Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2025

Bằng chứng sinh động phủ nhận sự xuyên tạc của các thế lực thù địch “Đảng không vì hạnh phúc của nhân dân”

 Sau gần 40 năm đổi mới, các tầng lớp nhân dân tràn đầy niềm tin tưởng và lạc quan bởi những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được. Điều đó chứng tỏ bản lĩnh, năng lực và uy tín của Đảng đã in sâu vào trái tim, khối óc nhân dân.

Mục tiêu “tất cả vì hạnh phúc của nhân dân” luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đó cũng là bằng chứng sinh động phủ nhận mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì hạnh phúc của nhân dân”.

1. Hạnh phúc là mục tiêu phấn đấu chung của nhân loại tiến bộ hiện nay. Xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc là ước mơ ngàn đời của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cội nguồn hạnh phúc của nhân dân là đất nước được độc lập, tự do, hòa bình, cùng những điều bình dị mà nhân dân cần có, đó là cơm ăn, áo mặc, có nhà để ở, được học hành, được làm chủ vận mệnh của mình và làm chủ xã hội.

Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định phải lấy việc xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân làm mục tiêu hàng đầu của Đảng. Ngay từ ngày đầu thành lập, Đảng ta chỉ rõ, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới “đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”. Rõ ràng, mục tiêu của Đảng luôn gắn liền với mục tiêu giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Bằng chứng sinh động phủ nhận sự xuyên tạc của các thế lực thù địch “Đảng không vì hạnh phúc của nhân dân”
Ảnh minh họa: vietnamnet.vn 

 

Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa nhân dân ta lên vị thế chủ nhân của đất nước, làm chủ vận mệnh của mình, được hưởng các quyền con người, quyền tự do, công bằng. Hướng tới lợi ích của nhân dân, lấy nguyện vọng và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu lâu dài đã trở thành nhân tố quyết định quy tụ sức mạnh toàn dân tộc. Trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, sức mạnh của tinh thần đoàn kết dân tộc, từ nội lực nhân dân đã làm nên một Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” và đại thắng mùa xuân năm 1975 đưa non sông thu về một mối. Khi Đảng, Nhà nước quan tâm chăm lo đời sống nhân dân thì dù “khó vạn lần dân liệu cũng xong” và khi Đảng, Nhà nước chăm lo hạnh phúc của nhân dân thì sẽ luôn được nhân dân đồng tình, ủng hộ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Quá trình đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN), Đảng ta luôn xác định “lấy nhân dân là chủ thể, trung tâm”, “lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, nhu cầu của nhân dân; xác định nhân dân chính là nguồn lực, động lực chủ yếu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng yêu cầu phải giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh, khả năng sáng tạo của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đã có nhiều nghị quyết được ban hành, nhiều chiến lược phát triển kinh tế-xã hội được hoạch định ở nhiều thời điểm khác nhau, các chương trình quốc gia hỗ trợ giảm nghèo, phát triển kinh tế và an sinh xã hội được nỗ lực thực hiện, tạo ra những chuyển biến căn bản trong xã hội và trong đời sống của nhân dân.

Sau gần 40 năm đổi mới đất nước, kinh tế-xã hội nước ta có nhiều khởi sắc. Với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm, tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300USD năm 2023, Việt Nam đang tiến tới trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu thiên niên kỷ. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam thuộc nhóm trung bình cao của thế giới. Từ năm 1990 đến 2022, giá trị HDI của Việt Nam nâng từ 0,492 lên 0,726, tăng gần 50%. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đã đạt hơn 470 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93% (theo chuẩn đa chiều) so với mức 60% năm 1986. 

2. Tuy nhiên, mỗi bước tiến trong quá trình xây dựng hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam vẫn còn những khó khăn, trở ngại. Một trong những lực cản, đó là các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tìm cách chống phá. Họ xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới. Với luận điệu hết sức trắng trợn, họ cho rằng, phải thay đổi đường lối xây dựng đất nước thì Việt Nam mới phát triển, người dân mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Thời gian qua, các đối tượng chống phá cố tình “đổi trắng thay đen” những tiến bộ và kỳ tích trong xóa đói, giảm nghèo đã được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế ghi nhận. Họ còn rêu rao rằng khoảng cách giàu nghèo cách biệt là do cán bộ, đảng viên tham nhũng, vơ vét tài sản của dân. Họ cố tình thổi phồng những khuyết điểm, hạn chế trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước để quy kết Đảng chỉ biết lo cho mình mà không vì hạnh phúc của nhân dân.

Những luận điệu xuyên tạc đó nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân ta và phá hủy niềm tin của nhân dân vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn.

3. Để công cuộc xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, mang lại hạnh phúc cho nhân dân được hiện thực hóa trong đời sống, điều có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là phải kiên trì thực hiện tốt quan điểm “dân là gốc”, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. 

Các cấp, các ngành, các địa phương cần phải nhận thức sâu sắc, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm Đại hội XIII của Đảng đã đúc kết được, trong đó có bài học “lấy dân làm gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho nên mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN, vì chỉ có CNXH mới bảo đảm hạnh phúc lâu dài cho nhân dân.

Mục tiêu cao cả, tối thượng của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì hạnh phúc của nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần tuyệt đối trung thành với con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn và hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Cán bộ, đảng viên luôn nêu cao tinh thần cách mạng, rèn đức luyện tài, không ngừng trau dồi đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phấn đấu trở thành người cán bộ vừa "hồng", vừa "chuyên". Trong bài viết “Rạng rỡ Việt Nam” nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2) vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu các cấp ủy đảng cần đề cao trách nhiệm nêu gương, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, kịp thời giải quyết những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội; đồng thời phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, bảo đảm Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo trung thành với lợi ích của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Giải pháp căn cơ là bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; coi trọng nhân tố con người, phát huy tiềm năng, sức mạnh, năng lực sáng tạo của con người trong phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân. Trong từng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế phải luôn gắn với chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, xuất phát từ lợi ích thiết thực của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động của nhân dân. Xây dựng các chính sách xã hội phù hợp, kiểm soát sự phân hóa giàu nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc; bảo đảm phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân để không ai bị bỏ lại phía sau; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, gắn nâng cao chất lượng cuộc sống với hạnh phúc của nhân dân.

Đại hội XIII của Đảng xác định: Phấn đấu đến năm 2030, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, theo định hướng XHCN. Khát vọng phát triển đất nước “cường thịnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” không phải là viển vông mà hoàn toàn có cơ sở khoa học, được thực tiễn đúc kết, kiểm nghiệm trong các hoạt động, lao động sáng tạo của nhân dân, bằng chính sự đoàn kết, chung sức đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Trong suốt 95 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu phấn đấu, là cội nguồn làm nên sức sống, sự trường tồn của Đảng. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát ở nước ta là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”. Không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Một chế độ chính trị-xã hội tốt đẹp như vậy chính là môi trường, điều kiện thuận lợi để nhân dân yên tâm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm đem sức lực, tài năng, trí tuệ của mình đóng góp vào sự nghiệp chung của đất nước.

Sau gần 40 năm đổi mới, các tầng lớp nhân dân tràn đầy niềm tin tưởng và lạc quan bởi những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được. Điều đó chứng tỏ bản lĩnh, năng lực và uy tín của Đảng đã in sâu vào trái tim, khối óc nhân dân. Tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và trong tương lai, mục tiêu “tất cả vì hạnh phúc của nhân dân” tiếp tục là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng CNXH. Đây là bằng chứng sinh động phủ nhận mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì hạnh phúc của nhân dân”.

Thượng tá ĐOÀN THỊ LUYẾN, Phó chủ nhiệm Khoa Khoa học xã hội và nhân văn, Trường Sĩ quan Phòng hóa, Binh chủng Hóa học

 PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG, TINH GỌN TỔ CHỨC BỘ MÁY THEO NGHỊ QUYẾT 18-NQ/TW CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XII

Chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị với quan điểm “Tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” dưới sự chỉ đạo của Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm nhận được sự quan tâm, đồng tình ủng hộ, ý chí, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị và đông đảo quần chúng nhân dân. Thế nhưng, như thường lệ, trước, trong và sau khi diễn ra nhưng sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các thế lực thù địch luôn lợi dụng triệt để không gian mạng để tuyên truyền những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch về chủ trương tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta. Bởi vậy, cần nhận diện rõ bản chất, kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những luận điệu, quan điểm sai trái, phản động, những thông tin xấu độc làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước và lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện tư tưởng nhất quán, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác cán bộ và cán bộ. Người luôn khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, do vậy, “Công tác cán bộ phải có vai trò quyết định trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng vừa chuyên”.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và cán bộ, Đảng ta đã luôn quan tâm đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Văn kiện Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Đảng ta đã xác định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”. Điều đó có nghĩa là, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt thì công tác cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, then chốt của then chốt.
Nhận thức rõ tầm quan trọng đặc biệt của công tác cán bộ, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến đổi mới công tác cán bộ và kiểm soát thực thi quyền lực trong công tác cán bộ, đặc biệt coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; trong đó, công tác tổ chức bộ máy là then chốt của then chốt, quyết định to lớn đến sự phát triển của đất nước. Đây chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất đưa Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành người cầm lái vĩ đại, người thuyền trưởng tài ba chèo lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi ghềnh thác, gặt hái được những thắng lợi kỳ tích vẻ vang trên con đường vinh quang đi lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, từ khi đất nước ta bước và thời kỳ đổi mới, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta đã xác định nhiệm vụ quan trọng song hành cần làm ngay là kết hợp đổi mới cơ chế kinh tế đồng thời với đổi mới bộ máy quản lý Nhà nước. Trong suốt 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã nhiều lần ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả, xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực ngang tầm nhiệm vụ, biên chế tổ chức hợp lý, chuẩn hóa các vị trí chức danh cán bộ.
Những năm qua, chủ trương tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước triển khai đồng bộ, mạnh mẽ, được đa số cán bộ đảng viên đồng tình hưởng ứng và đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tiến bộ đó, với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá khách quan và toàn diện, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Nhận thấy rõ vấn đề này, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã có nhiều bài phát biểu, bài viết phân tích rõ thực trạng công tác cán bộ, tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay.
Đặc biệt, ngày 5-11-2024, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài viết quan trọng: “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, trong đó, người đứng đầu Đảng ta đã thẳng thắn chỉ rõ: Việc đổi mới công tác cán bộ vẫn chưa có đột phá lớn; nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chưa đầy đủ và sâu sắc, quyết tâm chưa cao; tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhiều cơ quan, bộ phận còn trùng lắp, chồng chéo, tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa gắn với nâng cao chất lượng, nhất là chi phí vận hành hệ thống tổ chức quá lớn, chiếm tới 70% tổng ngân sách chi tiêu thường xuyên của Nhà nước… Đây là nguyên nhân dẫn đến tệ tham ô, tham nhũng, gây thất thoát, lãng phí rất lớn nguồn lực xã hội, làm giảm nguồn lực cho đầu tư phát triển và nhiều hệ lụy tiêu cực khác, những hạn chế bất cập này nếu không giải quyết triệt để sẽ là lực cản to lớn kìm hãm quá trình đổi mới, phát triển đất nước.
Từ việc phân tích rõ thực trạng hạn chế, bất cập còn tồn tại, Tổng Bí thư Tô Lâm đã một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng, tính tất yếu phải đẩy mạnh sắp xếp, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo quan điểm bảo đảm “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, xác định đây là nhiệm vụ chính trị hệ trọng, yêu cầu cả hệ thống chính trị phải tập trung giải quyết. Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Hiện nay đã là thời điểm, thời cơ; là sự cấp thiết, là đòi hỏi tất yếu khách quan cho cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị để bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả hay chưa? Câu trả lời là: Không thể chậm trễ hơn được nữa”.
Như vậy, tinh gọn bộ máy giờ đây đã trở thành mệnh lệnh tất yếu của cuộc sống. Nói một cách dung dị và dễ hiểu như đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm là “Nhẹ để cất cánh”, hay như các bậc tiền nhân thì “Thà ít mà tốt”. Rõ ràng, quan điểm “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” và sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư Tô Lâm, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị đã cho thấy quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng, Nhà nước ta. Cần khẳng định rằng, chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy đã đạt được sự thống nhất tuyệt đối cả về nhận thức và hành động, nhận được sự đồng tình ủng hộ cao của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, thực tiễn đó đã khẳng định chân lý: Đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, kịp thời, tiến bộ, nhân văn, khách quan và khoa học, bởi nó đáp ứng được đòi hỏi bức thiết của thực tiễn cuộc sống và hội tụ đầy đủ “Ý chí của Đảng - Nguyện vọng của nhân dân”, dựa trên cơ sở vận dụng thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Do vậy, tại thời điểm này, việc đẩy mạnh cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo quan điểm bảo đảm “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” hoàn toàn không phải là một chủ trương mới của Đảng, mà là phương thức tiến hành mới trên cơ sở tổng kết, tiếp nối, kế thừa, bổ sung và phát triển các quan điểm của các kỳ Đại hội trước đây của Đảng ta cho phù hợp với thực tiễn sinh động của đất nước và bối cảnh thế giới, vận dụng sáng tạo và giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, nhằm hướng tới mục tiêu tối thượng, vô cùng nhân văn và cao đẹp là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giảm chi phí nuôi bộ máy, ưu tiên nguồn lực cho phát triển đất nước, phục vụ nhân dân, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Ấy vậy mà, lợi dụng việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết liệt triển khai thực hiện chủ trương tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” nhằm chuẩn bị tốt về mọi mặt để đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng vào đầu năm 2026, tạo điều kiện thuận lợi để đất nước vững tin bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, một số đối tượng có tư tưởng thù địch, chống đối vẫn cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật, tung tin bịa đặt, đánh tráo khái niệm, đưa ra những quan điểm không đồng thuận, phản biện vô nguyên tắc, phản đối gay gắt chủ trương, quan điểm của Đảng, gây hoang mang, hoài nghi trong dư luận, với âm mưu phá hoại thành quả cách mạng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng và Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Các thế lực thù địch, chống đối lợi dụng việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo kết thúc hoạt động của một số bộ, ban, ngành cấp Trung ương do không còn phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới, nhằm khắc phục sự chồng lấn, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ giữa một số bộ, ban, ngành ở Trung ương, đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội để bóp méo, xuyên tạc bản chất chủ trương, quan điểm đúng đắn của Đảng ta. Chúng xảo biện cho rằng, “chủ trương tinh gọn chỉ là hình thức bề ngoài, thực chất vẫn chỉ là bình mới rượu cũ, tạo cơ hội chạy ghế, chạy chức, gây tốn kém tiền của của nhân dân”. Ấu trĩ đến nực cười, chúng thậm chí còn dựng lên thuyết âm mưu “tranh giành quyền lực, đấu đá nội bộ, hạ bệ đối thủ”, rêu rao rằng “tinh giản chẳng qua chỉ là cách hợp thức hóa để hạ bệ hoặc gia cố quyền lực trong hệ thống chính trị”. Một số cá nhân có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta lại cho rằng, “đây là cơ hội để quân đội giảm quân”, “kết thúc nhiệm vụ của nhiều quân, binh chủng, lực lượng không còn phù hợp”, “giảm tiền đóng thuế của dân để ưu tiên cho phát triển đất nước”.
Họ cho rằng, hiện nay ở Việt Nam, diễn biến hòa bình đã kết thúc, “không còn đối tượng tác chiến” vì “Việt Nam đã nhích lại gần phương Tây”, “đã thân thiện với các nhà tư sản khi một số nước phương Tây đã là đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam” và “Việt Nam muốn làm bạn với họ”… Từ đó họ tung tin: “Lãnh đạo Việt Nam đã mở rộng cửa để tiếp nhận công nghệ, đồng đô-la và các chuyên gia phương Tây vào Việt Nam”, “Tổng Bí thư và Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đang khẩn thiết mời chào các nhà tư bản phương Tây vào Việt Nam để đầu tư, phát triển”… do đó, “giảm quân, kết thúc hoạt động của một số cơ quan, đơn vị quân đội là yêu cầu cấp bách hiện nay”.
Đây là những luận điệu vu cáo, cố tình bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, gây ra sự nhiễu loạn về thông tin, làm gia tăng các biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ cán bộ, đảng viên, tạo ra khoảng trống về ý thức hệ, hòng làm phai nhạt dần lý tưởng cách mạng vô sản và bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội, gieo rắc hạt giống hệ tư tưởng phi vô sản có cơ hội nảy mầm trong đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, hướng lái dư luận theo mục đích và ý đồ đen tối, âm mưu vô cùng thâm độc của các thế lực thù địch là phủ nhận “diễn biến hòa bình” và đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam, tuyệt đối hóa sức mạnh kinh tế, ảo tưởng và tung hô tới mức thần thánh hóa sự trợ giúp của các nước phương Tây; từ xem nhẹ vai trò quân đội rồi tiến tới “phi chính trị hóa quân đội”, tách lực lượng vũ trang ra khỏi sự lãnh đạo trực tiếp và tuyệt đối của Đảng, vô hiệu hóa sức mạnh của “thanh bảo kiếm” - tấm khiên bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân.
Đảng mất đi chỗ dựa vững chắc, kẻ thù càng dễ bề thao túng, khi đó, đồng thời một mũi tên chúng có thể đánh trúng hai mục tiêu: Phi chính trị hóa quân đội và phi xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là biểu hiện rõ nhất của tư duy phi logic, siêu hình và tư tưởng phản động, chống phá vô cùng nguy hiểm, cần nhận diện làm rõ bản chất và kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn “chiến thắng không cần chiến tranh”, sử dụng biện pháp phi vũ trang để chống phá, nhằm tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Tinh gọn bộ máy, giảm biên chế là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, thể hiện sự thống nhất cao độ và quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng và Nhà nước ta, với mục đích rất rõ ràng, tiến bộ, nhân văn, cao đẹp, không hề có chuyện “làm cho có”, làm vì động cơ “tranh giành, đấu đá”... như các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc vì ý đồ, động cơ đen tối.
Xét về bản chất, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm là cuộc cách mạng nhân lực, nhằm cải cách toàn diện tổ chức bộ máy, góp phần “cởi trói” cho lực lượng sản xuất, giải phóng sức sản xuất, tạo điều kiện khai thác và phát huy tối đa nguồn lực con người - yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất, tạo “lực đẩy” để đất nước ta tiến vào kỷ nguyên cất cánh, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Mục tiêu của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy lần này là nhằm tạo ra bước đệm, tạo thế và lực để cả dân tộc chuyển mình, bứt phá mạnh mẽ, cùng hướng tới thực hiện mục tiêu cao cả, vĩ đại của dân tộc: Xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sớm sánh vai với các cường quốc năm châu như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Dẫu biết rằng, chẳng có con đường nào trải bước trên hoa hồng, đặc biệt là cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy lần này có liên quan chặt chẽ tới vấn đề lợi ích, quan hệ lợi ích; cải cách và đổi mới chẳng bao giờ là đơn giản, sẽ luôn gặp những trở lực, cách mạng nào cũng đòi hỏi phải có sự dũng cảm, thử thách và hy sinh của những người cộng sản chân chính, nhưng “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, chúng ta hoàn toàn có cơ sở khách quan và khoa học để khẳng định và tin tưởng rằng: Dưới sự lãnh đạo tài tình, trí tuệ và đạo đức của Đảng ta, sự vào cuộc đầy trách nhiệm và quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đoàn kết một lòng của cả dân tộc - trăm triệu người như một, cuộc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” tất sẽ thành công./.

Giữ gìn danh dự của người đảng viên

 Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, “danh dự” luôn là điều cao quý, thiêng liêng nhất. Danh dự không phải tự nhiên có được, cũng không phải “từ trên trời sa xuống” mà được hình thành từ quá trình tu dưỡng đạo đức cách mạng, tôi rèn qua “lửa đỏ và nước lạnh”. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải giữ cho được tư cách, đạo đức, danh dự của người đảng viên, người cán bộ cách mạng, đồng thời yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ vững “liêm sỉ” và “danh dự” của người cách mạng. Với mỗi người cán bộ, đảng viên, hai từ “danh dự” luôn là điều cao quý, thiêng liêng nhất.

Điều thiêng liêng của người đảng viên

Danh dự là một trong những phẩm chất cao quý của mỗi con người. Đó là nền tảng đạo đức của con người chân chính. Danh dự có ý nghĩa rất lớn thúc đẩy con người làm điều thiện, điều tốt, ngừa điều ác, điều xấu. Người xưa trọng danh dự như mạng sống, thậm chí còn hơn cả mạng sống vì danh dự là điều còn mãi. Đối với người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, liêm sỉ, danh dự lại càng phải được coi trọng hàng đầu.

Theo V.I. Lênin: Lý tưởng đạo đức cao quý nhất của người cộng sản, của đạo đức cộng sản luôn gắn bó với lý tưởng chính trị, là động lực thúc đẩy lý tưởng chính trị trở thành hiện thực cách mạng xã hội chủ nghĩa. Lênin đặc biệt nhấn mạnh: Mỗi cán bộ, đảng viên nếu không tự bôi nhọ đạo đức, thanh danh của mình thì không ai có thể hạ thấp được uy tín của họ.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người lãnh đạo phải biết trọng danh dự, giữ liêm sỉ, không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”. Thấm nhuần tư tưởng của Người, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh: Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cần khắc cốt, ghi tâm những lời dạy của Bác, phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực.

Nhìn vào thực tiễn cách mạng của dân tộc ta, đã chứng minh rất rõ điều này, để giữ danh dự, uy tín của Đảng, hàng vạn đảng viên dù phải chịu đòn tra tấn cực hình của kẻ thù, nếm mật nằm gai, đói rét, đau đớn về thể xác, đày đọa về tinh thần nhưng vẫn kiên trung, một lòng với Đảng, với Tổ quốc và dân tộc, cho đến hôm nay, mỗi khi nhắc lại, chúng ta vẫn thầm cảm phục.

Đó là các đảng viên kiên trung trên các con tàu không số, khi bị giặc bắt, moi gan, mổ bụng vẫn đinh ninh “lời thề  sắt son với Đảng” không để con đường bị lộ. Là hình ảnh những chiến sĩ tình báo, bị quân thù cưa chân 4 lần, chặt hết 10 đầu ngón tay, lòng vẫn vững vàng như sắt đá, kiên trung với Đảng.

“Danh dự” ấy đã được khẳng định trong lời tuyên thệ của người đảng viên tại buổi lễ kết nạp Đảng thiêng liêng của mình. Đó là giây phút trang trọng, xúc động, tự hào khi được kết nạp vào Đảng, đó là lời thề trước Đảng về lòng trung thành, phấn đấu theo lý tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ của đảng viên, chấp hành kỷ luật của Đảng, giữ gìn đạo đức, phẩm chất của người cộng sản và góp phần xây dựng Đảng vững mạnh. Đó không chỉ là một câu khẩu hiệu mà chính là lời thề danh dự của người đảng viên.

Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải thực hiện sứ mệnh, trách nhiệm, lòng trung thành của người đảng viên vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Lời thề thiêng liêng, cao quý ấy chính là sức mạnh, động lực giúp các thế hệ cán bộ, đảng viên tiền bối sẵn sàng chịu đựng, chấp nhận gian khổ, hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, nhân dân tin theo Đảng, sẵn sàng đùm bọc, chở che cho cán bộ, đảng viên, hy sinh cho Đảng, gọi Đảng là “Đảng ta” một cách trìu mến, trân trọng.

Đừng để lời thề danh dự của người đảng viên bị phai nhạt

Trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới hiện nay, phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng ta, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, đạo đức, về trí tuệ, trình độ lý luận, về năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực tiễn, về bản lĩnh chính trị; tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, giữ trọn niềm tin của nhân dân.

Thế nhưng, có một thực tế không thể phủ nhận rằng, khi đất nước không còn chiến tranh, vậy mà trước những tác động của nền kinh tế thị trường, những níu kéo của danh vọng, quyền lực, hàng loạt quan chức cấp cao đã phải hầu tòa, hàng nghìn đảng viên phải đứng trước vành móng ngựa, họ không còn giữ được phẩm giá của mình, không còn giữ được lời thề thiêng liêng mà họ đã tuyên thệ trong ngày gia nhập Đảng. Cá biệt một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, vi phạm các chuẩn mực đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, lợi ích nhóm, chạy theo lợi ích kinh tế.

Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhiều lần nhấn mạnh: “Ai chả thích của, thích tiền. Nhưng tôi nói, danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”. Đồng thời khẳng định: “Cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng và đất nước ta còn lâu dài, gian khổ, quyết liệt. Chúng ta mới chỉ hạn chế, ngăn ngừa được một bước. Còn tiền, còn chức, còn quyền, nếu không tu dưỡng, rèn luyện thì sẽ khó tránh khỏi cám dỗ… Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực’’.

Để khắc phục những hạn chế đó, đòi hỏi công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải tiếp tục được tiến hành một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa; đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng tự nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, luôn đề cao việc giữ gìn danh dự, lòng tự trọng của chính bản thân mình, để luôn xứng đáng đứng trong hàng ngũ của Đảng, xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của Đảng đã được xây đắp bởi biết bao xương máu, công sức của các thế hệ ông cha.

Trong đó, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt và thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đặc biệt là Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, với các chỉ thị và kết luận của Đảng về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16-6-2022 về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới, Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9-5-2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới...

Kết hợp giữa giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng với giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Chú trọng công tác phát hiện, xây dựng, biểu dương, khen thưởng và nhân rộng những mô hình điển hình trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện xa rời quần chúng nhân dân, bệnh thành tích, tham nhũng, lãng phí.

Các cấp ủy, tổ chức Đảng chủ động đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, nhất là nội dung sinh hoạt tư tưởng trong sinh hoạt Đảng; phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình, chú trọng việc bồi dưỡng, nâng cao ý thức, trách nhiệm, giữ vững danh dự, lòng tự trọng và tinh thần nỗ lực, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao của mỗi cán bộ, đảng viên. Triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đề cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, gương mẫu trong thực hiện các chuẩn mực đạo đức; giữ vững hình ảnh, danh dự, tác phong, lối sống của mỗi cán bộ, đảng viên.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng, tạo cho mình tấm lá chắn vững chắc trước những sóng gió, dông bão, để họ xứng đáng với niềm tin và kỳ vọng của nhân dân, giữ bằng được cho mình điều thiêng liêng nhất, đó là danh dự. Đúng như lời của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắn gửi tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng vào ngày 15-9-2021: “Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho có ý nghĩa, để không phải xót xa, ân hận vì những việc làm ti tiện, đớn hèn, vô liêm sỉ; tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”.

Thượng tá, ThS HOÀNG HỒNG TUẤN, Học viện Chính trị (Bộ Quốc phòng)

 KỶ LUẬT TỰ GIÁC, NGHIÊM MINH - GIÁ TRỊ ĐẶC TRƯNG, TIÊU BIỂU LÀM NÊN SỨC MẠNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ

Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta đã hình thành, xây dựng và lan tỏa những giá trị văn hóa quân sự đặc sắc, độc đáo. Trong đó, kỷ luật tự giác, nghiêm minh trở thành nét đẹp truyền thống, tiêu biểu của Bộ đội Cụ Hồ.
Cội nguồn làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội.
Kỷ luật Quân đội là kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua”. Kỷ luật Quân đội được xây dựng trên cơ sở ý chí, niềm tin cách mạng vững chắc, sự giác ngộ cao cả về lý tưởng cách mạng, tạo thành nhu cầu bên trong thúc đẩy mọi quân nhân tự giác, chủ động chấp hành. Sự giác ngộ của cán bộ, chiến sĩ từ nhận thức chuyển hóa thành thái độ, hành vi ứng xử tự giác trong mọi hoạt động, mọi mối quan hệ. Đó là hành vi cao đẹp, nhân ái, được xây dựng trên cơ sở trách nhiệm cao đối với Tổ quốc và nhân dân. Bác Hồ chỉ rõ, kỷ luật Quân đội tôn trọng phẩm chất, nhân cách, tình thương yêu con người: “Trong Quân đội cách mạng, cán bộ gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sĩ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ luật có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng trong xây dựng Quân đội cách mạng, bởi lẽ “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy, kỷ luật phải nghiêm minh”. Bác Hồ từng nhấn mạnh: “Muốn nâng cao chí khí chiến đấu, cố nhiên là phải học chính trị và quân sự, phải giữ thật nghiêm kỷ luật của Quân đội. Kỷ luật là sức mạnh của Quân đội”; đồng thời yêu cầu: “Kỷ luật cần nghiêm minh. Tổ chức là cơ thể của quân sự. Kỷ luật là sinh mệnh của quân sự”.
Quân đội ta đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Bản chất kỷ luật của Quân đội ta mang bản chất kỷ luật của Đảng, là kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ in đậm trong lòng nhân dân được tạo dựng không chỉ từ những chiến công vẻ vang trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc mà còn bởi một phần rất quan trọng từ tính kỷ luật của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta xây đắp nên.
Do đó, kỷ luật tự giác, nghiêm minh tạo ra giá trị đặc trưng, tiêu biểu làm nên sức mạnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Giá trị ấy được biểu hiện ở lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, tuân thủ nghiêm các nguyên tắc sinh hoạt đảng, luôn đặt lợi ích của Đảng và nhân dân lên trên, lên trước lợi ích riêng của bản thân. Bộ đội Cụ Hồ luôn giữ vững lập trường, tư tưởng, niềm tin và dũng khí chiến đấu, hành động cách mạng cụ thể, cho dù phải xa người thân, gia đình, sống ở nơi rừng sâu núi thẳm, gặp bao nhiêu hiểm nguy, khó khăn, thử thách nhưng vẫn một lòng một dạ phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Kỷ luật tự giác, nghiêm minh tạo cơ sở xây dựng, củng cố, phát triển tình đồng chí, đồng đội, xây dựng mối đoàn kết gắn bó trong cơ quan, đơn vị, tạo bầu không khí dân chủ, tin tưởng, chia sẻ, tương thân tương ái. Kỷ luật tự giác, nghiêm minh bảo đảm cho mọi quân nhân phát huy mọi phẩm chất, năng lực trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, quốc phòng; đề cao trí tuệ tập thể, sự đồng thuận, đoàn kết, thống nhất, giải quyết hài hòa các mối quan hệ. Qua đó, tình đồng chí, đồng đội trong Quân đội luôn được củng cố, phát triển, trở thành tài sản tinh thần thiêng liêng, cao quý trong nhận thức, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân, là nền tảng quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta.
Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu của Quân đội ta đã chứng minh, kỷ luật tự giác, nghiêm minh đã ăn sâu vào tiềm thức, làm nên sức mạnh nội sinh của mỗi quân nhân, tập thể quân nhân, từ đó tự giác, tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh, sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Càng những lúc chiến đấu, công tác độc lập càng phải nêu cao tính tự giác trong chấp hành kỷ luật để tránh bị kẻ thù lợi dụng làm suy thoái, biến chất, thậm chí dụ dỗ, đe dọa, lôi kéo phản bội cách mạng, phản bội Tổ quốc và nhân dân. Lịch sử đã chứng minh nhiều tấm gương cán bộ, chiến sĩ dù hoạt động độc lập trong hàng ngũ kẻ thù vẫn luôn giữ nghiêm kỷ luật. Chính điều ấy đã làm nên tên tuổi của những anh hùng tình báo như Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn, Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ, Thiếu tướng Đặng Trần Đức... Tính kỷ luật đã trở thành phẩm chất cao quý của quân nhân cách mạng, cội nguồn làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta.
Chăm lo bồi đắp, rèn luyện tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh.
Nhận thức rõ vai trò của kỷ luật tự giác, nghiêm minh đối với sức mạnh chiến đấu của Quân đội và đặc thù hoạt động quân sự, việc chấp hành kỷ luật của quân nhân không chỉ dừng lại ở ý thức mà chuyển hóa thành thói quen, nếp sống, nếp sinh hoạt, học tập, công tác, chiến đấu cũng như cuộc sống đời thường. Hoạt động trong lĩnh vực quân sự đặc thù, mỗi cán bộ, chiến sĩ thấy mình được tự do trong khuôn phép của kỷ luật. Vì vậy, chấp hành kỷ luật thống nhất trở thành thói quen, lối sống của mỗi quân nhân từ nếp ăn ở, sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử, xưng hô, chào hỏi, trang phục, đi đứng, lễ tiết tác phong. Thói quen, lối sống đó đã trở thành giá trị bền vững, thẩm thấu vào nhân cách của mỗi quân nhân, tạo nên nét đẹp văn hóa Bộ đội Cụ Hồ.
Nhờ kỷ luật tự giác, nghiêm minh, qua các giai đoạn cách mạng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn giữ vững phẩm chất chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, gắn bó mật thiết với nhân dân. Nhờ kỷ luật tự giác, nghiêm minh đã góp phần giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Đó cũng chính là yếu tố quan trọng cổ vũ, động viên, thôi thúc cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phấn đấu vươn lên hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng, hướng tới những giá trị chân-thiện-mỹ.
Trước yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng ngày càng cao; trong khi các thế lực thù địch tăng cường chống phá sự nghiệp cách mạng và cả những mặt trái của đời sống xã hội tác động không nhỏ đến tư tưởng bộ đội. Chính vì vậy, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, giáo dục nâng cao nhận thức, hình thành thói quen, hành vi tự giác chấp hành kỷ luật Quân đội. Chú trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong giữ vững và tăng cường kỷ luật Quân đội. Phát huy tính tự giác của mỗi quân nhân trong rèn luyện và chấp hành kỷ luật Quân đội. Xây dựng môi trường văn hóa quân sự phong phú, lành mạnh, tạo cơ sở, nền tảng tăng cường kỷ luật Quân đội.
Kỷ luật tự giác, nghiêm minh là giá trị cốt lõi làm nên sức mạnh Bộ đội Cụ Hồ, tạo nền móng xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Chăm lo bồi đắp, rèn luyện tính kỷ luật để mỗi quân nhân hoàn thiện nhân cách, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ, trở thành hình mẫu nhân cách lý tưởng trong thời đại mới./.

Xây dựng LLVT Thủ đô vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu cao

 Phát huy truyền thống “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, những năm qua, LLVT Thủ đô Hà Nội luôn chú trọng xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu"; tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), xây dựng khu vực phòng thủ (KVPT) vững mạnh về mọi mặt và tích cực tham gia phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội...

Phát huy tốt vai trò nòng cốt trong công tác quân sự, quốc phòng

Theo Trung tướng Nguyễn Quốc Duyệt, Tư lệnh Bộ tư lệnh (BTL) Thủ đô Hà Nội: Những năm qua, Đảng ủy, BTL Thủ đô Hà Nội đã quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, chỉ lệnh, trọng tâm là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI, XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X “Về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành KVPT vững chắc trong tình hình mới”; tập trung xây dựng lực lượng thường trực theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, có số lượng hợp lý, chất lượng cao; lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp. Trong đó, đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ thường trực có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ kỹ, chiến thuật và chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao.

Xây dựng LLVT Thủ đô vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu cao
Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 692 (Sư đoàn 301, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội) tham gia thực binh trong diễn tập khu vực phòng thủ TP Hà Nội. Ảnh: HỮU THU 

Với đặc thù làm nhiệm vụ bảo vệ địa bàn đặc biệt nhạy cảm, quan trọng về chính trị, LLVT Thủ đô Hà Nội luôn duy trì nghiêm các chế độ SSCĐ, nắm chắc tình hình, phối hợp với các lực lượng bảo vệ an toàn tuyệt đối các sự kiện chính trị quan trọng, xây dựng địa bàn an toàn gắn với đơn vị an toàn, cơ sở chính trị địa phương vững mạnh. Đặc biệt, trong phòng, chống thiên tai, cháy nổ, cứu hộ, cứu nạn, LLVT Thủ đô luôn là lực lượng tiên phong, nòng cốt.

Trong 5 năm gần đây, LLVT Thủ đô đã tổ chức hơn 30 đợt trực SSCĐ với hơn 2,5 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ lực lượng thường trực và dân quân tự vệ tham gia; bảo vệ an toàn gần 18.000 sự kiện chính trị quan trọng trên địa bàn; tổ chức hơn 76.000 lượt tổ kiểm soát quân sự nhằm duy trì nghiêm lễ tiết tác phong, kỷ luật của quân nhân. Đồng thời, LLVT Thủ đô đã huy động gần 15.000 lượt cán bộ, chiến sĩ và hơn 1.000 lượt phương tiện tham gia khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, phòng, chống cháy, nổ, dịch bệnh... góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Xây dựng LLVT Thủ đô vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu cao
Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 692 (Sư đoàn 301, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội) tham gia thực binh trong diễn tập khu vực phòng thủ TP Hà Nội. Ảnh: HỮU THU

Trong nhiều hội nghị, cuộc họp tổng kết về công tác quân sự, quốc phòng địa phương, đánh giá về vai trò của LLVT Thủ đô, đồng chí Lê Hồng Sơn, Phó chủ tịch Thường trực UBND TP Hà Nội khẳng định: Những năm qua, LLVT Thủ đô Hà Nội được xây dựng vững mạnh, có sức chiến đấu cao, huấn luyện giỏi, rèn luyện tốt, kỷ luật nghiêm, hoạt động hiệu quả. Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương, BTL Thủ đô Hà Nội đã làm tốt công tác tham mưu với Thành ủy, UBND thành phố trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác quốc phòng, quân sự; xây dựng LLVT vững mạnh toàn diện, tiến hành điều chỉnh lực lượng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, cân đối, hợp lý giữa lực lượng thường trực, dự bị động viên và dân quân tự vệ, bảo đảm chất lượng ngày càng cao, làm nòng cốt trong xây dựng KVPT, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc...

Không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập

Là đơn vị chủ lực của BTL Thủ đô Hà Nội, những ngày vừa qua, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 692 (Sư đoàn 301) vừa tổ chức đón Tết vừa tích cực hoàn thiện mọi công tác để đón chiến sĩ mới và chuẩn bị ra quân huấn luyện năm 2025. Tìm hiểu, chúng tôi được biết, nhờ luôn chủ động làm tốt mọi công tác chuẩn bị nên chất lượng huấn luyện của đơn vị những năm qua ngày càng được nâng cao, Trung đoàn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới với kết quả 100% đạt khá, giỏi. Hiện nay, Trung đoàn 692 là đơn vị được Bộ Quốc phòng tin tưởng giao nhiệm vụ huấn luyện quân nhân chuyên nghiệp tuyển dụng hằng năm của Bộ.

Xây dựng LLVT Thủ đô vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu cao
 Huấn luyện bắn súng ở Trung đoàn 692 (Sư đoàn 301, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội).  Ảnh: HỮU THU 

Năm 2024 vừa qua, thành tích nổi bật của Trung đoàn 692 là tham gia thực binh trong diễn tập KVPT của TP Hà Nội. Trung tá Nguyễn Đình Thúy, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 692) chia sẻ: “Xác định nhiệm vụ diễn tập là rất quan trọng nên Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai làm tốt mọi công tác chuẩn bị. Cuộc diễn tập có nhiều nội dung mới so với những lần diễn tập trước, quy mô thao trường rộng hơn, lại là thao trường mới nên bộ đội luyện tập vất vả hơn rất nhiều. Tuy nhiên, chúng tôi đều xác định rõ trách nhiệm, quyết tâm cao, nỗ lực hết sức để hoàn thành tốt nhiệm vụ”. 

Được biết, hằng năm, Trung đoàn 692 đều phối hợp diễn tập thực binh cùng các quận, huyện của TP Hà Nội. Có cơ hội rèn luyện thường xuyên, liên tục nên chất lượng huấn luyện của đơn vị luôn đạt kết quả cao.  

Trong 5 năm vừa qua, BTL Thủ đô Hà Nội đã tham gia chỉ đạo, tổ chức hơn 30 cuộc diễn tập KVPT quận, huyện, thị xã và sở, ngành, gần 500 cuộc diễn tập chiến đấu trong KVPT của các phường, xã, thị trấn với nhiều nét mới, nội dung sát với tình huống và yêu cầu thực tiễn đặt ra. Hình thức các cuộc diễn tập được vận dụng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm tình hình của từng cơ quan, đơn vị, địa phương.

Thiếu tướng Đào Văn Nhận, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng BTL Thủ đô Hà Nội, cho biết: “Đảng ủy, BTL Thủ đô Hà Nội luôn chú trọng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp đột phá, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện cho các lực lượng. Trong đó, chú trọng tổ chức tập huấn đầy đủ cho đội ngũ cán bộ huấn luyện các cấp; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị phải coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, làm chủ vũ khí, trang bị, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình huấn luyện; bảo đảm tốt chất lượng mô hình, học cụ, vật chất, thao trường và áp dụng hiệu quả các sáng kiến vào quá trình huấn luyện.

Đặc biệt, BTL Thủ đô Hà Nội luôn xác định phải chú trọng chỉ đạo các đơn vị, địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ diễn tập. Đây chính là hình thức huấn luyện cao nhất, là cơ hội để rèn luyện toàn diện về trí lực, thể lực, kỷ luật và xử lý các tình huống trong thực tiễn chiến đấu cho bộ đội. Vì vậy, công tác diễn tập luôn được các cấp ủy, chỉ huy đơn vị đặc biệt quan tâm, chỉ đạo sát sao. Tổ chức diễn tập tốt, sát thực tế thì khi có tình huống thật, các lực lượng sẽ xử trí nhanh, hiệu quả, không bị bỡ ngỡ, bất ngờ".        

NGỌC HÂN

Thủ tướng yêu cầu rà soát các dự án đầu tư khó khăn, tồn đọng kéo dài để kịp thời tháo gỡ

 Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ban hành Công điện số 13 CĐ-TTg về việc khẩn trương rà soát, báo cáo đầy đủ các dự án đầu tư có khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài để kịp thời tháo gỡ, triển khai ngay các dự án.

Công điện gửi các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nêu rõ: Thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung rà soát các dự án có khó khăn vướng mắc, tồn đọng kéo dài, khẩn trương có giải pháp xử lý dứt điểm để triển khai ngay các dự án, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, không để lãng phí tài sản, tiền của Nhà nước, doanh nghiệp, người dân và xã hội.

Để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các công việc cụ thể và thường xuyên, Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo về rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án (gọi là Ban chỉ đạo) tại Quyết định số 1568/QĐ-TTg ngày 12-12-2024 do Phó thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình làm Trưởng ban. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Văn bản 10339/BKHĐT-TTr ngày 16-12-2024 đề nghị các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi báo cáo rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án về Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước ngày 20-1-2025. Tuy nhiên, đến ngày 7-2-2025, mới có 33 địa phương, 9 bộ, cơ quan Trung ương gửi báo cáo về Bộ Kế hoạch và Đầu tư. 

Thủ tướng yêu cầu rà soát các dự án đầu tư khó khăn, tồn đọng kéo dài để kịp thời tháo gỡ
Dự án đường ven biển DT994 đoạn qua thành phố Vũng Tàu được gấp rút thi công để kịp tiến độ theo kế hoạch. Ảnh minh họa: TTXVN 

Thủ tướng Chính phủ biểu dương các bộ, cơ quan, địa phương nêu trên đã tích cực thực hiện nhiệm vụ được giao, gửi báo cáo đúng thời hạn; đồng thời phê bình và yêu cầu các bộ và 30 địa phương chưa gửi báo cáo kiểm điểm xác định rõ trách nhiệm cá nhân báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 17-2-2025 (có danh sách các bộ, ngành, địa phương). Đồng thời báo cáo kết quả rà soát các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cho Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15-2-2025, Bộ Tài chính tổng hợp và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Để sớm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án trên cả nước, không để phải kiểm điểm hành chính, gây lãng phí nguồn lực, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương rà soát kỹ, tổng hợp đầy đủ các dự án có khó khăn vướng mắc, tồn đọng trong thời gian dài theo các biểu mẫu, nội dung đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Văn bản 10339/BKHĐT-TTr ngày 16-12-2024, gửi Thủ tướng chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư chậm nhất trước ngày 15-2; chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, nội dung, số liệu báo cáo, đề xuất.

Sau ngày 15-2, các bộ, cơ quan, địa phương chưa gửi báo cáo rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án về Thủ tướng Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thủ tướng Chính phủ sẽ giao Thanh tra Chính phủ thực hiện thanh tra để xem xét trách nhiệm, xử lý nghiêm theo quy định của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực Trung ương.

Theo TTXVN