Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2025
Giữ vững nhân tố lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội
Sự lớn
mạnh và trưởng thành của QĐND Việt Nam được tạo dựng từ nhiều nhân tố, trong đó
nhân tố Đảng lãnh đạo có ý nghĩa quyết định. Chính vì vậy các thế lực thù địch,
phản động dùng mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá nhằm tách rời sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam với QĐND Việt Nam.
Thế giới năm 2024 đánh dấu một năm đầy thách thức và
biến động: Xung đột Nga - Ukraine chưa có dấu hiệu hạ nhiệt; xung
đột Israel và lực lượng Hamas, các cuộc biểu tình, bạo loạn xảy ra
tại Venezuela, Bangladesh và đặc biệt là Myanmar, từ biểu tình chống chính phủ
sang xung đột vũ trang và sắc tộc làm cho hàng triệu người dân bị ảnh hưởng.
Đứng đằng sau các cuộc khủng hoảng đó là những chiêu bài chính trị, bóp méo lịch
sử, bôi nhọ lãnh tụ, khuếch trương “dân chủ”, “đa nguyên, đa đảng”… dẫn đến các
quốc gia trên rơi vào khủng hoảng chính trị, xung đột trầm trọng.
Đối với đất nước ta, năm 2024 là năm đạt được nhiều
thành tựu quan trọng. Với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và
Nhân dân cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, tình hình kinh tế - xã hội đạt
nhiều kết quả quan trọng, quốc phòng - an ninh được giữ vững, đời sống người
dân nâng lên. Đứng trước những thành tựu của nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng,
trong đó có sự đóng góp của Quân đội là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, các
thế lực thù địch, phản động, được sự bảo trợ của chủ nghĩa đế quốc bằng chiến
lược "Diễn biến hòa bình" hô hào "phi chính trị hóa" Quân
đội, nhằm tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, vô hiệu hóa vai trò của
Quân đội là công cụ bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Thủ đoạn này chúng từng
áp dụng thành công ở Liên Xô và các nước Đông Âu.
Nhìn lại chặng đường lịch sử 80 năm chiến đấu, xây
dựng và trưởng thành. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội được Đảng Cộng sản
Việt Nam xác định ngay từ những ngày đầu thành lập và không ngừng được bổ sung,
hoàn thiện. Đó là sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt bằng một cơ chế,
phương thức chặt chẽ, phù hợp. Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (năm 1930),
Đảng chỉ rõ phải nhanh chóng “Tổ chức ra Quân đội công nông”. Trong Nghị quyết
Đội Tự vệ (năm 1935), Đảng xác định: “Luôn luôn phải giữ quyền chỉ huy nghiêm
ngặt của Đảng trong Tự vệ thường trực”; trong lãnh đạo xây dựng, phát triển lực
lượng cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, Đảng xác định phải làm cho các
đội du kích đi đúng “con đường chính trị” của Đảng. Đầu năm 1944, trước yêu cầu
thành lập đội quân chủ lực quốc gia, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc căn dặn đồng chí Võ
Nguyên Giáp: “Tổ chức của đội phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo”. Thi
hành đúng Chỉ thị của Bác Hồ, chi bộ Đảng của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải
phóng quân được thành lập, lãnh đạo Đội thực hiện các nhiệm vụ một cách tuyệt
đối, trực tiếp về mọi mặt.
NHỮNG TƯ TƯỞNG SỐNG MÃI VỚI MÙA XUÂN
Một năm khởi đầu từ mùa Xuân!
Những ngày nắng cháy mưa giông, hoa tàn, lá úa đã qua đi. Thời gian chắt gạn những hạt vàng, hạt ngọc của Đời, ươm trồng, ấp ủ để đợi đến mùa Xuân mới tái tạo, sinh sôi.
Mùa Xuân là mùa của đất trời giao hòa, mùa của hy vọng và ước mơ. Mùa Xuân là mùa của sức sống mãnh liệt, mùa cây lá đâm chồi, nảy lộc, mùa của những mầm non xanh mơn mởn thoát khỏi lớp vỏ bọc xù xì vươn vai đón chào những tia nắng ấm áp diệu kì. Mùa Xuân là sự mở đầu cho một năm mới, kế hoạch mới, dự định mới, tương lai mới.
Khi tiết xuân về, khí trời ấm áp, từ lòng đất trồi lên những mầm biếc, cây xanh, hoa phô sắc thắm, trăm hồng, ngàn tía đua chen... Đó là thời khắc thiêng liêng: Trời - Đất - Con người giao hòa, tương hợp. Người dân Việt Nam thắp nén nhang thơm, thành kính nghĩ về tiên tổ, nhớ tới cội nguồn và mang nặng ân tình nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh.
“Tôi nói đồng bào nghe rõ không...”, lời Người truyền đi như tiếng vọng non sông, ấm áp mọi nhà. Ta nghe tiếng Người như tiếng gọi của mùa Xuân, tiếng gọi của ngàn xưa và tiếng gọi của tương lai! “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”(1). Đó là chân lý của muôn đời! “Sửa sang thế đạo kinh dinh nhân quyền”(2). Đó là việc phải làm của mọi quốc gia, của hôm qua, hôm nay và cả mai sau.
Những tư tưởng về “thành lập chính phủ nhân dân, áp dụng những nguyên tắc “tân kinh tế chính sách” được Người viết từ năm 1926 vẫn đang là công việc nóng hổi tính thời sự để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, dân tộc vươn mình thực hiện mục tiêu cao cả dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(3), “Đảng là gì? Đảng là mỗi chúng ta. Đảng lớn lên do mỗi chúng ta lớn lên”(4). Đó là những tư tưởng không bao giờ cũ, nó đang chỉ dẫn việc đổi mới, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng luôn mãi là mùa Xuân sáng tươi.
“Vô luận việc gì, đều do người làm ra”(5); “Đầu tiên là công việc đối với con người”(6), “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(7)... vẫn mãi mãi là những dòng ánh sáng, là “thước đo” trí tuệ, lương tâm, danh dự của mọi nhân cách và chế độ chính trị.
“Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong”(8). Cán bộ tốt là người “vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, đức là gốc”. Phải thường xuyên chăm lo “đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài” và phải thực sự “sửa đổi cách lãnh đạo”. Đó là sức sống mãnh liệt của Đảng, của mùa xuân, làm cho cây đời mãi mãi xanh tươi. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Người luôn luôn “tỏa ra một nền văn hóa... của tương lai”(9).
Xuân đã về! Trong trái tim mỗi người Việt Nam ai ai cũng chứa chan một niềm tin và hy vọng. Và, ở khắp mọi miền đất nước thân yêu:
“Đâu chẳng vang lời Bác thiết tha?
Đời vui, tiếng Bác ấm muôn nhà
Như gió xuân về, đất nở hoa”.
(Thơ Tố Hữu).
st Dịu Đào
Thấy gì qua việc phát tán truyền đơn của các thế lực thù địch trước Đại hội XIV của Đảng
Chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch, trong đó chúng tập trung cao nhất vào chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam với những âm mưu, thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt và vô cùng nguy hiểm. Lặp đi, lặp lại như
một quy luật, mỗi khi Đảng ta tiến hành đại hội thì sự chống phá của các thế
lực thù địch và cơ hội chính trị, thoái hóa biến chất, bất mãn ngày càng nhiều,
diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII của Đảng cũng vậy, các thế lực phản động, cơ hội chính trị,
bất mãn lại giở nhiều chiêu trò và những chiến dịch tuyên truyền, xuyên tạc,
kích động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Chúng lợi dụng sự phát triển của mạng xã hội để đẩy mạnh xuyên tạc, dựng chuyện, bịa đặt, tác động mạnh vào tâm lý, nhận thức của công chúng và xã hội. Trên các trang mạng, hết bài này đến bài khác chúng tự “xếp đặt” các nhân sự “tứ trụ”, nhân sự chủ chốt trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đưa tin cá nhân ông A, ông B,
phe này, phái nọ; tung tin giả, kích
động, xuyên tạc sự thật như các phe cánh
trong Đảng thanh trừng, thỏa hiệp lẫn nhau; trong Đảng không có dân chủ nên trong đại hội tới cần phải xóa bỏ độc đảng, để tiến hành đa đảng...
Để nhận diện đúng bản chất và đấu
tranh với những thông tin xấu, độc trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng cần nâng cao bản lĩnh chính
trị vững vàng, tuyên truyền, vận động nhân dân cảnh giác trước những âm mưu
thâm độc, sự chống phá quyết liệt của các thế lực phản động, cơ hội chính trị
trước sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng và đảng
viên cần xác định đại hội là dịp để chỉnh đốn đội ngũ, siết chặt kỷ luật, kỷ
cương, nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần dân chủ, sáng tạo và trách nhiệm
góp phần quan trọng vào việc thành công của Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của
Đảng; đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và toàn xã hội, làm cho các thế lực thù
địch, phản động và những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị không có đất để lợi
dụng kích động, xuyên tạc, chống phá./.
Sưu tầm
Giữ trọn niềm tin của nhân dân vào Đảng Cộng sản Việt Nam - Phần 2
Thực tiễn 95
năm qua của cách mạng Việt Nam cho thấy, Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc Chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đó là
nhiệm vụ then chốt, thường xuyên, liên tục, xuyên suốt các thời kỳ cách mạng,
quyết định đến sức mạnh, uy tín của Đảng. Từ khi bước vào công cuộc đổi mới, Đảng
ta đã ban hành nhiều nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, như: Hội nghị
Trung ương 3 khóa VII năm 1992, về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng; Hội
nghị Trung ương 6 lần 2 khóa VIII năm 1999, về một số vấn đề cơ bản và cấp bách
trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Đại hội XII của Đảng (năm 2016) nhấn mạnh:
“Tập trung thực hiện mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị,
tư tưởng, tổ chức và đạo đức”. Xây dựng Đảng về đạo đức luôn gắn liền và nằm
trong xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, nhưng nay được định danh,
được đặt ngang hàng với các mặt công tác xây dựng Đảng khác, đã thể hiện ý chí
của Đảng là đề cao, coi trọng yếu tố đạo đức trong xây dựng Đảng. Đây là một
trong những điểm mới, rất căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng nội dung xây
dựng Đảng.
3. Chúng ta thừa
nhận thực tế về hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên sa sút phẩm chất,
thoái hóa, chưa được ngăn chặn triệt để. Một số cán bộ lãnh đạo chẳng những
không gương mẫu mà còn nêu gương xấu trước quần chúng. Một số người vô tổ chức,
vô kỷ luật, kéo bè kéo cánh, nịnh bợ cấp trên, chèn ép quần chúng và cấp dưới,
cơ hội, thực dụng, gây mất đoàn kết nội bộ. Một số cán bộ đã lợi dụng chức quyền
để tham ô, trục lợi, ăn cắp của công, ăn hối lộ, thông đồng với kẻ xấu để làm
giàu bất chính. Điều nghiêm trọng là có không ít cán bộ, đảng viên, kể cả một số
cán bộ cao cấp, bị những ham muốn vật chất cám dỗ cũng chạy theo tiền tài, địa
vị, sống ích kỷ, buông thả, tự do chủ nghĩa, không còn tư cách đảng viên.
Nhìn thẳng vào
sự thật đó, Đảng ta đã tiến hành nhiều cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
khắc phục những hiện tượng hư hỏng trong bộ máy nhà nước, đẩy lùi các hiện tượng
tiêu cực trong xã hội. Đảng yêu cầu phải làm tốt việc giáo dục, nâng cao phẩm
chất cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, coi đây là một nội dung trọng
yếu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Việc xử lý cán
bộ sai phạm đang diễn ra quyết liệt và có sức lan tỏa vô cùng mạnh mẽ, được
đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. Những nỗ lực của Đảng,
Nhà nước trong xử lý cán bộ sai phạm do tham nhũng, tiêu cực được thể hiện rõ cả
trong quan điểm chỉ đạo và thực tiễn triển khai.
Về quan điểm
chỉ đạo, có thể thấy rõ từ khi đổi mới đến nay, nhiệm kỳ nào Trung ương Đảng
cũng có những nghị quyết chuyên đề liên quan đến công tác phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực. Về thực tiễn triển khai, việc xử lý cán bộ sai phạm ở nước ta
hiện được thực hiện theo đúng phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”.
Bằng chứng là, thời gian qua, nhiều vụ án nghiêm trọng đã được đưa ra xét xử kịp
thời, đúng người, đúng tội. Điều đó cho thấy rõ quyết tâm rất lớn cũng như năng
lực, bản lĩnh của Đảng, Nhà nước ta trong việc phát hiện, xử lý những sai phạm
của cán bộ, đảng viên, kể cả những người đã và đang giữ chức vụ quan trọng
trong hệ thống chính trị.
Theo báo cáo của
cơ quan chức năng, chỉ tính năm 2024, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi
hành kỷ luật 709 tổ chức đảng và 24.097 đảng viên vi phạm; Ban Chấp hành Trung
ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật
68 cán bộ diện Trung ương quản lý; trong đó, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã thi
hành kỷ luật 2 nguyên lãnh đạo chủ chốt.
Có thể khẳng định
rằng, việc xử lý quyết liệt các vụ án tham nhũng không chỉ ngăn chặn tình trạng
thất thoát nguồn tài sản lớn của Nhà nước mà quan trọng hơn cả là góp phần củng
cố niềm tin của nhân dân, tạo thêm xung lực mới để cổ vũ, động viên, khích lệ
nhân dân tiếp tục đóng góp cho sự phát triển đất nước. Đây chính là thực tiễn
lãnh đạo chính trị thuyết phục của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, khẳng định tính đúng đắn của các chủ
trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, qua đó làm nhân dân thêm tin tưởng, đi
theo Đảng.
Nhìn lại chặng
đường lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 95 năm qua, Đảng ta luôn
được nhân dân tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu
mến gọi bằng hai chữ thân thương “Đảng ta”. Đây là niềm vinh dự, tự hào lớn của
Đảng mà không phải đảng chính trị nào trên thế giới cũng có được. Cũng chính điều
đó đã tạo nên sức mạnh để Đảng ta không ngừng lớn mạnh, trưởng thành và lãnh đạo
sự nghiệp cách mạng của dân tộc giành những thắng lợi to lớn. Với vị trí, vai
trò to lớn của Đảng và những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng
lãnh đạo, không một thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được niềm
tin vững chắc của nhân dân với Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.
Sưu tầm
Giữ trọn niềm tin của nhân dân vào Đảng Cộng sản Việt Nam - Phần 1
Nhìn lại chặng
đường lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 95 năm qua, Đảng ta luôn
được nhân dân tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu
mến gọi bằng hai chữ thân thương “Đảng ta”. Với vị trí, vai trò to lớn của Đảng
và những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, không một
thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được niềm tin vững chắc của
nhân dân với Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.
1. Niềm tin
chính trị của nhân dân là sự tin tưởng, kỳ vọng vào đảng phái chính trị nhất định,
cụ thể là vào chủ trương, đường lối của đảng chính trị, truyền thống và những
giá trị của đảng chính trị cũng như uy tín lãnh tụ của đảng. Niềm tin đó từ
phía quần chúng nhân dân được hình thành qua đời sống chính trị của đất nước,
qua hoạt động thực tiễn của chính đảng trong nỗ lực để bảo đảm rằng niềm tin đó
sẽ được đền đáp.
Niềm tin
chính trị của nhân dân gồm những yếu tố cơ bản sau đây.
Trước hết, đó
là sự hiểu biết về chính trị của quần chúng nhân dân ngày càng tăng lên. Đây là
điều kiện cần. Điều này chính là sự giải thích cho quyết định của quần chúng
nhân dân rằng, nên đi theo đảng chính trị nào và chủ trương, đường lối của đảng
đó có lợi hay không có lợi cho mình.
Thứ hai, những
kinh nghiệm chính trị của nhân dân trong thực tiễn cách mạng ngày càng trở nên
phong phú. Đây là điều kiện đủ. Khi sự hiểu biết về chính trị của quần chúng
nhân dân là điều kiện cần của niềm tin chính trị, thì kinh nghiệm chính trị của
họ chính là điều kiện đủ, quyết định họ sẽ kiên định đi theo sự lãnh đạo của đảng;
đồng thời thể hiện đảng đã thành công trong việc cuốn hút họ theo đường lối của
mình. Những trải nghiệm chính trị, những bài học kinh nghiệm xương máu được quần
chúng nhân dân đúc rút từ thực tiễn cách mạng dưới sự lãnh đạo của đảng khiến
cho nhận thức chính trị của họ càng thêm sâu sắc, từ đó niềm tin chính trị vào
đảng càng thêm sâu nặng.
Thứ ba, thực
tiễn lãnh đạo chính trị thuyết phục của đảng cộng sản. Đây là điều kiện quyết định,
thể hiện năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng, thông qua tính đúng đắn của
các chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng của đảng đem lại những thành công
nhất định trên các lĩnh vực, qua đó thu hút càng nhiều quần chúng nhân dân đi
theo đảng. Bên cạnh đó, những hy sinh, phấn đấu vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh
phúc cho nhân dân của đội ngũ đảng viên và lãnh tụ của đảng; sự hòa quyện bởi
nhân cách cá nhân người đảng viên với uy tín chính trị của đảng đã thực sự thuyết
phục và củng cố niềm tin chính trị của nhân dân với đảng. Điều này rất quan trọng
từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, thể hiện qua sự đúc kết của Chủ tịch Hồ Chí
Minh trong câu nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn
văn tuyên truyền”. Chính những hy sinh, phấn đấu của đội ngũ đảng viên của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã góp phần quan trọng nâng cao uy tín chính trị của Đảng ta
trong nhân dân.
Thứ tư, sự
tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp cách mạng. Đây là điều
kiện bảo đảm cho tính bền vững của niềm tin chính trị của nhân dân. Niềm tin
chính trị của nhân dân được hình thành bởi quá trình hoạt động có chủ đích của
Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là vì hạnh phúc của nhân dân; đồng thời, nhân dân
cũng tích cực tham gia vào quá trình đó để theo đuổi lý tưởng của mình, hiện thực
hóa lý tưởng đó, nên chính nhân dân đã góp phần xây dựng niềm tin chính trị của
mình.
2. Thực tiễn
cho thấy, niềm tin của nhân dân với Đảng được hình thành, củng cố ngày càng vững
chắc hơn gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của Đảng suốt chặng đường
95 năm qua. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam
giành được nhiều thắng lợi to lớn. Ngay sau khi ra đời ngày 3-2-1930, Đảng đã
lãnh đạo phong trào cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh; tiến hành cuộc Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 thành công, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam
Á; lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch
sử Điện Biên Phủ, tạo điều kiện cơ bản để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân; lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa
xã hội trên đất nước Việt Nam. Cùng với những thành tựu của sự nghiệp gần 40
năm đổi mới mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đạt được là hết sức to lớn,
có ý nghĩa lịch sử, để đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế
và uy tín quốc tế như ngày nay.
Với vai trò to
lớn của mình, Đảng ta đã tạo được niềm tin yêu sâu sắc trong lòng nhân dân. Tin
tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã một lòng đi theo Đảng; biến
những nhận thức, niềm tin thành hành động cách mạng, thành ý chí quyết tâm;
phát huy cao độ tinh thần và lực lượng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, để đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn hiện nay đòi hỏi
Đảng phải không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn để thật sự xứng đáng với niềm
tin của nhân dân và dân tộc.
Sưu tầm
Chặn biến tướng trong phong tục, văn hóa tết - Phần 2
Mai một giá
trị truyền thống
Năm nào cũng vậy,
khi thời điểm tết cận kề thì câu chuyện biếu, tặng quà tết là chủ đề được nhiều
người quan tâm, bàn luận. Về vấn đề này, Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư
ngày 11-12-2024 đã nhấn mạnh: “Tăng cường công tác phòng, chống lãng phí, tiêu
cực; không tổ chức thăm, chúc tết cấp trên và lãnh đạo các cấp; không tổ chức
đoàn của Trung ương thăm, chúc tết cấp ủy, chính quyền các địa phương; nghiêm cấm
việc biếu, tặng quà tết cho lãnh đạo các cấp dưới mọi hình thức...”.
Tặng quà là để
thể hiện sự biết ơn, tình cảm quý mến của người tặng, song ý nghĩa truyền thống
ấy đã dần bị mai một, thay vào đó là những món quà mang tính vụ lợi. Trong một
cuộc trao đổi về chủ đề “Biến tướng quà tết”, PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường
trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, cho rằng, quà tết không chỉ là một
hiện tượng mà đã trở thành một thói quen. Tuy nhiên, hiện nay quà tết bị biến
tướng, nó đã chuyển từ những món quà đơn giản, gửi gắm tình cảm của người tặng
sang những món quà đắt tiền mang tính thực dụng, ẩn chứa “thông điệp” nhờ vả.
Cách đây vài
năm, tác giả bài viết có quen một người giữ chức vụ khá cao. Khi vừa nhậm chức
vào dịp chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, anh bảo: “Có lẽ tôi cần phải thay đổi quan
niệm về chuyện nhận quà tết thôi ông ạ, bởi mình đâu có thiếu thốn mà cứ để hết
người này tới người khác tới biếu quà...”. Nhưng rồi sau đó, quan niệm, ý tưởng
có vẻ chân thành của anh không dễ thành hiện thực, bởi biếu quà tết là một thói
quen khó thay đổi; việc biếu, nhận quà tết không phải là bối cảnh của hai người
mà đã trở thành câu chuyện của cả xã hội. Nếu người cán bộ kia không nhận quà tết
thì những người xung quanh anh sẽ phản ứng thế nào? Họ sẽ nhìn anh ra sao? Nhiều
khi họ cũng không thích cái việc “từ chối quà tết để làm gương” của anh, bởi với
nhiều người, cả năm họ chỉ trông vào mỗi “khoản” này, và tết chính là dịp mang
lại nguồn thu nhập không nhỏ cho họ...
Từ chuyện biến
tướng trong việc biếu, nhận quà tết của người lớn, tục lì xì người già và con
trẻ cũng có những lệch chuẩn.
Lì xì, mừng tuổi...
vốn là một phong tục đẹp, khi mà trong mỗi bao lì xì có một chút tiền lẻ được
biếu, tặng, mong người già có thêm sức khỏe, mong con trẻ ngoan ngoãn, khỏe mạnh.
Giờ đây, câu chuyện vật chất đã len vào những bao lì xì, khiến không ít gia
đình phải dặn kỹ con em mình mỗi khi nhận lì xì thì đừng làm mất mặt người lớn,
rằng nhận xong thì chớ có mở ra để... đếm tiền trước mặt khách. Rõ ràng, bao lì
xì hiện không còn mang ý nghĩa tượng trưng mà đã mang nặng giá trị vật chất, ảnh
hưởng không nhỏ tới quan niệm, hành vi ứng xử của con trẻ, làm mai một giá trị
truyền thống.
Nói về giới trẻ
hiện nay, nhiều người đặt câu hỏi: Phải chăng giới trẻ đang dần quay lưng với
phong tục tết? Vào dịp cuối năm, thấy không ít bạn trẻ lên mạng xã hội ta thán:
“Đang yên đang lành, tự dưng lại tết, nghỉ gần chục ngày chẳng biết đi đâu, làm
gì”; “Ui, thế là lại tết, ước gì sau một ngày ngủ nướng, thức dậy đã là... mồng
6 tết”. Sở dĩ có hiện tượng trên là do ngày nay, một số người trẻ đã không còn
dành thời gian cho các phong tục tết truyền thống như trước. Trên các diễn đàn
dành cho dân du lịch, đi phượt..., nhiều bạn trẻ hào hứng bàn bạc, rủ nhau tết
này đi du lịch ở đâu, dùng mấy ngày nghỉ tết vào việc gì... Có người rủ nhau xuất
ngoại du lịch, có người tính chuyện khoác ba lô đi phượt xuyên Việt.
Trào lưu đi du
lịch thay vì đón tết đang trở nên phổ biến không chỉ trong giới trẻ mà còn lan
rộng tới các gia đình có điều kiện, dư dả về kinh tế. Nhiều người không còn coi
tết là dịp sum vầy mà họ lựa chọn du lịch để tận hưởng kỳ nghỉ tết theo cách
riêng. Điều này phản ánh sự thay đổi trong cách sống, quan niệm và nhu cầu giải
trí của xã hội hiện đại. Một bộ phận người trẻ lựa chọn đi chơi xa như một hình
thức "trốn" tết. Họ xem tết như một kỳ nghỉ để "xả stress"
thay vì dành thời gian cho gia đình.
Lối sống, quan
niệm ấy đã phần nào khiến ý nghĩa đoàn viên, sum vầy của ngày tết bị xem nhẹ, đồng
thời giá trị gắn kết gia đình và xã hội của Tết Nguyên đán cũng đang dần bị mai
một.
Tự giác, nêu gương để giữ gìn văn hóa tết
Để ngăn biến
tướng và giữ gìn văn hóa tết, rất cần sự làm gương từ các gia đình, trong đó
cha mẹ, ông bà phải là những người lan tỏa ý nghĩa văn hóa tết cho con cháu;
chú trọng tổ chức tết đơn giản, tiết kiệm, tránh lãng phí, tập trung vào giá trị
tinh thần của ngày tết như sự sum vầy, đoàn tụ gia đình và tôn vinh các giá trị
văn hóa dân tộc.
Ngoài ra, các
địa phương cần tổ chức các hoạt động lễ hội, trò chơi dân gian mang bản sắc
truyền thống, không để diễn ra tình trạng nhiều lễ hội “không quản được thì cấm”,
thiếu trách nhiệm với văn hóa truyền thống và nhu cầu chính đáng của nhân dân.
Để hạn chế những biểu hiện mê tín dị đoan, trục lợi và các hình ảnh phản cảm
trong lễ hội, ngành văn hóa-du lịch đã có nhiều nỗ lực thông qua các biện pháp
quản lý, tuyên truyền và giám sát chặt chẽ. Tuy nhiên, để xây dựng môi trường lễ
hội văn minh, giàu bản sắc văn hóa, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan
quản lý, chính quyền địa phương và sự đồng lòng của người dân.
Khắc phục những
dấu hiệu lệch chuẩn trong văn hóa tết, cần đẩy mạnh giáo dục văn hóa trong cộng
đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, để họ hiểu và trân trọng ý nghĩa thực sự của các
phong tục tết. Đồng hành trong việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tốt
đẹp, cán bộ, đảng viên phải là người tiên phong trong hành động, không tham gia
hoặc khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan; không sử dụng ngân sách cho các
hoạt động lễ lạt rình rang, gây lãng phí trong dịp tết; tránh tổ chức tiệc tùng,
lễ nghi mang tính hình thức hoặc quá mức cần thiết.
Lúc sinh thời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong “Sửa đổi lối làm việc”: “Mỗi kẻ địch bên
trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ.
Địch bên trong ta đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”. Vì vậy, đạo đức
của cán bộ trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa không chỉ là việc thực hiện trách
nhiệm công vụ mà còn thể hiện qua lối sống, hành vi và thái độ gương mẫu. Tinh
thần tự giác của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có chức, có quyền
chính là lá chắn đầu tiên và quan trọng nhất để ngăn chặn biến tướng quà tết, bởi
việc biếu, tặng quà tết với mục đích mưu cầu lợi ích không chỉ làm sai lệch ý
nghĩa của việc tặng quà mà còn gây bức xúc trong xã hội.
Để làm được điều
này, cán bộ, đảng viên phải thực sự nêu gương, tránh tình trạng gắn “mác” văn
hóa trong diễn ngôn, nhắc nhiều đến văn hóa trong các lĩnh vực nhưng lại chưa
thực tâm hành xử vì văn hóa.
Sưu tầm
Chặn biến tướng trong phong tục, văn hóa tết - Phần 1
Tết Nguyên đán không chỉ là ngày lễ quan trọng
trong năm mới, đây còn là dịp để người dân tôn vinh những giá trị truyền thống,
gắn kết gia đình và xã hội. Tuy nhiên, trong đời sống hiện đại, một số phong tục,
văn hóa Tết có nguy cơ bị biến tướng, mai một.
Lạm dụng tín ngưỡng, rình rang lễ lạt
Dịp tháng Chạp, phố Hàng Mã (Hà Nội)-khu phố
có nhiều mặt hàng kinh doanh đồ thờ cúng-trở nên nhộn nhịp. Tại đây, nhiều hàng
quán bày bán đa dạng các chủng loại, “mặt hàng thời thượng” bằng giấy như: Điện
thoại, xe máy, ô tô... để người dân mua về cúng lễ. Hiện tượng trên là một
trong những biến tướng về phong tục thường gặp vào dịp cuối năm, khi không ít
người dân quan niệm muốn có nhiều tài lộc thì phải bày biện, dâng mâm cao cỗ đầy,
sắm nhiều đồ vàng mã.
Tục cúng ông Công, ông Táo vào ngày 23 tháng
Chạp theo phong tục truyền thống mang ý nghĩa cầu mong sự no đủ. Tuy nhiên,
phong tục ấy đang bị hiểu sai và có ít nhiều biến tướng về tư duy văn hóa. Từ
việc cúng tiễn Táo quân với mâm cỗ, trầu cau, hương hoa, nay nhiều người sắm
thêm đủ các loại hàng mã: Quần, áo, nhà lầu, xe hơi... để Táo quân “báo cáo” với
Ngọc Hoàng xin cho nhà mình có nhiều lộc. Khi cúng xong, người dân mang tro đốt
hàng mã, mang cá ra sông, hồ để thả. Nhiều người thản nhiên vứt cả túi đựng cá
làm không ít sông, hồ tràn ngập túi ni lông, giấy, rác làm ô nhiễm môi trường.
Phong tục hái lộc đầu xuân vốn mang ý nghĩa cầu may cũng bị biến tướng thành
hành vi chặt cây, bẻ cành ở nơi công cộng, gây mất mỹ quan và ý nghĩa văn
hóa...
Khi cuộc sống của người dân được cải thiện,
nhu cầu tìm về nguồn cội và nhu cầu tâm linh cũng được quan tâm, chú ý hơn. Ở cấp
độ làng xã, nhiều hoạt động lễ hội diễn ra sôi động mỗi khi tết đến, xuân về.
Hàng nghìn lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng được tổ chức ở khắp
nơi. Tuy nhiên, không ít lễ hội truyền thống vào dịp đầu xuân bị biến thành cơ
hội kinh doanh, làm cho yếu tố linh thiêng và giá trị văn hóa bị lu mờ. Việc lạm
dụng tín ngưỡng khiến một số lễ hội được tổ chức để trục lợi, xuất hiện tại lễ
hội những hành vi gây mất trật tự công cộng.
Cùng với đó là việc có quá đông du khách tham
gia dẫn tới quá tải, ô nhiễm môi trường. Nhiều người tham gia lễ hội nhưng
không hiểu rõ giá trị linh thiêng và ý nghĩa thật sự của các phong tục. Không
ít đơn vị và cá nhân chịu ảnh hưởng bởi lợi nhuận, làm mất đi yếu tố văn hóa.
Ngày 11-12-2024, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ
thị số 40-CT/TW về việc tổ chức Tết Ất Tỵ 2025, trong đó yêu cầu cấp ủy, tổ chức
đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội các cấp tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm công tác quản lý và tổ chức lễ
hội theo quy định. Chỉ thị còn nhấn mạnh tới việc bảo đảm các hoạt động vui
xuân, kỷ niệm ngày truyền thống, tổng kết năm, gặp mặt đầu năm... thiết thực,
an toàn, tiết kiệm, tránh phô trương, hình thức, lãng phí. Bởi thực tế có không
ít cơ quan, đơn vị, địa phương thường có những cuộc lễ lạt rình rang vào dịp tổng
kết năm, gặp mặt đầu xuân, kèm theo đó là sự lãng phí tiền bạc, thời gian, công
sức.
Thực tế cho thấy, thay vì chú trọng vào những
việc làm tri ân thiết thực, không ít cơ quan, đơn vị vẫn nặng về phô trương,
hình thức, cốt để "vui vẻ" mỗi dịp lễ, tết.
Sưu tầm
“Thanh niên là một cái nguồn vô tận, từ nguồn ấy mà chúng ta đào tạo những cán bộ tốt cho hiện tại và tương lai của nước nhà”.
“Thanh
niên là một cái nguồn vô tận, từ nguồn ấy mà chúng ta đào tạo những cán bộ tốt
cho hiện tại và tương lai của nước nhà” là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
Bài "Thanh niên nông dân", đăng trên báo Nhân dân, số
159, từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 1 năm 1954, trong bối cảnh, cuộc kháng chiến
toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp của dân tộc ta giành được nhiều thắng
lợi lớn; lực lượng cách mạng phát triển nhanh chóng; trong đó, lực lượng chủ
lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và lực lượng dân công với đại đa số là
thanh niên nông dân.
Qua lời
của Bác, chúng ta thấy Người nhận rõ đặc điểm và thế mạnh của lực lượng thanh
niên Việt Nam, chủ yếu là con em của nông dân, bị phong kiến, địa chủ áp bức,
bóc lột tàn tệ..., nhưng họ có lòng yêu nước nồng nàn, nhiệt tình cách mạng,
cần cù chịu khó, cần phải tổ chức giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thành những cán
bộ tốt đế đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong hiện tại và trong tương lai
của nước nhà.
Lời huấn
thị của Người không chỉ đặt ra yêu cầu và định hướng cho các tổ chức đảng, các
cấp, các ngành phát động phong trào, tổ chức giáo dục, bồi dưỡng thanh niên,
nhất là thanh niên nông dân, mà còn khơi dậy tinh thần nhiệt huyết cách mạng,
hăng hái thi đua học tập, huấn luyện, rèn luyện, tích cực đóng góp sức mình cho
sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Hiện nay,
lời nói của Chủ tịch Hồ Chi Minh vẫn nguyên giá trị; được Đảng ta vận dụng sáng
tạo vào đường lối cách mạng trong tình hình mới; chủ trương xây dựng chiến lược
phát triến nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực với những
giải pháp đồng bộ; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ kế tục xứng đáng sự
nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Thấm
nhuần lời của Người, thanh niên Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống hiếu
học, ham hiểu biết, phấn đấu tự mình nâng cao trình độ về mọi mặt, say mê sáng
tạo trong hoạt động thực tiễn, để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước và
bảo vệ Tổ quốc. Tuổi trẻ - thanh niên Quân đội hăng hái thi đua "tiến công
vào khoa học kỹ thuật", “rèn đức, luyện tài”, nâng cao nhận thức chính
trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân,
với Tổ quốc; luôn có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, làm chủ bản thân, làm
chủ khoa học kỹ thuật, vũ khí trang bị, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp
phần đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hoàn toàn thắng lợi.
Sưu tầm
Xóa bỏ “chủ nghĩa cá nhân” trong môi trường Quân đội theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nói về tác hại của “chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra
rằng, chừng nào còn chủ nghĩa cá nhân nó sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên
phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc, làm mất lòng tin cậy của
dân đối với Đảng. “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ
đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định là hôm nay và ngày mai vẫn được mọi
người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ
nghĩa cá nhân”. Đối với Quân đội ta cũng vậy, nếu như quân nhân mà sa vào “chủ
nghĩa cá nhân”, sẽ khiến cho chúng ta ngại gian khổ, khó khăn, xa rời quần
chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Do đó, cần phải thường
xuyên nhận diện, để đấu tranh loại bỏ là yêu cầu tất yếu, khách quan để tăng
cường sức mạnh cho quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Biểu hiện và những tác hại của “chủ nghĩa cá nhân”
Về bản chất sâu xa của
“chủ nghĩa cá nhân” Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đó là sản phẩm của xã hội
người bóc lột người, dựa trên chế độ tư hữu; là sự đối lập giữa lợi ích cá nhân
với lợi ích xã hội, đặt quyền lợi của cá nhân lên trên quyền lợi tập thể. Vì
vậy, trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”
của mình, Bác đã chỉ ra các loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa là: Bệnh quan liêu;
bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh; bệnh “hữu danh
vô thực (loại bệnh có biểu hiện là làm được ít nhưng báo cáo, khoe khoang thì
nhiều); bệnh cận thị (loại bệnh có biểu hiện là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt,
không thấy cái lớn, cái quan trọng); bệnh tỵ nạnh; bệnh xu nịnh, a dua và bệnh
kéo bè, kéo cánh. Cụ thể là: Bệnh nể nang, đó là đồng chí mình mắc khuyết điểm,
lẽ ra phải kỷ luật với một hình thức tương xứng, nhưng vì cảm tình nên chỉ phê
bình qua loa cho xong chuyện. Thậm chí có nơi còn che đậy cho nhau, lừa dối cấp
trên, giấu giếm đoàn thể: “Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang,
nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế là có tội
với Đảng, có tội với đồng bào”. Bệnh kéo bè, kéo cánh, cục bộ, bản vị: Đối với
“căn bệnh” này, Bác đã dùng từ “cánh hẩu” trong một bộ phận cán bộ có chức, có
quyền. Bè cánh được lôi kéo từ những người có họ hàng, là bà con, cháu, chắt,
thân tín, thậm chí mở rộng ra là người cùng xóm, cùng quê; rồi “chén chú chén
anh”, tung hô nhau, ủng hộ nhau, dùng số đông, lợi dụng và bóp méo nguyên tắc
tập trung dân chủ, dồn những người dù có tốt, có tài, nhưng không “hẩu” xuống
để “tiêu diệt”, để cát cứ, thao túng; “Ai hợp với mình thì dù người xấu
cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn
nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là
dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống”. Bệnh cá nhân,
đây là loại bệnh mà người mắc bệnh có khi được đánh giá là có “đức”, “hiền
lành”, luôn luôn biết “đoàn kết”,… những người này thông thường trong cuộc họp,
hội nghị, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, được lòng hết cả
mọi người. Nếu có nói thì “khiêm tốn” nói bên ngoài, nói ở quán nước hoặc nơi
nhậu nhẹt, chơi bời, thậm chí chờ bên nào có xu hướng “thắng” thì giơ tay ủng
hộ. Rồi luồn cúi, đi “cửa sau”, thưa bẩm, vâng, dạ, xun xoe, nịn bợ. Những
người này khi đã đạt mục đích “leo lên” rồi bắt đầu nịnh trên, nạt dưới, kéo
bè, kéo cánh. Bệnh hữu danh vô thực: “Làm việc không thiết thực, không tự chỗ
gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được
ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng
tuếch”. Bệnh tham lam: Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “Những người mắc phải bệnh
này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó chỉ
“tự tư tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo
đuổi mục đích riêng của mình. Sinh hoạt xa hoa tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở
đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn
lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình”. Bệnh
lười biếng: Thực chất của bệnh lười biếng là đối lập với đức “cần”. Lười biếng
biểu hiện ở sự thỏa mãn với sự học, kiến thức vốn có của mình, “Làm biếng học
hỏi, làm biếng suy nghĩ. Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho
người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh”. Bệnh tham ô: “Đứng
về phía cán bộ mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công làm của tư. Đục khoét của
nhân dân. Ăn bớt của bộ đội. Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của
Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình, cũng là tham ô…
Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”.
Nó có hại đến công việc cải thiện đời sống nhân dân, có hại đến đạo đức cách
mạng.
Như vậy, tác hại của
“chủ nghĩa cá nhân” là tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự
đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, xa rời
quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh; không có tinh thần cố
gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ; vì thiếu đạo đức cách mạng, nên
phạm phải nhiều sai lầm, làm mất nhân cách con người, uy tín của cán bộ, đảng
viên; chủ nghĩa cá nhân là một trong ba nguy cơ đối với Đảng cầm quyền hiện
nay.
Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là liều thuốc đặc trị
Hiện nay, đội ngũ cán
bộ, đảng viên có bước phát triển cả về số lượng, chất lượng. Về cơ bản đều có
bản lĩnh chính trị vững vàng, phát huy tốt vai trò tiền phong, gương mẫu trong
thực hiện nhiệm vụ cách mạng trên mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, một bộ phận đảng
viên nói chung, trong Quân đội nói riêng vì lợi ích cá nhân, có những biểu hiện
phai nhạt bản chất cách mạng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, sa sút ý chí phấn đấu,
ngại khó, ngại khổ, đùn đẩy trách nhiệm, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà
nước, kỷ luật Quân đội… ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ
quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội. Vì vậy, để làm theo lời Bác dạy, quán
triệt, thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung
ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân
trong tình hình mới, cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta cần đẩy mạnh đấu tranh
chống chủ nghĩa cá nhân, trong đó, tập trung thực hiện tốt việc đẩy mạnh công
tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao ý chí đấu tranh chống chủ nghĩa cá
nhân cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng trong Đảng
bộ Quân đội cần thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục về rèn
luyện đạo đức cách mạng, quyét sạch “chủ nghĩa cá nhân”; nâng cao nhận thức cho
cán bộ, đảng viên về bản chất, biểu hiện và tác hại của “chủ nghĩa cá nhân”;
tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng cách mạng của
Đảng, chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, khơi dậy tinh thần trách nhiệm, khát vọng
cống hiến, ý thức, thái độ của cán bộ, đảng viên, hạ sĩ quan, binh sĩ đối với
việc thực hiện các nhiệm vụ, chức trách được giao. Đồng thời cùng với đó, là
nâng cao chất lượng sinh hoạt của các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng. Cần thực hiện
nghiêm túc, nền nếp chế độ sinh hoạt theo quy định của Điều lệ Đảng; nâng
cao chất lượng các hình thức sinh hoạt lãnh đạo, sinh hoạt tự phê bình và phê
bình, sinh hoạt học tập ở cấp ủy và tổ chức cơ sở đảng các cấp. Tiếp tục quán
triệt, thực hiện chặt chẽ Hướng dẫn số 12 của Ban Tổ chức Trung ương về một số
vấn đề về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; Kết luận số 38 của Bộ Chính trị
về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 22 của Ban Chấp hành Trung ương khóa
X về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất
lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đặc biệt là Nghị quyết số 21 của Hội nghị
Trung ương 5, khóa XIII về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và
nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới. Bên cạnh đó, các cấp
ủy, tổ chức đảng cần quán triệt và thực hiện tốt Quy định số 22-QĐ/TW của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng ngày 28/7/2021 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ
luật của Đảng. Xây dựng, bổ sung, hoàn thiện quy chế làm việc, xác định rõ
quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức trong công tác kiểm tra, giám
sát.
Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, cần phát huy tính tích cực, tự giác, nêu gương trong tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thiết nghĩ mỗi cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội cần phải nhận thức sâu sắc, bản thân phải luôn nỗ lực khắc phục mọi khó khăn, có ý chí quyết tâm phấn đấu vươn lên, học dưới, hỏi trên, nâng cao trình độ lý luận, phương pháp tác phong công tác sâu sát, khoa học; thường xuyên thực hiện nghiêm túc chế độ phê bình và tự phê bình, như “rửa mặt hàng ngày” mà Bác đã căn dặn, để từ đó phát huy ưu điểm, thế mạnh, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm để hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn; đồng thời, phải quyết tâm thực hiện cho bằng được phương châm “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung” mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra, nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, cũng như yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Sưu tầm
“Bộ tinh, tỉnh mạnh” là chủ trương đúng chứ không phải là “đấu đá, thanh trừng”
Trước yêu cầu phát triển
của đất nước, việc sắp xếp tinh gọn bộ máy từ Trung ương đến các địa phương là
nhằm giảm biên chế, tinh gọn bộ máy hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả
là yêu cầu cấp thiết, khách quan. Việc quyết liệt thực hiện tinh gọn bộ máy hệ
thống chính trị được cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đồng tình ủng hộ, coi đó
là bước đột phá mang tính cách mạng, nhằm sẵn sàng đáp ứng yêu cầu trong giai
đoạn cách mạng mới, đó là kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tuy nhiên, lợi dụng
vấn đề này, các đối tượng thù địch phản động, phần tử cơ hội chính trị đã cố
tình đưa ra những thông tin sai sự thật, nhằm đánh tráo bản chất, xuyên tạc
chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.
Những tiếng “loa rè”
khoe bài ca đồng vọng
Thời gian qua, để thực hiện việc tinh giản biên chế, sắp xếp bộ máy hành
chính được Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành và các địa phương thực hiện quyết
liệt. Đặc biệt, ngày 30/12/2024 thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ
Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao Quyết định về chức năng, nhiệm vụ của 13
cơ quan ban Đảng, đơn vị ở Trung ương, ngay lập tức các thế lực thù địch đã
thông qua các đài VOA, RFA, BBC, RFI và mạng xã hội của các tổ chức “Việt Tân”,
“Nhân dân hành động”… tuyên truyền cho rằng ý nghĩa việc “tinh gọn bộ máy”
thành “Đảng đứng trên luật pháp”, “Đảng muốn ôm quyền”, “quyền lực xã hội tập
trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”; “sáp nhập là cách Đảng
muốn thanh trừng phe cánh”, “muốn loại bớt đối thủ nên nhập tỉnh, thành, bộ,
ngành lại”; rồi dựng sân khấu, trường quay, mời diễn giả phản biện, cố tình đưa
ra những thông tin xuyên tạc, sai sự thật nhằm đánh tráo bản chất, làm cho người
dân hiểu sai nội dung giảm biên chế, tinh gọn bộ máy hành chính của Đảng và Nhà
nước ta. Còn trên mạng xã hội, chúng tiến hành các hoạt động cài cắm, lồng ghép
thông tin xấu độc với thông tin chính thống hòng tạo ra sự nhiễu loạn, làm cho
người dùng khó phân biệt đâu là “thật giả”, “đúng sai”, rồi trắng trợn xuyên tạc
rằng việc tinh gọn bộ máy nhằm tạo “lợi ích nhóm”, là “đấu đá, thanh trừng”, củng
cố quyền lực phe này, hạ bệ, cắt vây cánh phe kia, từ đó xuyên tạc là Việt Nam
không có tinh giản biên chế, không có tinh gọn bộ máy, mà đây chỉ là “miếng
bánh phân chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”... Rõ ràng, đây là những
quan điểm sai trái thù địch, luận điệu xuyên tạc, kích động, gây chia rẽ trong
nội bộ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của nhân dân đối
với Đảng, Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta.
Chúng ta đều dễ dàng nhận ra rằng, giống như bệnh cũ tái phát, cứ mỗi khi
đất nước ta có sự kiện chính trị quan trọng, hay những chủ trương, chính sách lớn,
là các đối tượng phản động thù địch, cơ hội chính trị lại xem đó là cơ hội để
chống phá. Đây không phải là lần đầu các thế lực thù địch đưa những thông tin
xuyên tạc, sai sự thật về những chủ trương, quyết sách quan trọng của Đảng, Nhà
nước ta, mà chúng từng ngày, từng giờ thường xuyên chống phá trên không gian mạng.
Qua đó cho thấy, không bao giờ, không khi nào các thế lực thù địch từ bỏ âm mưu
chống phá cách mạng nước ta, đặc biệt là những chủ trương lớn, những vấn đề hệ
trọng của đất nước, thì chúng càng tìm mọi cách để chống phá quyết liệt.
Điển hình là trong thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, sắp xếp bộ
máy hành chính của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch nhận thấy đây là vấn
đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước, thu hút sự quan
tâm đặc biệt của người dân, nên chiêu trò quen thuộc của các thế lực thù
địch là đưa ra thông tin sai lệch để đánh tráo bản chất, khái niệm, bôi nhọ mục
đích, ý nghĩa công cuộc cải cách, tinh gọn bộ máy hành chính. Mục tiêu sâu xa của
các thế lực thù địch, phản động là gây mất ổn định chính trị, xã hội, mất lòng
tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước, châm ngòi dẫn tới rối loạn chính trị-xã
hội, khủng hoảng và sụp đổ, từ đó xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản,
xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta đã dày
công xây dựng.
Tinh gọn bộ máy là quy luật tất yếu của sự
phát triển
Thực tiễn đã chứng minh, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, Đảng ta
luôn xác định công tác tổ chức bộ máy là then chốt của then chốt, quyết định to
lớn tới sự phát triển của đất nước. Kể từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới,
Đảng ta càng xác định tầm quan trọng của việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của
hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Ngay từ Đại hội lần
thứ VI của Đảng, khi tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập
trung bao cấp sang nền kinh tế theo thể chế thị trường, Đảng ta đã xác định, đi
kèm với đổi mới kinh tế phải đổi mới bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước. Đảng đã
liên tục ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi
mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực,
hiệu quả.
Sau gần 40 năm đổi mới cho thấy, hệ thống chính trị của nước ta do Đảng
lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối, đã rất thành công trong tiến trình xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống
chính trị, chúng ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, được khẳng định bằng những kết quả cụ thể
trên nhiều lĩnh vực. Cụ thể, trong giai đoạn 2015- 2021, biên chế trong đơn vị
sự nghiệp công lập giảm 236.000 người (giảm 11,67%). Trong đó, các bộ, ngành giảm
hơn 40.000 người, các địa phương giảm hơn 196.000 người.
Tuy nhiên, việc thực hiện vẫn còn sức ì và bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại.
Bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển, là một trong những
nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn
cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai trên thực tế. Một trong
những lý do chính để tiến hành cải cách bộ máy hành chính là giảm bớt gánh nặng
cho ngân sách quốc gia. Theo số liệu từ Bộ Tài chính, ngân sách chi cho bộ máy
hành chính chiếm khoảng 70% tổng ngân sách chi tiêu thường xuyên của Nhà nước.
Do đó, hơn lúc nào hết, việc cải cách, tinh gọn bộ máy cần sự đột phá, với sự
vào cuộc quyết liệt, quyết tâm cao nhất chứ không thể thấy khó, thấy phức tạp rồi
để tình hình trì trệ kéo dài. Trong bài viết về hệ thống chính trị, Tổng Bí thư
Tô Lâm tiếp tục nêu ra quan điểm “Tinh-gọn-mạnh-hiệu năng-hiệu lực- hiệu quả”.
Quan điểm này đã trở thành kim chỉ nam quan trọng cho việc xây dựng một bộ
máy nhà nước tinh gọn, phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại. Đây không
chỉ là một định hướng cải cách hành chính, mà còn là trọng điểm chiến lược để tạo
dựng một hệ thống quản lý Nhà nước khoa học, minh bạch, tập trung vào giá trị
thực chất nhằm tạo nền tảng vững chắc cho việc giải phóng, phát triển lực lượng
sản xuất xã hội, tăng cường sức sống cho hệ thống quản lý điều hành đất nước,
đó là nguyên tắc quan trọng và cũng là điều kiện tiền đề cho việc phát triển
hơn nữa lao động, tri thức, kỹ thuật, công nghệ, nguồn vốn để không ngừng tạo
ra của cải phục vụ xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Qua đó cho thấy,
trong bối cảnh đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới, việc đổi mới, sắp xếp tổ
chức bộ máy của hệ thống chính trị đã trở thành một nhiệm vụ đặc biệt cấp bách,
tạo ra sự chủ động, sáng tạo, đột phá nhằm đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn,
đồng thời nâng cao năng lực quản lý và điều hành quốc gia, giảm mạnh chi phí
ngân sách nuôi bộ máy, dành nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Đây không chỉ đơn thuần là một bước cải cách hành chính đơn thuần, mà phù
hợp với quy luật phát triển chung của thời đại, thể hiện quyết tâm chính trị
sâu sắc, phản ánh trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong lãnh đạo đất nước
bước vào “kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình”, hiện thực hóa khát vọng hùng cường
của dân tộc.
“ Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân”
Là lời
trong bài "Đạo đức công dân" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng Báo Nhân
dân, số 320 ngày 15-1-1955; trong lúc đại đa số nhân dân ta hăng hái đóng góp
sức của, sức người, tự giác, tự động làm trọn nghĩa vụ của người chủ nước nhà
để khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại, xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc,
tích cực tham gia kháng chiến giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà; nhưng vẫn
còn một số người chỉ muốn hưởng quyền lợi mà không làm nghĩa vụ của mình đối
với Tổ quốc, thậm chí có người còn làm trái pháp luật (như tham ô, buôn gian,
lậu thuế, trộm cắp, lưu manh...).
Bài viết
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những biểu hiện tiêu cực, việc làm thiếu
trách nhiệm của một số công dân đối với Tổ quốc, với cộng đồng; Người nhắc nhở
các địa phương, các ngành phải quan tâm và sử dụng phương pháp giáo dục phù
hợp, giải thích cho quần chúng hiểu rõ địa vị cao quý của người làm chủ nước nhà,
nhất trí lợi ích chung của Nhà nước và lợi ích riêng của mỗi người, qua đó nêu
cao ý thức, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Tổ quốc, với cộng đồng.
Lời
của Người nhanh chóng được cấp ủy, chính quyền các địa phương trên toàn miền
Bắc quán triệt, hiện thực hóa thành các chương trình, kế hoạch hoạt động cụ
thể; tuyên truyền, giáo dục đạo đức công dân, vận động mọi người làm tròn bổn
phận của người dân làm chủ; thi đua với bộ đội và nhân dân miền Nam anh
dũng đang chiến đấu hy sinh xương máu để giải phóng dân tộc, thống nhất nước
nhà; hàng ngàn khẩu hiệu hành động ở các địa phương được nhân dân đồng thuận,
hưởng ứng tích cực; nhân dân bảo nhau, cùng nhau thực hiện nghiêm pháp luật Nhà
nước; tuân theo kỷ luật lao động; tự giác đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ hạn, tích
cực tham gia xây dựng lợi ích chung; hăng hái trong thực hiện công việc tập
thể; quan tâm bảo vệ tài sản của công, góp phần xây dựng hậu phương lớn miền
Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện cho chiến trường miền Nam giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước.
Lời
dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hiện nghĩa vụ và giữ vững đạo đức công
dân, tiếp tục được Đảng và Nhà nước ta nghiên cứu, vận dụng sáng tạo phù hợp
với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tạo
chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, làm cho mọi người
Việt Nam hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc; nêu cao
ý thức công dân tích cực đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn,
lạc hậu; chống các quan điểm hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến quá
trình xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người.
Trong
giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và sự nghiệp xây dựng Quân đội có
bước phát triển, đòi hỏi nghĩa vụ, trách nhiệm và đạo đức của người quân nhân
cách mạng phải tiếp tục được củng cố, tu dưỡng, rèn luyện; tập trung nâng cao
nhận thức và sự nhạy bén chính trị của cán bộ, chiến sĩ, xây dựng bản lĩnh
chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội; bồi
dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và nhân cách quân nhân, giữ vững,
phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, sẵn sàng nhận và hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Sưu tầm
Minh chứng sinh động phản bác mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc về vai trò lãnh đạo của Đảng
Đã trở thành thông lệ, lợi dụng những sự kiện chính trị quan
trọng của đất nước, trong dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam (3/2/1930 - 3/2/2025), hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, chống đối,
cơ hội chính trị lại diễn ra dưới nhiều hình thức tinh vi, nguy hiểm.
Âm mưu và những luận
điệu xuyên tạc trên không gian mạng
Thời gian qua, lợi dụng tình hình thế
giới có những diễn biến phức tạp, khó lường cùng những khó khăn của đất nước,
các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá cách mạng nước ta trên nhiều
hướng, đặc biệt trên môi trường mạng xã hội hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch coi đây là con đường ngắn nhất và
hiệu quả nhất để xóa bỏ mọi thành quả của cách mạng Việt Nam mà Đảng và nhân
dân ta đã dày công vun đắp, tạo dựng.
Qua đó, chúng xuyên tạc, phủ nhận vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi Đảng ta phải thoái lui, thực hiện
đa nguyên, đa đảng; cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tuy đã thành công trong
việc lãnh đạo giành lại độc lập dân tộc và xây dựng đất nước nhưng hiện nhiều
cán bộ cao cấp của Đảng thoái hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực cho nên Đảng
không còn là đội ngũ tiên phong để lãnh đạo đất nước nữa…
Các thế lực thù địch, phản động, phần
tử cơ hội chính trị tung ra các tài liệu chính danh, mạo danh hoặc nặc danh,
được ngụy biện dưới dạng thư kiến nghị, thư trao đổi, tâm thư, bản góp ý… nhằm
xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận thành
tựu phát triển của đất nước; thổi phồng những khuyết điểm, hạn chế trong việc
thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, trong
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Từ đó, chúng quy kết, đổ lỗi nguyên
nhân của những hạn chế, yếu kém là do thể chế chính trị, do Đảng, tạo cớ gây
sức ép đòi đổi mới thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng… Mặt
khác, chúng ra sức xuyên tạc, bịa đặt đời tư cá nhân, bôi nhọ thanh danh, uy
tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên không gian mạng.
Đồng thời, các thế lực thù địch, tổ
chức phản động còn đưa ra những luận điệu đơm đặt, xuyên tạc về việc Đảng ta
lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin làm nền tảng tư tưởng là sự lỗi thời, lạc hậu; từ đó
gây tâm lý hoài nghi, dao động, giảm sút niềm tin trong nhân dân, đặc biệt là
niềm tin vào vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Từ đó, chúng phủ nhận vai trò lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước, cho rằng Đảng không có vai trò
lãnh đạo Nhà nước, Đảng lãnh đạo Nhà nước là “Đảng đứng trên Nhà nước”, “bao
biện, làm thay, lấn quyền Nhà nước”; “Đảng đứng trên Hiến pháp và pháp luật”…
Khi không đạt được mục đích, chúng lại
quay sang hoạt động tuyên truyền các quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận
vai trò quản lý của Nhà nước, phủ nhận Nhà nước pháp quyền XHCN, phủ nhận vai
trò làm chủ của nhân dân, cho rằng nhân dân không thể làm chủ vì “Đảng độc
đoán, chuyên quyền, phi dân chủ”...
Những quan điểm, luận điểm nêu trên là
hết sức phi lý, phản khoa học, hoàn toàn không có cơ sở cả về lý luận và thực
tiễn, chứa đựng mâu thuẫn trong phân tích, đánh giá. Những luận điệu trên là
sai trái, thù địch, tạo nguy cơ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong
cán bộ, đảng viên và nhân dân, đòi hỏi phải nhận diện và đấu tranh ngăn chặn.
Thành quả to lớn khẳng
định vai trò lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam
Trong dòng chảy lịch sử hàng ngàn năm
của dân tộc từ khi ra đời tới nay là lịch sử dựng nước và giữ nước. Dựng nước
luôn luôn gắn chặt với giữ nước, trong đó dựng nước là yếu tố cơ bản. Phải xây
dựng được đất nước hùng mạnh về mọi mặt mới có điều kiện, khả năng chiến thắng
các thế lực thù địch và phải giữ được nước mới có điều kiện để xây dựng đất
nước. Vì vậy, ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta liên tiếp đứng
lên chống lại chúng.
Từ năm 1858 đến trước năm 1930, hàng
trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào chống Pháp đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng
khác nhau như khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, phong trào Cần
Vương, phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân; các cuộc khởi nghĩa
do Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học... lãnh đạo. Các cuộc khởi
nghĩa, phong trào đấu tranh đó vô cùng anh dũng, nhưng đã bị thực dân Pháp đàn
áp tàn bạo và đều thất bại.
Việc tìm một con đường cứu nước đúng
đắn, phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và thời đại là nhu cầu
bức thiết nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ. Sự đô hộ của thực dân Pháp gần một
thế kỷ đã chứng tỏ cả giai cấp phong kiến và đại diện cho các thế lực tư sản đã
hết vai trò lịch sử, vận mệnh của dân tộc và đất nước lâm vào tình thế bế tắc,
không có đường ra. Vấn đề bức thiết đặt ra lúc đó là bằng con đường nào, cách
thức nào, tổ chức lực lượng thế nào để đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc
lập dân tộc.
Vấn đề vô cùng bức thiết này đã được
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) đưa ra lời giải đáp.
Chính nhờ kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước trên cơ sở tiếp thu và vận
dụng sáng tạo những tinh hoa của triết học và văn hóa phương Đông và phương Tây
mà Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước (1911) và đã đến
với chủ nghĩa Mác - Lênin (1920). Con đường cứu nước đúng đắn đã được xác định,
đó là con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Trong suốt 30 năm đi tìm đường cứu
nước, Người đã nhận rõ con đường giành độc lập dân tộc phải là con đường cách
mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc đã gieo hạt, gây mầm và tạo dựng sự nghiệp cách
mạng Việt Nam. Với kỳ công của Người, đã kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với
phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam chuyển hóa thành một sự
kiện trọng đại: năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.
Từ khi xuất hiện trên vũ đài chính
trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ rõ là một đảng cách mạng chân chính nhất, có
sức hội tụ lớn nhất mọi sức mạnh của dân tộc, của giai cấp, sớm trở thành đội
tiên phong của giai cấp và của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc,
phong kiến.
Qua đó, Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng
tháng Tám năm 1945 thành công, đánh đuổi đế quốc, thực dân, lật đổ chế độ phong
kiến, lập ra nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; mở ra một kỷ nguyên mới
trong lịch sử dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH. Khi thực dân
Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, cả dân tộc Việt Nam đã nghe theo lời kêu gọi
của Đảng, của Bác Hồ, lên đường kháng chiến và cuối cùng đã giành được thắng
lợi to lớn, đánh thắng đế quốc xâm lược và lập lại hoà bình ở miền Bắc Việt
Nam.
Trong hoàn cảnh đất nước tạm bị chia
làm hai miền, Đảng đã lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành đồng thời hai cuộc
cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở
miền Nam. Khi Mỹ đưa quân vào xâm lược miền Nam, tiến hành chiến tranh cục bộ
đánh phá các căn cứ cách mạng ở miền Nam và mở rộng chiến tranh xâm lược ra
miền Bắc (1964), Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân hai miền
"đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất Tổ quốc (1975), Đảng ta còn tiếp tục lãnh đạo nhân dân chiến thắng
hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc
(1979), bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, đưa cả nước đi lên
CNXH.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với việc
đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, từ một nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung, Việt Nam đã chuyển sang cơ chế thị trường, chủ động, tích cực hội
nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Với việc lựa chọn con đường phát triển đúng
trọng tâm, phù hợp quy luật, từ một nước nông nghiệp, lạc hậu, nghèo nàn, quy
mô nền kinh tế nhỏ bé, Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ
năm 2008.
Năm 2024, tăng trưởng kinh tế của cả
nước đạt 7,09% GDP (vượt mức mục tiêu đề ra là 6 - 6,5% GDP), thuộc nhóm số ít
các nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới. Việt Nam đã có
quy mô nền kinh tế gần 500 tỉ USD, tăng gần 100 lần so với năm 1986, đứng thứ
tư Đông Nam Á và thứ 34 thế giới; giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam năm
2024 đạt 507 tỉ USD, xếp thứ 32/193, tăng 1 bậc so với năm 2023.
Theo báo cáo "Kinh tế số Đông Nam
Á năm 2024" do Google - Temasek công bố, năm 2024, quy mô nền kinh tế
internet Việt Nam đạt 36 tỉ USD, tăng 16% so với năm 2023. Thương mại điện tử
bán lẻ tiếp tục là trụ cột với 22 tỉ USD, tăng 18% và chiếm 61% tổng quy mô nền
kinh tế internet. Dự kiến, thương mại điện tử sẽ đạt 45 tỉ USD năm 2025. Đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện ước đạt 25,35 tỉ USD, tăng 9,4% so với năm
2023, đạt mức cao nhất từ trước tới nay.
Theo Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo
(GII) 2024 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Chỉ số đổi mới sáng tạo
của Việt Nam được xếp hạng 44/133 quốc gia, nền kinh tế, tăng 2 bậc so với năm
2023. Trong đó, đầu vào đổi mới sáng tạo tăng 4 bậc so với năm 2023, từ vị trí
57 lên 53; đầu ra đổi mới sáng tạo tăng 4 bậc so với năm 2023, từ vị trí 40 lên
36.
Theo Báo cáo khảo sát Chính phủ điện
tử năm 2024 của Liên hợp quốc, Việt Nam vươn lên vị trí thứ 71/193 quốc gia,
tăng 15 bậc so với năm 2022, đây là lần đầu tiên Việt Nam được xếp vào nhóm Chỉ
số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) ở mức rất cao và vươn lên vị trí xếp hạng
cao nhất kể từ khi bắt đầu tham gia đánh giá EGDI của Liên hợp quốc.
Dịp kỷ niệm Ngày thành lập Đảng hằng
năm luôn nhận được sự quan tâm, chúc mừng từ các chính đảng, tổ chức, bạn bè
quốc tế. Đây là minh chứng sinh động cho uy tín của Đảng ta và sự cảm phục đặc
biệt mà các quốc gia, chính đảng, nguyên thủ quốc gia trên thế giới dành cho
Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thiết lập quan hệ
với 247 chính đảng ở 111 quốc gia; trong đó 96 đảng Cộng sản, 63 đảng cầm
quyền, 28 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Đây là con số ấn
tượng, riêng có mà một chính đảng cầm quyền trên thế giới thiết lập nên.
Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Đảng Nhân dân
Campuchia Hun Sen, Bí thư Thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa
Cuba Miguel Díaz-Canel Bermúdez và Đại tướng Raúl Castro Ruz, Tổng Bí thư Đảng
Lao động Triều Tiên Kim Jong Un… đã gửi thư, điện chúc mừng tới Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam…
Trong bài trả lời phỏng vấn nhân dịp
năm mới Ất Tỵ 2025, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, kỷ nguyên vươn mình của dân
tộc là kỷ nguyên phát triển bứt phá, tăng tốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây
dựng thành công nước Việt Nam XHCN giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,
phồn vinh, hạnh phúc; đuổi kịp, tiến cùng, sánh vai với các cường quốc năm
châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu
chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công
nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước XHCN phát
triển, có thu nhập cao; mọi người dân đều được phát triển toàn diện, có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, văn minh.
Nhờ sự quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành
động quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng tiếp tục đóng góp quan trọng vào củng cố vững chắc môi trường hòa bình, ổn
định và cục diện đối ngoại rộng mở, thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội,
đời sống người dân được ấm no. Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được đảm
bảo, đồng thời tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước. Đó là thực
tiễn sống động về một Việt Nam vững mạnh và phát triển dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam hướng đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phản bác
những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.
Sưu tầm