cuộc sống hôm nay, bình tĩnh nghĩ suy về chặng đường dài 95 năm đã trải, chúng ta càng thấu hiểu và tự hào về sự nghiệp mà cả dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, bằng những nỗ lực phi thường đã giành và giữ lấy các giá trị nhân văn cao cả - quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, công bằng xã hội và tương thân, tương ái, “người yêu người, sống để yêu nhau”. Tổ quốc ta đời đời ghi nhớ công lao vĩ đại của các thế hệ cha anh đã hy sinh cho sự nghiệp vĩ đại đó! 

Lịch sử dân tộc mãi mãi ghi nhận những cống hiến lớn lao của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà “với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại”. Đảng ta vĩ đại bởi Đảng ta là người duy nhất chỉ đường, dẫn lối cho Nhân dân làm nên lịch sử vẻ vang; là đại biểu đích thực cho trí tuệ, lương tâm, danh dự của nhân dân các dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay. 

Số đông TCCSĐ và đảng viên làm được cầu nối giữa Đảng và Nhân dân, trực tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng vào quần chúng và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách ấy. Số đông đảng viên của Đảng xứng đáng là những người con ưu tú của Nhân dân, xứng đáng là những người chiến sĩ tiên phong, gương mẫu, lôi cuốn, dẫn dắt quần chúng trong các phong trào cách mạng. 

Ngót 40 năm qua thực hiện công cuộc đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, tạo đà thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kéo dài nhiều năm. Tuy vậy, đất nước vẫn đang còn đứng trước rất nhiều khó khăn, phức tạp; hàng loạt vấn đề kinh tế - xã hội đang đòi hỏi phải giải quyết vừa cấp bách, vừa cơ bản, lâu dài. Những biến đổi đa dạng nhiều màu sắc của thế giới đang tác động sâu sắc vào tâm tư, tình cảm, đời sống chính trị và tinh thần của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Vận mệnh của CNXH, của dân chủ, tự do và hạnh phúc của dân tộc đang đặt lên vai Đảng Cộng sản Việt Nam những trọng trách nặng nề. Để làm tròn những nhiệm vụ to lớn đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”. Đó là lời di huấn thiêng liêng của Người đối với toàn Đảng trong bước ngoặt lịch sử hiện nay. 

Làm trong sạch Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, của các TCCSĐ, nâng cao chất lượng đảng viên, thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Tăng cường mối quan hệ gắn bó với quần chúng là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng. Hoàn chỉnh những quan điểm đổi mới, định hướng chiến lược đúng cho sự phát triển tiến lên của đất nước. Tổng kết thực tiễn để hoàn thiện các chủ trương, chính sách; quán triệt và thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách đã đề ra là nhiệm vụ của Đảng là củng cố, tăng cường uy tín của Đảng trong Nhân dân. 

Các tổ chức đảng phải giữ đúng “tư cách của Đảng chân chính cách mạng” thấm nhuần và thực hành những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Nâng cao trình độ lý luận và năng lực công tác; xuất phát từ lợi ích của nhân dân mà hành động. “Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng” và “phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng hay không". Giữ vững nguyên tắc và quan hệ chặt chẽ với quần chúng để lãnh đạo và học tập quần chúng. Hiểu dân chúng, vì lợi ích của dân chúng và nâng cao dân chúng là sứ mệnh chính trị của Đảng. Muốn vậy, “Đảng phải giữ kỷ luật nghiêm từ trên xuống”, “phải tẩy bỏ những phần tử hủ hóa* ra ngoài”, “phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào; Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của Nhân dân đối với Đảng”. 

Đảng chỉ mạnh khi mỗi chi bộ, mỗi cán bộ, đảng viên đều mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên.  Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân. Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải làm “quan” nhân dân. Lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”. 

Đảng ta đã và vẫn đang có nhiều đảng viên tốt, xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ. Nhưng cũng có không ít đảng viên thoái hóa, biến chất, hư hỏng. Họ đã làm ô danh những người cộng sản, làm tổn thương nặng nề uy tín của Đảng đối với Nhân dân và chính họ là lực cản, phá hoại chủ trương đổi mới nhằm xây dựng thành công CNXH, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân ta. 

Rèn luyện đạo đức, giữ gìn phẩm chất cách mạng, nâng cao trình độ hiểu biết, nâng cao năng lực công tác, việc gì có lợi cho dân phải gắng sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh là nghĩa vụ của mỗi đảng viên cộng sản. Tự phê bình và phê bình là biện pháp tốt nhất. Để làm được như vậy đúng như BCH Trung ương đã chỉ rõ: “Các đồng chí từ Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến các tỉnh ủy, thành ủy, đặc khu ủy, các cấp ủy khác và từng đảng viên phải nghiêm khắc tự phê bình và phê bình với tinh thần đoàn kết, xây dựng nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, vững bước đi lên”. 

Chúng ta cần loại ra khỏi Đảng những phần tử cơ hội, những con sâu mọt, tham nhũng, những kẻ quan liêu, chuyên quyền, độc đoán, trù dập, ức hiếp nhân dân - những kẻ đã tự “đánh mất mình”, bán rẻ lương tâm và danh dự cộng sản cho những dục vọng thấp hèn... Kết nạp vào Đảng những người ưu tú nhất trong công nhân, nông dân, trí thức, lực lượng vũ trang, dân tộc thiểu số, phụ nữ và những người trẻ tuổi nguyện phấn đấu cho sự phồn vinh của đất nước, hạnh phúc của đồng bào. 

Cuộc sống đang vận động tiến lên theo đúng quy luật khách quan đòi hỏi Đảng phải thực sự đổi mới và nâng cao chất lượng lãnh đạo của mình, vươn lên ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, đòi hỏi mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự xứng đáng danh hiệu cộng sản, “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”, cùng Nhân dân vượt qua khó khăn, vững vàng tiến bước trên con đường độc lập, tự do dẫn tới ấm no, hạnh phúc, công bằng xã hội, con đường mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt lựa chọn. 

Lịch sử cũng đã chứng minh: Đảng ta là một đảng có bề dạy kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng. Không những trong đấu tranh giải phóng dân tộc mà trong những lúc gian nguy, vận mệnh đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc” Đảng ta luôn tìm được lối thoát và tiến lên.

Hiện nay, Đảng ta lãnh đạo Nhân dân bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, sánh vai các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Như mỗi mùa Xuân đến, những mầm xanh mới, đất nước trỗi dậy, vươn cao! 

ST.

Nghĩ về mùa Xuân - mùa đại hội đổi mới xây dựng Đảng

Mùa Xuân Ất Tỵ - 2025 đang về, mùa đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đang đến. Bước vào những ngày đầu Xuân, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đồng hành phấn đấu thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (khóa XIII), quyết tâm hoàn tất các mục tiêu, chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra; quyết liệt tiến hành cải cách bộ máy đồng thời với nghiêm túc thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 14-6-2024 của Bộ Chính trị khóa XIII về đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, mở ra trang sử mới, bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Đã 95 mùa xuân, kể từ khi được thành lập, ngày 3-2-1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc dưới sự chủ trì của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, phái viên của Quốc tế Cộng sản, đến nay Đảng ta đã trải qua 13 kỳ Đại hội. Mỗi kỳ Đại hội, tùy vào hoàn cảnh lịch sử và những biến cố chính trị trong nước và quốc tế, bất chấp những gay cấn khác nhau, các kỳ đại hội Đảng đều xác định chính xác những nhiệm vụ chính trị, chỉ ra phương hướng đúng đắn, với những quyết sách cách mạng và khoa học; tuyển lựa được những đảng viên xứng đáng, gồm những người có đạo đức cách mạng trong sáng, đức tài vẹn toàn, luôn biết đặt lợi ích chung lên lợi ích cá nhân, sẵn sàng cống hiến, hy sinh cho nền độc lập của đất nước, vì tự do, ấm no, hạnh phúc của Nhân dân; đội ngũ của những con người giàu lòng nhân ái, rất mực yêu thương, đoàn kết đồng chí, thủy chung với Đảng, với dân tộc ấy được sắp xếp hình thành bộ máy lãnh đạo của Đảng, chèo lái con thuyền cách mạng đi tới bến bờ vinh quang. 

Nhìn lại những chặng đường cách mạng đã qua, thấy rất rõ đại hội sau đều kế thừa được kinh nghiệm, thành tựu đại hội trước. Kế thừa nhưng không rập khuôn máy móc mà luôn sáng tạo tìm tòi, nhạy bén phát hiện và xử lý những vấn đề mới, tương thích với những xu hướng mới của thời thế, phù hợp lô-gic thời đại. Báo cáo chính trị các kỳ đại hội, về cả nội dung và hình thức, đại hội sau đều kế thừa và phát triển so với đại hội trước, mang tính cách mạng và khoa học, với tư duy mới, làm phong phú, sâu sắc hơn về lý luận và phương pháp cách mạng, được mọi tầng lớp nhân dân đồng tình, thực hiện. Nhờ đó cách mạng Việt Nam liên tục giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, thắng lợi sau to lớn hơn thắng lợi trước. Đảng ngày càng vững mạnh, gắn bó mật thiết với Nhân dân. Đảng nói dân tin, dân hành động.

Từng đại hội đánh dấu một giai đoạn tiến triển của cách mạng. Đảng sáng suốt dẫn dắt nhân dân thoát ách nô lệ, vượt qua đói nghèo, lạc hậu đi đến ấm no, hạnh phúc, xây dựng đất nước mạnh giàu, văn minh, hiện đại. Nhân dân, các dân tộc Việt Nam nhận rõ lẽ phải, sớm chấp nhận chỉ cần một đảng duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Lịch sử cách mạng Việt Nam, thực tiễn một Việt Nam độc lập, tự chủ, tự tin, tự hào, hùng cường ngày nay đã chứng minh cho tính cách mạng, tính đúng đắn của đường lối và sự lãnh đạo của Đảng. Những thành tựu đạt được qua các kỳ đại hội chứng tỏ mỗi đại hội là một mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc Việt Nam. Đã trở thành truyền thống dân mong chờ và chào đón đại hội Đảng. Điều đó nhấn thêm nghĩa nặng, tình sâu của Dân với Đảng. 

Để tiếp nối truyền thống các kỳ đại hội của Đảng, trước thềm Đại hội XIV các chi bộ từ thôn, xóm, ấp, bản đến các đơn vị, phòng, ban ở các cơ quan; từ đảng bộ cơ sở đến các đảng bộ cấp trên cơ sở cần khơi dậy các phong trào thi đua thiết thực ở đơn vị mình, tạo nên khí thế thi đua cách mạng hào hùng, vui tươi, từ đó giúp cho mọi thành viên trong xã hội đều mong mỏi, chào đón đại hội Đảng một cách trân trọng, thiết thực nhất, để đại hội của Đảng thực sự trở thành ngày hội của toàn dân. Muốn vậy, đại hội đảng bộ các cấp phải tuân thủ nguyên tắc Điều lệ Đảng, được thể hiện ở Quy định số 24-QĐ/TW ngày 30-7-2021 của BCH Trung ương (khóa XIII).

Đại hội ở các loại hình TCCSĐ khác nhau, các dạng chi bộ, đảng bộ đặc thù như các đơn vị lực lượng vũ trang, các đơn vị sự nghiệp, các loại hình tổ chức đảng doanh nghiệp ngoài nhà nước ở trong nước hay có yếu tố nước ngoài, các vùng, miền có hoàn cảnh đặc biệt… cần tranh thủ, tận dụng sự chỉ đạo, tham mưu, hướng dẫn của các ban xây dựng Đảng cấp trên, để triển khai đúng theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng loại hình TCCSĐ, từ xây dựng báo cáo chính trị đến chuẩn bị kiện toàn cấp ủy nhiệm kỳ mới; để bảo đảm hoàn chỉnh cả nội dung, hình thức, đúng nguyên tắc Điều lệ Đảng. Báo cáo chính trị của đại hội cần thể hiện sự đổi mới thực sự, đánh giá đúng thực trạng tình hình. Có đánh giá đúng, đủ thành tích, kết quả đạt được mới có sự khích lệ, động viên, tạo hưng phấn cho đại hội. Đồng thời, cần chỉ ra đúng và đủ các thiếu sót, hạn chế, tồn tại, nút nghẽn trong quá trình lãnh, chỉ đạo của cấp ủy, của các đoàn thể quần chúng; chỉ rõ những mục tiêu chưa đạt tới, các chỉ tiêu không thể hoàn thành trong nhiệm kỳ qua. Phải rất cụ thể mới rút ra được những kinh nghiệm, những bài học có giá trị cho nhiệm kỳ tới, tránh được các vết xe đổ cho nhiệm kỳ sau.

Báo cáo cũng không thể không nhắc tới sự nỗ lực phấn đấu của các đoàn thể quần chúng - kết tinh ý chí, nghị lực của cả hệ thống chính trị từ cơ sở, biết bao công sức của nhân dân mà có, đúng với quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Mọi vấn đề cần được xem xét khách quan, toàn diện. Song cần đặc biệt xem xét, chỉ ra những thiếu sót, hạn chế, nhất là vấn đề tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Những hạn chế, khuyết điểm diễn ở đơn vị mình nhiệm kỳ qua, phải thấy trách nhiệm trước hết thuộc về sự lãnh, chỉ đạo của cấp ủy, của từng đảng viên đã được phân công, phân nhiệm; đồng thời cũng cần công bằng khi chỉ ra còn phần nào do ý thức chấp hành của các đoàn thể, đâu là do phần hạn chế của quần chúng và đâu là những phát sinh mới của tình hình chính trị - xã hội ngoài ý muốn. Tất cả cần rõ ràng, rành mạch, tránh hiện tượng tranh công, đổ lỗi.

Phương hướng, mục tiêu con đường tiến lên phía trước, cái đích mục tiêu hướng tới cũng nhằm vào giải quyết các vấn đề cấp thiết, hóa giải tình hình nóng bỏng, đáp ứng các nguyện vọng, quyền lợi chính đáng của quần chúng nhân dân tại cơ sở, cơ quan mình. Do đó, các chỉ tiêu cần đạt được trước khi khẳng định trong báo cáo chính trị cần phải có ý kiến của các đoàn thể quần chúng. Có được sự đồng tình của quần chúng nhân dân thì báo cáo mới có sức sống trong lòng dân, mới tạo ra niềm tin, sự phấn khởi thực hiện nghị quyết của đại hội trong suốt nhiệm kỳ. Các bước đi, các tiến trình đại hội phải theo đúng chủ trương chỉ đạo của cấp trên, phải đề xuất được những vấn đề phù hợp, cần thiết của đơn vị mình.

Báo cáo chính trị phải cập nhật đầy đủ lượng thông tin tình trạng kinh tế - xã hội, an sinh xã hội, tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, tình hình thực thi pháp luật, những trào lưu tư tưởng lệch lạc (nếu có) trong quần chúng và phải thể hiện quan điểm đấu tranh, có định hướng rõ rệt giải quyết các vấn đề đó. Ở đây cần có các biện pháp cụ thể nhằm xây dựng được văn hóa liêm chính, không tham nhũng, không lãng phí, không tiêu cực trong cán bộ, đảng viên và nhân dân tại địa bàn mà tổ chức đảng có trách nhiệm lãnh đạo, góp phần lan tỏa sức sống lành mạnh, thượng tôn pháp luật ra toàn xã hội. Các cấp ủy có trách nhiệm sớm hoàn tất dự thảo báo cáo chính trị trình đại hội cấp mình, đưa ra lấy ý kiến rộng rãi của các đoàn thể quần chúng, nhân dân.

Tổ chức đảng cần nghiêm túc tổ chức những buổi tiếp thu ý kiến của các đoàn thể, coi đây là những ý kiến phản biện chân thành, xây dựng tích cực của mọi tầng lớp nhân dân, để tổng hợp và tạo ra sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, để Đảng nói dân hiểu, Đảng hiệu triệu dân vui vẻ hưởng ứng, phấn chấn làm theo; để khai thác hết tiềm năng trí tuệ trong quần chúng. Nghĩa là Đảng và quần chúng nhân dân cùng tìm con đường hạnh phúc, khắc phục các điểm nghẽn, chỉ ra những việc cần làm và không được làm ở mỗi cơ sở. Đó là một cách thiết thực xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh ngay từ cơ sở. Báo cáo chính trị của cấp ủy tiến hành như vậy mới thực sự cấp trên, cấp dưới thống nhất, trong Đảng ngoài dân đồng lòng. Nghị quyết của cấp ủy sẽ có sức sống trong lòng dân ngay từ khi thai nghén, để chuẩn bị chào đời một văn kiện văn minh, tạo nên chất keo cách mạng gắn kết máu thịt giữa Đảng với Nhân dân ngay từ những bước đi ban đầu.

Đường lối, chủ trương đúng đắn rồi, muốn các chủ trương, sách lược đó thành hiện thực Đảng phải có bộ máy mạnh, gồm những đảng viên ưu tú, trong sạch, tài đức vẹn toàn, đủ phẩm chất, năng lực chỉ đạo, điều hành các bước thực thi nghị quyết của đại hội trong cả một nhiệm kỳ hướng tới một kết quả tốt đẹp, trọn vẹn, hướng đến một tương lai tươi sáng. Muốn vậy, cùng với lấy ý kiến quần chúng về kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết nhiệm kỳ trước, định hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ tới, cấp ủy cơ sở phải làm tốt việc kiểm điểm đảng viên, kiểm điểm trách nhiệm và sự tự soi tự sửa bản thân ở mỗi cấp ủy viên, thông báo công khai, rõ ràng tới các đoàn thể quần chúng về kết quả kiểm điểm, các ưu, khuyết điểm.

Theo đó, tổ chức lấy phiếu tín nhiệm của quần chúng ở đơn vị mình, trong khu vực dân cư được phân cấp quản lý, từ đó dự kiến cơ cấu cấp ủy, bí thư cấp ủy khóa tới; kể cả các đảng viên dự kiến vào danh sách đi dự đại hội cấp trên để quần chúng góp ý với tinh thần thực sự cầu thị và phát huy dân chủ trong nhân dân. Sau đó, cấp ủy phải phúc đáp, giải trình tiếp thu ý kiến của các đoàn thể quần chúng. Phải công khai, sòng phẳng ý kiến nào được tiếp thu, ý kiến nào không tiếp thu với quan điểm nguyên tắc xây dựng Đảng, có lý có tình, đúng tinh thần “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đúng ý nghĩa thực hành dân chủ XHCN tại cơ sở. Tiến hành như vậy là thực sự thể hiện Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền luôn mở rộng dân chủ và trung thực trước nhân dân; mỗi lần đại hội là một lần nhắc nhở, giáo dục, kiểm tra đảng viên tránh lộng quyền, chịu sự giám sát của quần chúng nhân dân; để mỗi quyết định của Đảng đều nhận được phản biện của đoàn thể chính trị - xã hội, của Mặt trận đoàn kết rộng rãi mà Đảng là một thành viên, đúng theo nguyên tắc, phù hợp quy chế hoạt động của các đoàn thể, đúng pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. 

Việc xác định phương hướng, nhiệm vụ và thiết kế bộ máy lãnh đạo ở cơ sở, dù là đơn vị nhỏ hay lớn đều phải bảo đảm bao quát, chứa đựng nội hàm nhiệm vụ chung của toàn Đảng, của cả nước; đó là phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ then chốt, là quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Chỉ khi đã hoàn tất mọi điều kiện nói ở trên, cơ sở đảng mới tiến hành đại hội. Vào đại hội bảo đảm thảo luận kỹ cả báo cáo của đơn vị mình và dự thảo báo cáo chính trị của cấp trên. Có như thế, mới bảo đảm mỗi kỳ đại hội là một lần Đảng với Dân thêm gắn chặt, là một lần giáo dục, bồi dưỡng đảng viên, là tăng cường củng cố, xây dựng Đảng vững mạnh, là một dịp nâng cấp tổ chức đảng đủ sức, đủ tài chỉ lối, dẫn đường đưa đất nước đến phồn vinh, thịnh vượng, thực sự hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân tộc ngày thêm hùng cường, nền độc lập, tự do của Tổ quốc Việt Nam XHCN được bảo vệ vững chắc và trường tồn.

Như thế là làm đúng lời dạy của Bác Hồ kính yêu về đại hội Đảng: “Đại hội Đảng rất quan hệ đến tương lai cách mạng của Đảng ta và nhân dân ta. Đại hội sẽ làm cho Đảng ta đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa, tư tưởng và hành động đã nhất trí, càng nhất trí hơn nữa. Cho nên, toàn thể các đồng chí ta phải thảo luận kỹ càng các đề án và đóng góp ý kiến dồi dào, để đảm bảo Đại hội thành công thật tốt đẹp”(1). Chúng ta tin chắc rằng các cơ sở đảng đều thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, quyết tâm thực hiện thành công Đại hội XIV của Đảng, để rồi cứ đến hẹn Xuân về, như một lẽ tự nhiên, mùa đại hội lại được diễn ra trên Tổ quốc thanh bình, văn hiến Việt Nam với sinh khí mới, với hào khí mới./.

ST.

Khát vọng Hồ Chí Minh với sinh viên Việt Nam hiện nay

Xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc luôn là khát vọng cháy bỏng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Muốn thực hiện khát vọng đó, không thể thiếu sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có những biện pháp phát huy sức mạnh của lực lượng sinh viên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với học sinh Trường Nghệ thuật Sân khấu Trung ương ở khu văn công Mai Dịch, Hà Nội ngày 25-11-1961.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với học sinh Trường Nghệ thuật Sân khấu Trung ương ở khu văn công Mai Dịch, Hà Nội ngày 25-11-1961.

1. Khát vọng xây dựng và phát triển đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thứ nhất, khát vọng xây dựng đất nước độc lập, thống nhất nhằm đem lại cho Nhân dân cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Yêu nước, chứng kiến cuộc sống khổ cực của nhân dân, Hồ Chí Minh sớm có ý thức tìm con đường cứu nước giành độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho đồng bào. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề độc lập dân tộc luôn gắn liền với thống nhất đất nước. Tư tưởng này phản ánh rõ quy luật lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, thực dân Pháp được sự ủng hộ của nhiều thế lực phản động đã âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam hòng cướp nước ta một lần nữa. Kiên quyết chống lại âm mưu ấy, Người nhiều lần khẳng định dân tộc, đất nước Việt Nam không thể chia cắt. Người viết: “Hiện nay việc thống nhất đất nước là một yêu cầu thiết tha nhất của toàn dân Việt Nam” và “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Trong mọi hoàn cảnh, độc lập và thống nhất đất nước luôn là nguyên tắc kiên định, bất di, bất dịnh của Người.

Theo Hồ Chí Minh, trong điều kiện nước thuộc địa như Việt Nam thì trước hết phải đấu tranh giành độc lập dân tộc. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Hạnh phúc, tự do theo quan điểm Hồ Chí Minh là người dân được hưởng đầy đủ đời sống vật chất và tinh thần. Người dân từ chỗ có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành đến chỗ ăn ngon, mặc đẹp, đời sống sung túc. Người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm. Độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào là niềm tin mãnh liệt, là khát vọng suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

Thứ hai, khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Sau khi giành được độc lập, với tinh thần Chính phủ là công bộc của dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ Chính phủ phải nhằm vào mục đích giữ nền độc lập, mưu tự do, hạnh phúc cho mọi người, làm cho dân mạnh nước giàu. Người coi việc bảo vệ và xây dựng đất nước đều quan trọng và khó khăn, vì vậy phải huy động sức lực, trí tuệ, của cải của toàn dân tộc; tìm người tài đức trong và ngoài Đảng, trong và ngoài nước, trong chế độ mới và dưới chế độ cũ. Vượt lên trên những định kiến giai cấp đương thời, ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh kêu gọi các nhà giàu có mau mau góp vốn lại mở các công ty kinh doanh công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, tài chính, giao thông để tích cực tham gia sản xuất, lưu thông buôn bán. Như vậy, làm giàu, sự phân tầng thu nhập giữa các nhóm dân cư bằng năng lực và trí tuệ chân chính là một hiện tượng tích cực của quá trình tiến hóa xã hội. Lời kêu gọi những người giàu có của Hồ Chí Minh trong việc góp vốn, mở các công ty sản xuất - kinh doanh đã có những tác động tích cực đến việc huy động các nguồn lực và tiềm năng to lớn trong nhân dân.

Để dân giàu, nước mạnh, Hồ Chí Minh luôn chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Tháng 12-1946, trong Lời kêu gọi gửi Liên hiệp quốc, Người đã tuyên bố chính sách mở cửa của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hiệp quốc…”. Điều này thể hiện tầm nhìn vượt thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vấn đề kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ ba, khát vọng xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trong những năm tháng đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh mong ước xây dựng một xã hội mới, dân chủ, công bằng, nhân đạo, văn minh ở Việt Nam, khác hẳn xã hội đầy rẫy áp bức, bất công ở các nước mà Người đã đến. Ngay trong quá trình chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân, Hồ Chí Minh đã khẳng định bản chất tốt đẹp của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua việc thực hiện chính sách an sinh xã hội. Chương trình Việt Minh nhấn mạnh “cứu tế thất nghiệp cho công nhân”, “xã hội bảo hiểm”, “công nhân già có lương hưu trí”, “cứu tế nông dân trong những năm mất mùa”, “hậu đãi binh lính có công giữ gìn Tổ quốc và phụ cấp gia đình binh lính được đầy đủ”, “giúp học trò nghèo”, “người già và kẻ tàn tật được Chính phủ chăm nom và cấp dưỡng”… Đó là nền móng toàn diện, có hệ thống và vững chắc cho an sinh xã hội mà cốt lõi là bảo vệ tất cả các thành viên trong xã hội khỏi những rủi ro kinh tế bảo đảm an toàn cuộc sống. Dân chủ, bình đẳng, công bằng, nhân ái chính là một động lực động viên nhân dân đoàn kết, hăng hái sản xuất, xóa bỏ tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, tiến kịp các nước phát triển.

2. Giải pháp khơi dậy khát vọng phát triển đất nước cho sinh viên Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước cho sinh viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay cần:

Một là, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và khát vọng phát triển đất nước của Người nói riêng để sinh viên nhận thức rõ hơn vai trò, giá trị và ý nghĩa to lớn tư tưởng của Người và trách nhiệm bản thân trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm”. Để hoạt động tuyên truyền có hiệu quả trước hết giảng viên giảng dạy học phần tư tưởng Hồ Chí Minh cần thường xuyên nâng cao chất lượng bài giảng, đổi mới phương pháp giảng dạy để thu hút sinh viên tham gia các hoạt động học tập trên lớp, khơi dậy ở mỗi sinh viên trách nhiệm học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Các cơ sở giáo dục đại học cần thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa gắn với nội dung tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, khát vọng giải phóng và phát triển dân tộc của Người. Tổ chức các buổi gặp gỡ, trò chuyện và lắng nghe ý kiến của sinh viên. Tạo những diễn đàn cho sinh viên thể hiện bản thân và có động lực để sinh viên tích cực tham gia vào các hoạt động mà Nhà trường tổ chức. Đa dạng hóa và vận dụng các hình thức tổ chức giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống phù hợp với tâm sinh lý sinh viên kết hợp nội dung sinh hoạt Đoàn, Hội trong các hoạt động trải nghiệm sáng tạo. 

Hai là, các cơ sở giáo dục đại học cần xây dựng môi trường giáo dục chuyên nghiệp, hiện đại, đa dạng hóa các hoạt động phong trào để khơi dậy khát vọng được cống hiến, được sống hết mình và sống có ích cho xã hội của sinh viên. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh căn dặn: “ĐOÀN VIÊN VÀ THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”. Vì thế, cần tạo nên môi trường hoạt động phong phú, tập hợp sinh viên trong một tổ chức chặt chẽ. Môi trường giáo dục chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước và thế giới đóng vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mà các trường đại học chính là nơi đào tạo nên nguồn nhân lực chất lượng cao đó. Đây chính là nơi giúp họ có cơ hội được phát huy, khơi dậy lý tưởng phấn đấu vươn lên, biết tìm tòi, sáng tạo, tiếp nhận tri thức khoa học và khả năng vận dụng linh hoạt tri thức đó vào cuộc sống. 

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giáo dục các em là việc CHUNG của gia đình, trường học và xã hội. Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách”. Vì vậy, gia đình, nhà trường và xã hội phải có sự kết hợp chặt chẽ trong việc khơi dậy khát vọng xây dựng và phát triển đất nước của sinh viên. Chỉ khi nhà trường, gia đình và xã hội cùng nhau phối hợp thực hiện thì kết quả của sự nghiệp giáo dục mới hoàn thành: “Giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”.

Cả nước đang bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đẩy mạnh CNH, HĐH cùng với chính sách mở cửa, giao lưu khu vực và quốc tế đã và đang tạo ra môi trường xã hội đa dạng, phức tạp, cần phát huy tốt hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên trong việc tổ chức và thu hút sinh viên vào các phong trào hoạt động chính trị - xã hội, các phong trào thi đua yêu nước như: Chương trình “Sinh viên với biển, đảo Tổ quốc” nhằm bồi đắp tình yêu biển, đảo quê hương, đất nước cho sinh viên. Phong trào “Sinh viên khởi nghiệp” nhằm thúc đẩy và phát huy tinh thần khởi nghiệp và giúp các em thay đổi tư duy, nhận thức, dám nghĩ, dám làm để biến ý tưởng thành hiện thực. Cuộc vận động “Sinh viên Việt Nam, những câu chuyện đẹp” nhằm lan tỏa những câu chuyện giản dị, thường ngày về nghị lực, khát vọng, tình yêu và trí tuệ của sinh viên Việt Nam. Chương trình “Tuổi trẻ Việt Nam - Câu chuyện hòa bình”. Phong trào “Học tập, rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp”, “Thi đua học tập tốt, rèn luyện tốt”. Phong trào sinh viên tình nguyện, “Sinh viên 5 tốt”…

Ba là, khơi dậy và phát huy tính tự giác của sinh viên trong học tập và rèn luyện. Trong điều kiện khoa học - kỹ thuật và công nghệ phát triển mạnh mẽ, hội nhập quốc tế sâu rộng và diễn biến chính trị phức tạp đòi hỏi sinh viên xác định rõ mục đích, động cơ, trách nhiệm học tập; thường xuyên nâng cao trình độ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, có khả năng dự báo các xu hướng phát triển của xã hội; có kế hoạch cụ thể để học tập mọi lúc, mọi nơi, học suốt đời, học ở trường, học sách vở, học lẫn nhau, học từ thực tiễn cuộc sống, trong việc làm hằng ngày. 

Tự giáo dục, tự rèn luyện đòi hỏi sinh viên phải có thái độ nghiêm túc với bản thân trong việc đánh giá, nhận xét về mọi hành vi của mình và tự chịu trách nhiệm trước kết quả của những hành vi đó. Sinh viên phải tự nâng cao khả năng nắm bắt tri thức khoa học cơ bản, khoa học chuyên sâu, chuyên ngành và những tri thức công cụ để đáp ứng đòi hỏi khắt khe của thị trường sức lao động trong môi trường sử dụng rộng rãi trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số ở Việt Nam cũng như đòi hỏi của thị trường khu vực và quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, thanh niên phải có chí tiến thủ, có ý chí cách mạng kiên cường để tiến bộ không ngừng và vượt qua mọi khó khăn, thử thách, phải có chí tự động, tự cường, tự lập, phải có lòng ham tiến bộ, ham học hỏi. Đồng thời, mỗi sinh viên phải có lòng khao khát vươn tới chân trời khoa học, chủ động tiếp cận và nắm bắt cái mới, tiếp thêm ý chí và nghị lực thôi thúc họ ham hiểu biết và học hỏi, khám phá tri thức khoa học, gắn tri thức khoa học giải quyết những vấn đề thực tiễn hiệu quả nhất. 

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là trí tuệ nhân tạo và công nghệ số đem đến cơ hội mà những quốc gia đang phát triển như Việt Nam có thể nắm bắt để đi trước đón đầu, phát triển mạnh mẽ, đồng bộ các lĩnh vực nhằm đưa Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, kỷ nguyên thịnh vượng. Để có thể nắm bắt được những cơ hội mà cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ trí thức trẻ. Vì vậy, khơi dậy khát vọng xây dựng và phát triển đất nước cho sinh viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay nhằm xây dựng thành công nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc; đuổi kịp, tiến cùng, sánh vai với các cường quốc năm châu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu./.

ST.

XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG “BỐN TỐT” NHƯ THẾ NÀO?

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã và đang tìm mọi cách bịa đặt, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó tập trung vào các tổ chức cơ sở đảng. Trên không gian mạng, chúng tung ra nhiều thông tin sai trái, xấu, độc, như: Đảng không chăm lo xây dựng cơ sở đảng, các tổ chức cơ sở của Đảng Cộng sản chỉ chăm lo lợi ích nhóm, hoặc tranh giành, đấu đá lẫn nhau, không có chi bộ đảng hay tổ chức đảng tốt, các tổ chức cơ sở đảng đều mất sức chiến đấu, không còn uy tín trong Đảng cũng như trong dân. Chúng trắng trợn kêu gọi, kích động nhân dân đừng tin vào Đảng và: “Đừng than khóc chi nữa… hãy đoàn kết lại cùng nhau chống giặc cộng sản”…

Nhưng lịch sử hơn 95 năm ra đời, trưởng thành, phát triển lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn những thông tin bịa đặt, xuyên tạc mang tính chống phá trên của các thế lực thù địch, thế lực xấu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm đặc biệt đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng, nhất là mô hình chi bộ “bốn tốt”, đảng bộ cơ sở “bốn tốt”. Cùng với việc chỉ ra tầm quan trọng của việc phải triển khai xây dựng tích cực, hiệu quả chi bộ “bốn tốt”, đảng bộ cơ sở “bốn tốt”, Hồ Chí Minh còn nêu rõ những chủ trương, giải pháp tiến hành cụ thể, thiết thực. Người yêu cầu Đảng phải tăng cường giáo dục trong toàn Đảng lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng cùng với nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên cộng sản. Người nhấn mạnh Đảng phải thực hành nghiêm chỉnh nguyên tắc phê bình và tự phê bình trong Đảng, phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng nhân dân thật thà phê bình cán bộ, đảng viên của Đảng. Người thường xuyên căn dặn, nhắc nhở các tổ chức đảng phải duy trì nghiêm túc, nghiêm minh chế độ sinh hoạt của chi bộ, kỷ luật của Đảng và thực hiện chặt chẽ công tác kiểm tra của Đảng. Hồ Chí Minh cũng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và: “Phải thành khẩn tự phê bình tư tưởng và công tác của mình, sửa chữa những khuyết điểm để củng cố tốt chi bộ và để rèn luyện mình trở thành đảng viên tốt”.

Những tư tưởng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả trên thực tế. Điển hình như trong thời kỳ đổi mới đất nước, với quan điểm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, Đảng đã có nhiều chủ trương, giải pháp xây dựng chi bộ “bốn tốt”, đảng bộ cơ sở “bốn tốt” với nhiều kết quả tích cực, toàn diện. Tháng 6- 2022, Nghị quyết Trung ương năm khóa XIII của Đảng về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới đã khẳng định: Chúng ta đã từng bước nâng lên năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình, chất lượng sinh hoạt đảng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý đảng viên, kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật... của nhiều cấp ủy, đảng bộ, chi bộ cơ sở. Đối với đội ngũ đảng viên thì phần lớn đảng viên luôn có ý thức rèn luyện phấn đấu, nêu cao tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình, tiên phong, gương mẫu, có mối quan hệ mật thiết với quần chúng nhân dân. 

Đảng cũng thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm trong công tác này, như: Còn hạn chế về chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảng bộ cơ sở, sinh hoạt cấp ủy; tinh thần tự phê bình và phê bình cũng như công tác đánh giá, xếp loại tổ chức đảng và đảng viên. Một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng năng lực, trình độ, trách nhiệm chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu bản lĩnh chính trị, đấu tranh tự phê bình và phê bình yếu; tinh thần trách nhiệm, ý chí phấn đấu giảm sút; chưa gương mẫu, sống thực dụng; suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm nguyên tắc, kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Đồng thời, Đảng đưa ra nhiều giải pháp kiên quyết, mạnh mẽ để khắc phục, sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm để phấn đấu đạt mục tiêu mà Đảng đã đề ra: “Đến năm 2030: Hằng năm có trên 90% tổ chức cơ sở đảng, đảng viên được đánh giá, xếp loại từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; phấn đấu 100% thôn, bản, tổ dân phố có chi bộ. Tỷ lệ kết nạp đảng viên mới hằng năm trong giai đoạn 2025-2030 đạt 3-4% tổng số đảng viên”. Triển khai thực hiện hiệu quả mô hình chi bộ “bốn tốt”, đảng bộ cơ sở “bốn tốt” (1. Hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị; 2. Chất lượng sinh hoạt tốt; 3. Đoàn kết, kỷ luật tốt; 4. Cán bộ đảng viên tốt”.

Muốn vậy, các tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần đoàn kết nhất trí, chủ động, tích cực rèn luyện phấn đấu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, giải pháp đã được Đảng đề ra nhằm củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Cụ thể là: Cần có sự đổi mới, hoàn thiện tổ chức các loại hình tổ chức cơ sở đảng; rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng. Các tổ chức cơ sở đảng chú trọng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, các chi bộ không ngừng đẩy mạnh nâng cao chất lượng sinh hoạt. Đội ngũ cấp ủy viên cơ sở cần được nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng. Đồng thời, nâng cao chất lượng, số lượng đảng viên và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia xây dựng, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên.

Trước mắt, chúng ta cần tập trung triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 14-6-2024 của Bộ Chính trị khóa XIII về đại hội các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng với mục tiêu tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và niềm tin vững chắc của cán bộ, đảng viên cũng như quần chúng nhân dân đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, từng tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên quyết tâm góp phần làm tốt chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm: “Cấp ủy các cấp cần tập trung chuẩn bị nhân sự cấp ủy nhiệm kỳ mới theo đúng các nội dung đã được hướng dẫn, chuẩn bị thật tốt đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu phát triển mới. Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự học hỏi để “nâng mình lên” để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới của đất nước”./

ĐA.S.tầm