Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2025
NÂNG CAO CẢNH GIÁC VÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU "PHI CHÍNH TRỊ HÓA" LỰC LƯỢNG VŨ TRANG!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SỨC SỐNG TRƯỜNG TỒN CỦA HỌC THUYẾT MÁC!
CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: ÔNG TRUMP ĐÂU PHẢI LÀ TỔNG THỐNG CỦA THẾ GIỚI!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: XÃ LÀ TRUNG TÂM GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC...
THƯỚC ĐO UY TÍN CỦA ĐẢNG: CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI ĐI VÀO CUỘC SỐNG
Uy tín chính trị của Đảng càng được khẳng định khi những đường lối, chủ trương đi vào đời sống, trở thành của cải, vật chất và giá trị tinh thần cho nhân dân.
Xếp hàng, tem phiếu... là những khái niệm quen thuộc với những người đã từng sống ở thời kỳ gian khó của đất nước. Thời mà người ta quen gọi là "thời bao cấp"... Đó là một giai đoạn lịch sử đặc biệt của đất nước. Câu chuyện về "thời bao cấp" tưởng chừng đang mờ dần trong cuộc sống ồn ào, tấp nập, có nhiều đổi thay nhưng vẫn còn nằm trong ký ức của nhiều người và được kể lại khi so sánh với cuộc sống đời thường hôm nay.
Nhắc lại như vậy cũng để khẳng định: sau 50 năm ngày đất nước thống nhất, gần 40 năm đổi mới, 95 năm xây dựng Đảng, có thể nói "cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế chưa bao giờ được như ngày hôm nay" mà cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã xác định là nhận thức rất sâu sắc và thực tế.
Thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta ngày càng vững mạnh về bản lĩnh chính trị, về tính khoa học đúng đắn; về tầm cao tư duy dám đổi mới. Đáng chú ý, nhiệm kỳ Đại hội XII, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã đoàn kết, chung sức đồng lòng nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng.
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hữu Nghĩa, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương khẳng định nhiệm kỳ Đại hội XII đạt được nhiều thành tựu khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Uy tín và vị thế quốc tế đang lên cao. Việt Nam có quan hệ với hầu hết tất cả các nước trên thế giới. Với những thành tựu đó có thể nói rằng lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước và chế độ xã nghĩa được củng cố và Đảng ta ngày càng vững mạnh, ngày càng trưởng thành để thực hiện công cuộc đổi mới.
Vượt nhiều "cơn gió ngược", từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng khá cao và giữ được đà khởi sắc ổn định sau đại dịch Covid-19. Trong bối cảnh khó khăn, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam vẫn dương, để nền kinh tế Việt Nam đứng vào tốp 40 trên thế giới, xuất nhập khẩu đứng vào tốp 20 trên thế giới, mắt xích quan trọng trong 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) gắn kết với 60 nền kinh tế chủ chốt ở khu vực và toàn cầu. Những kết quả trên đã phản ánh thành tựu rất đáng trân trọng, là thước đo uy tín của Đảng trên mặt trận kinh tế.
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh cho biết: "Kinh tế vĩ mô chúng ta bây giờ khẳng định giữ được ổn định. Các cân đối lớn của nền kinh tế, nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài trong giới hạn được Quốc hội quyết nghị. Lạm phát được kiểm soát. Vị thế quốc tế của đất nước và các định vị tín nhiệm được cải thiện".
Đất nước ổn định là tài sản vô giá, cũng chính là thước đo uy tín chính trị của Đảng. Trải qua nhiều năm chiến tranh đau thương, đất nước bị chia cắt, bị tàn phá, dân tộc Việt Nam hiểu rất rõ giá trị của hòa bình, độc lập, thống nhất, giá trị của ổn định chính trị để phát triển đất nước, mang lại cuộc sống bình yên. Đối với Việt Nam, ổn định chính trị là điều kiện sống còn để bảo vệ độc lập dân tộc, ứng phó với các thách thức bên trong và bên ngoài.
Giáo sư, Tiến sĩ Tạ Ngọc Tấn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng lý luận Trung ương khẳng định: "Đảm bảo sự ổn định chính trị xã hội chính là để đảm bảo cuộc sống hòa bình, chỉ có cuộc sống hòa bình thì chúng ta mới sinh cơ lập nghiệp, người dân mới có điều kiện sống, có điều kiện phát triển điều kiện để hướng tới những giá trị tốt đẹp. Ổn định chính trị xã hội còn gắn với mục tiêu tối thượng là hạnh phúc của nhân dân".
Sự ổn định chính trị có được còn là vì Đảng luôn nêu cao tinh thần đoàn kết dân tộc và đoàn kết trong Đảng. Cả hệ thống chính trị, xã hội, nhân dân đoàn kết quanh Đảng tạo thành một khối gắn kết vững chắc. Điều đó để khẳng định ổn định chính trị không phải là tài nguyên trời ban mà nhờ năng lực và uy tín chính trị của Đảng đã hội tụ trí tuệ, sức lực và các nguồn lực để phát triển đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.
Hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội XIII, Đảng càng khẳng định uy tín khi ban hành các nghị quyết thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân và được nhân dân ủng hộ.
Bí thư Thành ủy Hải Phòng Lê Tiến Châu nhấn mạnh, trong các chủ trương của Đảng và các quyết sách của Nhà nước bao giờ cũng lấy người dân là trung tâm, người dân chính là mục tiêu, là động lực để xây dựng các chính sách. Khi chính sách được ban hành cũng nhằm phục vụ cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người dân, phát huy được quyền làm chủ của người dân. Vì dân là chủ, dân làm chủ.
Sinh ra từ nhân dân, Đảng lấy việc phục vụ nhân dân làm mục tiêu sống còn cho mình. Trong chiến tranh giải phóng dân tộc hay trong hòa bình, xây dựng đất nước, Đảng ý thức rõ người dân luôn là trung tâm, là chủ thể của tất cả công việc. Gần dân, hiểu dân, biết mình cần phải làm gì cho dân là cách để một đảng cầm quyền củng cố được vị trí của mình trong lòng dân.
Nhà báo Hà Đăng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương cho rằng: "Mục đích cuối cùng là làm cho đất nước mình phát triển cường thịnh. Đất nước phát triển cường thịnh thì nhân dân khi có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc. Cho nên nói nhân dân là trung tâm, lợi ích của nhân dân là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp cách mạng mình. Ta đấu tranh bao nhiêu năm thì mới giành được độc lập tự do. Vì lợi ích của nhân dân mà Đảng ta phấn đấu cho mục tiêu của cách mạng. Vì lợi ích của nhân dân mà Đảng ta muốn nước mạnh, dân giàu và nhân dân được sống hạnh phúc".
Uy tín chính trị của Đảng ngày càng được củng cố, nhân dân một lòng sắt son với Đảng là bởi Đảng ta đã và đang thực hiện hiệu quả lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác"./.
Báo VOV
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA
Ngày 08 tháng 02
“Tự mãn thì không tiến bộ được nữa; không tiến bộ tức là thoái bộ, mà thoái bộ thì không làm tròn nhiệm vụ”.
Đây là lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tại Hội nghị tổng kết cải cách ruộng đất đợt II, ngày 8/2/1955; trong giai đoạn miền Bắc nước ta mới được giải phóng và bước vào cải cách ruộng đất. Trong cải cách ruộng đất có nhiều cán bộ, đảng viên, hăng hái làm đúng đường lối của Đảng, nhưng ngược lại, cũng có nhiều người mắc khuyết điểm cho mình là thạo rồi, việc gì cũng biết, tự kiêu, tự mãn, chủ quan, thiếu cảnh giác, bị giai cấp địa chủ lừa gạt.
Hồ Chí Minh muốn thông qua một sự việc cụ thể trong thực hiện nhiệm vụ cải cách ruộng đất để chỉ ra bệnh tự kiêu, tự mãn và tác hại của nó đối với mỗi cán bộ, đảng viên và đối với quá trình thực hiện nhiệm vụ của cách mạng. Đây là lời cảnh tỉnh, đối với tất cả mọi người, nhất là những người cách mạng, không bao giờ được tự mãn, tự kiêu, mà cần phải khiêm tốn, cầu thị, không ngừng hăng hái, phấn đấu, học hỏi để nâng cao hiểu biết, hoàn thiện kỹ năng, phương pháp, tác phong công tác, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc.
Lời dạy của Người không chỉ là yêu cầu về đạo đức cách mạng, mà còn là phương châm chỉ đạo việc học tập đối với mỗi cán bộ, đảng viên với tinh thần, học nữa, học mãi, học mọi lúc, mọi nơi, học trong nhà trường, học trong công tác, lao động, sản xuất, chiến đấu, nhất là học nhân dân. Lời dạy của Người đã góp phần khắc phục tư tưởng tự mãn, tự kiêu ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào tự học, tự rèn nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng.
Quán triệt, thực hiện lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chi Minh, nhiều cán bộ quân đội với tinh thần tự học, tự rèn đã trở thành những tướng lĩnh tiêu biểu, xuất sắc trong quân đội, những cán bộ cách mạng ưu tú của Đảng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh... Ngày nay, trước yêu cầu xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi mỗi quân nhân, nhất là cán bộ, sĩ quan phải tích cực, chủ động học tập, rèn luyện mọi lúc, mọi nơi để không ngừng nâng cao nhận thức chính trị, củng cố vững chắc lập trường tư tưởng, có trình độ kỹ, chiến thuật, trình độ chỉ huy, quản lý tốt. Kiên quyết khắc phục những tư tưởng không đúng, nhất là bệnh chủ quan, t.ự m.ãn, tự kiêu để góp phần xây dựng đơn vị và quân đội ngày càng vững mạnh, thực sự chính quy, tinh nhuệ, luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống./.
Sách Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội 2011
HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC HỒ
Ngày 08 tháng 02
“Chúng tôi phải là chủ đất nước chúng tôi!”
Cách đây 94 năm, ngày 8-2-1931, Nguyễn Ái Quốc viết báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản thông báo về phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Đông Dương và việc Đảng đã đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương.
Chỉ 10 năm sau, Bác Hồ đã trở về nước sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài. Hồi ký của Lê Quảng Ba viết: “Chúng tôi được theo Bác từ Nậm Quang về nước... Vượt lên một đoạn dốc ngắn rồi xuống một núi dài lởm chởm đá, tôi nhận ra cây si mọc không xa cột mốc 108. Mốc đá như một tấm bia. Bác dừng lại, cúi đọc chữ Hán và chữ Pháp khắc sâu ở cả hai mặt đá... Người nhìn sâu vào khoảng đất trời Tổ quốc biết bao đẹp đẽ nhưng đầy đau thương...
Ngày 8-2-1941 Bác chọn hang Cốc Bó (nghĩa là “đầu nguồn”) ở làng Pác Bó (Cao Bằng) và nói với mọi người: “Mình vừa nẩy ra cái ý hay, dòng suối này của ta đẹp quá, trong xanh như ngọc, lại bắt nguồn từ đây, nên đặt tên là Suối Lê Nin. Còn ngọn núi hùng vĩ phía sau, bên phải kia, chúng ta gọi là Núi Các Mác...”. Cảm xúc về nơi ở đầu tiên trong lòng Tổ quốc, Bác làm mấy câu thơ:
“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây Suối Lê Nin, kia Núi Mác
Hai tay gây dựng một sơn hà”.
Năm 1946, sơn hà đã giành được độc lập nhưng lại đang đứng trước mưu đồ quay trở lại của thực dân Pháp. Ngày 8-2-1946, tiếp tướng Salan đến cám ơn việc vừa đi thăm binh sĩ Pháp đang điều trị tại Nhà thương Đồn Thủy, Bác đáp từ: “... Hôm đó là tết nguyên đán. Tôi vui mừng có dịp được bày tỏ tình cảm của tôi đối với nước Pháp... Nhưng rất tiếc, những sự kiện ở Nam bộ và thái độ của Chính phủ Pháp đang khơi cái hố sâu giữa các ngài và chúng tôi” và thẳng thừng bác bỏ đề nghị cho quân Pháp đứng ra lập lại trật tự: “Nếu làm như vậy tôi sẽ là k.ẻ p.hản q.uốc... Chúng tôi yêu nước Pháp, nhưng không muốn làm nô lệ, chúng tôi muốn sống tự do, muốn có quan hệ về kinh tế, văn hóa với Pháp, chúng tôi muốn có những cán bộ chuyên viên kỹ thuật người Pháp trên mọi lĩnh vực nhưng chúng tôi phải là chủ nhân đất nước chúng tôi!”.
Ngày 8-2-1960, báo “Nhân Dân” đăng bài “Quỹ đen... Quỹ trắng” của Bác phê phán việc lập quỹ bất hợp pháp tại nhiều địa phương, cơ quan: “Quỹ đen chính là... cắt xén công quỹ, lu bù, ù xọe... Chúng ta sẵn sàng siết chặt thêm trăm nghìn sợi dây ràng buộc để t.iêu d.iệt hẳn lối làm lộn xộn đó. Phải chặt chẽ hơn nữa trong việc dùng tiền dành dụm của chúng ta, để tiến nhanh đến cuộc sống ấm no, đầy đủ cho mọi người”.
Ngày 8-2-1963, dự họp Bộ Chính trị nghe báo cáo về dự án công trình xây dựng thủy điện Thác Bà, Bác yêu cầu: “Phải đặc biệt lưu ý hai vấn đề: 1. Tổ chức công trường cho tốt; 2. Tổ chức di dân cho tốt”./.
Báo Sài Gòn Giải Phóng
XUÂN NÚI RỪNG NGUYÊN HÌNH VƯƠNG VẤN MÙA HOA
Xuân về, trên vùng núi cao Nguyên Bình (Cao Bằng), mây bay lơ lửng giữa trời, sương quyến luyến chưa tan hết, tạo nên không gian huyền ảo như tranh. Trong cái lạnh se thắt với nền nhiệt độ thấp của miền đất cao hàng nghìn mét so với mực nước biển, những loài hoa mùa xuân càng đua nhau khoe sắc tô điểm cho bức tranh xuân thêm căng tràn sức sống.
Mùa xuân về trên vùng núi cao, từng loài hoa nở rộ, mỗi loài mang một vẻ đẹp riêng biệt, như những tác phẩm nghệ thuật được thiên nhiên khéo léo vẽ nên. Hoa mận trắng như những làn khói mỏng manh, hoa đào rực rỡ như những ngọn lửa bừng sáng giữa đất trời, còn mai anh đào thì dịu dàng, thanh thoát tựa sương mai...
Chẳng có vẻ đẹp nào giống nhau, mỗi loài hoa đều mang trong mình một nét riêng, một đặc trưng không thể lẫn vào đâu được. Nhưng có một điểm chung duy nhất: tất cả chúng đều bền bỉ, kiên cường, vươn lên giữa cái lạnh giá của núi rừng, như chính những con người nơi đây - những con người đã, đang và sẽ mãi gắn bó với đất, với trời, với những mùa hoa tươi đẹp.
Những loài hoa mang sắc trắng: mận, mơ, lê... mang đến vẻ đẹp thuần khiết, dịu dàng như những bông tuyết trắng trong sương mù. Giữa không gian tĩnh lặng, chỉ có tiếng gió vi vu thổi qua từng vạt hoa, du khách ngỡ ngàng ngắm những bông hoa trắng tinh khôi, khi như tuyết, khi trong veo bởi đong đầy những giọt sương chưa tan vội.
Từng cánh hoa nhỏ xinh như làn khói mỏng manh, bay trong không trung, như muốn hòa mình vào cái lạnh của đất trời. Sắc trắng của hoa khiến không gian rừng núi dường như trở nên thanh thoát, êm đềm hơn bao giờ hết. Không có sự ồn ào, chỉ có sự lặng lẽ của mùa xuân, khi những cánh mận nở rộ, mang đến một làn gió mới cho cả miền đất hoang sơ, mộc mạc.
Là loài hoa đặc trưng của miền bắc, nơi núi rừng, hoa đào lại khoác lên mình một vẻ đẹp đầy kiêu hãnh. Sắc hồng tươi thắm của hoa đào rực rỡ, khiến con người ta không khỏi ngẩn ngơ. Từng cánh hoa nở bung trong tiết trời lạnh giá, chẳng màng đến cái rét cắt da cắt thịt.
Đứng dưới những gốc đào già, ngắm nhìn từng bông hoa nở rộ trong màn sương mờ ảo, ai nấy cảm nhận được sự kiên cường của những loài hoa nơi đây. Hoa không chỉ đẹp, mà còn mạnh mẽ, bền bỉ, như con người. Dù cuộc sống nhiều khó khăn, song vẫn đầy nghị lực, kiên cường bám trụ với đất đai, với cuộc sống nhiều thử thách.
Không thể không nhắc đến mai anh đào - loài hoa mang sắc hồng như ngọc được ví như một nàng thiếu nữ e ấp trong làn mây xuân, hoa mai anh đào nở sớm, làm dịu mát bức tranh mùa xuân của đất trời Cao Bằng. Những cánh hoa nhẹ nhàng bay theo gió, tạo nên một cảm giác thoảng qua nhẹ nhàng như những khúc hát tình yêu của đất trời.
Hoa mai anh đào ở Nguyên Bình không chỉ nở vào Tết Nguyên đán mà còn tạo nên một không gian đặc biệt, khiến mùa xuân nơi đây càng thêm thắm sắc, làm lòng người thêm ấm áp giữa mùa lạnh.
Dẫu cho cuộc sống có gian khó, những người dân nơi đây vẫn không ngừng trồng trọt, chăm sóc từng đồi hoa, vườn hoa, để mỗi năm, khi xuân về, những loài hoa lại nở, mang đến sức sống mới, như lời chúc tụng cho một năm mới đầy hy vọng, đầy ắp những ước mơ tươi sáng.
Và những sắc hoa ấy, từ hoa mận trắng tinh khôi, hoa đào đỏ rực rỡ đến hoa mai anh đào dịu dàng, đều như những dấu ấn không thể phai mờ trong lòng người, lưu lại một mùa xuân bất tận...
Để có được mùa hoa thơ mộng, là sự nỗ lực không ngừng nghỉ của những con người âm thầm lao động trên mảnh đất cao nguyên đầy gian khó. Cái đẹp của hoa không chỉ đến từ thiên nhiên, mà còn từ bàn tay của những con người đã tận tụy ươm trồng và nhân giống từng loài hoa, tạo nên một mùa xuân đầy sắc mầu.
Câu chuyện của ông Hoàng Mạnh Ngọc, một người miền xuôi lên Cao Bằng lập nghiệp, như một minh chứng cho sự gắn bó sâu sắc giữa con người với vùng đất. Ông Ngọc đã rời xa quê hương, lập nghiệp ở miền núi, coi xóm Phia Đén, xã Thành Công, huyện Nguyên Bình là quê hương thứ hai của mình.
Đôi khi, mọi người vẫn bắt gặp ông ngồi một mình dưới gốc mơ, gốc mận đang mùa hoa, ánh mắt nhìn xa xăm dõi vào mầu trắng bạt ngàn, như thể ông đang trò chuyện cùng đất đai, cùng những mùa hoa mà mình đã gieo trồng, chăm sóc.
Dẫu mệt mỏi nhưng vẫn ăm ắp yêu thương, vun đắp cho từng mùa hoa nơi núi rừng. Ông Ngọc tâm sự, mỗi mùa hoa nở lại thêm một mùa ông cảm nhận được sự đền đáp từ đất trời, là thành quả của những ngày tháng kiên trì vun trồng, chăm sóc.
Từng đồi hoa của ông ở khu du lịch sinh thái Kolia thực sự như những công trình nghệ thuật, từ việc lựa chọn giống hoa, tính toán về sự hòa sắc sao cho vừa tự nhiên, vừa hài hòa, hợp mắt du khách. Ông còn chia sẻ kinh nghiệm trồng hoa với những người dân trong xóm, giúp họ nhận thức rõ về giá trị của việc phát triển nông sản đặc trưng và bảo tồn những loài hoa đặc biệt của vùng núi cao.
Mỗi mùa xuân về, khi hoa mận nở trắng, hoa đào hồng rực, mai anh đào nhẹ nhàng bung từng cánh hồng, là lúc ông Ngọc nhìn thấy kết quả của bao tháng ngày chăm sóc hoa như một người cha đang ngắm nhìn đứa con lớn lên, trưởng thành.
Từng bông hoa là từng mảnh ghép trong bức tranh hoàn hảo mà ông đã dày công kiến tạo. Cũng như những con người nơi đây, hoa không chỉ đơn giản là sắc màu tô điểm cho mùa xuân, mà còn là niềm kiêu hãnh, là minh chứng cho sự kiên cường và tình yêu đất đai.
Hoa mùa xuân hòa quyện giữa không gian mờ ảo của những làn mây, những giọt sương mai thấm vào lòng đất tạo nên không gian mê hoặc lòng người. Nhờ vào công sức và sự tận tâm của những người như ông Hoàng Mạnh Ngọc, mảnh đất này đã không chỉ có hoa đẹp mà còn có một câu chuyện đầy cảm hứng của tình yêu đất, yêu người, của niềm tin vào tương lai tươi sáng.
Ngắm những loài hoa miền núi cao, không ai có thể quên được những người đã và đang âm thầm vun đắp cho sắc mầu rực rỡ, mang lại niềm vui cho mọi người và góp phần gìn giữ vẻ đẹp thiên nhiên. Vừa năm cũ, Cao Bằng nói chung và Nguyên Bình nói riêng đã chịu hậu quả nặng nề của mưa lũ, nhưng "còn chồi nảy cây", và mùa hoa xuân đã gợi niềm lạc quan, hy vọng./.
Báo Nhân dân
GIỮ BÌNH YÊN NHỮNG CÁNH RỪNG BIÊN GIỚI
Đến thăm cán bộ, chiến sĩ tại các chốt giữ rừng thuộc Trung đoàn 30, Sư đoàn 4 (Quân khu 9), chúng tôi thấy rõ đặc thù nhiệm vụ của những người lính luôn phải căng mình để bảo đảm an toàn cho “lá phổi xanh” ở vùng biên giới Tây Nam.
Gác lại niềm riêng
Trung đoàn 30 quản lý hơn 730ha rừng tràm dọc biên giới Tây Nam thuộc địa phận huyện Giang Thành và Hòn Đất (Kiên Giang).
Đã 12 năm, Trung tá Đào Văn Hồng, Chính trị viên Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 30 quen với cảnh đón Giao thừa tại chốt trực. “Tôi tình nguyện trực ca đầu để anh em luân phiên về quê. Gia đình tôi cũng đã quen với cảnh ăn Tết muộn. Chốt giữ rừng ngày Tết cũng không thiếu niềm vui. Chúng tôi có đầy đủ bánh, mứt, hoa quả, mâm cỗ... Bà con sống ở bìa rừng cũng sang vui vầy, không khí ấm áp, nghĩa tình”, Trung tá Đào Văn Hồng chia sẻ.
Vừa chạy một vòng xe máy quanh khu rừng hơn 155ha do Tiểu đoàn 7 quản lý, Thiếu tá Lữ Văn Tùng, Đại đội trưởng Đại đội 12,7mm bộc bạch: “Mấy năm nay, cùng với xây dựng nông thôn mới ở địa phương, hạ tầng khu vực rừng cũng phát triển. Giờ đi tuần tra rừng, chúng tôi có thể di chuyển bằng xe máy, vừa nhanh, vừa thuận lợi hơn so với trước đây phải đi vỏ lãi. Chuyện ăn uống ở các chốt trực không còn thiếu thốn nữa bởi đi xe máy về chợ cũng thuận tiện".
Đến các chốt giữ rừng vào mùa “canh lửa”, chúng tôi được nghe bộ đội kể về những ngày đón Tết ở rừng, giản dị nhưng đậm nghĩa tình. Cán bộ, chiến sĩ quây quần kể chuyện ở quê nhà, chia sẻ về những mùa xuân đã qua. “Ở đây không có pháo hoa, không có đoàn viên gia đình, nhưng tình đồng đội và quyết tâm bảo vệ an toàn cho những cánh rừng là món quà Tết quý giá nhất”, Thiếu tá Lữ Văn Tùng chia sẻ thêm.
Trên chòi canh, bốn bề gió lộng, phóng tầm mắt về phía bìa rừng xa tít tận dãy núi cao sát đường biên giới, Binh nhất Hà Nhựt Huy (chiến sĩ Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 30) tâm sự: “Năm nay là mùa trực lửa thứ hai trong đời quân ngũ của tôi. Tết năm trước, lần đầu xa nhà tôi còn bỡ ngỡ, nay thì quen rồi. Đây sẽ là những kỷ niệm đáng nhớ của tôi”. Còn Thiếu tá Nguyễn Thành Thép, Đại đội trưởng Đại đội 5, Tiểu đoàn 8, luôn xem mỗi dịp Tết xa nhà là cơ hội để gắn kết tình đồng chí, đồng đội.
Nhớ về kỷ niệm với chiến sĩ Kim Văn Bảnh (quê ở Sóc Trăng), Thiếu tá Nguyễn Thành Thép kể: “Đêm trên chòi canh, chiến sĩ Bảnh hay khóc vì nhớ nhà. Nhưng khi hiểu rõ nhiệm vụ và được động viên, chiến sĩ Bảnh đã yên tâm, phấn đấu trở thành quân nhân tiêu biểu của đơn vị. Cuối năm vừa rồi xuất ngũ, Bảnh rất phấn khởi, tự hào vì sự trưởng thành của mình”.
Nêu cao tinh thần trách nhiệm, những người lính giữ rừng Trung đoàn 30 luôn ý thức việc giữ rừng không chỉ là nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái mà còn mang ý nghĩa chiến lược về quốc phòng, an ninh, đặc biệt ở khu vực biên giới. “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” không chỉ đúng trong thời chiến mà còn cả ở thời bình.
Lá chắn vùng biên
Những ngày này, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 30 càng thêm bận rộn.
Lớp thực bì dưới chân rừng khô nứt nẻ, các dây leo quấn thân tràm cao vút, xanh tốt suốt mùa mưa, giờ khô giòn, trở thành những “bó đuốc” bén lửa. Phương án “4 tại chỗ” cùng lịch trực 24/24 giờ được bộ đội nơi đây triển khai nghiêm ngặt.
“Việc canh giữ không chỉ nhằm ngăn chặn cháy rừng hay các hoạt động khai thác trái phép mà còn bảo đảm vùng biên giới luôn ổn định, tránh bị kẻ xấu lợi dụng kích động, lôi kéo, chống phá. Giữ vững màu xanh của rừng, để rừng giúp bảo vệ hệ sinh thái, tạo nguồn tài nguyên bền vững phục vụ đời sống dân sinh, góp phần phát triển kinh tế-xã hội... Và chúng tôi đang thực hiện sứ mệnh kép ấy”, Trung tá Đào Văn Hồng thông tin.
Theo Thượng tá Nguyễn Huy Sự, Chính ủy Trung đoàn 30, để chăm sóc, quản lý hơn 730ha rừng, chủ yếu là rừng tràm trồng theo Dự án 661 và rừng tái sinh, năm 2024, đơn vị đã đầu tư nhiều hạng mục, như: Xây dựng các tuyến đường bộ liên kết chốt trực, nạo vét hàng chục ki-lô-mét kênh xuyên rừng để vừa làm đường băng cản lửa, vừa dẫn nước phòng, chống cháy rừng.
Đơn vị cũng đề xuất trang bị thêm thiết bị bay hỗ trợ tuần tra nhằm giảm bớt khó khăn khi quan sát từ trên cao. “Công việc "canh lửa" giữa mùa khô khắc nghiệt không chỉ đòi hỏi sức khỏe, sự kiên nhẫn mà còn cả tinh thần trách nhiệm cao của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Mỗi đêm trên chòi canh, bộ đội phải căng mắt cảnh giác từng đốm lửa, làn khói mỏng, sẵn sàng báo động, vận hành phương án dập lửa khi có sự cố. Nhờ sự chủ động đó, nhiều năm qua, địa bàn đơn vị quản lý không để xảy ra vụ cháy rừng nào”, Thượng tá Nguyễn Huy Sự bật mí.
Tiết trời miền Tây, mùa khô nắng nóng bắt đầu từ tháng Giêng và kéo dài đến đầu tháng Bảy, mực nước trên các kênh, rạch xuống thấp, nhất là tại các khu rừng phòng hộ, nguy cơ xảy ra cháy rừng bất cứ lúc nào. Những năm trước, cứ vào dịp cuối năm hanh khô, những người lính giữ rừng rất lo, nhưng nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nên ý thức của người dân đã tốt hơn, cùng tham gia bảo vệ rừng với bộ đội.
“Cứ gần đến Tết Nguyên đán, các đoàn thể, tổ chức và nhân dân cùng vào các chốt thăm hỏi, tặng quà. Người dân vùng đệm chính là hậu phương vững chắc, là “tai mắt” cảnh báo kịp thời các nguy cơ cháy rừng, khai thác trái phép hay hoạt động bất thường xâm hại đến rừng nơi biên giới”, Trung tá Đào Văn Hồng chia sẻ.
Đến với những người lính giữ rừng, chúng tôi cảm nhận được vị ngọt hoa tràm vùng biên giới không chỉ có trong giọt mật tinh túy mà còn lẫn trong hương thơm thoảng nhẹ mỗi khi gió lùa qua vạt rừng xanh mướt. Những người lính canh giữ rừng tràm miền biên giới Tây Nam chúng tôi gặp chắc hẳn cũng thấm thía vị ngọt lịm, tinh khiết ấy.
Dù ngày đêm túc trực, đối mặt với những hiểm nguy nhưng chỉ cần ngửi thoáng hương tràm, lòng họ nhẹ bẫng, thêm yêu công việc mình đang gắn bó./.
QĐND
Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2025
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 08 THÁNG 02 NĂM 1955!
TRUI RÈN BẢN LĨNH TRƯỚC THÔNG TIN XẤU ĐỘC!
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐỪNG CHU CẤP "QUÁ ĐÀ"!
Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình ở chi bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến tự phê bình và phê bình trong Đảng. Theo Người, tự phê bình và phê bình giúp xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, gột rửa, lọc bỏ những sai lệch. Qua đó, tạo chất kết dính trong nội bộ, là phương thuốc hay nhất để chữa nhiều chứng bệnh, bồi bổ cơ thể của Đảng ngày thêm cường tráng. Mục đích của tự phê bình và phê bình là làm cho phần tốt của mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu dần bị mất đi. Mọi người học tập ưu điểm của nhau, sửa chữa những khuyết điểm, giúp nhau cùng tiến bộ. Nêu ưu điểm trước, vạch khuyết điểm sau và phải tiến hành đồng thời, không được coi nhẹ một mặt nào, “phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của bản thân mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau” .
Hồ Chí Minh cho rằng, tự phê bình và phê bình phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Vì vậy, phải kiên trì, thường xuyên, liên tục, mạnh dạn thừa nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, khắc phục. Bác đã dạy: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (2). Mỗi người cần phải có thái độ, phương pháp đúng, trên tình thương yêu giai cấp, tự phê bình mình cũng như phê bình người, phải triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt, đồng thời không dùng những lời mỉa mai, chua cay, thâm độc. Phê bình việc chứ không phê bình người, kiên quyết chống bệnh tự mãn, kiêu ngạo, ba hoa, phải thực hành khẩu hiệu “chí công vô tư”. Người được phê bình phải cầu thị, nghiêm túc tiếp thu ý kiến phê bình của đồng chí mình, phải có ý chí quyết tâm khắc phục sai lầm, khuyết điểm.
Các cấp ủy thường xuyên chăm lo xây dựng chi bộ trực thuộc trong sạch vững mạnh, trong đó có lãnh đạo, chỉ đạo và thường xuyên tiến hành bồi dưỡng chi ủy, chi bộ các nội dung liên quan đến tự phê bình và phê bình. Nhất là việc quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Nhờ vậy, tự phê bình và phê bình trở thành hoạt động thường xuyên góp phần đấu tranh với những suy nghĩ và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực.
Tuy nhiên, việc tiến hành tự phê bình ở nhiều cấp ủy, chi bộ vẫn còn những hạn chế, nhất là kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) chưa đạt yêu cầu đề ra. Tình trạng tự phê bình và phê bình nhiều nơi còn mang tính hình thức; còn nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao... Để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, nhất là ở cấp chi bộ đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi các chi bộ phải nâng cao hơn nữa chất lượng tự phê bình và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những giải pháp sau:
Một là, nâng cao trách nhiệm bí thư chi bộ, mở rộng dân chủ, duy trì chặt chẽ chế độ tự phê bình và phê bình.
Tự phê bình và phê bình là một quy định, nội dung quan trọng sinh hoạt của cấp ủy, tổ chức Đảng nói chung và chi bộ nói riêng. Bí thư, phó bí thư chi bộ nhất thiết phải duy trì có hiệu quả hoạt động này. Song song với tự phê bình và phê bình xoay quanh thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, các chi bộ và từng đảng viên cần phải tự phê bình và phê bình gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng và Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Nắm vững 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Nghị quyết Trung ương 4 đã chỉ ra. Người chủ trì sinh hoạt phải khéo léo gợi mở vấn đề, khuyến khích các đảng viên mạnh dạn thảo luận, trình bày ý kiến của bản thân, phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình. Các ý kiến phải được tôn trọng, tổng hợp, xem xét trước khi đưa ra quyết định. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh, dân chủ phải đặt trong tổ chức, có kỷ luật, kỷ cương. Tuyệt đối không được lợi dụng dân chủ trong sinh hoạt để đả kích, nói xấu nhau, hoặc dân chủ hình thức, mang tính chất xuôi chiều.
Hai là, tự phê bình và phê bình phải trung thực, thẳng thắn, khách quan gắn với xử lý kỷ luật nghiêm minh.
Thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức, biện pháp xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng. Tự phê bình và phê bình phải gắn liền với xử lý nghiêm vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước. Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, không nể nang, né tránh, không có vùng cấm.
Ba là, kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện tự phê bình và phê bình.
Công tác kiểm tra, giám sát thuộc chức năng lãnh đạo của Đảng, là nội dung quan trọng bảo đảm nghị quyết của Đảng thực hiện có hiệu quả trên thực tế. Để thực hiện tốt nội dung này, các cấp ủy chi bộ cần có kế hoạch kiểm tra, giám sát cụ thể đối với từng chi bộ trong Đảng bộ mình. Nội dung cần gắn chặt kết quả thực hiện tự phê bình và phê bình với phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên trước tổ chức Đảng và quần chúng. Việc duy trì nền nếp chế độ, nguyên tắc, thủ tục, nội dung và thực hiện dân chủ trong tự phê bình và phê bình, nhận thức thái độ, động cơ trách nhiệm trong tự phê bình và phê bình, tính đấu tranh để xây dựng chi bộ… Qua kiểm tra đã chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm, kịp khắc phục những khâu yếu, mặt yếu và đề ra các giải pháp giúp cấp ủy, chi bộ và đảng viên tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt và hoạt động của chi bộ.
Quán triệt và thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình ở chi bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và năng lực cầm quyền của Đảng ở cơ sở; giữ gìn phẩm chất, đạo đức, tư cách đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng, đem lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa./.
Đại đoàn kết dân tộc - Di sản quý báu của Bác Hồ
1. Đại đoàn kết dân tộc giữ vai trò hàng đầu trong tư tưởng của Bác.
Thống kê và phân tích những bài viết, bài nói của Bác đã được công bố trong Hồ Chí Minh toàn tập cho thấy Bác đã đề cập vấn đề đoàn kết trong 839 bài viết, chiếm tỷ lệ 43%; sử dụng từ đoàn kết, đại đoàn kết tới 1.809 lần. Trong đó có những bài được nhắc nhiều như: 16 lần trong “Sửa đổi lối làm việc”, 17 lần trong “Bài nói tại buổi khai mạc Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt, 19 lần trong diễn văn kỷ niệm Quốc khánh 2-9-1957. Trong Di chúc, Bác đã sử dụng 8 lần từ đoàn kết với ba vấn đề: 1) Đại đoàn kết toàn dân tộc và việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. 2) Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng. 3) Đoàn kết quốc tế, hữu nghị và hợp tác.
Tư tưởng đại đoàn kết của Bác thể hiện nhất quán từ lý luận đến thực tiễn. Đại đoàn kết là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Nhiệm vụ ấy được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, thể hiện trong lời phát biểu của Bác khi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam ngày 3-3-1951, Bác đã tuyên bố trước toàn thể dân tộc: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc ”.
Ngay từ khi tìm thấy con đường cứu nước, Bác đã rất chú ý đặt nền móng cho sự hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất bằng việc tập hợp quần chúng nhân dân vào những tổ chức yêu nước phù hợp với từng giới, từng ngành nghề, lứa tuổi, tôn giáo và hơn nữa phù hợp với từng thời kỳ phát triển của cách mạng. Là thực thể của tư tưởng, chiến lược đại đoàn kết dân tộc, Mặt trận dân tộc thống nhất đã được xây dựng trên nền tảng liên minh công, nông, trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã quy tụ được cả dân tộc, tập hợp được toàn dân kết thành một khối vững chắc.
Tại Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 10-9-1955, Bác khẳng định: "Lịch sử trong những năm qua đã tỏ rõ lực lượng đoàn kết của nhân dân là vô địch. Mặt trận Việt Minh đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công. Mặt trận thống nhất Việt Minh - Liên Việt đã giúp kháng chiến thắng lợi. Chúng ta có thể tin chắc rằng: Với sự cố gắng của mỗi người và sự ủng hộ của toàn dân, Mặt trận Tổ quốc sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang là giúp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh". Phát biểu tại lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác mặt trận ngày 8-1-1962, Người chỉ rõ: “Chính sách mặt trận là một chính sách rất quan trọng. Công tác mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam”.
2. Thực hiện tư tưởng của Bác, Đảng ta xác định: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân, trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng nguồn lực các thành phần kinh tế của toàn xã hội. Đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng được thực hiện bằng nhiều hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Đoàn kết dân tộc luôn có vị trí chiến lược quan trọng trong tình hình mới. Mục tiêu lớn đặt ra cho công tác dân tộc là thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, từng bước cải thiện và nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân. Đại hội XII của Đảng đánh giá: Khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường trong bối cảnh đất nước có nhiều khó khăn, thách thức. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân đã đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động; phát huy ngày càng tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; cùng Đảng, Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Thường xuyên tổ chức các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước.
3. Di nguyện thiêng liêng của Bác. Khi Bác vĩnh biệt thế giới này vẫn đau đáu một nỗi niềm “…mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh…”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng khẳng định phương hướng, nhiệm vụ: Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Yếu tố quan trong bậc nhất tạo nên năng lực nội sinh là đổi mới, tăng cường tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở:
Một là, phải khơi dậy và phát huy đến mức cao nhất tinh thần tự tôn dân tộc, sức mạnh dân tộc, quyết tâm chấn hưng đất nước, không bỏ lỡ thời cơ vận hội, không chậm chạp trong khi thế giới đang biến động gia tốc. Đặt lợi ích chung của dân tộc, của đất nước và con người lên hàng đầu, lấy đó làm cơ sở để xây dựng các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là, đổi mới tăng cường đại đoàn kết, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, xóa bỏ mọi thành kiến, mặc cảm, hận thù trong quá khứ, tập hợp đoàn kết mọi lực lượng, mọi người Việt Nam ở trong nước và định cư ở nước ngoài vào sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước. Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, khuyến khích làm giàu chính đáng theo pháp luật, đẩy mạnh hơn nữa chính sách đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo. Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoạt động giám sát, phản biện chính sách, vai trò tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động và người sử dụng lao động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp phải được quan tâm đổi mới; nâng cao hiệu quả.
Ba là, đoàn kết quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, sẵn sàng là bạn với tất cả các nước. Đại doàn kết dân tộc là yếu tố nội sinh có ý nghĩa quyết định tạo lực và thế để vươn ra bên ngoài; ngược lại mở cửa hội nhập quốc tế là nhằm cho lực và thế ở trong nước ngày càng tăng.
Bốn là, toàn dân chỉ trở thành sức mạnh vô địch khi được giác ngộ về mục tiêu chung và được tổ chức thành một khối vững chắc trong mặt trận thống nhất. Những năm gần đây, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết phát huy vai trò của mặt trận Tổ quốc trong xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, giám sát và phản biện của mặt trận Tổ quốc vàcác tổ chức đoàn thể nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Hoạt động của mặt trận Tổ quốc trong thời gian tới cần hướng mạnh về cơ sở, về địa bàn dân cư, coi trọng củng cố mở rộng, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho cán bộ làm công tác mặt trận. Đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến, tìm ra những nhân tố mới để tham mưu, kiến nghị với Đảng, Nhà nước bổ sung, hoàn chỉnh chủ trương, chính sách về công tác vận động quần chúng.
Năm là, đại đoàn kết dân tộc đòi hỏi phải xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, một chế độ do dân làm chủ, một Nhà nước thực sự của dân do dân vì dân, một hệ thống chính trị tiên tiến, có hiệu lực, hiệu quả. Kiên quyết chống tệ nạn tham nhũng, quan liêu, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Có nhiều cơ chế và biện pháp để các tổ chức đảng lắng nghe các ý kiến của nhân dân. Bác Hồ nói: Muốn quy tụ được cả dân tộc, Đảng phải vừa là đạo đức vừa là văn minh bởi Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Cán bộ, đảng viên nêu gương tốt nhân lên sự ủng hộ, tin cậy của nhân dân đối với Đảng - hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc./.
ST.
Đoàn kết, lời căn dặn thiết tha của Bác
Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc và xây dưng khối đại đoàn kết toàn dân có giá trị lí luận và thực tiễn hết sức quan trọng. Bác khẳng định trong Di chúc: Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngoài cùng bên trái) với các đại biểu về dự Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ I, ngày 3-12-1945.Đoàn kết là một truyền thống cực kì quý báu của Đảng và nhân dân ta. Bác căn dặn: Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Theo Bác, đoàn kết không có nghĩa là xuôi chiều, dễ người dễ ta. Để trong Đảng đoàn kết, trở thành một khối thống nhất phải thật sự nghiêm chỉnh thực hiện tự phê bình và phê bình, và phải chỉnh đốn lại Đảng. Bác coi đó là nhiệm vụ tất yếu thường xuyên, là sự vận động của Đảng trong quá trình phát triển của cách mạng. Khi cách mạng khó khăn, chỉnh đốn Đảng để xây dựng ý chí kiên định, thái độ bình tĩnh, tránh tình trạng dao động, bi quan. Khi cách mạng thắng lợi, chỉnh đốn Đảng để ngăn ngừa bệnh kiêu ngạo, chủ quan, tự mãn. Khi Đảng cầm quyền, chỉnh đốn Đảng để tránh sa ngã, thoái hoá biến chất, tự đánh mất mình. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch. Coi trọng chỉnh đốn Đảng là tạo nên sức mạnh đoàn kết theo lời dặn của Bác: Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để cũng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình thương yêu lẫn nhau.
Đảng ta xác định: Đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, mà hạt nhân là các tổ chức đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta. Những năm qua, nhờ đoàn kết, công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế, văn hoá, xã hội. Đất nước giữ vững ổn định chính trị, trật tự an ninh được bảo đảm, đời sống nhân dân được cải thiện. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, các phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công, các hoạt động nhân đạo, từ thiện thu hút sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân.
Mong muốn cuối cùng của Bác trước lúc đi xa là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Chúng ta đang thực hiện mong muốn của Người trên cơ sở tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công./.
ST.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
Nhiều cơ hội cho sinh viên giỏi cống hiến.Về nhiệm vụ của thầy, cô giáo, Hồ Chí Minh cho rằng nó không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt mà có tác dụng, hiệu quả lâu dài cho dân tộc, đất nước: “Các cô, các chú có nhiệm vụ rất quan trọng: bồi dưỡng thế hệ công dân, cán bộ sau này làm tốt thì thế hệ sau này có ảnh hưởng rất tốt. Làm không tốt thì sẽ có ảnh hưởng không tốt đến thế hệ sau”. Hồ Chí Minh đánh giá rất cao nhiệm vụ của thầy, cô giáo. “Thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng lên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang”. Xác định, vị trí, nhiệm vụ, tôn vinh nghề dạy học, Hồ Chí Minh yêu cầu cụ thể đối với đội ngũ, thầy, cô giáo và người làm công tác giáo dục. Đó là “phải luôn luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng”, “Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó.”.
Hồ Chí Minh yêu cầu đội ngũ thầy, cô giáo phải học chủ nghĩa Mác-Lênin một cách sáng tạo “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình.”. Người luôn luôn nhắc nhở: “Nhiệm vụ của các cô giáo, thầy giáo rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Muốn làm tròn nhiệm vụ đó phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng, lập trường chính trị; phải ra sức đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”. Người yêu cầu các thầy giáo, cô giáo phải là tấm gương sáng cho người học về cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong cuộc sống.
Hồ Chí Minh rất quan tâm đến nhiệm vụ bồi dưỡng, học tập chuyên môn nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ thầy, cô giáo: “Phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật”. Cho rằng không ai có thể cho mình là biết đủ, biết hết rồi, Người yêu cầu thầy cô giáo phải không ngừng học tập: Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân. Người dẫn chứng “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học…không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Người đặc biệt nhấn mạnh việc tự học. Thầy, cô giáo phải biết cách hướng dẫn cách tự học cho học sinh và bản thân thầy, cô giáo chỉ có cách tự học mới có thể nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức để không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy, chất lượng đào tạo. Hồ Chí Minh là tấm gương sáng vĩ đại về tự học, tự rèn luyện. Người khẳng định: Không phải chỉ ở tại nhà trường, có lên lớp, mới học tập, tu dưỡng, rèn luyện và tự cải tạo được. Trong mọi hoạt động cách mạng, chúng ta đều có thể và đều phải học tập, tự cải tạo. Quan điểm của Người học không bao giờ đủ, còn sống còn phải học và phải có tinh thần say mê học tập, nghị lực, quyết tâm và phương pháp đúng để học tập đạt kết quả.
Về phương pháp giáo dục- đào tạo, Hồ Chí Minh yêu cầu việc đào tạo thầy, cô giáo phải luôn luôn gắn nội dung giáo dục với thực tiễn cách mạng Việt Nam, học phải đi đôi với hành, lí luận phải đi liền với thực tế, học tập phải kết hợp với lao động, nhà trường gắn liền với xã hội. Đây là những vấn đề cơ bản, cốt lõi chỉ rõ sự khác biệt giữa nền giáo dục xã hội chủ nghĩa của nước ta với nền giáo dục phong kiến, thực dân trước đó. Và Người chỉ ra phương pháp quan trọng để đưa sự nghiệp giáo dục phát triển là thầy, cô giáo và những người làm công tác giáo dục phải được bồi dưỡng, huấn luyện tốt để kết hợp với cả ba môi trường giáo dục - gia đình, nhà trường, xã hội. Sự yếu kém, lơi lỏng ở bất cứ khâu nào cũng đều hạn chế đến kết quả giáo dục - đào tạo, trước hết là đào tạo giáo viên.
Không dừng ở tầm vĩ mô về nguyên lý, phương pháp cơ bản của giáo dục- đào tạo, Hồ Chí Minh còn nêu lên những yêu cầu, nhiệm vụ củ thể trong đào tạo giáo viên, để làm thầy cô giáo có trình độ sư phạm tốt: “Các thầy giáo, cô giáo phải tìm cách dạy. Dạy cái gì, dạy thế nào để học trò hiểu chóng, nhớ lâu, tiến bộ nhanh. Dạy và học cần phải theo nhu cầu của dân tộc, của Nhà nước”. Người còn nêu những yêu cầu còn cụ thể hơn: Tri thức phải dễ hiểu, dễ nhớ, học mau. Ngoài tri thức phải có đạo đức cách mạng. Thầy giáo phải làm kiểu mẫu cho các cháu. Làm được như thế là làm tròn nhiệm vụ”.
Tính toàn diện của nội dung giáo dục - đào tạo cũng là một vấn đề, một nhiệm vụ mà Hồ Chí Minh nhấn mạnh cho việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên: Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ XHCN, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất. Đặc biệt Người yêu cầu các thầy, cô giáo tương lai: Cần chú trọng hơn nữa về mặt đức dục.
Như vậy, việc đào tạo giáo viên phải làm sao có chí khí cao thượng đồng thời Hồ Chí Minh rất quan tâm đến cuộc sống vật chất và tinh thần của thầy, cô giáo và học sinh ở nhà trường, tăng cường đảm bảo sức khỏe và an toàn. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng chỉ đạo các ngành, các cấp ủy và chính quyền phải thực sự quan tâm hơn nữa; phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt. Khái quát và tổng hợp lại những nhiệm vụ mà Hồ Chí Minh đề ra cho việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên là phải từng bước phấn đấu không ngừng để có những thầy, cô giáo tham gia, xây dựng một nền giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ về các mặt đức dục, trí dục, lao động, mỹ dục và rèn luyện thể lực, thực hiện nguyên lý: Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế.
Sự nghiệp giáo dục hiện nay được coi là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Nhiệm vụ của cô giáo, thầy giáo và người làm công tác giáo dục nặng nề hơn bao giờ hết vì họ là nguồn nhân lực chính, là người quyết định đến sự thành bại của giáo dục. Do đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lí, càng nặng nề hơn. Đảng và Nhà nước cần tiếp tục:
1.Cải tiến chế độ, chính sách đãi ngộ và tôn vinh thầy cô giáo để có được sự ngang tầm giữa nhiệm vụ “rất quan trọng và rất vẻ vang” của lao động dạy người và dạy chữ - một tầng lớp tầng lớp lao động luôn luôn đòi hỏi phải vẹn toàn cả đức và tài.
2. Đội ngũ thầy, cô giáo và người làm công tác giáo dục (cán bộ quản lý giáo dục) là nhân lực chính có tính quyết định trong việc thực hiện “chiến lược phát triển giáo dục” trong những năm trước mắt và lâu dài nên phải được đầu tư phát triển bảo đảm về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng. Cần có một sự đổi mới căn bản, thực chất, toàn diện và khoa học trong công tác sử dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ thầy, cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục, coi đây là khâu đột phá mang tính quyết định trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3. Nhà nước cần hỗ trợ về kinh phí, những điều kiện cơ sở vật chất khoa học, kỹ thuật nhằm hỗ trợ cho đội ngũ thầy, cô giáo để tiến hành đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm thích ứng với sự phát triển của khoa học công nghệ trong kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức trong bối cảnh thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
4. Căn cứ vào nhu cầu của từng cấp học, từng ngành nghề đào tạo, Nhà nước tạo điều kiện để đội ngũ thầy, cô giáo có điều kiện giao lưu, trao đổi học tập kinh nghiệm và thực tiễn phát triển giáo dục, đội ngũ giáo viên ở các nước phát triển để mở rộng tầm nhìn, tư duy.
5. Đảng và chính quyền các cấp cần quan tâm hơn nữa việc truyền đạt những chủ trương, chính sách, những vấn đề trong quan hệ quốc tế, về an ninh quốc phòng, đối ngoại, sự phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đã trở thành hệ thống quan điểm khoa học và cách mạng về giáo dục đào tạo, đặc biệt ở khâu đào tạo giáo viên về tư tưởng, kiến thức khoa học và nghiệp vụ sư phạm./.
ST.






