Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2025

Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong bối cảnh mới

 TCCS - Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là một trong những nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, luôn được Đảng ta coi trọng và xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của Đảng, là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên. Đây là quan điểm, chủ trương cần được quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng; giữ vững và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Tổng Bí thư Tô Lâm với nhân dân tỉnh Bắc Ninh_Ảnh: TTXVN 

Nhận thức chung về vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên

Sự cần thiết xây dựng tổ chức cơ sở đảng

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”(1). Quan điểm về vị trí, vai trò của tổ chức đảng cơ sở, được C. Mác và Ph. Ăng-ghen đưa vào điều 5 Điều lệ “Liên đoàn những người cộng sản” năm 1847 - Đảng cộng sản đầu tiên trên thế giới. Hai ông nêu rõ, để thực hiện sứ mệnh, mục tiêu của mình, Đảng cần đến một hệ thống tổ chức rộng khắp, chặt chẽ, đủ sức mạnh để tập hợp, dẫn dắt phong trào cách mạng. C. Mác viết: “Về cơ cấu, Liên đoàn gồm chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ, Ban Chấp hành Trung ương và đại hội”(2). Theo đó, hệ thống tổ chức của Đảng được thiết lập từ Trung ương đến địa phương với thứ bậc và thẩm quyền rõ ràng. Chi bộ (tổ chức cơ sở nền tảng của Liên đoàn): Được lập ở các địa phương, các thành phố, khu vực có đông công nhân; quy định chặt chẽ về hệ thống tổ chức của Đảng, là cơ sở bảo đảm cho Đảng tồn tại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.

Trên cơ sở những luận điểm cơ bản C. Mác, Ph. Ăng-ghen về Đảng và xây dựng tổ chức đảng được tổng kết từ thực tiễn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trước sự tấn công liên tục của kẻ thù, V.I. Lê-nin đã tiếp tục đấu tranh bảo vệ tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăng-ghen và phát triển hoàn thiện, xây dựng thành học thuyết về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Theo V.I. Lê-nin, việc xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trở thành hạt nhân chính trị lãnh đạo thực hiện đường lối của Đảng ở cơ sở; nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên; liên hệ chặt chẽ với quần chúng và lãnh đạo quần chúng thực hiện lý tưởng của Đảng, là công việc thường xuyên, liên tục. Trong tác phẩm Làm gì? V.I. Lê-nin dạy rằng, để sự nghiệp cách mạng thành công “đòi hỏi phải có cho toàn nước Nga một tổ chức thống nhất gồm những người cách mạng, một tổ chức có khả năng đảm nhiệm việc lãnh đạo các tổ chức nghiệp đoàn của công nhân trong phạm vi toàn Nga”(3). Đặc biệt, khi đề cập đến việc thành lập tổ chức đảng ở các công xưởng, nhà máy, các địa phương, V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Ở tất cả các tổ chức, các hội, các hiệp hội, không trừ một loại nào... phải tổ chức những tiểu tổ hay những chi bộ Cộng sản... những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng”(4). Người yêu cầu, sau khi thành lập, các chi bộ phải thực hiện cổ động, tuyên truyền,... thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với mọi tầng lớp quần chúng lao động; giáo dục đội tiên phong của giai cấp vô sản đủ sức nắm chính quyền và dẫn dắt toàn dân tiến lên chủ nghĩa xã hội; qua thực tiễn ở cơ sở để kiểm nghiệm chủ trương, đường lối và bổ sung, phát triển đường lối của Đảng, nhiệm vụ chính trị của các tổ chức đảng.

Vận dụng sáng tạo quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây dựng Đảng và trong thực tiễn sáng lập, rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”(5). Qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: “Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”(6); Người viết: “Muốn làm nhà cho tốt thì phải xây dựng nền cho vững, muốn thực hiện kế hoạch tốt phải chăm lo củng cố chi bộ”(7). Các chi bộ, đảng bộ cơ sở là “tổ chức cơ bản của Đảng”; là hạt nhân chính trị ở cơ sở; là “dây chuyền” để Đảng liên hệ với nhân dân. Tổ chức cơ sở đảng là nơi tiến hành các hoạt động giáo dục, rèn luyện đảng viên, phân công công việc cho đảng viên, kiểm tra và quản lý đảng viên; là nơi đào tạo, rèn luyện cán bộ của Đảng. Điều đó cho thấy, chi bộ, đảng bộ cơ sở có vai trò rất quan trọng là nơi trực tiếp nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân phản ánh với Đảng, để Đảng đề ra đường lối, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân, định hướng hoạt động và uốn nắn những lệch lạc của các tổ chức, đoàn thể ở cơ sở.

Hoạt động của chi bộ, đảng bộ cơ sở có ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, thanh danh của Đảng trong nhân dân. Người chỉ rõ, chi bộ tốt thì “kinh qua chi bộ mà Đảng càng được dân tin, dân phục, dân yêu”(8). Tổ chức cơ sở đảng thực hiện đưa đường lối, chính sách của Đảng vào nhân dân, tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân hiểu và lãnh đạo nhân dân thực hiện. Tổ chức cơ sở đảng còn là nơi kiểm nghiệm, khẳng định sự đúng đắn của đường lối, chính sách của Đảng, đóng góp cho Đảng những sáng kiến, kinh nghiệm để Đảng bổ sung, hoàn chỉnh đường lối, chính sách và đề ra chủ trương, chính sách mới. Chất lượng của chi bộ, đảng bộ cơ sở là một trong những yếu tố quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Thực tế cho thấy, chỗ nào chi bộ tốt công việc trôi chảy, chỗ nào chi bộ kém, công việc xộc xệch”(9); như vậy, muốn thực hiện tốt đường lối của Đảng phải chăm lo củng cố chi bộ. Chi bộ tốt thì mọi chủ trương, chính sách của Đảng mới được thi hành tốt, mọi công việc sẽ tiến bộ không ngừng; nếu chi bộ yếu kém thì các chủ trương, đường lối của Đảng không đi được vào cuộc sống.

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của tổ chức cơ sở đảng trong quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã bổ sung, phát triển những điểm mới, nhất quán khẳng định trong các văn kiện của Đảng qua các kỳ đại hội: Sự vững mạnh của các tổ chức cơ sở đảng là điều kiện bảo đảm cho sự vững mạnh của toàn Đảng. Đảng ta chỉ rõ nhiệm vụ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Trong công cuộc đổi mới, Đảng tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò to lớn của tổ chức cơ sở đảng: “Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân là tổ chức đảng. Nhưng mặt khác sự yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở đảng đã hạn chế những thành tựu của cách mạng”(10).

Sự cần thiết xây dựng đội ngũ đảng viên

Cùng với công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đối với tổ chức cơ sở đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Ngay từ khi chính đảng của giai cấp vô sản ra đời, khi nói về con người của tổ chức đảng, di sản lý luận về Đảng và xây dựng Đảng của C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã chỉ ra rằng, do yêu cầu lãnh đạo, tổ chức phong trào của đảng cộng sản, mà việc xây dựng tổ chức đảng phải chọn được những người tiên phong để xứng đáng với vai trò tiên phong của Đảng. Các ông yêu cầu, họ phải tiên phong trong hành động và tiên phong về lý luận. C. Mác viết: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”(11). Điều này cho thấy, năng lực, tính tiên phong của đảng viên là điều kiện bảo đảm tính tiên phong của Đảng; muốn vậy thì khâu kết nạp người vào Đảng phải được đặc biệt chú trọng.

C. Mác, Ph. Ăng-ghen chỉ rõ, muốn trở thành hội viên của Liên đoàn, những người cộng sản phải có: “a. Lối sống và hoạt động phù hợp với mục đích ấy; b. Nghị lực cách mạng và nhiệt tình trong công tác tuyên truyền; c. Thừa nhận chủ nghĩa cộng sản; d. Không tham gia vào mọi tổ chức - tổ chức chính trị hoặc tổ chức dân tộc - chống cộng sản và có nghĩa vụ báo cáo với cơ quan lãnh đạo hữu quan về việc mình tham gia một tổ chức nào đó; e. Phục tùng các nghị quyết của Liên đoàn; f. Giữ bí mật mọi công việc của Liên đoàn; g. Được một chi bộ nhất trí kết nạp. Ai không còn đủ những điều kiện ấy sẽ bị khai trừ”(12).

Kế thừa, phát triển tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăng-ghen về xây dựng đội ngũ đảng viên của Đảng và hoàn thiện học thuyết về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân trong điều kiện mới, V.I. Lê-nin đã chỉ ra rằng, chất lượng đội ngũ đảng viên là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh của Đảng. Trong tác phẩm “Nhà nước của công nhân và Tuần lễ Đảng”, lãnh tụ V.I. Lê-nin yêu cầu cần “quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảng viên, đến việc thanh trừ “bọn luồn lọt vào Đảng” ra khỏi hàng ngũ mình, chứ không phải là quan tâm làm tăng thêm số lượng đảng viên”(13); các chi bộ phải giáo dục đội tiên phong của giai cấp vô sản để họ đủ sức làm thầy, làm người dẫn đường, làm lãnh tụ của tất cả những người lao động.

Quán triệt, phát triển sáng tạo những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chất lượng đội ngũ đảng viên của tổ chức cơ sở đảng, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ tầm quan trọng của đảng viên. Người viết: “Mỗi đảng viên tốt, mỗi chi bộ tốt là Đảng được mạnh thêm một phần; đảng viên kém, chi bộ kém là những khâu yếu của Đảng”(14); “Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do các đảng viên hăng hái và gương mẫu”(15). Đảng viên là người đóng góp trí tuệ, sáng kiến góp phần xây dựng, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng và trực tiếp thực hiện. Trong quá trình thực hiện, đảng viên là người trực tiếp góp phần quyết định đưa đường đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng vào cuộc sống.

Đồng thời, đội ngũ đảng viên còn góp phần kiểm nghiệm, khẳng định tính đúng đắn, phát hiện những điều chưa hợp lý trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng để cấp có thẩm quyền bổ sung, làm cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đúng đắn hơn, để cấp ủy cơ sở sửa chữa, điều chỉnh nhiệm vụ chính trị của cơ sở hoàn chỉnh hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mọi công việc đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết Đảng đều do đảng viên chấp hành… Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện”(15). Người dạy rằng, nếu không có đảng viên thì lý tưởng cộng sản cao đẹp, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị đúng đắn của tổ chức cơ sở đảng sẽ không trở thành hiện thực. Mặt khác, đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, nhiệm vụ chính trị đúng đắn của tổ chức cơ sở đảng là yếu tố rất quan trọng để đảng viên thực hiện đạt kết quả tốt, đảng viên trưởng thành, tiến bộ.

Đảng viên là “cầu nối” giữa Đảng với nhân dân, điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng viên là “sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng”(17). Đảng viên là người đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào quần chúng, trực tiếp tổ chức, giáo dục và lãnh đạo quần chúng thực hiện. Họ là người duy trì và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng. Người viết: “Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng”(18); “Mỗi đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành”(19)Một mặt, được Đảng tổ chức, giáo dục và đưa vào phong trào cách mạng, quần chúng sẽ trưởng thành, mối quan hệ giữa đảng viên và quần chúng ngày càng được tăng cường. Mặt khác, phong trào cách mạng của quần chúng là môi trường tốt nhất để giáo dục, rèn luyện đảng viên và sàng lọc đội ngũ đảng viên. Qua phong trào cách mạng của quần chúng, những đảng viên suy thoái, không đủ tư cách đảng viên, không đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng và yêu cầu của cách mạng sẽ bị đưa ra khỏi Đảng.

Nhận thức sâu sắc và bổ sung, phát triển quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của đảng viên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của tổ chức cơ sở đảng. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI đã khẳng định: "Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam(20). Điều quy định này cho thấy, Đảng là một cơ thể thống nhất, có tổ chức chặt chẽ, mỗi đảng viên là những “tế bào” tạo thành các tổ chức cơ sở đảng và tạo nên Đảng; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của từng tổ chức cơ sở đảng được quyết định chủ yếu bởi chất lượng của đội ngũ đảng viên của tổ chức cơ sở đảng; chất lượng của từng đảng viên và đội ngũ đảng viên là nhân tố quyết định đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và uy tín, thanh danh của Đảng trước nhân dân.

Công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên hiện nay

Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên có đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong từng giai đoạn là nhiệm vụ thường xuyên của Đảng. Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo việc rà soát sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, bảo đảm phù hợp với tiến trình đổi mới, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên; tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng là nhiệm vụ cơ bản của công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, góp phần năng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Thực hiện các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã tập trung chỉ đạo cụ thể hóa, tổ chức thực hiện đạt kết quả nổi bật: Tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được củng cố, kiện toàn và bổ sung chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở và gắn với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy cơ sở được quan tâm; chất lượng sinh hoạt đảng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý đảng viên, đánh giá, xếp loại tổ chức cơ sở đảng được coi trọng, bảo đảm khách quan, toàn diện. Nhiều tổ chức cơ sở đảng đã giữ vững và phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở; lãnh đạo cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên; thực hiện có kết quả nhiệm vụ chính trị và công tác chuyên môn của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng được nâng lên, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Đội ngũ đảng viên tăng thêm về số lượng và chất lượng, trình độ, kiến thức các mặt được nâng lên, thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng cách mạng trước những diễn biến phức tạp của tình hình trong nước và thế giới. Nhiều cấp ủy viên, cán bộ, đảng viên được rèn luyện, thử thách, trưởng thành qua thực tiễn công tác; thực hiện tốt vai trò, vị trí, nhiệm vụ của người đảng viên, gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành nghiêm túc các nguyên tắc trong tổ chức và sinh hoạt đảng; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, trong đó nhiều đảng viên trẻ được đào tạo cơ bản, có đủ phẩm chất và năng lực, từng bước thích ứng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, “chất lượng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, chậm đổi mới phương thức lãnh đạo; chưa kịp thời sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc; thực hiện chưa nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảng bộ cơ sở, sinh hoạt cấp ủy, tinh thần tự phê bình và phê bình, công tác đánh giá, xếp loại còn hạn chế; chưa thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong giải quyết những khó khăn, bức xúc của nhân dân ở cơ sở”(21); không ít tổ chức cơ sở đảng chưa thực sự phát huy hết vai trò là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, cầu nối giữa Ðảng với nhân dân, cũng như bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở. Mô hình tổ chức ở một số loại hình tổ chức cơ sở đảng còn bất cập, chậm được kiện toàn, sắp xếp. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng khu vực ngoài nhà nước, nhất là doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế, tỷ lệ có tổ chức đảng, đảng viên thấp, vai trò lãnh đạo mờ nhạt, lúng túng cả về nội dung và phương thức hoạt động. Một bộ phận đảng viên năng lực, trình độ, trách nhiệm chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, chưa làm tròn trách nhiệm của mình trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân; một số đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu bản lĩnh chính trị; suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, vi phạm nguyên tắc, kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Hiện nay, trước những khó khăn, thách thức do tình hình chính trị, an ninh thế giới và khu vực có những biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường; mặt trái của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; sự chống phá quyết liệt, ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch đối với Đảng, Nhà nước; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, đã ảnh hưởng tiêu cực đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, chúng ta cần tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhất là các cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của tổ chức cơ sở đảng để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng mới, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng.

Ngoài việc duy trì nghiêm nền nếp chế độ sinh hoạt định kỳ, Chi bộ Tàu Trường Sa 16, Hải đội 1, Lữ đoàn 125, Vùng 2 Hải quân thực hiện tốt chế độ sinh hoạt chuyên đề theo đúng quy định, hướng dẫn_Ảnh: TTXVN

Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ đảng viên trong tình hình mới

Để khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên, “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng”(22); trong thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị cần thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, củng cố, kiện toàn mô hình tổ chức cơ sở đảng gắn với việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII, về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; sửa đổi, bổ sung và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc của cấp ủy.

Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ đảng viên. Chủ động nắm tình hình, diễn biến tư tưởng, kịp thời định hướng cho đảng viên trước những vấn đề phát sinh; tăng cường trách nhiệm của đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, “tự soi”, “tự sửa”, đề cao danh dự, lòng tự trọng của đảng viên. Phát huy vai trò của cơ quan thông tấn, báo chí trong công tác thông tin, tuyên truyền, giới thiệu tấm gương đảng viên tiêu biểu, xuất sắc.

Ba là, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng. Đây là giải pháp rất quan trọng, bảo đảm việc tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và của đảng bộ, cấp ủy cơ sở. Tập trung vào việc nâng cao chất lượng ban hành, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kế hoạch công tác hằng năm của cấp ủy, coi đây là một trọng tâm của đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng.

Bốn là, tập trung củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy ở cơ sở. Đây là nhân tố then chốt nhất của việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng trong những năm tới. Chú trọng việc rà soát, bổ sung quy hoạch, chuẩn bị tốt nhân sự cấp ủy cơ sở nhiệm kỳ tiếp theo. Xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý, nghiệp vụ công tác đảng cho cấp ủy viên, bí thư cấp ủy.

Năm là, tăng cường công tác quản lý đảng viên; kịp thời rà soát, sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không còn đủ tư cách. Tiếp tục đổi mới công tác đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên; sửa đổi, bổ sung, quy định chặt chẽ việc sinh hoạt đảng.

Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, hướng dẫn các doanh nghiệp trong việc thực hiện các văn bản của Trung ương về phát triển tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước. Kịp thời sơ kết, tổng kết để rút kinh nghiệm từ những mô hình hay, cách làm sáng tạo, những điển hình tiên tiến, hiệu quả và nhân rộng mô hình “chi bộ bốn tốt”.

Quán triệt, thực hiện tốt các nội dung, giải pháp nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới, là điều kiện tiên quyết để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, bảo đảm cho mọi hoạt động ở cơ sở tuân thủ và thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa./.

----------------------------------

 HÃY SUY NGHĨ VÀ LOẠII BỎ “ BỆNH LÃNH ĐẠO” CỦA MỘT SỐ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy Nhà nước được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, ở một số cơ quan, đơn vị, “bệnh lãnh đạo” vẫn tồn tại như một căn bệnh mãn tính, không chỉ làm giảm sút hiệu quả công việc mà còn ảnh hưởng đến đoàn kết nội bộ, gây ra bức xúc trong dư luận về sự chậm trễ, kém hiệu quả.
* “Bệnh lãnh đạo” là gì?
“Bệnh lãnh đạo” thực chất là những người lãnh đạo thiếu năng lực, thiếu phẩm chất, không đủ tư duy và khả năng để đưa ra những quyết sách đúng đắn, điều hành công việc hiệu quả. Những người mắc “bệnh lãnh đạo” thường thể hiện sự bảo thủ, trì trệ, thiếu quyết đoán, không chịu lắng nghe ý kiến của cấp dưới và quần chúng nhân dân. Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, những người lãnh đạo mắc bệnh chủ quan, duy ý chí, không sát dân, thiếu năng lực, không chịu học hỏi và cải tiến công tác sẽ gây hậu quả nghiêm trọng: “Làm việc phải có kế hoạch, phải chú ý đến tình hình, phải biết lắng nghe và sửa chữa những sai lầm của mình... Nếu lãnh đạo mà chỉ chăm chăm vào lợi ích cá nhân, mà không chú ý đến lợi ích của dân, của đất nước, thì dù có giỏi, có tài đến đâu cũng chẳng làm nên trò trống gì”. Biểu hiện rõ nét của “bệnh lãnh đạo” qua 3 yếu tố: Năng lực, trách nhiệm và đạo đức. Trong đó, năng lực lãnh đạo yếu kém là biểu hiện dễ nhận thấy nhất. Những người cán bộ thiếu năng lực không thể xây dựng kế hoạch, quyết sách đúng đắn; thiếu khả năng phân tích, đánh giá tình hình; thiếu sự nhạy bén trong công tác lãnh đạo, dẫn đến tình trạng công việc trì trệ, không thực hiện được mục tiêu đề ra. Thiếu trách nhiệm trong công tác lãnh đạo là một biểu hiện nghiêm trọng của “bệnh lãnh đạo”. Người cán bộ không nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của mình, thường xuyên đùn đẩy, né tránh hoặc không chủ động giải quyết công việc; khiến công việc trì trệ, gây ra những hậu quả lâu dài cho tổ chức và xã hội.
Thực tế đã và đang cho thấy, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống không chỉ tiềm tàng ở một nơi nào đó mà nó hiện diện tại không ít nơi, không chỉ ở một vài người hay nhóm người nào đó mà đáng lo ngại là, hiện diện khá rộng và phức tạp trong một bộ phận đáng kể, nhất là đối với đội ngũ lãnh đạo. Những biểu hiện này hết sức phức tạp, tinh vi, dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau; từ không giữ vững được bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực trực tiếp gây tổn hại đến vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu và uy tín chính trị của Đảng, chức năng, vai trò và trọng trách quản lý, điều hành của Nhà nước và sức mạnh của hệ thống chính trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
* Hệ lụy của “bệnh lãnh đạo”
Những hệ lụy mà “bệnh lãnh đạo” gây ra là vô cùng lớn, không chỉ làm suy giảm hiệu quả công tác lãnh đạo mà còn gây tổn hại trực tiếp đến sự phát triển của đất nước, đánh mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Xin dẫn chứng một ví dụ: Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ, từ đầu năm 2016 đến nay, có đến 8/88 trạm thu phí trên cả nước gặp phải sự phản đối của người dân, trong đó nhiều dự án bị đình trệ hoặc phải điều chỉnh do thiếu sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời, sát sao từ các cấp lãnh đạo. Chính biểu hiện chủ quan, nóng vội, bảo thủ, quan liêu của “bệnh lãnh đạo” đã đưa đến quyết định sai lầm, không phù hợp thực tiễn, gây thiệt hại lớn về kinh tế, giảm sút niềm tin của nhân dân. Theo Báo cáo của Đoàn Giám sát Quốc hội về thực hiện chính sách, pháp luật về tiết kiệm và chống lãng phí trong giai đoạn 2016-2021 cho thấy nhiều dự án đầu tư công với quyết định chậm chạp, thiếu minh bạch đã dẫn đến sai phạm, gây thất thoát gần 32.000 tỷ đồng. Những con số này phần nào phản ánh chất lượng, hiệu quả còn thấp kém của công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Một hệ lụy khác của “bệnh lãnh đạo” là sự suy giảm niềm tin của nhân dân vào chính quyền. Những vụ án tham nhũng liên tiếp bị phanh phui đã làm dấy lên sự hoài nghi trong công chúng về sự minh bạch và trách nhiệm trong công tác lãnh đạo. Những vụ việc này không chỉ làm xói mòn niềm tin của người dân mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của Đảng và Nhà nước, gây bức xúc đối với nhân dân, tạo dư luận xấu trong xã hội. Bên cạnh đó, “bệnh lãnh đạo” còn gây hệ lụy lớn đối với quá trình phát triển kinh tế-xã hội, tạo “khe hở” cho tham nhũng, gây lãng phí, thất thoát tài sản của Nhà nước, của nhân dân. Hiện nay, quá trình thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy, “bệnh lãnh đạo” đã và đang bộc lộ những ảnh hưởng tiêu cực, gây khó khăn lớn cho tiến trình thực hiện chủ trương, biểu hiện rõ nét nhất là sự “ngại thay đổi”, thiếu quyết liệt và lúng túng trong lãnh đạo, chỉ đạo. Điều này không chỉ làm chậm tiến độ thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy mà còn gây lãng phí nguồn lực, làm mất thời cơ “vươn mình” của cả dân tộc. Ở những thời điểm “nước sôi lửa bỏng” nhưng khi được hỏi về quá trình đã giải quyết công việc đến đâu, có đồng chí cán bộ vẫn trả lời rằng: “Chưa thấy cấp dưới trình lên”. Người lãnh đạo không chỉ đợi trình lên mà trong những hoàn cảnh cụ thể phải xắn tay vào việc. Có như vậy, việc mới nhanh, mới thông và người cán bộ mới xứng đáng là công bộc của dân.
* Kiên quyết loại bỏ tình trạng “bệnh lãnh đạo” hiện nay
Để loại bỏ “bệnh lãnh đạo” trong bộ máy Nhà nước, trước hết cần nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người đứng đầu các cấp về vai trò và trách nhiệm của bản thân. Đồng thời, người lãnh đạo phải thường xuyên tu dưỡng, tự chỉnh đốn mình, tự khép mình vào kỷ luật một cách toàn diện và triệt để, tự biết xấu hổ khi không chấp hành kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không hoàn thành nhiệm vụ và tự giác từ nhiệm, từ chức khi bản thân không xứng đáng với vị trí đảm nhiệm. Song song với đó, cần xây dựng một đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu công tác trong tình hình mới, trong đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần được thực hiện một cách có hệ thống, khoa học và hiệu quả. Các chương trình đào tạo cần gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng địa phương, đơn vị. Việc bồi dưỡng không chỉ chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn mà còn phải đặc biệt coi trọng rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thông qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng, những cán bộ yếu kém về năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cần được đào thải, trái lại, những người có năng lực, phẩm chất tốt cần được khuyến khích phát triển, tạo cơ hội thăng tiến. Để giải quyết triệt để "bệnh lãnh đạo", một giải pháp then chốt là tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt định kỳ và bất thường trong toàn hệ thống chính trị. Quán triệt quan điểm: Không ai, không một tổ chức nào được nằm ngoài sự kiểm tra, giám sát, kỷ luật và pháp luật. Các cơ chế kiểm tra cần được triển khai một cách chặt chẽ, công khai, minh bạch, bảo đảm tính khách quan và hiệu quả. Những cán bộ lãnh đạo là đảng viên hư hỏng, thoái hóa, biến chất thì một mặt, phải bị khai trừ ra khỏi Đảng; mặt khác, nhất định phải bị sa thải ra khỏi bộ máy công quyền; kết hợp chặt chẽ giữa chống “diễn biến hòa bình” với chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Cùng với đó, khắc phục tình trạng “chuyên quyền, độc đoán” và “quan liêu, xa dân” cũng là một biện pháp quan trọng trong loại bỏ “bệnh lãnh đạo”. Theo đó, cần tăng cường việc gần dân, sát dân của đội ngũ cán bộ lãnh đạo; phải thường xuyên lắng nghe, tiếp xúc và thấu hiểu những tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, từ đó kịp thời đưa ra các quyết sách sát thực tiễn, giải quyết hiệu quả những vấn đề bức xúc trong đời sống. Lãnh đạo các cấp cần tự ý thức rõ trách nhiệm, chủ động tháo gỡ khó khăn cho người dân, nâng cao hiệu quả công việc, đồng thời củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Đây chính là yếu tố quan trọng để xây dựng một bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh và thực sự phục vụ nhân dân. Một vấn đề quan trọng, đó là thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình là một yêu cầu cấp thiết để phát hiện và khắc phục kịp thời những khuyết điểm trong công tác lãnh đạo. Đây là một trong những phương thức quan trọng để lãnh đạo các cấp nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng thời tự rèn luyện, nâng cao phẩm chất, năng lực lãnh đạo. Công tác phê bình và tự phê bình không chỉ giúp xây dựng đội ngũ lãnh đạo trong sạch, vững mạnh mà còn góp phần quan trọng trong việc duy trì kỷ luật, kỷ cương, gia tăng niềm tin của nhân dân về công tác lãnh đạo với Đảng, Nhà nước, góp phần phê phán, loại bỏ “bệnh lãnh đạo” hiện nay.
Nguồn: coppy của
NGUYỄN TRỌNG TÀI, Học viện Chính trị

Xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

 TCCS - Thời gian qua, Đảng và Nhà nước tiếp tục cải cách mô hình tổ chức tổng thể của cả hệ thống chính trị một cách quyết liệt với mức độ, quy mô của một cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị. Thời gian tới, Đảng và Nhà nước tập trung thực hiện các giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ hơn nữa, để mỗi tổ chức thành viên của hệ thống chính trị thật sự rõ về chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền, tinh gọn về tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động, đáp ứng tốt yêu cầu lãnh đạo, dẫn dắt và tổ chức công cuộc vươn mình của dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới.

Qua gần 40 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn, “đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(1). Những thành tựu của gần 40 năm đổi mới là tiền đề, là nguồn vốn to lớn và quan trọng để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh các thuận lợi, cơ hội, vẫn còn không ít khó khăn, thách thức, từ nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, do hạn chế, yếu kém của nền kinh tế, từ 4 nguy cơ đe dọa đến sự vững bền của Đảng và chế độ, mà Đảng đã chỉ ra từ Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn; từ những biến động to lớn, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo của tình hình thế giới và khu vực. 

Tổng Bí thư Tô Lâm, trong bài trao đổi tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho các học viên Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đã chỉ rõ 7 định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; trong đó, có tới 4 định hướng chiến lược liên quan trực tiếp đến đổi mới hệ thống chính trị: Cải tiến phương thức lãnh đạo của Đảng; tăng cường tính đảng trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ cán cấp chiến lược…(2). Điều này cho thấy, nhiệm vụ tiếp tục cải cách mô hình tổ chức và hoạt động của từng thiết chế thành viên của hệ thống chính trị và mô hình tổng thể của hệ thống chính trị vẫn là nhiệm vụ trọng tâm để thực hiện thắng lợi công cuộc vươn mình của dân tộc trong kỷ nguyên mới. 

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu khai mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII, ngày 23-1-2025, trong đó có bàn tới việc tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả_Ảnh:  TTXVN

Tổ chức của hệ thống chính trị vẫn còn khá cồng kềnh, nhiều tầng nấc; chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức thành viên vẫn còn tình trạng trùng lặp, chồng chéo. Việc hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị cho phù hợp với tình hình thực tiễn còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu. “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan tâm phát huy đầy đủ”(3); công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn có hạn chế. Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có mặt còn lúng túng. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả. Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn còn những hạn chế, bất cập, có mặt chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, quản lý và bảo vệ đất nước trong tình hình mới. Tổ chức bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật còn một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có mặt chưa theo kịp yêu cầu của tình hình mới, tình trạng hành chính hóa trong hoạt động vẫn chậm được khắc phục. Chi phí cho tổ chức và hoạt động bộ máy của hệ thống chính trị nói chung, bộ máy nhà nước nói riêng từ nguồn ngân sách nhà nước khá lớn, chiếm một tỷ lệ rất cao (khoảng 70 %) ngân sách nhà nước hằng năm.

Những bất cập, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, nếu chậm được khắc phục sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tiến trình vươn mình của dân tộc trong kỷ nguyên mới. Việc xây dựng, đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của các thiết chế trong hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả trước yêu cầu mới, cần tập trung vào các vấn đề sau:

Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, với trọng tâm là đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị

 Để tiếp tục lãnh đạo, dẫn dắt công cuộc vươn mình của dân tộc trong kỷ nguyên mới, Đảng ta phải tiếp tục tự đổi mới mạnh mẽ tổ chức và hoạt động, thật sự trong sạch, thật sự vững mạnh, ngang tầm với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời đại mới. Quán triệt nhất quán quan điểm xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, “Kết hợp hài hòa, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng; giữa xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng. Không ngừng nâng cao năng lực và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới. Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị. Hết sức coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng. Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới, thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”(4).

Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để Đảng ta thật sự là “đạo đức, là văn minh”, thật sự là một chính đảng liêm chính theo tư tưởng và phong cách Hồ Chí Minh. Tiếp tục sắp xếp kiện toàn hệ thống tổ chức đảng các cấp, tinh gọn bộ máy các cơ quan tham mưu của Đảng, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tham mưu trong các cơ quan đảng, ngang tầm với yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện mới. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ để khắc phục tình trạng “đúng quy trình nhưng không đúng người”. “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(5).

Tăng cường dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa thực hành dân chủ, củng cố kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, với quyết tâm chính trị cao, hành động mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn theo đúng phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Đặc biệt là, quyết liệt đấu tranh, ngăn chặn tình trạng lãng phí cả trong khu vực công và khu vực tư, xem cuộc đấu tranh phòng, chống lãng phí là quan trọng và cấp thiết như cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Yếu tố then chốt bảo đảm cho Đảng thật sự là “trí tuệ, lương tâm của thời đại”, là “đạo đức, là văn minh” luôn là phương thức lãnh đạo. Chính vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của mình đối với Nhà nước và xã hội.  Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội trong bối cảnh đất nước và thế giới hiện nay, cần tiến hành một số giải pháp sau:

Một là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Cần nghiên cứu sâu hơn, có hệ thống và toàn diện hơn vấn đề đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, xác định rõ mô hình hệ thống chính trị ở nước ta làm cơ sở cho đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Hai là, cần tiến hành tổng kết, đánh giá toàn diện việc kiện toàn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị để có giải pháp đổi mới mạnh mẽ bộ máy của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, xác định rõ cơ chế vận hành các mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị, bảo đảm cho mỗi một tổ chức trong hệ thống chính trị được tổ chức và hoạt động đúng với vị trí, vai trò và trách nhiệm của mình.

Trước hết, bản thân Đảng phải tự đổi mới mạnh mẽ cơ cấu tổ chức bộ máy của mình theo hướng tinh gọn và hiệu quả. Mạnh dạn khắc phục tình trạng bộ máy đảng song trùng với bộ máy nhà nước, chồng chéo chức năng, lẫn lộn trách nhiệm. Các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương đến địa phương, cần tăng cường sử dụng bộ máy nhà nước làm chức năng tham mưu, đề xuất chủ trương, chính sách; đồng thời, tăng cường củng cố và nâng cao năng lực các ban trực tiếp làm công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhằm bảo đảm cho Đảng ta thật sự là một tổ chức chính trị gọn về cơ cấu, rõ về chức năng, linh hoạt trong lãnh đạo và sử dụng có hiệu quả bộ máy của Nhà nước.

Ba là, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng, chính sách. Do vậy, trong giai đoạn phát triển hiện nay và những năm tiếp theo cần đổi mới và nâng cao chất lượng xây dựng chiến lược, các định hướng chính sách của Đảng, đổi mới cách ra nghị quyết và đổi mới nội dung của nghị quyết. Nội dung nghị quyết của Đảng cần tập trung vào những vấn đề cơ bản, lâu dài, giải quyết những vấn đề trọng đại của đất nước, xử lý những vấn đề cụ thể, nhưng có ý nghĩa chính trị quan trọng, quan hệ với nhiều tầng lớp xã hội, những vấn đề phức tạp trong quan hệ quốc tế. Nội dung các nghị quyết của Đảng cần xác định rõ, cụ thể các quan điểm, các giải pháp lớn, nhằm tạo ra khung chính trị để các cơ quan nhà nước chủ động giải quyết các nhiệm vụ cụ thể; có như vậy, mới tránh được tình trạng các quyết định của các cơ quan nhà nước về thực chất là lặp lại nghị quyết của Đảng dưới một hình thức mới.

Để bảo đảm tính đúng đắn và phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, cần tích cực khoa học hóa, dân chủ hóa quy trình xây dựng chính sách, áp dụng nhiều hình thức lấy ý kiến của các tầng lớp nhân dân đối với đường lối, chính sách của Đảng; qua đó, phát huy trí tuệ của nhân dân, tiếp thu nguồn sáng tạo từ quần chúng, làm cho đường lối, chính sách không chỉ là sự kết tinh trí tuệ của Đảng, mà còn là kết tinh trí tuệ, kinh nghiệm và tình cảm của các tầng lớp nhân dân.

Bốn là, Đảng lãnh đạo xã hội bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước. Do vậy, một mặt, phải tiếp tục cải cách mạnh mẽ bộ máy nhà nước theo các yêu cầu và tiêu chí của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Theo đó, bộ máy nhà nước phải được tổ chức tinh gọn, chuyên nghiệp hóa, nhằm thực hiện tốt chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mặt khác, phải tạo ra những chuyển biến thật sự tích cực trong mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước theo đúng phương châm: Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không làm thay Nhà nước. Để giải quyết mối quan hệ này, cần nghiên cứu một số giải pháp: 1- Xây dựng và thực hiện phương án nhất thể hóa các chức danh đứng đầu cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương theo hướng người đứng đầu cấp ủy đồng thời là người đứng đầu chính quyền cùng cấp; bố trí kiêm nhiệm ở một số chức vụ quan trọng giữa cơ quan đảng và cơ quan nhà nước, tạo điều kiện tinh gọn hệ thống chính trị, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước; 2- Tinh gọn bộ máy tổ chức của Đảng, theo hướng các cấp ủy từ Trung ương đến các cấp địa phương sử dụng hiệu quả tổ chức bộ máy nhà nước trong vai trò là các cơ quan tham mưu trực tiếp cho cấp ủy; đồng thời, là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước theo đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật. Nghiên cứu hợp nhất một số cơ quan tham mưu của Đảng tại mỗi cấp, hình thành các cơ quan tham mưu tổng hợp, tạo sự đồng bộ, thống nhất trong tham mưu, thẩm định chủ trương, chính sách, nhằm tinh gọn tổ chức bộ máy đảng tại mỗi cấp; 3- Tập trung kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của các cấp ủy, cụ thể hóa các tiêu chuẩn cấp ủy viên, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của cấp ủy viên, đổi mới phương thức bầu cử trong Đảng để đại hội đảng có thể bầu trực tiếp người đứng đầu cấp ủy trên cơ sở cạnh tranh có số dư, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng, bảo đảm mọi quyền lực và thực thi quyền lực trong Đảng đều được kiểm soát chặt chẽ.

Năm là, cần cụ thể hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trên cơ sở phát huy mạnh mẽ dân chủ trong công tác cán bộ, đề cao trách nhiệm của cấp ủy, các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đối với công tác này, bảo đảm quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong tất cả các khâu của công tác cán bộ. Nghiên cứu xây dựng các giải pháp đổi mới quy trình, cách thức Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực, phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và đoàn thể nhân dân phù hợp Luật Bầu cử của Nhà nước và điều lệ của các tổ chức.

Trong điều kiện hiện nay, cần có các giải pháp phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài, mạnh dạn giới thiệu những người ngoài Đảng có đức, có tài tham gia vào bộ máy lãnh đạo các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; đồng thời, kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy của Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể những cán bộ, đảng viên không đủ năng lực công tác, thoái hóa, biến chất, không được quần chúng nhân dân tín nhiệm.

Sáu là, xây dựng và thực hiện các chế độ trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm pháp lý của các tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cán bộ lãnh đạo đối với các công việc thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý và hoạt động của mình. Phân biệt rõ trách nhiệm tập thể và trách nhiệm cá nhân trong mỗi tập thể lãnh đạo, cá thể hóa trách nhiệm một cách cụ thể làm cơ sở để truy cứu trách nhiệm cho từng tổ chức, tập thể và từng cá nhân cán bộ lãnh đạo đối với từng quyết định sai lầm, từng hiện tượng vi phạm kỷ luật của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước trong hoạt động của mỗi tổ chức đảng, mỗi cơ quan, mỗi cán bộ, đảng viên. Nghiên cứu và áp dụng chế độ trách nhiệm liên đới của tổ chức và cá nhân trong các trường hợp cơ quan cấp dưới hoặc cán bộ cấp dưới thuộc quyền lãnh đạo, quản lý có các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng. Hoàn thiện quy trình truy cứu trách nhiệm để có thể thực hiện thuận lợi vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm, vấn đề từ chức, miễn chức, cách chức trong thực tiễn.

Bảy là, đổi mới, tăng cường công tác giám sát, kiểm tra của Đảng đối với hoạt động của bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng trong việc thực hiện đường lối, chính sách và các nghị quyết của Đảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có các giải pháp nâng cao trách nhiệm kiểm tra, năng lực kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, của người đứng đầu các cấp ủy đối với các tổ chức đảng, các cơ quan, tổ chức nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở mỗi cơ quan, tổ chức; đồng thời, cần đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các ủy ban kiểm tra đảng, các cơ quan thanh tra nhà nước theo hướng mở rộng thẩm quyền, cơ cấu lại tổ chức và phương thức hoạt động. Đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, giám sát, bảo đảm công tác kiểm tra, giám sát vừa thường xuyên, vừa có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, không gây cản trở, phiền hà cho các đối tượng được kiểm tra; đồng thời, chủ động phát hiện các vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, xử lý kiên quyết và đích đáng những cán bộ, đảng viên có hành vi vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở bất kỳ cương vị nào.

Tám là, đổi mới mạnh mẽ phong cách lãnh đạo của Đảng, khắc phục tình trạng quan liêu, hình thức, phô trương, lãng phí, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn trong hoạt động của bộ máy đảng, nhà nước và các đoàn thể quần chúng.

Ngày 28-1-2025 (29 tết), Tổng Bí thư Tô Lâm đến thăm, chúc tết Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô_Ảnh: TTXVN

Sắp xếp, kiện toàn bộ máy nhà nước, rõ về chức năng, tinh gọn về tổ chức, hiệu quả về hoạt động, ngang tầm yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới

1- Nhà nước là một thiết chế chính trị trung tâm có vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Tuy nhiên, dù vai trò của Nhà nước quan trọng, to lớn đến nhường nào thì cũng không thể tạo ra một nhà nước toàn trị, quyết định mọi vấn đề và bao cấp toàn xã hội. Vai trò của Nhà nước luôn có giới hạn trong mối quan hệ với các thiết chế chính trị - xã hội thuộc hệ thống chính trị, mối quan hệ với kinh tế thị trường, xã hội và mối quan hệ với nhân dân.

2- Trong lĩnh vực kinh tế, sự quản lý, tác động, điều tiết của Nhà nước vẫn là hết sức cần thiết, nhằm kiểm soát sự vận hành của thị trường. Để thị trường vận hành hiệu quả, cần phải có Nhà nước đủ mạnh để bảo đảm sự tuân thủ các nguyên tắc cạnh tranh. Tuy nhiên, sự quản lý, kiểm soát của Nhà nước đối với thị trường không được phép tạo ra nguy cơ hành chính hóa nền kinh tế, cũng như thay thế vai trò của thị trường và các doanh nghiệp. Nhà nước phải tự hạn chế, giảm thiểu các biện pháp can thiệp trực tiếp vào thị trường, thông qua việc ban hành pháp luật, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho vận hành của thị trường, tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm soát, bảo đảm tuân thủ pháp luật, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh công bằng trên thị trường.

3- Nghiên cứu sự thay đổi trong vai trò của Nhà nước, cần được quán triệt cả hai xu hướng: Thứ nhất, tăng cường sức mạnh của Nhà nước thông qua các biện pháp cải tổ mạnh mẽ bộ máy nhà nước từ kết cấu và tổ chức quyền lực, thực hiện quyền của các nhánh quyền lực đến việc cải cách nền hành chính quốc gia, cải cách tư pháp, làm cho Nhà nước thực sự thích ứng với cơ chế kinh tế - xã hội mới để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ đặt ra của thời kỳ quá độ. Thứ hai, xu hướng phi nhà nước hóa, từng bước loại bỏ dần sự can thiệp của Nhà nước vào những lĩnh vực quan hệ xã hội, mà tính chất của chúng không đòi hỏi sự can thiệp ấy, tăng cường các khả năng tự chủ của các thiết chế chính trị - xã hội khác theo hướng giải phóng họ khỏi sự phụ thuộc (bảo trợ) của Nhà nước từ tài chính đến tổ chức.

4- Vai trò của Nhà nước trong cơ chế kinh tế - xã hội mới, cần được nhận diện qua những nhiệm vụ cơ bản, mà một nhà nước hiện đại và hiệu quả phải quan tâm thực hiện. Đó là xây dựng một hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý phù hợp cho sự vận động của dân chủ, kinh tế - xã hội và tự do nhân dân; duy trì và thực thi một hệ thống chính sách không thiên lệch trong sự ổn định kinh tế vĩ mô và điều hòa các quan hệ kinh tế; đầu tư vào các dịch vụ công thiết yếu và kết cấu hạ tầng cơ bản; bảo vệ nhóm người dễ bị tổn thương, bảo vệ môi trường và duy trì một nền an ninh trong mọi lĩnh vực.

5- Những nhiệm vụ mới: Nhà nước phải thực hiện được yêu cầu mới của hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoạt động lập pháp của Nhà nước trong thời đại ngày nay không hướng trọng tâm vào thể chế hóa quyền quản lý của bộ máy nhà nước (quyền cai trị), mà phải hướng trọng tâm vào tạo dựng khuôn khổ pháp lý vững chắc, ổn định cho một nền dân chủ xã hội và tự do của nhân dân. Điều này có nghĩa là hoạt động lập pháp chuyển trọng tâm từ quy định quyền của bộ máy nhà nước sang xác định nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan này, từ quyền cho phép công quyền sang quyền của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước. Như vậy, toàn bộ bộ máy nhà nước phải được tổ chức trên nền tảng “phục vụ nhân dân”. 

Tư duy mới về Nhà nước, tạo cơ sở để đổi mới hiệu quả tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trên tất cả phương diện:

Về tổ chức bộ máy nhà nước

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, bộ máy nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện theo các định hướng đã được xác định tại Nghị quyết số 27- NQ/TW, ngày 9-11-2022, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”; theo đó: 1- Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả trong các hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Toàn bộ tổ chức và hoạt động của Quốc hội phải tuân thủ nghiêm các nguyên tắc của một thiết chế dân chủ nghị trường, khắc phục những biểu hiện “hành chính hóa” trong hoạt động Quốc hội. Đổi mới mạnh mẽ hoạt động lập pháp để tháo gỡ những nút thắt về thể chế đang gây khó khăn cho sự phát triển. Cần kiên quyết chuyển đổi tư duy xây dựng luật để vừa bảo đảm yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng mọi nguồn lực xã hội cho phát triển. Hoàn thiện, nâng cao kỹ thuật xây dựng luật theo hướng, luật chỉ quy định hành lang pháp lý có tính nguyên tắc, tạo khuôn khổ thông thoáng cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, không luật hóa các nghị định, thông tư của Chính phủ, các bộ. Quốc hội chỉ ban hành luật thuộc phạm vi thẩm quyền theo quy định của Hiến pháp, bảo đảm thẩm quyền lập quy của Chính phủ để xử lý kịp thời, linh hoạt những vấn đề của thực tiễn. Nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân để năng cao chất lượng các đại biểu được bầu vào Quốc hội, đủ phẩm chất, năng lực, trình độ, tầm nhìn trong thảo luận và quyết định chính sách pháp luật. Sắp xếp hợp lý các cơ quan thuộc Quốc hội theo nguyên tắc đa ngành, đa lĩnh vực; từ đó, hợp nhất một số cơ quan của Quốc hội có nhiệm vụ, chức năng gắn bó mật thiết với nhau để giảm bớt số lượng các ủy ban, tinh gọn bộ máy của Quốc hội; đồng thời, đề cao vị trí, vai trò và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội trong ý nghĩa là hai trụ cột cơ bản của Quốc hội; 2- Tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn trách nhiệm của Chủ tịch nước để thực hiện đầy đủ chức năng nguyên thủ quốc gia theo yêu cầu Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thay mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại và là thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân, góp phần bảo đảm sự cân bằng và kiểm soát trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; 3- Tiếp tục kiện toàn tổ chức Chính phủ theo hướng tinh gọn, hợp lý, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại. Phân định cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn của tập thể Chính phủ và các thành viên Chính phủ theo hướng: Chính phủ tập trung vào thực hiện chức năng xây dựng thể chế, Thủ tướng Chính phủ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nền hành chính quốc gia theo thẩm quyền của người đứng đầu nền hành chính quốc gia; bộ trưởng chịu trách nhiệm về lĩnh vực quản lý nhà nước do mình phụ trách, đúng vị trí của “tư lệnh ngành”. Tiếp tục tinh gọn cơ cấu tổ chức bộ máy Chính phủ theo nguyên tắc bộ đa ngành, đa lĩnh vực, mỗi nhiệm vụ quản lý chỉ do một bộ chịu trách nhiệm, tạo căn cứ để giảm bớt số lượng các bộ, cơ quan ngang bộ so với số lượng hiện hành; tái cấu trúc lại các cơ quan thuộc Chính phủ theo mô hình các cơ quan thực thi để vừa khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng hoạch định chính sách, pháp luật và chức năng tổ chức thực thi chính sách, vừa phòng, chống nguy cơ lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm “vừa đá bóng, vừa thổi còi”; 4- Xác định cơ chế bảo đảm tính độc lập của hoạt động tư pháp theo hướng khẳng định tòa án có quyền và có trách nhiệm chỉ căn cứ vào Hiến pháp và pháp luật để ra các phán quyết, không chịu bất kỳ sự can thiệp nào từ phía các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước. Trong Nhà nước pháp quyền, chỉ duy nhất tòa án mới có chức năng xét xử, mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức phải có trách nhiệm tôn trọng phán quyết của tòa án; đồng thời, cần nghiên cứu để tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động kiểm sát, điều tra, thi hành án tương ứng với chức năng, nhiệm vụ được phân định rõ để vừa có sự phân công, phối hợp, vừa kiểm soát lẫn nhau; 5- Cải cách mạnh mẽ chính quyền địa phương phù hợp với các đặc điểm của nông thôn, đô thị, hải đảo. Phân định rõ thẩm quyền của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, theo hướng phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương theo phương châm: Địa phương tự quyết định các vấn đề của địa phương, địa phương tự làm, địa phương tự chịu trách nhiệm. Hoàn thiện địa vị pháp lý của các cấp chính quyền địa phương theo yêu cầu của pháp nhân công quyền, tạo cơ chế để chính quyền địa phương tự chủ về tài chính, tổ chức bộ máy và biên chế công chức địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển của từng địa phương. Tinh gọn bộ máy chính quyền địa phương, giảm các cấp hành chính trung gian, đẩy mạnh sắp xếp lại các đơn vị hành chính các cấp địa phương, tạo không gian và nguồn lực cho sự phát triển trong giai đoạn mới. Tăng cường kiểm tra, giám sát của Trung ương đối với hoạt động của chính quyền địa phương; đồng thời, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp.   

Về đội ngũ cán bộ, công chức 

 Nhà nước phải xây dựng cho được bộ máy tinh gọn, hiệu lực hiệu quả, với đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực và tính chuyên nghiệp cao. Mọi cơ quan, công chức đều phải được giao nhiệm vụ rõ ràng. Việc đánh giá tổ chức, cán bộ, công chức phải căn cứ vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ. Phải hoàn thiện tiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm soát thực thi công vụ. Người đứng đầu cơ quan hành chính phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao và phải được trao quyền quyết định tương ứng về tổ chức cán bộ. Cần có quy hoạch, kế hoạch tổng thể về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; thực hiện việc quản lý cán bộ, công chức theo hướng quản lý nguồn nhân lực công vụ. Cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước. Có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ và có cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín đối với nhân dân.

Đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hóa, nhà nước hóa của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội

Mô hình tổ chức của các tổ chức chính trị - xã hội phải đa dạng và linh hoạt hơn, thích ứng với các môi trường cụ thể của cơ quan nhà nước, sản xuất, kinh doanh, địa bàn dân cư. Tiếp tục sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp theo đúng tính chất của một tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân, không rập khuôn máy móc theo mô hình cơ quan nhà nước. Tập trung xây dựng tổ chức bộ máy hợp lý tại cấp trung ương và cấp cơ sở, tinh gọn thực chất và mạnh mẽ cơ cấu tổ chức tại cấp trung gian, giảm đầu mối trực thuộc.

Trên cơ sở phân tích rõ tính chất, đặc điểm và thực trạng của đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để tiến hành tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ này và xây dựng hệ thống cơ chế quản lý, cũng như chế độ, chính sách phù hợp, không rập khuôn như đội ngũ cán bộ, công chức hành chính và không “công chức hóa” đội ngũ cán bộ trong các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp.

Xây dựng cơ chế, quy chế phối hợp trên cơ sở làm rành mạch chức năng giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; bảo đảm tính độc lập tương đối về tổ chức và kinh phí hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Trên cơ sở đó, có sự phân công, ràng buộc trách nhiệm cụ thể, giám sát lẫn nhau giữa cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tạo sự vận hành đồng bộ, thông suốt của hệ thống chính trị, mở rộng và phát huy dân chủ trong xã hội, nâng cao chất lượng của cả hệ thống chính trị.

Xây dựng cơ chế, chính sách hợp lý để hạn chế, chấm dứt xu hướng “nhà nước hóa”, “hành chính hóa” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, cũng như xu hướng “chính trị hóa” của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp một cách tràn lan, tốn kém về kinh phí, mà hoạt động kém hiệu quả, chồng chéo. Đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng, đồng thời củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng thu gọn các “tổ chức cứng”, tinh gọn biên chế chuyên trách, nâng cao chất lượng, hiệu quả của các phong trào, chú trọng địa bàn cơ sở. Có hình thức phù hợp suy tôn các cá nhân tự nguyện cống hiến, hoạt động trên lĩnh vực này, như các nhà hoạt động xã hội trong thời kỳ mới.

Lực lượng chức năng huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình hướng dẫn người dân thôn 5, xã Tân Hoá bị cô lập do mưa lũ sử dụng đèn tích điện khi chưa có điện lưới_Ảnh: TTXVN

Dựa vào nhân dân để đổi mới hệ thống chính trị

Dựa vào nhân dân là một bài học lịch sử lớn rút ra từ thực tiễn cách mạng nước ta và mãi mãi là một bài học có ý nghĩa cấp thiết trên mỗi chặng đường phát triển đất nước. Quá trình đổi mới hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay, việc thấm nhuần sâu sắc bài học này có ý nghĩa to lớn và là một yếu tố bảo đảm sự thành công của đổi mới. Dựa vào nhân dân, tức là vào vai trò và sức mạnh quyết định của nhân dân.

Để quần chúng nhân dân ủng hộ và tham gia tích cực vào quá trình đổi mới chính trị thì phải hết sức chăm lo tới lợi ích nhu cầu thiết thân, hằng ngày của dân chúng, như cơm ăn, áo mặc, học hành, chỗ ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe và mọi nhu cầu văn hóa tinh thần khác. Phải làm cho mọi thông tin đến được với nhân dân, mọi chủ trương, quyết sách được thảo luận, bàn bạc, góp ý, hiến kế. Những gì thuộc về tự quản cộng đồng, người dân phải được trực tiếp quyết định, do nhân dân làm chủ.

Những hoạt động của Đảng, Nhà nước, đoàn thể và hành vi của các cán bộ, công chức phải có sự kiểm tra, giám sát xã hội của nhân dân. Nhân dân trực tiếp (qua các phương tiện thông tin đại chúng) hoặc gián tiếp (qua các tổ chức đại diện) tham gia vào việc tư vấn, phản biện với các cơ quan của Đảng và Nhà nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng nhắc nhở cán bộ phải gần dân, hỏi dân, học dân, nghe dân.

Tóm lại, cần thực hành dân chủ rộng rãi, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để nâng cao vai trò làm chủ, rèn luyện năng lực làm chủ, phát huy tác dụng làm chủ của nhân dân, nhất là trong việc xây dựng đường lối, đánh giá chính sách, lựa chọn cán bộ, chấn chỉnh tổ chức, phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực để làm trong sạch bộ máy, thể chế, đoàn kết lực lượng nhân dân và tin tưởng ở năng lực của nhân dân, giải quyết kịp thời những đề nghị chính đáng của nhân dân; đồng thời, luôn đem lại lợi ích cho nhân dân. Đó là cách thức tốt nhất để nhân dân ủng hộ và tích cực tham gia đổi mới hệ thống chính trị. Đổi mới chính trị và hệ thống chính trị dù là rất khó khăn, phức tạp, nhưng nếu có nhân dân tham gia và tổ chức tốt mọi việc để nhân dân tham gia thì chắc chắn sự nghiệp đổi mới hệ thống chính trị sẽ tất yếu thành công./.

…………………………..........

 CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN HƯỚNG LÁI DƯ LUẬN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

Lợi dụng vào việc Tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, các thế lực thù địch, phản động đưa ra những luận điệu xuyên tạc, chống phá. Gần đây, trên trang Voatiengviet, Bút danh Đinh Hoàng Thắng có bài viết “Nếu muốn cách mạng hệ thống chính trị…” để tuyên truyền xuyên tạc, hướng lái dư luận về công cuộc đổi mới hệ thống chính trị mà Đảng và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện.
Bằng thủ đoạn “tường thuật” lại những lời phát biểu của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, Đinh Hoàng Thắng hướng lái dư luận cho rằng: “Đây là nhiệm vụ bất khả” vì vậy, lãnh đạo Việt Nam “đành cố gắng vá víu để trấn an các đồng chí trong Đảng cũng như dư luận xã hội”. Y cho rằng, tinh gọn bộ máy tổ chức hệ thống chính trị, nhưng vẫn “hoài niệm về một hệ thống dựa trên các tiêu chí Lê-nin-nít” là “bất khả”… từ đó Đinh Hoàng Thắng xuyên tạc rằng “trong nhiều năm qua, Đảng đã ban hành hàng loạt nghị quyết với kỳ vọng tái cấu trúc hệ thống và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia”, nhưng “bất thành”, bộ máy vẫn “cồng kềnh, kém hiệu quả”, chỉ dừng lại ở “sự vá víu” và “nhân dân đang chờ đợi đổi mới” từng ngày.
Thoạt nhìn, có vẻ như đây là một bài viết mang tính phản biện xã hội về công cuộc cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Thực chất, đây là bài viết hết sức nguy hại, hướng lái dư luận đi ngược lại với đường lối, chủ trương của Đảng, lợi dụng công cuộc đổi mới của Việt Nam, nhất là đổi mới về chính trị để xuyên tạc bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác- Lênin - một trong những nền tảng tư tưởng của Đảng. Tạo dư luận trái chiều kích động tâm lý, lòng tin của nhân dân đối với nền tảng tư tưởng của Đảng; cổ xúy cho tư tưởng chính trị tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.
Trước hết, cần nhận thức rõ, đổi mới, cải cách là yêu cầu khách quan, bắt buộc của mọi Đảng, Nhà nước, tồn tại ở mọi chế độ chính trị với những mức độ và dạng thức khác nhau, không phải chỉ riêng chế độ xã hội chủ nghĩa. Tính chất, mức độ đổi mới, cải cách phụ thuộc vào sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất; cơ sở hạ tầng phù hợp với kiến trúc thượng tầng ở quốc gia đó vào thời điểm hiện tại và với những tính toán chiến lược lâu dài của mỗi quốc gia. Đổi mới hay tụt hậu ? đổi mới toàn diện hay trên từng lĩnh vực cụ thể ? luôn phải dựa vào điều kiện thực tiễn, yêu cầu, khả năng phát triển của từng quốc gia cụ thể. Đối với cuông cuộc cách mạng ở Việt Nam luôn phải đổi mới không ngừng, đó là yêu cầu bắt buộc, tất yếu để phát triển đất nước, là chủ trương chiến lược của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện được điều đó, vấn đề mang tính tất yếu và then chốt của Đảng là: bên trong nội bộ Đảng luôn phải tự đổi mới, chỉnh đốn, đấu tranh chống tham nhũng, thoái hóa, biến chất, bên ngoài phải lãnh đạo toàn diện đất nước, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, đổi mới bộ máy tổ chức bộ máy hệ thống chính trị thực sự “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”.
Những kết quả nổi bật về công cuộc đổi mới đất nước, đổi mới, sắp xếp bộ máy tổ chức hệ thống chính trị đã và đang tiến hành ở Việt Nam những năm qua càng khẳng định công cuộc đổi mới đất nước, trong đó có đổi mới tinh, gọn bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị là hoàn toàn đúng đắn. Đồng thời, là minh chứng đập tan mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, chống phá của các thế lực thù địch, phản động./.
Nguồn: copy Nhân văn Việt
Có thể là hình ảnh về văn bản