Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2025

Bác Hồ với "Tết trồng cây"

 Tết Canh Tý năm 1960, trong không khí sôi nổi mừng Đảng, mừng xuân, sáng ngày 11/01/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng bào Thủ đô đã trồng cây ở Công viên Hồ Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống Nhất), mở đầu cho một phong trào mới tốt đẹp vào dịp Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc - Tết trồng cây.

Bác Hồ trồng cầy đa tại Công viên Thống nhất mở đầu Tết trồng cây do Người phát động (11/1/1960)

Trước đó, ngày 28/11/1959, hướng tới kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng và đón Tết cổ truyền của dân tộc, với bút danh Trần Lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân, chính thức khởi xướng, phát động phong trào Tết trồng cây. Người mong muốn đây là một trong các hoạt động thiết thực kỷ niệm Ngày thành lập Đảng vào dịp đầu xuân mới.

Bác viết hai câu thơ:

“Mùa xuân là Tết trồng cây,

Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”.

Bác khuyên khi mùa xuân tới, mỗi người nên trồng một cây xanh để góp phần làm cho quê hương, đất nước ngày càng tươi đẹp. Bác nói: Mùa xuân là Tết trồng cây không có nghĩa là mọi người chỉ trồng cây trong mấy ngày Tết mà trồng cây suốt cả mùa xuân. Bác gọi phong trào trồng cây là “Tết trồng cây” với hàm ý so sánh không khí náo nức tưng bừng của nó chẳng khác chi ngày Tết…

Cứ mỗi độ tết đến xuân về, Bác đi thăm và tham gia trồng cây với người dân.  Người đặc biệt lưu ý phải liên hệ chặt chẽ “Tết trồng cây” với kế hoạch trồng cây gây rừng. Người viết: “Có nơi nhầm cho rằng Tết trồng cây chỉ một đợt và một năm thôi, chứ không hiểu rằng Tết trồng cây cũng là một kế hoạch kinh tế lâu dài và liên tục…”, “Sở dĩ Tết trồng cây đã trở nên một phong trào quần chúng mạnh mẽ, là vì mọi người đều thấy lợi ích thiết thực và lâu dài của nó”. Trong bài viết cuối cùng của mình về Tết trồng cây ngày 05/02/1969, Bác nhắc tới “ích lợi to lớn cho kinh tế quốc phòng” của việc trồng cây gây rừng, và nhắc nhở “đồng bào các địa phương phải biến đồi trọc thành vườn cây”.

Ngày mùng một Tết Kỷ Dậu (16/02/1969), Bác trồng một cây đa trên đồi cây xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây  

Ngày mùng một Tết Kỷ Dậu (16/02/1969), trong mùa xuân cuối cùng của cuộc đời, Bác đã tự tay trồng một cây đa trên đồi cây xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Trong bản Di Chúc mà Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, Bác Hồ cũng không quên nhắc nhở nhân dân ta phải tiếp tục công việc trồng cây gây rừng: “Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây hoa làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho công nghiệp”.

Có thể thấy, những lời căn dặn của Người về “Tết trồng cây” là bài học lớn của Bác để lại cho thế hệ sau về cách sống gần gũi với thiên nhiên, bảo vệ tài nguyên môi trường, về phát triển bền vững, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhưng phải luôn giữ được màu xanh cây cỏ, vì chất lượng cuộc sống của người dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã đi xa, đất trời đã bước vào nhiều mùa xuân mới. Tết trồng cây đã trở thành một truyền thống tốt đẹp được nhân dân ta gìn giữ và phát triển. Phong trào trồng cây, gây rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc luôn được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ra sức hưởng ứng bằng nhiều hành động cụ thể, mang lại hiệu quả thiết thực. Các cơ quan, đơn vị, địa phương đã vận động cán bộ, đảng viên, nhân dân, thanh niên, học sinh hưởng ứng bằng việc tham gia trồng cây nơi công sở, trường học, nhà văn hóa thôn… góp phần làm đẹp cảnh quan, tạo môi trường sống ngày càng xanh, sạch, đẹp./.


Nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực


 Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Tổng Bí thư lưu ý, năm 2025 có ý nghĩa quan trọng quyết định việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và tổ chức Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Với vị trí, vai trò là cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng về lĩnh vực nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và cải cách tư pháp, ngành Nội chính Đảng và Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cấp tỉnh phải tham mưu cho Đảng lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiên quyết không để lọt vào cấp ủy khóa mới những cán bộ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Tổng Bí thư yêu cầu, tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu, đề xuất những quan điểm, chủ trương, định hướng lớn của Đảng về nội chính, về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và cải cách tư pháp. Nhất là, tập trung nghiên cứu, tham mưu, đề xuất hoàn thiện và nâng cao chất lượng dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng bộ các cấp và dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Tham mưu, chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung, khắc phục những sơ hở, bất cập, tháo gỡ nút thắt, điểm nghẽn về thể chế, pháp luật nói chung và trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nói riêng, tạo động lực mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tham mưu tổ chức tốt Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, đánh giá toàn diện những kết quả, hạn chế và nguyên nhân, dự báo đúng tình hình, đề ra các nhiệm vụ, giải pháp mạnh mẽ, đột phá, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đáp ứng yêu cầu giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phương Hoa/TTXVN 

Tổng Bí thư nhấn mạnh, tập trung tham mưu, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, tạo chuyển biến mạnh mẽ, đột phá công tác phòng, chống lãng phí trong toàn xã hội. Ngành Nội chính Đảng và Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cấp tỉnh tham mưu, chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra các lĩnh vực, địa bàn và cán bộ lãnh đạo các cấp có nhiều thông tin, dư luận về tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; điều tra, xử lý dứt và điểm các vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận quan tâm, nhất là các vụ án, vụ việc liên quan đến nhân sự các. Đồng thời, tham mưu, chỉ đạo nâng cao hơn nữa hiệu quả các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, với phương châm phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài, phát hiện, xử lý là trọng tâm, đột phá; kịp thời nhắc nhở, cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm từ sớm, từ xa, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Phối hợp làm tốt công tác thẩm định nhân sự phục vụ Đại hội Đảng các cấp; kiên quyết không để lọt vào cấp ủy khóa mới những cán bộ suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, kê khai tài sản không trung thực, để người nhà, người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn trục lợi.

Tổng Bí thư chỉ rõ, tăng cường và nâng cao hơn nữa hiệu quả phối hợp “hiệp đồng tác chiến” giữa các cơ quan nội chính; chủ động theo dõi, nắm tình hình, kịp thời tham mưu, đề xuất Bộ Chính trị, Ban Bí thư và tỉnh ủy, thành ủy lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời các vấn đề phức tạp, nổi lên về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Nhất là tham mưu, chỉ đạo làm tốt công tác tiếp dân, đối thoại với dân, lắng nghe và giải quyết tốt các tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; giải quyết dứt điểm, thấu lý, đạt tình các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân ngay từ cơ sở; xử lý dứt điểm các vụ, việc khiếu kiện đông người, phức tạp, kéo dài, không để phát sinh "điểm nóng", bị động, bất ngờ.

 Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Tổng Bí thư yêu cầu, khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, tinh gọn bộ máy theo đúng kế hoạch của Ban Chỉ đạo về tổng kết Nghị quyết 18 của Trung ương; tăng cường các biện pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải thật sự bản lĩnh "Chắc - Sắc - Đắc" (Pháp luật chắc, nghiệp vụ sắc, đắc nhân tâm). Các Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cấp tỉnh cần khẩn trương sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ theo Quy định 199-QĐ/TW, ngày 20/11/2024 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; bổ sung, hoàn thiện quy chế, quy trình làm việc, duy trì nền nếp chế độ sinh hoạt, không ngừng đổi mới, nâng cao hiệu hoạt động.

Tổng Bí thư đề nghị, các tỉnh ủy, thành ủy tiếp tục quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy, có cơ chế thu hút cán bộ để ban nội chính tỉnh ủy, thành ủy thực hiện ngày càng có hiệu quả hơn nữa chức năng, nhiệm vụ được giao./.

Nghệ thuật quân sự trong cuộc Tổng tiến công và nổi dâỵ Xuân Mậu thân

 Về nghệ thuật quân sự, đây là bước phát triển mới trong học thuyết và kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam. Sự phát triển này được thể hiện ở một số nét đặc sắc như sau:

Về mặt chỉ đạo chiến lược, chúng ta đã phát hiện đúng chỗ sơ hở nhất của địch tại thời điểm mà binh lực của chúng đang ở đỉnh cao chót vót với hơn 50 vạn quân Mỹ và gần 1,2 triệu quân ngụy-chỗ sơ hở đó chính là đô thị. Cùng một lúc chúng ta thực hiện đòn tổng tiến công và nổi dậy ở 4 thành phố lớn, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn, 4 bộ tư lệnh quân đoàn, hầu hết các bộ tư lệnh sư đoàn, 30 sân bay và gần 100 căn cứ của quân Mỹ và ngụy quân Sài Gòn trên khắp miền Nam.

Lần đầu tiên trong lịch sử quân sự thế giới xuất hiện loại hình tiến công kiểu này nên bộ máy điều hành chiến tranh của Mỹ không thể nào lường định được. Chúng hoàn toàn bị bất ngờ về chiến lược vì Quân giải phóng miền Nam đã đưa được chiến tranh vào các đô thị, quân Mỹ và ngụy quân Sài Gòn bị đánh một đòn đau ở chính nơi mà chúng cho là an toàn nhất.

Đặc sắc nghệ thuật quân sự trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968
Quân giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu 

Ngay từ đầu, các cơ quan chỉ đạo chiến lược đã xác định 3 trọng điểm của cuộc tổng tiến công và nổi dậy: Sài Gòn, Huế và Đà Nẵng, trong đó Sài Gòn-Gia Định là hướng chiến lược chủ yếu. Sự chỉ đạo chiến lược sắc sảo đó đã tạo được yếu tố bất ngờ và tăng sức cộng hưởng cho đòn tổng tiến công. Chúng ta không chỉ tạo được yếu tố bất ngờ về hướng tiến công và mục tiêu tiến công (đô thị, các cơ quan đầu não chiến tranh, các căn cứ quan trọng của địch) mà còn tạo được sự bất ngờ về thời điểm, đó là cuộc tiến công đồng loạt mở màn vào đúng đêm giao thừa, lúc mà đối phương lơ là mất cảnh giác và có nhiều sơ hở nhất.

Để tạo được yếu tố bất ngờ, dưới sự chỉ đạo, chỉ huy chặt chẽ của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, các cơ quan Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền, bộ tư lệnh các quân khu, các đơn vị, địa phương đã phải vượt qua rất nhiều khó khăn, trở ngại, giải quyết nhiều vấn đề lớn trong quá trình chuẩn bị. Quá trình quán triệt ý định và kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy cho các chiến trường bảo đảm bí mật tuyệt đối. Trên cơ sở thế trận "3 vùng" được chuẩn bị từ trước, các hướng, các mũi tiến hành công tác chuẩn bị tiến công vào các đô thị trên quy mô lớn nhưng không gây ra xáo trộn nhiều. Có thể nói, tạo được yếu tố bất ngờ về chiến lược và chiến dịch là một thành công về nghệ thuật chỉ đạo và tổ chức chỉ huy của ta trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Lúc bấy giờ, cả tướng Westmoreland và cơ quan tình báo của Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV) đều thừa nhận là "không có ai dự kiến được quy mô các cuộc tiến công vào các thành phố, thị xã trên cả miền Nam" và "không ai phán đoán được ngày tiến công lại là mồng Một Tết". Giới quân sự Mỹ và ngụy quân Sài Gòn đều thừa nhận rằng, vũ khí mạnh nhất của "cuộc tiến công Tết" chính là sự bất ngờ.

Để tiến công vào các đô thị, ta chủ trương thu hút, căng mỏng lực lượng quân địch trên khắp các chiến trường; kéo quân chủ lực, đặc biệt là quân Mỹ ra các chiến trường do ta lựa chọn nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực và giam chân chúng, tạo điều kiện cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy ở các đô thị. Đây vừa là đòn nghi binh chiến lược nhưng đồng thời cũng là một hướng tiến công của bộ đội chủ lực. Bằng đòn nghi binh chiến lược sắc sảo này, ta đã thu hút và giam chân 17/33 lữ đoàn thiện chiến của Mỹ tại Khe Sanh trong suốt thời gian ta đồng loạt tiến công vào các đô thị trên khắp miền Nam. Cả tướng Westmoreland và MACV ném 2/3 lực lượng quân Mỹ ra Khe Sanh và chờ đợi mãi một "Điện Biên Phủ" tại đây, song không thấy mà lại phải chứng kiến một "Điện Biên Phủ kiểu mới" ngay tại các đô thị trên khắp miền Nam.

Một trong những nét đặc sắc nữa về nghệ thuật quân sự trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 chính là cách đánh. Điều này được thể hiện rất rõ không chỉ trong quá trình tiếp cận mục tiêu, tổ chức đột phá, thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu đầu não, đánh địch phản kích. Để có thể tiếp cận áp sát các mục tiêu, lực lượng đột kích (chủ yếu là lực lượng tinh nhuệ đặc công, biệt động) không chỉ thọc sâu luồn lách mà còn đột phá liên tục qua nhiều khu vực, nhiều trọng điểm nguy hiểm.

Cách đánh tập kích đồng loạt các mục tiêu quan trọng chủ yếu trong đô thị bằng lực lượng tinh nhuệ (trong đợt 1) là cách đánh rất hay, rất hiểm; sử dụng lực lượng nhỏ mà tác động lớn. Cách đánh này đã gây nên cú sốc cho quân địch, tạo nên sự bị động trong bộ máy chỉ huy, gây hoang mang, rối loạn trong binh lính địch.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 dẫu còn có những hạn chế như Nghị quyết 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 1973 đã chỉ rõ: Đề ra yêu cầu quá cao, đánh giá tình hình chưa sát nên sau đợt 1, khi mà yếu tố bí mật, bất ngờ không còn, địch đã gượng dậy nhưng ta vẫn tiếp tục bị hút vào đô thị tiếp tục đợt 2, đợt 3, để bỏ lỏng vùng ven và nông thôn...; song xét một cách toàn cục thì đây vẫn là một chiến thắng rất to lớn, có ý nghĩa chiến lược. Trong cuộc tổng tiến công này, ta đã đánh đúng và trúng vào các cơ quan đầu não chiến tranh của địch; thu hút và vây hãm một bộ phận lớn quân Mỹ nhiều ngày ở thung lũng Khe Sanh; đồng thời tiến công quân địch khắp vùng nông thôn rộng lớn ở miền Nam. Ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ", buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán ở Paris.

Về mặt nghệ thuật quân sự, có thể thấy chúng ta đã phát hiện được chỗ sơ hở nhất của kẻ địch để phát động cuộc tổng tiến công; chúng ta đã tạo được yếu tố bất ngờ: Bất ngờ về thời gian, bất ngờ về mục tiêu và bất ngờ về quy mô. Chúng ta đã tổ chức đòn nghi binh sắc sảo và hiệu quả; quy mô và phạm vi tiến công rất rộng lớn nhưng về cơ bản vẫn bảo đảm giữ được bí mật. Chúng ta biết lựa chọn cách đánh độc đáo và hiểm; đặc biệt là có nhiều sáng tạo về tác chiến trong đô thị. Ta sử dụng lực lượng không nhiều nhưng tinh nhuệ để tiến công các mục tiêu trong đô thị. Cách sử dụng lực lượng này vừa mang lại hiệu quả chiến đấu cao, vừa gây được chấn động mạnh... Đó chính là những nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

BÁC BỎ MỌI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

 Thời gian gần đây, khi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2025) cũng như Trung ương ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết và kết luận quan trọng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trên một số trang mạng xã hội phản động lập tức xuất hiện nhiều bài viết, bài bình luận, hình ảnh cắt ghép với nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối và những thành tựu trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần tỉnh táo, nhận diện chính xác, đấu tranh hiệu quả, kịp thời để bác bỏ mọi luận điệu sai trái.


1. Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”; hay công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Việt Nam “là cây đã chết từ gốc” và “Đảng đã mục từ cơ sở chứ không bền vững như Tuyên giáo tuyên truyền”.


Hơn nữa, vốn là một công việc bình thường trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vậy mà mỗi khi Đảng ta kỷ luật cán bộ vi phạm, trên một số đài, báo nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC, RFA, RFI, VOA... và các trang mạng xã hội phản động, nhất là tổ chức Việt Tân, xuyên tạc rằng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam là “thanh trừng phe phái” hay “tính hiệu quả không thể cao khi người dân đứng ngoài cuộc chiến chống suy thoái”. Chúng cho rằng việc xử lý cán bộ vi phạm để “tăng cường quyền lực cho khối nội chính, tuyệt đối hóa quyền lực của Đảng”… Cùng với đó, trước một số hạn chế, yếu kém, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, các thế lực thù địch coi đây là cái cớ không gì thuyết phục hơn để xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.


Những luận điệu cố tình xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam thời gian qua xuất phát từ âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của các thế lực thù địch. Mục đích cuối cùng là làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Do đó, hơn lúc nào hết, chúng ta cần tỉnh táo, nhận diện chính xác, đấu tranh hiệu quả, kịp thời để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc.


2. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài của một đảng cách mạng chân chính. Sinh thời, V.I.Lênin khẳng định: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”. Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: “Một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Quán triệt tinh thần ấy, không phải đến bây giờ mà trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta thường xuyên chú trọng đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đó là nhiệm vụ then chốt, đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta và chế độ.


Trong mỗi giai đoạn, thời kỳ, căn cứ vào đặc điểm, bối cảnh, yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nhiệm vụ trọng tâm khác nhau. Nếu như trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, xây dựng, chỉnh đốn Đảng tập trung chủ yếu vào nhiệm vụ hoạch định đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo; thống nhất tư tưởng và hành động, chống ngả nghiêng, dao động trước khó khăn, khi đối mặt nguy cơ sinh tử, mất - còn; củng cố lòng tin, nâng cao ý chí, tăng cường quyết tâm kháng chiến..., thì trong hòa bình xây dựng đất nước, xây dựng, chỉnh đốn Đảng tập trung vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ để Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới; đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực...


Đặc biệt, trong gần 40 năm đổi mới, Đảng đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, kết luận về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VI “Về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, bảo đảm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VII “Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Kết luận số 21-KL/TƯ, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”".


Từ thực tiễn trên có thể khẳng định, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là vì “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, chứ không như các thế lực thù địch tuyên truyền.


Tuy nhiên, thực tiễn chỉ rõ, Đảng là một tổ chức của những con người ưu tú, tiền phong, song nếu thiếu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt thì rất dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân, sa vào thực dụng, quan liêu, tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm và các biểu hiện tiêu cực, suy thoái khác. Vì thế, trong tổ chức của những người con ưu tú đó vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thiếu gương mẫu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói không đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước, vướng vòng lao lý, đã bị khai trừ khỏi Đảng…


Những thành tựu trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cả những hạn chế luôn được chỉ ra rất cụ thể trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng; nhất là trong các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, XII, XIII, khi bàn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong thông báo và kết luận các phiên họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương… Trong đó, thành tựu vẫn là cơ bản. Vì thế, việc các thế lực thù địch chỉ nhìn vào một số hạn chế mà bỏ qua thành tựu, cố ý quy kết công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Việt Nam “là cây đã chết từ gốc” và “Đảng đã mục từ cơ sở chứ không bền vững như Tuyên giáo tuyên truyền” là thiển cận, không khách quan, xuyên tạc bản chất vấn đề nhằm bôi đen Đảng nói chung, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói riêng.


3. Thời gian tới, để nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới, một trong những nhiệm vụ quan quan trọng là phải tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; lấy kết quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng làm cơ sở để đấu tranh phản bác lại những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Đạt được yêu cầu này, cần thực hiện tốt những giải pháp:


Một là, xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải kiên định, vận dụng sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam; đồng thời, phải gắn kết chặt chẽ, hài hòa, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm giữa xây dựng với chỉnh đốn; trong đó, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách.


Hai là, xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và nhân dân; phải được tiến hành một cách kiên quyết, kiên trì, có bước đi, phương pháp phù hợp, lộ trình cụ thể, không nóng vội. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải toàn diện, đồng bộ, triệt để, thường xuyên không ngừng nghỉ về các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ.


Ba là, phải thường xuyên đấu tranh phản bác lại những quan điểm sai trái, thù địch về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng Cộng sản Việt Nam mãi trường tồn cùng dân tộc. Bởi lịch sử 95 năm xây dựng và phát triển của Đảng đã khẳng định một chân lý: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


St Dịu Đào

Phòng, chống diễn biến hòa bình: Đừng nghe đồn thổi!

- Đến nhà ông Tám chơi, thấy cậu Hạnh, con trai ông làm nghề lái xe taxi vẫn đang nằm trùm chăn trên giường, anh Tĩnh ngạc nhiên hỏi:

- Cậu Hạnh ốm à bác Tám?

- Không! Em nó vẫn khỏe. Nhưng nó bảo bây giờ chạy xe ra đường tiền công không đủ tiền nộp phạt vì có thông tư gì đó mới ban hành, mức phạt rất cao, mà các biển báo, đèn tín hiệu giao thông trên đường lại cố tình “bẫy” lái xe. Vì thế cánh tài xế dịch vụ nghỉ hết rồi.

- Làm gì có chuyện đó. Cháu thấy xe dịch vụ vẫn chạy bình thường mà. Chỉ khác là việc chấp hành luật lệ giao thông của lái xe tốt hơn thôi.

Nghe anh Tĩnh nói vậy, Hạnh bật dậy, cắt ngang:

- Anh nhìn cuộc sống lúc nào chẳng màu hồng. Phải chịu khó lên các trang mạng xã hội để nghe cánh tài xế phản ánh thì mới hiểu được.

- Anh cũng hay vào các diễn đàn và biết rằng, thi thoảng có tuyến đường, có biển báo chưa hợp lý, còn bất cập, nhưng đó chỉ là cá biệt. Các cơ quan chức năng tiếp thu phản ánh đều kiểm tra, khắc phục. Đặc biệt, lực lượng chức năng chỉ xử phạt tài xế cố tình vi phạm...

- Thế anh có thấy ở đâu mà mức phạt lại cao như ở nước mình không?

Hạnh cố tranh luận. Anh Tĩnh vẫn điềm đạm:

- Mỗi quốc gia có đặc thù, quan điểm khác nhau. Em phải thấy rằng, trước đây, các cơ quan chức năng chủ yếu tuyên truyền, giáo dục, có xử phạt nhưng mức phạt nhẹ nên nhiều tài xế “nhờn” luật. Thành ra, bao năm rồi mà giao thông vẫn lộn xộn, số vụ tai nạn vẫn cao, nhiều vụ tai nạn đau lòng xảy ra do lái xe không tuân thủ luật giao thông. Chính vì vậy, anh ủng hộ việc nâng cao mức xử phạt để răn đe với các trường hợp cố tình vi phạm. Em để ý xem, từ khi nghị định mới ra đời, tình trạng vi phạm giao thông, số vụ tai nạn cũng giảm hẳn.

Thấy Hạnh im lặng, anh Tĩnh giọng chân thành:

- Em làm nghề lái xe dịch vụ, vì vậy, phải có cái nhìn khách quan. Mình cứ chấp hành nghiêm túc, chủ động tuân thủ thì không phải lo ngại gì. Trên mạng giờ phức tạp lắm. Người góp ý chân thành, mang tính xây dựng có, nhưng không ít người lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, chống phá, gây hoang mang dư luận. Nếu không tỉnh táo, em sẽ chẳng dám làm gì cả. Mà đang tuổi thanh niên, chẳng lẽ cứ nằm ở nhà ăn bám bố mẹ sao?

Ông Tám nghe anh Tĩnh nói vậy cũng khuyên:

- Anh Tĩnh nói đúng đấy. Mình cứ tuân thủ nghiêm, sống văn minh thì chẳng phải lo ngại gì đâu. Còn những câu chuyện cá biệt kia, bố tin sẽ được khắc phục, giải quyết dứt điểm thôi.

- Vâng! Con cám ơn bố. Em cám ơn anh Tĩnh. Giờ con ăn sáng rồi lại đi làm luôn đây ạ.

Sưu tầm

THAY ĐỔI TƯ DUY - THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI

 1. Ngày nọ, có một nhà bác học ngồi thuyền ngắm cảnh. Nhà bác học hỏi anh phu chèo thuyền: “Này anh phu, anh được học kiến thức về sinh vật học không?”. Anh phu đáp: “Tôi không”. “Thế là anh phí mất1/4 cuộc đời rồi” – Nhà bác học nói. 

Một lúc sau, ông ta lại hỏi: “Anh có hiểu triết học không?”. “Tôi không”. “Thế thì anh lại phí mất 1/4 cuộc đời nữa rồi”. Được một lúc, nhà bác học lại hỏi: “Thế anh có tìm hiểu khoa học không?”. Anh phu vẫn trả lời: “Tôi không”. 

Đúng lúc này đ ột nhiên trời đổ mưa to, phong ba b ão t áp nổi lên, nhưng con sóng d ữ d ằn đ ập vào mạn thuyền. Anh phu quay lại hỏi nhà bác học: “Ông có biết bơi không?”. “Tôi không” - nhà bác học đáp. “Thế thì ông sắp m ất cả cuộc đời rồi đấy”.

Bài học: “Quý hồ tinh bất quý hồ đa”, có những khi biết trăm ngón nghề không bằng chỉ tinh thông một kĩ năng.


2. Một phu nhân nhà quyền quý nọ sở hữu một chiếc bình hoa cổ rất đẹp. Bà ta thích nó đến nỗi muốn sơn lại phòng mình cho giống màu chiếc bình hoa. Thế nhưng dù bà ta đã thuê về rất nhiều thợ sơn nổi tiếng thì vẫn không ai trong số họ có thể chế ra màu sơn giống hệt màu bình. 

Giữa lúc ấy, có một người đến xin gặp phu nhân kia và tự tin nói rằng mình có thể sơn lại phòng đúng như bà ta muốn. Kết quả là anh ta thực sự đã tạo ra được màu sơn y hệt màu của chiếc bình, khiến cho vị phu nhân vô cùng vui sướng và quyết định trọng thưởng hậu hĩnh. Lúc anh ta về nhà, cậu con trai tò mò hỏi chuyện:

- Bố làm thế nào mà tài thế?

- Có gì đâu. - Anh ta thản nhiên đáp. - Bố sơn lại luôn cả chiếc bình.

Bài học: Có những việc sẽ đơn giản hơn rất nhiều nếu bạn chịu thay đổi góc nhìn.


3. Hai người bước vào nhà hàng dùng bữa tối. Đang lúc họ định gọi món thì người phục vụ nhắc khéo: “Thưa quý khách, nhà hàng chúng tôi chỉ phục vụ với mức thanh toán từ hai triệu đồng trở lên thôi ạ”. 

Nghe xong, một trong hai người liền nói: “Được! Thế ở đây một đĩa đậu phụ gi á bao nhiêu?”. “Dạ, 30 nghìn đồng, thưa quý khách”. “Được, thế cho 70 đĩa đậu phụ ra đây”. Nhân viên phục vụ ghi xong liền đi m ất. Một lúc sau, quản lý nhà hàng đi tới, cười xuề xòa nói với hai vị khách nọ: “Thưa quý khách, quý khách cứ thoải mái gọi món đi ạ. Bao nhiêu tiền cũng được, không có giới hạn tối thiểu tối đa gì hết!”

Bài học: Chỉ có người dám hành động khác thường mới có thể ph á v ỡ quy tắc thông thường.


(St) 

“Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành”

Trong Bài nói chuyện tại Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh, Bác Hồ đã chỉ rõ: “… Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm.

Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân”. Bài nói được đăng trên Báo Cứu quốc, số 136, cách đây tròn 72 năm, trong bối cảnh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời, đang đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức lớn, đặt ra yêu cầu đối với Đảng ta phải củng cố, xây dựng, phát huy cao độ vai trò các tổ chức, các lực lượng, nhất là vai trò gương mẫu, đi đầu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kháng chiến, kiến quốc.

Lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉnh huấn, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ trong các trường quân sự của Đảng, Nhà nước phải gương mẫu đi đầu trong hành động, tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, gắn bó giúp nhân dân, chống mọi biểu hiện: Nói nhiều, nói suông; nói không đi đôi với làm, đoàn kết chiến đấu chống “thù trong, giặc ngoài”, bảo vệ thành quả cách mạng. Thấm nhuần lời dạy của Người, ngay từ đầu năm 1946, Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh và các trường quân sự đã được lãnh đạo, chỉ huy trong các nhà trường quân đội quán triệt sâu sắc, chuyển hóa thành kế hoạch hành động cách mạng, thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo cán bộ quân sự đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cách mạng.

Hiện tại, lời năm xưa của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các nhà trường quân đội nghiên cứu học tập, vận dụng sáng tạo vào giáo dục-đào tạo, với phương châm gắn nhà trường với đơn vị; lý luận với thực hành, lấy thực hành làm chính; nêu cao vai trò gương mẫu của đội ngũ giảng viên, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ sĩ quan quân đội vừa "hồng", vừa "chuyên", đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

Sưu tầm

“Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn…..”

Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài Ba mươi năm hoạt động của Đảng: “…Các tầng lớp tiểu tư sản tuy là sôi nổi, nhưng tư tưởng bế tắc, không có đường ra. Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”, đăng trên Báo Nhân dân, số 2120, ngày 6-1-1960. Bài báo ra đời trong thời điểm Đảng ta tròn 30 tuổi, đang lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đẩy nhanh hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học lớn tổng kết lịch sử, khẳng định Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng tỏ rõ là lực lượng đại biểu cho trí tuệ, ý chí của giai cấp công nhân, nhân dân Việt Nam: dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam.

Lời của Người là nguồn ánh sáng chiếu rọi khắp mọi miền đất nước, được mọi cán bộ, đảng viên của Đảng trân trọng đón nhận, tạo động lực tinh thần thi đua học tập nâng cao bản lĩnh cách mạng, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nêu cao chủ nghĩa yêu nước, gắn bó đoàn kết cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện; không ngừng củng cố tăng cường bản chất giai cấp công nhân, nâng cao bản lĩnh chính trị, phát huy truyền thống dân tộc, gắn bó mấu thịt với nhân dân, anh dũng, kiên cường, chiến đấu sáng tạo, cùng toàn dân đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Trong tình hình mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn thấm nhuần lời Bác năm xưa, thường xuyên quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về tăng cường bản chất giai cấp công nhân trong Quân đội, giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, bảo đảm cho Quân đội thực sự là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén, trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng.

Sưu tầm

LÃNG PHÍ LÀ MỘT THỨ “GIẶC Ở TRONG LÒNG”

 Tại cuộc tiếp xúc cử tri các quận Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa (Hà Nội) sau khi kết thúc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết Ban Chấp hành Trung ương đã vạch ra một số nhiệm vụ cấp bách.


Những nhiệm vụ cấp bách được Tổng Bí thư nêu cụ thể như: Tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế để phát triển, đẩy mạnh các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống của nhân dân; tăng cường chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc...


Trong số những nhiệm vụ cấp bách này, công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được đẩy mạnh trong suốt nhiều năm qua, nay được tăng cường thêm nội dung chống lãng phí. Đây là chủ trương mới, được Bộ Chính trị cụ thể trong việc ban hành Quyết định số 192-QĐ/TW, ngày 29/10/2024, kiện toàn Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng lãng phí, tiêu cực. 

Cùng ngày ký ban hành Quyết định số 192-QĐ/TW, Bộ Chính trị còn ký ban hành Quy định số 191-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo, thay thế Quy định số 32-QĐ/TW, ngày 16/9/2021.


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng phòng, chống lãng phí. Người căn dặn: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”. Người chỉ rõ: “Tham ô có hại nhưng lãng phí có khi còn hại nhiều hơn: Nó tai hại hơn tham ô vì lãng phí rất phổ biến...”; “Lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ. Có khi tai hại hơn nạn tham ô”. 


Chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh: “Phải quý trọng của công: Tất cả cái ăn, cái mặc, cái dùng của các cô, các chú là mồ hôi nước mắt của đồng bào. Phải tiết kiệm, giữ gìn, không được lãng phí”; “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ “giặc ở trong lòng””. 


Từ khi công cuộc đổi mới được tiến hành cho đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, kết luận về phòng, chống lãng phí. Thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X ban hành Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 1998; Quốc hội đã thông qua Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 và năm 2013; Hiến pháp năm 2013 quy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế - xã hội và quản lý nhà nước”.


Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng chỉ rõ: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí... chưa có chuyển biến rõ rệt... phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế... Tham nhũng, lãng phí... vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp... ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội”. 


Tuy nhiên, khách quan đánh giá, dù đã đạt được những kết quả quan trọng nhưng việc chống lãng phí thời gian qua vẫn chưa như kỳ vọng, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của tình hình mới. Tình trạng lãng phí còn diễn ra khá phổ biến, dưới nhiều hình thức, trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, địa phương, dù nước ta vẫn đang ở nhóm các nước có thu nhập trung bình chưa cao, người dân chưa giàu. Lãng phí thực sự đã làm suy giảm nguồn lực của đất nước, thất thoát tài nguyên, kìm hãm sự phát triển... Vì vậy, Tổng Bí thư Tô Lâm từng có bài viết quan trọng “Chống lãng phí”.


Trong bài viết này, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh 4 nhóm giải pháp để thực hiện, gồm: Thống nhất nhận thức đấu tranh phòng, chống lãng phí là cuộc chiến chống “giặc nội xâm” đầy cam go, phức tạp, là một phần của cuộc đấu tranh giai cấp, có vị trí tương đương với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tập trung hoàn thiện và tổ chức triển khai có hiệu quả thể chế phòng, chống lãng phí, xử lý nghiêm các cá nhân, tập thể có hành vi, việc làm gây thất thoát, lãng phí tài sản công; tập trung giải quyết triệt để các nguyên nhân dẫn đến lãng phí tài sản công, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực chăm lo nhân dân và phát triển đất nước; xây dựng văn hóa phòng, chống lãng phí, đưa thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trở thành “tự giác”, “tự nguyện”...


Nói chống lãng phí là đề cập đến tất cả mọi lĩnh vực, ở tất cả mọi cấp ngành, là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị nhưng không phải là chống lãng phí chung chung mà phải cụ thể và trọng tâm trước hết chính là chống lãng phí trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công. Vì thế, khi chủ trì cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vào ngày 30/10/2024, trong vai trò là Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nói rõ: “Dứt khoát phải có địa chỉ chịu trách nhiệm, vì đây là tài sản của Nhà nước, là tiền của nhân dân. Trước mắt, rà soát, xử lý dứt điểm tồn tại kéo dài đối với những dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm, dự án hiệu quả thấp, gây thất thoát, lãng phí lớn”.


Tổng Bí Thư Tô Lâm cũng khẳng định cùng với chủ trương tiếp tục tiến hành quyết liệt, triệt để việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thì việc chống lãng phí là “công tác này làm không ngừng nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ để tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, thực sự là bộ máy của dân, do dân, vì dân; công chức, viên chức phải thực sự là công bộc của dân”. 


Đất nước đang bước vào một năm mới đặc biệt quan trọng - năm bản lề quyết tâm bứt phá, tăng tốc hoàn thành chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2026, tạo tiền đề để đất nước vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc ngay sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (dự kiến tổ chức vào quý I/2026). Vì thế, ngay sau khi được công bố, thông lệnh về việc phòng, chống lãng phí đã nhanh chóng tạo được cảm hứng mới cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.


Trước đó, tại Phiên họp thứ 27, tổ chức ngày 31/12/2024, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã đề ra 5 nhiệm vụ quan trọng phải thực hiện, trong đó có việc triển khai quyết liệt, toàn diện, tạo chuyển biến mới, đột phá trong công tác phòng, chống lãng phí cả ở Trung ương và địa phương; khẩn trương chỉ đạo hoàn thành việc rà soát và có giải pháp giải quyết dứt điểm các công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, hiệu quả thấp, gây thất thoát, lãng phí lớn nguồn lực nhà nước, xã hội, mà trước hết là các dự án đầu tư xây dựng cơ sở 2 Bệnh viện Bạch Mai và cơ sở 2 Bệnh viện Việt Đức; Dự án giải quyết ngập do triều khu vực TP Hồ Chí Minh; các dự án điện năng lượng tái tạo đã xây dựng nhưng chưa được kết nối, vận hành...


Theo thông tin từ Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương Đặng Văn Dũng thì tại phiên họp này, Tổng Bí thư Tô Lâm - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã yêu cầu phải tiến hành thanh tra dự án Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 và Bệnh viện Việt Đức cơ sở 2 tại Hà Nam, có kết luận thanh tra trước ngày 31/3/2025, sau đó triển khai ngay các biện pháp để đưa 2 bệnh viện này vào sử dụng, không thể kéo dài hơn nữa.


Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trong một công điện ký vào đầu tháng 11/2024 cũng đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng, dừng thi công gây lãng phí nguồn lực, trong đó có cơ sở 2 Bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức... Ngay đầu năm mới, ngày 8/1/2025, Thanh tra Chính phủ đã công bố quyết định thanh tra dự án Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 và Bệnh viện Việt Đức cơ sở 2 tại Hà Nam. 


Dự án này khởi công xây dựng vào cuối năm 2014, có quy mô 1.000 giường/bệnh viện; diện tích 100.000 m2 sàn/bệnh viện, tổng mức đầu tư gần 5.000 tỉ đồng/bệnh viện và được kỳ vọng sẽ là 2 bệnh viện hiện đại lớn nhất từ trước đến nay được xây dựng. Đây cũng là lần đầu tiên nước ta có bệnh viện được xây dựng và vận hành theo tiêu chuẩn quốc tế. 


4 năm sau ngày khởi công, khu khám bệnh của cả 2 cơ sở này đã được khánh thành vào tháng 10/2018. Tuy nhiên, sau đó chỉ có khu khám bệnh của Bệnh viện Bạch Mai được đưa vào sử dụng đến tháng 3/2020 rồi thông báo tạm thời dừng hoạt động; Bệnh viện Việt Đức cơ sở 2 chỉ dừng lại ở cắt băng khánh thành và chưa từng tiếp nhận bệnh nhân. Chính vì thế, tại một số kỳ họp Quốc hội, nhiều đại biểu đã phát biểu ý kiến cho rằng không thể để các công trình lãng phí “trơ gan cùng tuế nguyệt”, kiến nghị sớm đưa dự án Bệnh viện Việt Đức và Bạch Mai cơ sở 2 vào sử dụng.

Dự án Bệnh viện Việt Đức và Bạch Mai cơ sở 2 chỉ là một minh chứng điển hình của việc thể hiện tinh thần quyết liệt chống lãng phí.


Trên thực tế, hàng loạt vụ việc khác cũng đã được triển khai với tinh thần quyết liệt như thế, đúng như tinh thần mà Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu là phải làm cho việc thực hành liêm chính, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực “trở thành làm “tự giác”, “tự nguyện”, “như cơm ăn, nước uống, áo mặc hằng ngày”. Phải khuyến khích cán bộ, đảng viên, nhân dân tăng cường thực hành tiết kiệm, tạo thói quen quý trọng thời gian làm việc, tiền bạc, tài sản của Nhà nước, công sức của nhân dân. Tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ở địa phương, cở sở theo phương châm phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải từ cơ sở, từ chi bộ./.

St Dịu Đào

SỨC MẠNH TRƯỜNG TỒN CỦA ĐẢNG LÀ NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN

Niềm tin của nhân dân đối với Đảng là niềm tin khoa học, được thực tiễn thử thách, rèn đúc mà nên. Đảng ta xác định niềm tin của nhân dân đối với Đảng là tài sản vô giá, là nhân tố làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.


Điểm tựa của niềm tin


Lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam cho thấy, khi nào “vua sáng, tôi hiền”, trên dưới “hòa mục”; vua quan tâm đến dân, lấy dân làm gốc, thực thi chính sách “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”… thì khi ấy vương triều được dân tin, nước nhà vững mạnh. Khi lòng dân đã tin theo thì “xã tắc yên như núi Thái Sơn, cơ đồ vững như bàn thạch”. Trái lại, khi nào triều chính nhiễu nhương, gian thần lộng hành, ăn chơi sa đọa, tham lam vơ vét, coi thường dân chúng... Nghĩa là khi “chính sự phiền hà”, “để trong nước lòng dân oán hận” thì khi đó vương triều đã không được lòng dân, đánh mất niềm tin nơi dân và tất yếu vận nước lâm nguy.


Ví như, dù nhà Hồ có thành cao, hào sâu, quân đông đến trăm vạn mà “lòng dân không theo”, nên không chỉ đại bại trước quân Minh xâm lược, mà cơ nghiệp cũng mất, xã tắc cũng chẳng còn như lời của Tả tướng Hồ Nguyên Trừng đã chỉ ra. Thấm thía bài học thất bại của nhà Hồ, Nguyễn Trãi không chỉ lấy đó làm răn cho sự nghiệp gây dựng, mở mang nhà Hậu Lê, mà còn đúc kết thành bài học sâu sắc: “Lật thuyền mới biết sức dân như nước”.


Khắc ghi những lời dặn của cha ông và thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã lấy mục tiêu vì dân, vì nước mà chiến đấu hy sinh. Do vậy, Đảng đã khẳng định được uy tín, niềm tin trong nhân dân, xứng đáng với truyền thống con cháu Rồng - Tiên; đã trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng và được nhân dân thừa nhận.


95 năm sự nghiệp cách mạng Việt Nam đã chứng minh một chân lý, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền không phải tự nhiên mà có, không phải tự nhận mà được, càng không phải được do tranh cử như các đảng cầm quyền ở nhiều nước mà nên. Sự cầm quyền, lãnh đạo của Đảng ta là do có đường lối chính trị đúng đắn, bản lĩnh chính trị kiên cường; là kết quả của cả quá trình Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên đã nêu gương chiến đấu hy sinh, nếm mật nằm gai để chứng tỏ được uy tín, niềm tin của mình đối với nhân dân và được nhân dân thừa nhận.


Thực tiễn những thành quả mà Đảng đem lại, được người dân thấu hiểu chỉ có Đảng lãnh đạo, đất nước ta mới giành được độc lập dân tộc, dân ta mới thật sự được tự do, mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta, đã tạo nên dấu ấn, một niềm tin mãnh liệt trong nhân dân. Đó là niềm tin khoa học và cách mạng của nhân dân vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đạt được những thành tựu rực rỡ, đưa đất nước ta vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.


Không mơ hồ, khoan nhượng với “thứ giặc” làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng


Một bài học đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, đó là: “Càng gần thắng lợi thì càng gặp nhiều khó khăn”. Soi chiếu bài học đó vào công cuộc đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới hiện nay cũng vậy. Khi đất nước càng đạt được những kỳ tích trong sự nghiệp đổi mới, Việt Nam phát triển và lớn mạnh không ngừng, được cả thế giới ngưỡng mộ… thì cả giặc “nội xâm” và “ngoại xâm” dưới những biểu hiện mới lại xuất hiện với tính chất gay go, phức tạp và nguy hiểm hơn. Nếu bản lĩnh không vững vàng, nhận thức không đúng đắn sẽ dẫn đến mất niềm tin và bị kẻ địch lợi dụng thì sự nghiệp cách mạng của Đảng, thành quả của nhân dân, cơ đồ của đất nước và chế độ sẽ trở nên nguy cấp.


Đó là tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực lại nảy sinh từ một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống. Họ không giữ mình được trong sạch trước những “viên đạn bọc đường”, nên đã sa vào chủ nghĩa cá nhân. Hệ quả đề cao lợi ích cá nhân nên đã không chỉ gây nên những thiệt hại kinh tế, xã hội, mà còn là nguyên nhân của sự giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng.


Điều lo lắng hơn hết là những thông tin, vụ việc nổi cộm khó tránh khỏi những bàn tán, dư luận nhiều chiều, gây tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhất là đối với công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng. Và nguy hại hơn là những vụ việc này luôn bị các thế lực thù địch, cơ hội chính trị “chộp lấy”, “té nước theo mưa” để thổi phồng, xuyên tạc, bôi nhọ sự lãnh đạo của Đảng, hòng mục đích gây xói mòn niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Đây thực sự là những cơn “sóng dữ”, liên tiếp tác động vào niềm tin của nhân dân.


Nếu mỗi người dân thiếu tỉnh táo, không nhận rõ các “thứ giặc” cố tình chia rẽ Đảng với nhân dân, không “vững tay chèo” vượt qua “thác ghềnh” thì niềm tin sẽ bị giảm sút, nguy hiểm hơn là “mất niềm tin”. Nếu vậy, thì những mục tiêu mà Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đề ra sẽ không thể đạt được và đó sẽ là cơ sở để các thế lực thù địch lợi dụng triệt để chống phá, mà bài học xương máu về sự thiếu tỉnh táo, bình tĩnh trong xử lý của nhân dân đã gây nên sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vẫn còn nguyên giá trị với mỗi người dân và cả dân tộc ta hiện nay.


Quyết tâm giữ vững niềm tin của nhân dân với Đảng


Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó dự báo; trong nước, bên cạnh những thành tựu đạt được của công cuộc đổi mới, Đảng, nhân dân ta đang đứng trước nguy cơ lớn là tình trạng quan liêu, xa rời nhân dân; một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, tham nhũng, tiêu cực gây bất bình trong xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng; các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này tìm đủ mọi chiêu trò phá hoại, công kích hòng gây chia rẽ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng.  


Giải pháp quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa sống còn đối với công tác xây dựng Đảng và củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng là phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; Đảng xứng đáng là người lãnh đạo, đại biểu trung thành cho lợi ích của toàn thể dân tộc.


Thực tiễn cho thấy, việc xây dựng chỉnh đốn Đảng, chỉnh huấn Đảng là nhiệm vụ then chốt, trọng yếu thường xuyên qua từng thời kỳ cách mạng với những mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp thực hiện khác nhau. Đảng ta nhận thức rất rõ vai trò quan trọng, to lớn của nhân dân, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong toàn hệ thống chính trị, ở mọi cấp, ngành, địa phương, đơn vị để tổ chức triển khai thực hiện trong thực tế.


Sắp xếp tổ chức bộ máy, nhất là đối với các cơ quan Trung ương tinh, gọn, mạnh, hiệu quả với phương châm “Trung ương làm gương - Địa phương hưởng ứng”; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng.


Xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân. Mỗi cán bộ, đảng viên là một tấm gương nói đi đôi với làm, thân dân và trọng dân. Người cán bộ, đảng viên thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ của nhân dân. Gần dân là để học dân, nghe dân nói, đó là phương châm của người cán bộ, đảng viên. Gần dân sẽ tránh được căn bệnh quan liêu, hách dịch, mệnh lệnh, lắng nghe tâm tư, ý kiến của dân. Từ đó xây dựng tinh thần đoàn kết, đồng thuận để mọi người dân chung sức, đồng lòng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước với kết quả cao nhất…


Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Cơ chế đó phải quy định trách nhiệm cụ thể của tổ chức Đảng các cấp, của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chủ trì, chủ chốt cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc dựa vào dân để xây dựng Đảng. Tổ chức cho nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng và của địa phương, thực hiện tốt phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng”. Mỗi người dân là một chiến sĩ, xung kích, đấu tranh với các tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch là cách thể hiện niềm tin của mình với Đảng, với tương lai của mình và tiền đồ tươi sáng của dân tộc.


Vấn đề quan trọng là, phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ tham nhũng, tiêu cực là căn bệnh nguy hiểm, là “giặc nội xâm”, gây bất bình, mất niềm tin trong nhân dân, đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Do đó, cần kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, với quyết tâm chính trị cao nhất, mạnh mẽ, quyết liệt, triệt để và hiệu quả hơn nữa. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần cảnh giác hơn nữa, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; chủ động đấu tranh phòng ngừa, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...


Lịch sử dân tộc đã chứng minh, những lúc vận mệnh dân tộc “ngàn cân treo sợi tóc”, cảnh đất nước bị chia cắt, kẻ thù hung bạo bủa vây bốn phía hay trong lúc sự nghiệp đổi mới vừa mới đơm hoa, kết trái thì chủ nghĩa xã hội ở các nước trên thế giới và ở nước ta bị uy hiếp nghiêm trọng… mà dân ta vẫn một lòng sắt son với Đảng, đồng lòng hướng theo ngọn cờ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và chủ nghĩa xã hội. Vậy nên, khi cơ đồ, thế và lực của nước ta ngày nay đã lớn mạnh hơn gấp nhiều lần thì tất yếu niềm tin vào Đảng không thể bị chuyển lay.

St Dịu Đào