Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2025

Học và làm theo tư tưởng “trọng dụng hiền tài” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Văn Miếu, Quốc Tử Giám. Người xem bia ghi danh các Tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam (29/1/1960).

Quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về trọng dụng nhân tài. Người xác định, việc dùng người phải hợp lý, đúng năng lực và sở trường của họ, đúng người, đúng việc, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn” và  phải để họ hiểu rõ mọi mặt các công việc mà họ phụ trách. Dùng người mà không đúng công việc sẽ không chạy, không được việc, làm thui chột nhân tài, có hại cho Đảng và cũng thể hiện sự yếu kém trong công tác cán bộ của Đảng. Người cho rằng, vì “cách lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng cho nên có những người như thế cũng bị dìm xuống, không được cất nhắc. Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo”. Quan điểm này bắt nguồn từ tư tưởng trọng dân, tin dân, nêu cao vai trò làm chủ đất nước của dân, là sự nối tiếp và phát triển tư tưởng cầu hiền tài của ông cha trong điều kiện mới; coi nhân tố con người là vấn đề có tính chất phương pháp luận quan trọng nhất và nhân tài có vai trò to lớn - động lực để phát triển đất nước.

Không chỉ bản thân biết dùng người mà Người còn yêu cầu lãnh đạo, quản lý các cấp phải biết trọng dụng nhân tài, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài. Việc trọng dụng nhân tài theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải làm thường xuyên, liên tục như “người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”. Người cho rằng, trọng dụng nhân tài phải biết tuỳ tài mà dùng người: “Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”. Bởi vậy, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, trong lúc còn bộn bề khó khăn, thù trong, giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm tìm người tài để xây dựng đất nước và Người chính là tấm gương sáng cho việc tìm nhân tài và trọng dụng nhân tài. Ngày 14 - 11 - 1945, trên báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Người chủ trương phải “tìm người tài đức”, bởi, một quốc gia, một đất nước không biết sử dụng nhân tài là một khuyết điểm to, làm lãng phí một vốn quý của Đảng và Nhà nước trong xây dựng và kiến thiết nước nhà mà khuyết điểm đó trước hết là của những người lãnh đạo Đảng và Chính phủ và chính Người cũng tự phê bình và nhận khuyết điểm đó. Người chủ trương phải “tìm người tài đức” vì “kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”. Vì vậy, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh đã tập hợp được nhiều nhân sĩ, trí thức khác nhau về xuất thân, địa vị xã hội nhưng họ đều là những trí thức có tâm huyết xây dựng nước Việt Nam mới. Tháng 1 - 1946, trong tình thế cách mạng diễn biến hết sức phức tạp, nhưng cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra thành công, lập ra Quốc hội dân chủ nhân dân đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt mới trong đời sống chính trị của người lao động Việt Nam. Điều đặc biệt, thành viên Chính phủ rất đa dạng, thuộc các tầng lớp khác nhau, trí thức Hán học có các nhân sĩ, như: cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Phạm Khắc Hòe..., trí thức Tây học có Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giàu, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai... Họ đều chung một ý chí, đó là đoàn kết dân tộc chung tay góp sức xây dựng chế độ mới, bảo vệ độc lập dân tộc. Trong các giai đoạn cách mạng sau này, Người đã thu phục được nhiều nhân sĩ, trí thức tài năng tham gia và làm nên những thắng lợi vang dội của dân tộc trong các cuộc kháng chiến trường kỳ. 


Trên cương vị là Chủ tịch nước, vấn đề chăm lo bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, rèn luyện các thế hệ cách mạng luôn được Người coi trọng và quan  tâm hàng đầu. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Quan điểm, tư tưởng và nghệ thuật trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị và là bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác cán bộ của Đảng ta. Đảng và Nhà nước không chỉ coi thu hút và sử dụng nhân tài là một nội dung quan trọng trong công tác cán bộ, bởi nhân tài - cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng mà còn coi trọng nhân tài, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài "đúng người, đúng việc, đúng vị trí" nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về thu hút và trọng dụng hiền tài là vấn đề vừa cần thiết, vừa cấp bách. Đại hội X của Đảng khẳng định: “Xúc tiến xây dựng một số trường đại học của Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế, đào tạo nhân tài cho đất nước”, “Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao... Thu hút chuyên gia, đặc biệt là chuyên gia giỏi người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia giảng dạy, phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam”; “Thực sự tôn vinh các doanh nhân có tài và thành đạt, đóng góp nhiều cho xã hội”. Đại hội XI tiếp tục chỉ đạo: “Muốn tạo nên một tập thể vững mạnh, phải xây dựng từng con người, quan tâm phát hiện và bồi dưỡng nhân tài”, “Có chính sách trọng dụng trí thức, đặc biệt đối với nhân tài của đất nước”, “Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích, sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ”, “Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức”. Văn kiện XII của Đảng nhấn mạnh: để có cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ, bên cạnh việc đổi mới bầu cử trong Đảng, thay đổi phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cần có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài và “có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài”. Luật Cán bộ, Công chức cũng nêu rõ: “Nhà nước có chính sách để phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trong dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng”. Điều này chứng tỏ, Đảng và Nhà nước ta kịp thời nhận thức đầy đủ về vai trò của người hiền tài và có cách thức sử dụng nhân tài hợp lý nhằm phát huy cao nhất mọi nguồn lực sáng tạo của nhân dân vào sự phát triển bền vững và thịnh vượng của đất nước. Bên cạnh đó, những sinh viên xuất sắc, cán bộ có năng lực... đều được Chính phủ trợ cấp chí phí sinh hoạt và học tập ở nước ngoài để mai này phục vụ đất nước. Các trường học được đầu tư xây dựng ở vùng sâu, xa, biên giới và hải đảo, tạo điều kiện cho trẻ em ở đó có cơ hội học tập, các chính sách miễn giảm học phí cho các em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, quỹ học bổng dành cho em có thành tích cao trong học tập cũng được xây dựng và duy trì.

Thêm vào đó, Đảng và Nhà nước ta đã áp dụng các hình thức phát hiện, thu hút nhân tài phù hợp với từng lĩnh vực và điều kiện của mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị. Không chỉ phát hiện những nhân tài đã lộ rõ, mà quan trọng là phải nghiên cứu, xây dựng chính sách thích hợp để thu hút được những nhân tài tiềm năng. Song song với đó, để thu hút và trọng dụng nhân tài rất, Nhà nước đã có nhiều chính sách về tôn vinh và chính sách khuyến khích vật chất, đồng thời tạo lập môi trường, điều kiện làm việc, trong đó có cả điều kiện cơ sở vật chất và cơ chế dân chủ cho cống hiến, sáng tạo, đồng thời có chiến lược thu hút nhân tài là người Việt Nam ở nước ngoài về nước.

Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế sâu rộng với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt đang đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng chiến lược nhân tài quốc gia, tạo thành chủ trương, cơ chế thống nhất để thu hút, trọng dụng, bồi dưỡng và phát triển hiền tài. Hiền tài sẽ là những người cống hiến, vạch đường đi để dân tộc ta tiếp tục giành những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều này đòi hỏi, các cấp ủy, chính quyền từ Trung ương xuống cơ sở tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về trọng dụng hiền tài nói riêng, coi trọng, thu hút, trọng dụng nhân tài, bố trí, sử dụng cán bộ phải "đúng người, đúng việc, đúng vị trí", cần loại bỏ tư tưởng bổ nhiệm cán bộ theo hình thức thân - quen, "cục bộ địa phương", "con ông cháu cha", "một người làm quan cả họ được nhờ" để lựa chọn hiền tài "đúng" góp công - sức, tâm - trí vào sự nghiệp kiến thiết và bảo vệ đất nước./.


ST.

Giáo dục phẩm chất trung, hiếu của sĩ quan chính trị ở đơn vị cơ sở theo tư tưởng Hồ Chí Min

Phẩm chất trung, hiếu theo tư tưởng Hồ Chí Minh của sĩ quan chính trị cấp phân đội ở đơn vị cơ sở là phẩm chất chính trị, đạo đức hàng đầu, cốt lõi, biểu hiện sự trung với nước, hiếu với dân phản ánh trình độ giác ngộ, tình cảm, động cơ, trách nhiệm và hành vi cao đẹp của họ đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân, trực tiếp là đối với nhiệm vụ theo chức trách được giao.

Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Việc nâng cao hiệu quả giáo dục phẩm chất trung, hiếu của sĩ quan chính trị cấp phân đội ở đơn vị cơ sở hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết xuyên suốt đáp ứng phương hướng xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Sĩ quan chính trị cấp phân đội ở đơn vị cơ sở là những sĩ quan trẻ, có hiểu biết khá sâu, rộng về các lĩnh vực xã hội, được đào tạo cơ bản, chính quy. Họ có trình độ nghiệp vụ vững, nhạy cảm với thời cuộc, nhất là những vấn đề liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Nét đặc trưng của đội ngũ sĩ quan chính trị cấp phân đội ở đơn vị cơ sở là sự chững chạc về trí tuệ, ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh cái mới, không thoả mãn, luôn muốn khẳng định mình... Tuy nhiên, họ ít kinh nghiệm trong cuộc sống và công tác, dễ bị tác động bởi hoàn cảnh xã hội, hay nôn nóng chủ quan, thường đánh giá không đúng về mình, dễ tự ái, chưa khéo léo trong quan hệ, công tác. Nhìn chung, họ còn gặp nhiều khó khăn về gia đình, phần lớn xuất thân từ nông dân nên càng khó khăn hơn. Đặc biệt đối với những người thực hiện nhiệm vụ xa gia đình. Mặt trái cơ chế thị trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến tâm tư tình cảm của mỗi người. Một bộ phận sĩ quan chính trị cấp phân đội ở đơn vị cơ sở có biểu hiện lệch chuẩn như: giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, ngại học tập, ngại rèn luyện... Trong đó, nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin.  

Giáo dục phẩm chất trung, hiếu của sĩ quan chính trị cấp phân đội ở đơn vị cơ sở hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm khắc phục những hạn chế, toàn tâm toàn ý phục vụ Tổ Quốc, phục vụ nhân dân. Để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cách mạng nói chung và phẩm chất trung, hiếu của sĩ quan chính trị cấp phân đội ở đơn vị cơ sở hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, nâng cao trách nhiệm, năng lực thực tiễn và sự phối hợp giữa các chủ thể trong giáo dục chính trị, đạo đức, trực tiếp là giáo dục phẩm chất trung, hiếu theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở đơn vị cơ sở. Xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể đối với việc phát triển phẩm chất trung, hiếu. Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể. Quá trình tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực thực tiễn các chủ thể trong giáo dục chính trị, đạo đức không đơn thuần là trách nhiệm của riêng một lực lượng, một tổ chức nào, mà là sự phối hợp chặt chẽ, đề cao trách nhiệm, công sức của các chủ thể trong toàn đơn vị. Vì vậy, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các chủ thể, nhất là sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng của các cấp ủy, chỉ huy các cấp.

Hai là, đổi mới, đa dạng hóa nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục phẩm chất trung, hiếu của sĩ quan chính trị cấp phân đội ở đơn vị cơ sở hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường giáo dục chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo phân cấp sát với yêu cầu, nhiệm vụ của đơn vị, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của Đảng, của Quân đội và các đơn vị. Xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Thực hiện đổi mới cách dạy theo hướng vận dụng tổng hợp các phương pháp dạy học, đổi mới cách thức kiểm tra, viết thu hoạch theo hướng tăng cường phần liên hệ vận dụng thực tiễn trên cương vị chức trách được giao. Tăng cường các hình thức giáo dục, tập trung vào các nội dung nhằm phát triển phẩm chất trung, hiếu. Đồng thời, thông qua các hình thức giáo dục, tự giáo dục để họ có cơ sở tự khẳng định mình và bộc lộ những điểm mạnh, yếu trong quá trình công tác tại đơn vị.

Ba là, phát huy nhân tố chủ quan của sĩ quan chính trị cấp phân đội ở đơn vị cơ sở. Chú trọng nội dung cơ bản về khơi dậy tính tích cực, chủ động, tự giác của sĩ quan chính trị cấp phân đội. Họ phải chủ động xây dựng kế hoạch cá nhân, xây dựng động cơ, thái độ, trách nhiệm, ý chí quyết tâm thực hiện tốt kế hoạch, tự đánh giá kết quả rèn luyện, phấn đấu. Tự đánh giá, rút kinh nghiệm những việc mà bản thân mình làm được so với kế hoạch đã xây dựng, hiệu quả của việc thực hiện đó ra sao. Từ đó bổ sung hoàn thiện kế hoạch, phấn đấu thực hiện tốt kế hoạch.

Bốn là, xây dựng môi trường chính trị, đạo đức trong sạch, lành mạnh, tạo thuận lợi cho phát triển phẩm chất trung, hiếu của sĩ quan chính trị cấp phân đội ở đơn vị cơ sở theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Quán triệt tốt nguyên tắc, quan điểm toàn diện, đồng bộ, đồng thời chú trọng đến vai trò, vị trí, cơ chế tác động của từng mặt, từng yếu tố cụ thể của tình hình nhiệm vụ, phát huy tối đa các kênh tác động, đồng thời phải kết hợp chặt chẽ giữa xây đi đôi với chống. Cần coi trọng tăng cường giáo dục lý tưởng, tri thức đạo đức và các giá trị tinh thần cho sĩ quan chính trị nói chung và sĩ quan chính trị cấp phân đội nói riêng, xây dựng và hoàn thiện hệ thống giá trị đạo đức cách mạng và hiện thực hoá trong đời sống trở thành nhu cầu tất yếu. Xây dựng môi trường chính trị, đạo đức ở đơn vị cơ sở phải phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhận thức, yêu cầu nhiệm vụ của sĩ quan chính trị cấp phân đội. Xây dựng môi trường chính trị, đạo đức ở đơn vị cơ sở đi đôi với việc giữ nghiêm kỷ luật quân đội, đơn vị, nâng cao vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong việc tu dưỡng và rèn luyện phẩm chất trung, hiếu. Tích cực định hướng dư luận tập thể quân nhân trong xây dựng môi trường chính trị, đạo đức trong sạch, lành mạnh ở đơn vị cơ sở.

Phẩm chất trung, hiếu là phẩm chất hàng đầu trong thang giá trị chính trị, đạo đức của người quân nhân cách mạng - một trong những yếu tố không thể thiếu trong xây dựng chất lượng tổng hợp, tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân. Mỗi sĩ quan chính trị cấp phân đội ở đơn vị cơ sở phấn đấu để làm người cộng sản kiên trung: trung là trung với nước, với Đảng; hiếu là hiếu với nhân dân./.

ST.

Bút chống quan liêu

Tháng 9-1963, nhân dịp Quốc khánh, trong phiên họp Hội đồng Chính phủ, Bác Hồ mang đến một hộp bút và nói: “Hôm nay tôi xin tặng các vị, các chú mỗi người một cây bút để làm việc ”. Bác đưa tận tay từng bộ trưởng, từng uỷ viên. Mọi người nhìn lên nắp bút thấy dòng chữ Bác cho khắc “ Bút chống quan liêu. 2-9-63”. Đây chỉ là một chi tiết trong thái độ cương quyết chống căn bệnh quan liêu của Bác.

Căn bệnh quan liêu mang lại nhiều hậu quả nặng nề. Vì đã mắc bệnh quan liêu là xa rời nhân dân, xa rời thực tế. Đối với công việc không kiểm tra kỹ lưỡng, chỉ đạo đại khái, chung chung, tác phong thiếu dân chủ, sợ phê bình, tự phê bình, không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách. Vì vậy ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó có nạn tham ô, lãng phí. Quan liêu thường cặp đôi với lãng phí, tham nhũng. Nó là tiền đề và hệ quả của nhau. Trong mối quan hệ này, quan liêu là một yếu tố tạo điều kiện cho tham nhũng. Tham nhũng, lãng phí cũng làm cho quan liêu trầm trọng hơn. Nguy hại nhất của tệ quan liêu là buông lỏng quản lý, xa rời đời sống thực tế của nhân dân, độc đoán chuyên quyền, chủ quan, duy ý chí.

Mỗi khi tết đến, xuân về, Bác dành thời gian đi thăm đồng bào, đồng chí, những nơi, những người khó khăn nhất về đời sống tinh thần, vật chất để hiểu rõ cuộc sống của nhân dân. Những chuyến thăm của Bác không bao giờ báo trước gia chủ. Tết đầu tiên, khi nước nhà mới được độc lập, Bác thăm một gia đình làm nghề kéo xe ở phố Nguyễn Khuyến, thăm một viên chức nghèo ở phố Hàm Long, thăm một gia đình công chức ở phố Hàng Vải. Giao thừa, Bác còn cải trang giống một cụ đồ nho, khăn xếp, áo the, quần lĩnh, thong thả hoà vào dòng người đi đón giao thừa ở đền Ngọc Sơn.

Cứ đến giao thừa và ngày mồng một tết, Bác đi thăm, tặng quà, và chúc tết nhân dân. Giao thừa năm 1956 Bác thăm trường Thương binh hỏng mắt Hà Nội, Tết năm 1961 Bác thăm một gia đình công nhân ở nhà máy gỗ Cầu Đuống, thăm một gia đình cán bộ Công đoàn của nhà máy cơ khí Hà Nội; Tết năm 1962 Bác thăm nhiều gia đình ở phố Khâm Thiên như nhà anh Nguyễn Mộc, nhà chị Chín... Hiện nay ngày tết cán bộ cũng đi chúc tết nhưng đa phần chúc tết cấp trên, cán bộ lãnh đạo. Nếu chúc tết nhân dân thì báo trước, trống giong, cờ mở, hình thức và càng khó biết được đời sống thực của dân ra sao.

Nhiều người tưởng cán bộ, đảng viên cứ ở cơ sở là gần dân, sát dân, làm sao có thể quan liêu. Không hẳn thế. Không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý sống ở thôn, ở xã, nhưng họ rất ít tiếp xúc với dân. Những tranh chấp đất đai, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, giải quyết việc làm không ai hiểu thấu, trở thành nỗi bức xúc của dân, khiếu kiện tập thể rồi thành đám đông, có khi giăng cả băng cờ biểu ngữ. Đến lúc ấy họ mới hốt hoảng, tại vì không nắm được tình hình nên không dám đối thoại với dân, cán bộ chủ chốt sợ trách nhiệm, sợ chất vấn, đưa đẩy cho cấp dưới tiếp dân, dân phản đối đòi gặp người có trách nhiệm cao nhất, thế là trở thành chuỵện lớn. Cũng có người cho rằng họ không muốn tiếp dân vì trong cuộc chia chác ai cũng đã có phần, mà từ quan liêu đến tham nhũng chỉ là gang tấc 

Bác Hồ khẳng định: muốn chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí  thì phải dân chủ. Lời dạy của Bác đã đi qua một nửa thế kỷ nhưng càng ngẫm càng thấy chính xác như một nguyên lý, bao quát như một định luật. Ngày nay bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí đã ở mức trầm trọng, trở thành quốc nạn, tầm cỡ phá hoại quốc gia, lời nói của Bác nóng bỏng tính  thời sự. Học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người có nghĩa là mọi cấp, mọi ngành, mọi người cần thực hành dân chủ, chống bệnh quan liêu - bài học chưa bao giờ cũ./.

ST.

Cải cách hành chính, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Hồ Chí Minh là người đặt nền móng xây dựng chính quyền dân chủ ở nước ta. Ngày 3-9-1945, Người chủ trì phiên họp Chính phủ bàn những vấn đề cấp bách, trong đó có vấn đề về công tác xây dựng chính quyền.

Luận điểm của Hồ Chí Minh về chính quyền gồm một hệ thống quan niệm hoàn chỉnh về bản chất và mục tiêu, nội dung, hình thức, cơ cấu quyền lực, phương pháp hoạt động, trách nhiệm, phẩm chất, năng lực của nhân viên trong nhà nước dân chủ. Người luôn khẳng định bản chất nhân dân, bản chất dân chủ của chính quyền ta. Chính quyền phải luôn lấy việc phục vụ lợi ích của nhân dân làm mục tiêu, vì lợi ích của dân là trên hết và trước hết, vừa cơ bản vừa lâu dài. Trong chức trách và nhiệm vụ, Người nhấn mạnh tính phục vụ, là “đầy tớ của dân ” , “công bộc” để nói lên ý nghĩa sâu sắc của một chính quyền dân chủ phục vụ cho lợi ích nhân dân. Người luôn đòi hỏi Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân. Người nêu nguyên tắc đặt nền móng để xây dựng một chính quyền dân chủ: người dân có quyền kiểm tra phê bình Chính phủ, đưa mọi vấn đề để cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết, dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta, Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình, đầy tớ trung thành, tận tuỵ của nhân dân. Từ Chủ tịch nước, đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân thì dân không cần đến nữa.

Năm 1947 Người viết 2 cuốn sách “Đời sống mới” và “Sửa đổi lối làm việc” với nội dung chủ yếu là phải tuyên truyền để nhân dân vươn lên vai trò làm chủ cuộc sống, làm chủ đất nước. Xây dựng đời sống mới không chỉ nhằm đẩy lùi hủ tục lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh, mà còn phát huy quyền dân chủ của nhân dân chống bệnh quan liêu, cửa quyền.

Đối với công chức là người giúp dân, không phải là quan. Năng lực và đạo đức phục vụ nhân dân được Hồ Chí Minh chỉ rõ: cần, kiệm, liêm, chính, đó là con người siêng năng, chăm chỉ, làm việc có kế hoạch, luôn tiết kiệm vật chất và thời gian, không xa xỉ lãng phí, không tham lam trục lợi, có khí phách, thẳng thắn, thật thà, dũng cảm vì lợi ích của nhân dân. Kiên quyết lên án thói quan liêu miệng nói thì dân chủ, nhưng việc làm thì theo lối “quan chủ”, miệng thì nói phụng sự quần chúng nhưng lại làm trái ngược lợi ích quần chúng. Nguyên nhân của bệnh quan liêu là do xa nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân dân, không thương dân, có nơi cán bộ còn lừa phỉnh dân, doạ nạt dân, chính đó là nguy cơ “nội xâm”.

Muốn chống quan liêu phải dân chủ. Dân chủ nhân dân mới thực có quyền, mới có cơ chế để dân kiểm soát. Bộ máy của chính quyền - một công cụ của dân nhưng luôn có khuynh hướng thoát ly quyền lực của dân để trở thành “quan chủ”. Phong cách giao tiếp của Hồ Chí Minh với quần chúng nhân dân luôn mẫu mực để cán bộ, đảng viên noi theo: bình dị, thân mật, thật sự bình đẳng, tôn trọng đồng bào, không phân biệt cấp bậc, chức vụ, thành phần xã hội.

Căn cứ Nghị quyết 45/1998/NQ-UBTVQH10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 26-2-1998, Chính phủ đã ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, cơ quan nhằm phát  huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân, động viên sức mạnh vật chất, tinh thần to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội. Mặt trận Tổ quốc đã xây dựng ban hành quy chế giám sát và phản biện xã hội đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và tổ chức thực hiện, song hiệu quả còn hạn chế. Tình trạng khiếu kiện của nhân dân vẫn còn nhiều. Biểu hiện  quan liêu, tham nhũng, lãng phí của một bộ phận cán bộ, công chức, đảng viên đã trở thành nguy cơ “nội xâm”, lòng dân bức xúc. Phải cải cách hành chính, làm trong sạch nội bộ vì sự tồn tại vững mạnh hệ thống chính quyền một quốc gia. 

Hiện nay, vẫn còn những cán bộ khủng khỉnh tiếp dân, lỡ hẹn, đùn đẩy trách nhiệm, thậm chí còn sách nhiễu, đe doạ dân. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên cần thực sự nhận thức sâu sắc và thực hiện nghiêm:

Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm

Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh

Chúng ta phải yêu dân, kính trọng dân, thì dân mới yêu ta, kính ta.

Có làm được như thế mới đúng quan điểm của Bác Hồ về vai trò của nhân dân: Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Dân chủ là chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi công việc./.
ST.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên

Sinh thời, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Theo Người, đạo đức là cái gốc của người cách mạng, không có đạo đức cách mạng không lãnh đạo được nhân dân. Người chỉ rõ: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức cách mạng thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân". Quan điểm của Bác là sự kế thừa có chọn lọc những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin.


Hồ Chí Minh khẳng định: "Nói tóm tắt, thì đạo đức cách mạng là quyết tấm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất". Đạo đức ấy được thể hiện ở các phẩm chất: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Những phẩm chất đó có mối quan hệ tác động qua lại biện chứng với nhau, thiếu một phẩm chất thì người cán bộ, đảng viên không thể làm tròn nhiệm vụ do Đảng, nhân dân và cách mạng giao phó. Trong những phẩm chất đạo đức ấy, phẩm chất "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" là một phẩm chất đặc biệt quan trọng, gắn liền với hoạt động hàng ngày của mọi cán bộ đảng viên.

Theo Hồ Chí Minh, cần là cần cù, siêng năng, chăm chỉ, ham lao động, ham học hỏi, cầu tiến bộ. Trong mọi công việc phải luôn cố gắng tìm tòi, sáng tạo, làm cho bằng được; lao động với tinh thần độc lập, tự lực, khoa học và có kế hoạch, làm việc với tinh thần luôn đặt lợi ích của dân tộc, của Đảng lên trên lợi ích cá nhân. Người khẳng định: "Bất kỳ bao giờ, bất kỳ việc gì đều phải tính đến lợi ích chung của Đảng, phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết, việc của cá nhân và lợi ích của cá nhân phải để lại sau". Đối với mỗi người, khi có đức tính cần thì làm việc gì dù khó khăn đến mấy cũng xong, cũng hoàn thành. Đồng thời, Bác chỉ rõ, kẻ địch của cần là lười biếng, người lười biếng thì công việc dù dễ dàng đến mấy cũng không hoàn thành. Người cán bộ, đảng viên ham chơi, lười biếng không thu hút, lôi cuốn, tập hợp được quần chúng, không lãnh đạo được nhân dân dẫn đến không làm tròn được nhiệm vụ cách mạng giao cho.

Kiệm là tiết kiệm trong lao động, tiết kiệm thì giờ, tiền của. Phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương hình thức, tránh chè chén lu bù”.

Liêm là luôn tôn trọng giữ gìn của công, "không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân". Phải "trong sạch, không tham lam, không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa". Người chỉ ra những hành vi trái với liêm như cậy quyền thế mà đục khoét của nhân dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư.

Về chí công vô tư, Người chỉ rõ: Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên sau, phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Đối lập với chí công vô tư là dĩ công vi tư, đó là điều phải đấu tranh, chống lại. Người giải thích: "Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp dĩ công vi tư.

Cần, kiêm, liêm, chính, chí công vô tư có quan hệ mật thiết với nhau. Hồ Chí Minh coi cần, kiệm như hai chân của con người, phải đi đôi với nhau. Cần mà không kiệm chẳng khác nào "gió thổi vào nhà trống", "nước đổ vào cái thùng không đáy", "làm chừng nào xào chừng ấy" rốt cuộc "không lại hoàn không". Còn kiệm mà không cần thì sản xuất được ít, không đủ dùng, không có tăng thêm, không có phát triển. Cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức của con người, thiếu một đức thì không thành người; cũng như trời có bốn mùa, đất có bốn phương, thiếu một mùa thì không thành trời, thiếu một phương thì không thành đất.

Tư tưởng Hồ Chí minh về rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên và công tác xây dựng đảng trong giai đoạn hiện nay. Dưới tác động của nhiều yếu tố: sự cám dỗ của lợi ích vật chất, mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tự rèn luyện kém, kiểm tra, giám sát của tổ chức chưa chặt chẽ làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng, chính trính trị, đạo đức lối sống với những biểu hiện khác nhau về phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc.

Để giáo dục, xây dựng, rèn luyện những phẩm chất đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh có hiệu quả thiết thực, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, học tập, rèn luyện thực hiện có trách nhiệm một số yêu cầu sau:

Một là, nói đi đôi với làm. 
Đ
ây là hành động cơ bản thể hiện phẩm chất đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh khẳng định: nói phải đi đôi với làm và cao hơn là làm rồi mới nói, làm nhiều nói ít và thậm chí làm hết lòng, làm tận tuỵ mà không nói, không tự phô trương. Những người nói mà không làm, nói một đằng làm một nẻo là những kẻ đạo đức giả. Người cho rằng những kẻ đó làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Người cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, chỉ huy muốn thu phục quần chúng, muốn quần chúng tin theo phải thực sự mẫu mực về phương pháp, tác phong làm việc, lời nói gắn liền với việc làm; giữ nghiêm nguyên tắc và kỷ luật, cẩn trọng, tỉ mỉ, cụ thể trong mọi công việc, lãnh đạo, quản lý bằng hành động. Việc gì có lợi cho Đảng, cho dân kể cả những việc khó khăn, nguy hiểm người cán bộ, đảng viên phải xông pha đi đầu và phải làm cho bằng được, việc gì có hại cho Đảng, cho dân phải hết sức tránh, tuyên truyền cho quần chúng tránh xa.

Hai là, xây đi đôi với chống. 
Muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây là con đường để xây dựng đạo đức cách mạng, là nguyên tắc được Hồ Chí Minh khẳng định và vận dụng thường xuyên linh hoạt, đầy sáng tạo trong chỉ dẫn thực hiện. Xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện phi đạo đức, sai trái, xấu xa. Đó là chủ nghĩa cá nhân.  Xây dựng đạo đức cách mạng, trước hết là tuyên truyền giáo dục các phẩm chất chuẩn mực đạo đức cho mỗi người, trong từng gia đình, từng tập thể, cộng đồng. Xây dựng đạo đức bằng việc khơi dậy ý thức tự nguyện vươn lên của con người tới chân, thiện, mỹ, từ đó tạo ra năng lực tự trau dồi đạo đức trong mỗi con người, loại bỏ cái ác, xấu, vô đạo đức. Cùng với xây, nhiệm vụ chống có vị trí đặc biệt quan trọng để tạo môi trường cho cái đẹp nảy nở và phát triển. Người khẳng định phải kiên quyết chống lại những tệ nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xa rời quần chúng…Đó là kẻ thù nguy hiểm của nhân dân, là giặc nội xâm, giặc ở trong lòng phá từ trong phá ra. Xây phải gắn liền với chống, trong xây có chống và ngược lại. Theo đó việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở các cơ quan, đơn vị phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp tuyên truyền, giáo dục với biện pháp hành chính, xử lý kỷ luật nghiêm minh, tăng cường đấu tranh chống lại những biểu hiện suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “’tự chuyển hóa” trong nội bộ. Giữa xây và chống không được tuyệt đối hóa mặt nào hoặc xem nhẹ mặt nào, trong khi kết hợp chặt chẽ giữa hai yếu tố đó cần coi trọng, tăng cường công tác giáo dục, động viên, thuyết phục. Xây đi đôi với chống yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần phải thường xuyên tự soi mình, tự sửa, đánh giá đúng những ưu điểm, khuyết điểm của bản thân và tìm biện pháp khắc phục, sửa chữa. Coi đó là công việc như “rửa mặt hàng ngày” để gột rửa, làm sạch những vết bẩn, những hạn chế, thiếu sót, chủ động rèn luyện đạo đức của người cán bộ, đảng viên.

Ba là, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức suốt đời. 
Đây là yêu cầu cốt lõi trong rèn luyện đạo đức bởi theo Hồ Chí Minh: đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh rèn luyện bền bỉ mới thành. Người khẳng định:“Đạo đức cách mạng không phải ở trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi. Cán bộ, đảng viên giữ cương vị càng cao càng phải tích cực, liên tục học tập, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. Khi gặp việc thuận lợi không tự cao, tự đại, thỏa mãn dừng lại, khi gặp việc khổ, việc khó thì không chùn bước, dám nghĩ, dám làm. Thực tiễn cho thấy, có nhiều cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý cấp cao trong lúc gian khổ thì, không sợ nguy hiểm, cực khổ, có công với cách mạng, song đến khi có quyền hạn trong tay nảy sinh kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu trở thành người có tội với cách mạng./.
ST.

Đảng có vững cách mạng mới thành công

Năm 1927, trong tác phẩm Đường cách mạng, từ khẳng định cách mạng “trước hết phải có Đảng cách mệnh”, Hồ Chí Minh đưa ra luận điểm “Đảng có vững cách mệnh mới thành công”. Người lấy ví dụ đơn giản, dễ hiểu, chứng minh cho luận điểm này: “Cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Luận điểm Đảng có vững cách mạng mới thành công của Hồ Chí Minh định hướng cho công tác xây dựng đảng ở mọi thời kỳ cách mạng, nhất là hiện nay khi toàn Đảng đang thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa  XIII, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Luận điểm Đảng có vững cách mạng mới thành công của Hồ Chí Minh không tách rời cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, tham nhũng, lãnh phí trong Đảng. Từ nguyên tắc xây dựng đảng kiểu mới, Hồ Chí Minh đã cảnh báo và chỉ ra biện pháp đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, tham nhũng, lãnh phí trong Đảng ngay từ khi rất sớm. Người có nhiều tác phẩm trực diện đấu tranh, ngăn chặn chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, tham nhũng, lãnh phí trong Đảng, như: “Đường cách mạng” năm 1927, “Sửa đổi lối làm việc” năm 1947, “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân” năm 1969…

Chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong Đảng, được Hồ Chí Minh gọi là giặc nội xâm, giặc ở trong lòng, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm, làm mất niềm tin của nhân dân, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong và phát triển của Đảng. Nếu không giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống giặc nội xâm, giặc ở trong lòng, thì sự nghiệp cách mạng vô sản ở nước ta không thể giành được thắng lợi, suy đến cùng là cuộc cách mạng “nửa vời”, “không đến nơi”. Vì vậy, Người yêu cầu, phải tập trung lực lượng toàn dân - lực lượng vô cùng vĩ đại, đấu tranh và giành thắng lợi trong cuộc chiến cam go, phức tạp này. Hồ Chí Minh viết: “Nhiệm vụ của quần chúng là phải hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu” và Người cho rằng: “Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình.”.

Thực tế khi đối diện với kẻ thù ngoài mặt trận, nơi chiến tuyến, tuy gian khổ song vẫn giành thắng lợi, nhưng đối diện với giặc nội xâm, giặc ở trong lòng, vô cùng phức tạp trong nhận diện, khó khăn và đau đớn trong đấu tranh, vì đó là cuộc đấu tranh với thói hư tồn tại ngay trong chính bản thân mình, với đồng đội, đồng chí, trong nội bộ cơ quan, đơn vị. Hồ Chí Minh khái quát: “Việc tranh đấu với kẻ địch ở tiền tuyến bằng súng, bằng gươm còn dễ, nhưng việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót.”.

Việc làm cần thiết để xây dựng Đảng vững là: “Tiền bạc phải tính toán một cách rành mạch, thật thà, phải tiết kiệm, chớ lười biếng. Chớ ăn cắp của công làm của tư.”. Thực tế cho thấy không còn con đường nào khác muốn xây dựng Đảng vững, phải kiên quyết, nghiêm khắc, nghiêm minh trong đấu tranh chống giặc nội xâm, giặc ở trong lòng. Hồ Chí Minh hoàn toàn ủng hộ cách làm của V.I.Lênin: “Ngày 2-5-1918, tòa án nhân dân Mat-xcơ-va xử nhẹ một vụ án hối lộ. Lênin không bằng lòng, và viết: “Không xử bắn lũ ăn của đút lót, mà xử một cách pha trò, mềm mỏng nhẹ nhàng như vậy, - đó là một điều xấu hổ cho những đảng viên cộng sản, cho những người cách mạng. Cần phải nêu những đồng chí đã ăn hối lộ ra để cho dư luận quở trách và cần phải đuổi họ ra khỏi Đảng”.

Đấu tranh chống giặc nội xâm không chỉ dừng ở từng cá nhân đảng viên, một tổ chức đảng cụ thể, mà ngay đối với toàn Đảng, cũng phải khách quan, trung thực, thừa nhận, quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, không bảo thủ, trì trệ, rơi vào chủ nghĩa cá nhân dưới mọi hình thức. Hồ Chí Minh khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Từ luận điểm Đảng có vững cách mạng mới thành công, Người luôn căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, nhất là trước những bước ngoặt của đất nước thì “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”.

Tình hình thế giới và trong nước hiện nay đã có nhiều thay đổi so với năm 1927. Loài người bước vào cuộc cách mạng công nghệ 4.0, song luận điểm Đảng có vững cách mạng mới thành công cần tiếp tục được khẳng định, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo trong công cuộc đổi mới. Đặc biệt, tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái, tiêu cực của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang diễn ra rất phức tạp, đe dọa tới vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tồn vong của chế độ ở nước ta.

Với luận điểm Đảng có vững cách mạng mới thành công, Đảng ta đã và đang quyết tâm đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái, tiêu cực ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức, có quyền trong bộ máy đảng, nhà nước. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng chỉ ra: tình trạng lợi dụng chức vụ, quyền hạn thao túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực vẫn đang diễn ra. Để cuộc đấu tranh chống giặc nội xâm giành ưu thế và thắng lợi phải có phương pháp đúng đắn, bước đi thích hợp, thận trọng, không ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm…thực hiện kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm những vi phạm, khắc phục triệt để biểu hiện nhẹ trên nặng dưới vốn không mang lại nhiều kết quả.

Mỗi đảng viên dù ở cương vị công tác nào cũng phải có ý thức và hành động cụ thể để xây dựng Đảng. Phát huy dân chủ, thực hiện tự phê bình và phê bình như “rửa mặt hàng ngày”, thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức, kiên quyết và kiên trì đấu tranh với bệnh quan liêu, tham nhũng, lãnh phí, chủ nghĩa cá nhân trong Đảng hiện nay.

Phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, cơ quan báo chí, phương tiện thông tin đại chúng trong việc giám sát cán bộ, đảng viên. Đồng thời, xây dựng cơ chế phù hợp để quần chúng, nhân dân được tham gia đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong Đảng, thực hiện dân biết, dân làm, dân kiểm tra. Kịp thời khen thưởng, cổ vũ những cá nhân, cơ quan báo chí đã phát hiện, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân. Công khai và khách quan ử lý mọi cán bộ, đảng viên, không có vùng cấm, khi vi phạm tư cách, thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, cũng như những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết trong Đảng. Khắc phục triệt để tình trạng vì động cơ cá nhân, phe nhóm xử lý nội bộ các vụ việc tiêu cực./.
ST

Học tập và làm theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong giảng dạy lý luận

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải đi vào chiều sâu, thành phong cách của mỗi người cụ thể. Học tập và làm theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh là quá trình tổng hợp, vận dụng, phát triển phong cách tư duy của Người vào quá trình rèn luyện tư duy của mình.

Tư duy bao giờ cũng gắn với một chủ thể và vì thế tư duy là nhân tố khởi đầu, nội dung cơ bản tạo nên phong cách của họ. Tất cả các hoạt động của con người đều bắt đầu từ tư duy. Tư duy phát triển đến trình độ độc lập, sáng tạo mới có thể trở thành phong cách tư duy ở một chủ thể. Phong cách tư duy thể hiện trình độ độc lập, sáng tạo và có sắc thái riêng của một chủ thể trong phản xạ với các tình huống từ thực tiễn. Hồ Chí Minh có một phương pháp tư duy vừa khoa học, vừa mang sắc thái riêng, thể hiện một phong cách tư duy rất độc đáo và có ý nghĩa định hướng khoa học, nhất là đối với những người làm công tác giảng dạy lý luận.

Thứ nhất, học tập và làm theo phương pháp xác định điểm xuất phát, mục đích phát triển tư duy.

Ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã lấy hiện thực xã hội Việt Nam làm điểm xuất phát cho hình thành, phát triển tư duy và lấy giải phóng dân tộc là mục đích nhất quán. Tư duy là cái phản ánh, cho nên điểm xuất phát cho phát triển tư duy là hiện thực khách quan - hiện thực xã hội. Sự kết hợp giữa hai tiền đề trên vừa là điểm xuất phát, vừa là động lực cho Hồ Chí Minh trăn trở, nung nấu tìm đường cứu nước theo phương pháp mới. Hồ Chí Minh không tán thành với phương pháp, con đường cứu nước của các nhà yêu nước đương thời. Theo Người đó “chẳng khác nào đuổi hùm cửa trước, rước beo cửa sau”. Người ra nước ngoài tìm đường khác cứu nước, cứu dân. Khi vận dụng vào học tập và làm theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh, các chủ thể nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị cũng phải xác định được điểm xuất phù hợp, mục đích phát triển tư duy của riêng mình. Điểm xuất phát cho học tập và làm theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh hiện nay là sự nghiệp đổi mới đất nước, thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam có đặc điểm mới. Mục đích có tính đặc thù của các chủ thể nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị hiện nay là nâng cao chất lượng truyền thụ tri thức lý luận; rèn luyện tư duy độc lập sáng tạo của mình và dẫn dắt người học đạt mục tiêu, yêu cầu của giáo dục và đào tạo. Khi điểm xuất phát cho phát triển tư duy và mục đích có tính đặc thù ấy được chuyển hóa vào chương trình, nội dung, kế hoạch, phương pháp phát triển tư duy độc lập, sáng tạo của từng chủ thể cũng có nghĩa đã diễn ra qua trình học tập và làm theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh. Trên cơ sở những vấn đề có tính chung ấy, mỗi cán bộ, giảng viên nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị tiếp tục cụ thể hóa hơn, sát hợp hơn với từng cương vị, vị trí, chức trách của mình một cách sát thực, làm cho học tập và làm theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh thực sự có tính phong phú, sinh động.

Thứ hai, học tập và làm theo phương pháp kế thừa tri thức nhân loại. 

Hồ Chí Minh đã thể hiện phương pháp kế thừa tri thức nhân loại một cách khoa học trong phát triển tư duy của Người. Hồ Chí Minh tiếp xúc với nhiều lý thuyết, học thuyết và luôn thể hiện phương pháp kế thừa, phê phán mang tính độc đáo, riêng biệt, nhưng rất khoa học. Trước khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Người cũng đã tiếp xúc với nhiều lý thuyết, nhưng không đi theo một lý thuyết nào. Bởi những lý thuyết ấy không giúp làm sáng tỏ hiện thực, mâu thuẫn xã hội Việt Nam; không thực hiện được mục đích giải phóng dân tộc. Đến khi đến với Sơ thảo các vấn đề về quyền tự quyết các dân tộc của V.I. Lênin, Người đã tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam.

Lý luận về con đường cách mạng Việt Nam là sản phẩm của kế thừa tri thức nhân loại với tri thức được tích lũy từ hoạt động thực tiễn cách mạng và chuyển hóa thành tư duy của Người. Ở đó, Hồ Chí Minh đã thể hiện một phương pháp khoa học trong kế thừa và thực hiện phát triển tư duy độc lập sáng tạo. Lý luận về con đường cách mạng Việt Nam là “tri thức mới” được Hồ Chí Minh sáng tạo ra. Nó thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất cách mạng, khoa học, nhưng đặc sắc riêng về tư duy của Người. Ở đó không  có  biểu hiện của giáo điều, rập khuôn máy móc. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ta không thể giống Liên xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử, địa lý khác…”.

Phương pháp kế thừa tri thức nhân loại trong phát triển tư duy độc lập, sáng tạo có ý nghĩa định hướng khoa học cho học tập và làm theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh hiện nay. Định hướng ấy được cụ thể hóa bằng lời chỉ dẫn học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là “học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác -Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm nhưng không nên coi chủ nghĩa Mác - Lênin là những công thức có sẵn”.

Việc học tập và làm theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh của các chủ thể nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị hiện nay cũng phải bắt đầu từ hình thành phương pháp kế thừa tri thức nhân loại phù hợp với định hướng của Người. Học tập và làm theo này trước hết thể hiện bản lĩnh vững vàng, sự trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng như phương pháp của Người. Trên cơ sở ấy tiến đến bước phân loại; thể hiện thái độ kiên quyết loại bỏ những quan điểm sai trái, tập trung vào nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, thành tựu khoa học tự nhiên và giá trị nhân đạo, nhân văn ở các lĩnh vực làm giàu tri thức. Tiếp đến là liên tục thực hiện các bước chuyển hóa trong phát triển tư duy độc lập, sáng tạo. Mỗi kết quả của quá trình làm giàu tri thức phải gắn với một bước tiến về trình độ tư duy bằng các phương pháp chuyển hóa và tạo thành một chuỗi lô gích trong phát triển. Phải nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có tính hệ thống, cơ bản, có chiều sâu và không ngừng chiếu dọi làm sáng tỏ những vấn đề thực tiễn của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thực tiễn đổi mới giáo dục và đào tạo…

Thứ ba, học tập và làm theo phương pháp diễn đạt ngôn ngữ

Ngôn ngữ là cái “vỏ vật chất” của tư duy. Qua ngôn ngữ biểu hiện rõ trình độ tư duy, đồng thời phản ánh tính độc lập, sáng tạo của tư duy của một chủ thể rất sâu sắc. Phong cách tư duy Hồ Chí Minh biểu hiện rõ nét nhất trong diễn đạt ngôn ngữ của Người, vừa thể hiện trình độ tư duy khoa học rất cao, vừa mang sắc thái riêng, độc đáo sâu sắc. Người đã phổ thông hóa tư duy trình độ cao bằng ngôn ngữ dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ, sát với nhận thức của người đọc một cách tài tình. Tư tưởng của Hồ Chí Minh nói cho ai nghe, viết cho ai đọc có giá trị định hướng cần quán triệt, vận dụng định hướng thường xuyên, liên tục. Giảng dạy lý luận chính trị hiện nay có nhiều hạn chế, bất cập ở phương pháp sử dụng ngôn ngữ bị bó hẹp trong giáo trình hay lý luận trong kinh điển. Các chủ thể nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị phải bám sát định hướng nói cho ai nghe, viết cho ai đọc để tìm tòi, vận dụng ngôn ngữ một cách sinh động, phong phú. Tích cực nghiên cứu, học tập, làm giàu vốn từ vựng và sử dụng linh hoạt vốn từ ấy vào truyền thụ nội dung lý luận chính trị cho sát với trình độ người học và nhiều kênh tiếp cận. Cùng một nội dung lý luận, luận điểm có tính “hàn lâm” khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng phải sử dụng ngôn ngữ với nhiều tầng, bậc khác nhau trong truyền thụ. Kết hợp giữa dùng ngôn ngữ có tính chất hàn lâm khoa học với ngôn ngữ có tính phổ thông một cách linh hoạt để người học hiểu cái trừu tượng từ cái đơn giản, từ ngôn ngữ dễ hiểu. Muốn vậy, các giảng viên phải đọc nhiều, đọc nhiều loại sách chính thống, thậm chí cả vốn từ vựng thuộc các ngoại ngữ khác nhau.

Sử dụng ngôn ngữ trong nghiên cứu cũng như trong truyền thụ tri thức, các giảng viên lý luận chính trị cũng khắc phục hai xu hướng, một là chỉ dùng ngôn ngữ có tính hàn lâm khoa học, hai là quá lạm dụng ngôn ngữ phổ thông dễ trượt vào thông tục, thô thiển hóa tri thức lý luận. Tăng tính lập luận, chứng minh có tính lô gích trong giảng giải lý luận để có sức thuyết phục về khoa học. Đồng thời sử dụng các điển tích lịch sử, các ví dụ thuộc khoa học tự nhiên, tạo cho người học dễ hiểu trừu tượng của lý luận.

Thứ tư, thường xuyên rèn luyện tư duy

Tiếp cận học tập và làm theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở các phương diện cụ thể, mà còn phải tổng hợp lại để thấy nó là một quá trình biện chứng, thống nhất. Biểu hiện tập trung nhất quá trình ấy là ở sự rèn luyện theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh thể hiện một phương pháp khoa học và đức tính kiền trì, bền bỉ trong rèn luyện tư duy độc lập, sáng tạo. Sự kết hợp giữa phương pháp với đức tính kiên trì trong rèn luyện có giá trị định hướng cho các thế hệ sau học tập và làm theo phong cách tư duy của Người một cách khoa học. Có thể thấy giá trị định hướng cho học tập và làm theo phong cách tư duy của Người trong quan hệ giữa những vấn đề có tính “bất biến” về nguyên tắc, mục đích với tính “vạn biến” về phương pháp, cách thức thực hiện. Sự khái quát cao nhất quan hệ có tính nguyên tắc trong tư duy của Người là dĩ bất biến, ứng vạn biến. Nguyên tắc ấy được Hồ Chí Minh vận dụng vào từng giai đoạn, từng lĩnh vực, từng nhiệm vụ từ vĩ mô đến vi mô một cách kiên định, nhất quán, nhưng linh hoạt sáng tạo./.

“Thời đại lớn cho ta đôi cánh"

Mùa Xuân, nghe xôn xao gió thổi trăm miền. Hoa mai miền Nam, hoa đào miền Bắc cùng khoe sắc thắm, điểm tô cho mùa Xuân thêm rực rỡ sắc màu. Chào Xuân Ất Tỵ. Hãy gác bỏ mọi ưu phiền, đứng tựa vào nhau, đặt tay lên trái tim hồng, cất cao ca khúc “Tiến bước dưới quân kỳ” của nhạc sỹ Doãn Nho: “Ghi sâu trong lòng từng bước ta đi/ Mãi mãi vững tin Đảng tiên phong!”.

Ngày 3-2-1930 mãi mãi là mốc son chói lọi trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Từ mốc son ấy, tròn 95 năm qua cả dân tộc ta đoàn kết, bền lòng phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Ðảng, tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thu giang sơn về một mối, đưa cả nước tiến lên CNXH. 

Sự nghiệp đổi mới do Ðảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong gần 40 năm qua đã giành những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi rõ rệt diện mạo của đất nước, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân ngày càng được cải thiện. Những thành tựu vô cùng to lớn đó chứng tỏ: Kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối đúng đắn, sáng tạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam.

Mục tiêu nhất quán, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là trước sau như một lấy lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc làm đích phấn đấu của mình. Càng những lúc khó khăn, gian khổ, tư tưởng “dân là gốc” càng được thể hiện rõ ràng, luôn nhất quán thông qua những việc làm thiết thực, góp phần hiện thực hóa mục tiêu “Tất cả vì hạnh phúc của Nhân dân”. 

Từ mục đích thiêng liêng, cao cả đó, Nhân dân ta tuyệt đối tin tưởng vào Đảng, một lòng theo Đảng. Với truyền thống đoàn kết, bằng ý chí quật cường, từ sức mạnh nội lực đất nước ta đã và đang gặt hái những thành tựu to lớn, toàn diện. Những thành tựu đó kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của sự phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta - kỳ tích mà hàng trăm năm dưới chế độ thực dân cũ và mới không làm được. Điều đó khẳng định, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ có CNXH mới đem lại ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân, đúng như những áng thơ của nhà thơ Tố Hữu năm nào: “Đảng cùng ta như cội liền cành/ Là mùa xuân vô tận lá tươi xanh/ Một lá rụng, lại trăm mầm lộc mới/ Trong bão táp vẫn hiên ngang, phơi phới…”. 

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đạt được kết quả khá toàn diện, nhất là trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trong kiểm tra, giám sát, đưa ra ánh sáng và xét xử nghiêm minh nhiều vụ án lớn, nhiều tổ chức và cá nhân vi phạm. Những kết quả quan trọng ấy rất đáng được ghi nhận, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, với chế độ.

Đất nước phát triển khẳng định bằng những thành tựu trên các bình diện: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Tất cả những thành quả đó là biểu hiện mạnh mẽ nhất của sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, của tính ưu việt và vững mạnh của chế độ chính trị trên đất nước ta, thể hiện ý chí, khát vọng vươn lên không bao giờ nguội tắt.

Ngày nay, thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, gia tăng thách thức đối với hòa bình, ổn định và phát triển của các quốc gia. Bối cảnh toàn cầu hóa và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam đã đem lại những thời cơ, vận hội, đồng thời cũng xuất hiện những thách thức, nguy cơ đối với sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam. Vì vậy, vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là cần nhận diện rõ và có những chiến lược hợp lý, tận dụng được những thời cơ, khắc chế nguy cơ nhằm phát triển đất nước nhanh, bền vững, giữ vững định hướng XHCN trong phát triển và hội nhập.

Năm 2025 với đầy ắp sự kiện chính trị trọng đại của Đảng và đất nước, hơn lúc nào hết cả hệ thống chính trị và toàn dân tộc phải chung sức, đồng lòng bứt tốc cán đích các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; đồng thời làm tốt công tác chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ mới, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Nhiệm vụ chính trị là hết sức nặng nề nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, triệu triệu người Việt Nam như một luôn đặt trọn niềm tin son sắt vào tính tất thắng của cách mạng nước nhà.

Thật tự hào với giang sơn hùng vỹ, con Lạc cháu Hồng, dòng giống Rồng Tiên, dẫu trải bao gian khổ, vẫn rạng ngời truyền thống đấu tranh bất khuất, tiến lên phía trước; thật tự hào vì Tổ quốc thân yêu đã trải qua mấy nghìn năm ông cha gây dựng và đánh đổi bằng xương trắng máu đào, giữ vững nền tự do, độc lập.

Mừng Xuân mới Ất Tỵ, mừng Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, chúng ta tự hào vững bước dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, phát huy những thành quả đã đạt được, khơi dậy mạnh mẽ ý chí, sức sáng tạo của toàn dân, giành những thắng lợi to lớn hơn nữa, tiến bước nhanh trên con đường đổi mới, vững niềm tin bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc! “Thời đại lớn cho ta đôi cánh/ Không gì hơn Độc lập Tự do!/ Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận/ Có Đảng ta đây, có Bác Hồ” (Theo chân Bác - Tố Hữu)./.

ST.