Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2025

 Lật tẩy âm mưu cổ xúy thuyết “vũ khí luận” nhằm chống phá Quân đội -

Thuyết “vũ khí luận” xét về bản chất là tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí, trang bị, xem nhẹ nhân tố con người cũng như nhân tố chính trị tinh thần, hướng đến xây dựng quân đội chuyên nghiệp phi chính trị.
Nếu sa vào thuyết “vũ khí luận” sẽ làm mất ý chí, quyết tâm chiến đấu của quân đội, điều đó hết sức nguy hiểm. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh chống thuyết “vũ khí luận” của các thế lực thù địch là một trong những nhân tố quan trọng góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao sức mạnh tổng hợp, sức mạnh chiến đấu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng để xuyên tạc, chống phá Quân đội, đưa ra những quan điểm sai trái, trong đó có thuyết “vũ khí luận” mà bản chất là tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí, trang bị, xem nhẹ nhân tố con người. Thuyết “vũ khí luận” là một phần của âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, phản động.
📌👉Nguyên nhân ra đời của thuyết “vũ khí luận”
Trong cuốn sách “Bàn về chiến tranh” (xuất bản năm 1832) của nhà lý luận quân sự Đức Carl von Clausewitz (1780-1831), bên cạnh những quan điểm khoa học, tiến bộ nhất định, ông đã đưa ra quy luật thực hiện thắng lợi mục tiêu và biện pháp chiến đấu bằng sức mạnh của vũ khí.
Luận điểm của Clausewitz đã trở thành nền tảng cho các luận điểm quân sự tư sản sau này, tuyệt đối hóa điều kiện vật chất, vũ khí, trang bị, quy sức mạnh quân sự vào số lượng, chất lượng vũ khí, từ đó hạ thấp vai trò nhân tố con người, biến con người thành vật phụ thuộc vào vũ khí. Từ đó, họ đưa ra quan điểm xây dựng quân đội nhà nghề, quân đội chuyên nghiệp phi chính trị hóa.
Thực chất của quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí là coi nhẹ yếu tố con người, coi nhẹ tính chính trị của quân đội để bao che, ngụy biện cho mục đích chính trị của các cuộc chiến tranh xâm lược, đánh lừa nhận thức người dân, phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản về kinh tế, chính trị trong các cuộc chiến tranh gắn với tư bản hiếu chiến, hám lợi ích vật chất, coi nhẹ sinh mạng con người.
Sự ra đời của nhiều loại vũ khí công nghệ cao được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo dựa trên những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, có sự nhảy vọt về chất lượng và tính năng kỹ thuật, chiến thuật, hoạt động trong điều kiện địa hình, thời tiết phức tạp như bom hạt nhân siêu chính xác, robot chiến trường, máy bay không người lái, tàu ngầm... Những đặc điểm mới ưu việt của vũ khí công nghệ cao và hiệu quả của nó trong những cuộc chiến tranh gần đây đã làm cho quan điểm “vũ khí luận” tư sản có cơ hội “tái sinh”. Thuyết “vũ khí luận” cho rằng, trong chiến tranh, vũ khí có vai trò quyết định, bên nào sở hữu vũ khí hiện đại, tối tân sẽ giành chiến thắng.
Về lý luận, quan điểm “vũ khí luận” là phản khoa học, chứa đựng nhiều mâu thuẫn khi không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh. Nó thể hiện sự bế tắc chính trị, khi chỉ thấy sức mạnh, ưu thế trên lý thuyết của vũ khí mà lờ đi nguồn gốc tạo ra vũ khí chính là con người, sử dụng và điều khiển vũ khí cũng là con người.
Về thực tiễn, vũ khí trong tay tư sản trở thành hàng hóa siêu lợi nhuận, không chỉ đem lại những món hời khổng lồ mà còn đem lại những lợi thế chính trị to lớn. Vì thế, chủ nghĩa đế quốc không ngại kích động chiến tranh để thúc đẩy buôn bán vũ khí.
Từ đó, có thể kết luận rằng thuyết “vũ khí luận” không chỉ sai lầm mang tính ngẫu nhiên của một cá nhân hoặc một nhóm người mà là sai lầm gắn liền với chủ nghĩa tư bản, xuất phát từ bản chất lợi ích của chế độ tư bản chủ nghĩa và sự phản động của chủ nghĩa đế quốc.
📌👉Sự nguy hại của thuyết “vũ khí luận”
Qua nghiên cứu có thể thấy được nguồn gốc, bản chất, những biểu hiện cụ thể và những hạn chế, bất lực của thuyết “vũ khí luận” được thể hiện trên những phương diện cụ thể sau:
📌Thứ nhất, trong chiến tranh, con người và vũ khí có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó con người là yếu tố quyết định. Bởi theo quan điểm của triết học mác-xít, con người sáng tạo ra công cụ và sử dụng công cụ ấy để sáng tạo ra đời sống xã hội. Con người vừa là chủ thể tạo ra vũ khí, vừa điều khiển, định hướng, kiểm soát mọi quá trình sử dụng vũ khí. Vũ khí, phương tiện hiện đại đến đâu cũng có điểm yếu, cũng cần phải có con người sáng tạo và điều khiển nó. Vũ khí chỉ là một phần tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến đấu, phải được kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn, linh hoạt và sáng tạo của các yếu tố cơ bản, đó là: Con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật quân sự... Trong đó, con người là yếu tố chủ thể, có vai trò quyết định đến kết quả trận đánh.
Lênin đã viết: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của những người anh em, là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm “người trước, súng sau” nhằm khẳng định vai trò quyết định của con người trong chiến tranh. Bác Hồ viết: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”. Bởi lẽ, con người trong hoạt động quân sự là lực lượng toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang là nòng cốt. Bác nhấn mạnh: “Không thể cậy vũ khí mà có thể quyết định được thắng lợi. Phải xem những người cầm vũ khí có phải là những chiến sĩ hăng hái đánh trận không”.
Bên cạnh đó, tính chất khó khăn, phức tạp, quyết liệt, nguy hiểm vốn có của môi trường quân sự như điều kiện địa hình, thời tiết, sự tấn công của đối phương làm tăng sự cản trở việc sử dụng vũ khí trong chiến tranh, cho nên con người quyết định hiệu quả thực tế của vũ khí. Như vậy, hiệu quả thực tế của vũ khí trong chiến tranh không chỉ phụ thuộc vào tính năng, kỹ, chiến thuật của vũ khí mà yếu tố quyết định vẫn là con người bằng trí tuệ, ý chí khắc phục khó khăn trong tác chiến, động cơ, mục đích sử dụng vũ khí. Ngược lại, vũ khí cũng có vai trò quan trọng, là phương tiện để vô hiệu hóa đối phương nhanh và hiệu quả trên chiến trường. Tuy nhiên, con người điều khiển vũ khí cần phải có mục tiêu, lý tưởng và bản lĩnh chính trị vững vàng, chắc chắn.
📌Thứ hai, kinh nghiệm thực tiễn từ hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 của quân và dân ta đã để lại những bài học vô cùng quý báu về phát huy sức mạnh con người Việt Nam trong sử dụng vũ khí thô sơ, kém hiện đại để đánh thắng vũ khí hiện đại của địch. Đối mặt với kẻ thù được trang bị vũ khí tối tân, hiện đại bậc nhất lúc bấy giờ (trừ vũ khí hạt nhân) nhưng chúng ta vẫn giành chiến thắng. Đây chính là biểu hiện cao nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh và là nét độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, huy động được mọi nguồn lực, sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân ta trong kháng chiến cứu nước với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, “Cả nước ra quân, toàn dân đánh giặc”, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.
Để đánh bại vũ khí hiện đại cùng những thủ đoạn xảo quyệt và tàn bạo của địch, quân và dân ta không những dũng cảm, kiên cường mà còn thông minh, sáng tạo, từng bước chế tạo và cải tiến vũ khí, phù hợp với con người, điều kiện và môi trường tác chiến ở Việt Nam. Đúng như lời Bác Hồ từng khẳng định: “Tuy khí giới ta còn kém, kinh nghiệm ta còn ít, nhưng lòng kiên quyết, chí hy sinh của tướng sĩ ta đã lập những chiến công oanh liệt, vẻ vang, có thể nói là kinh trời động đất”.
📌💯Bài học về chính thể cầm quyền của một số quốc gia trên thế giới gần đây bị thất bại cho thấy mặt trái của thuyết “vũ khí luận”. Vào những năm đầu của thế kỷ 21, một số nước trên thế giới đã trang bị vũ khí khá hiện đại cho những người lính, thậm chí trang bị đến cả người dân. Nhưng khi bị đối phương đánh phủ đầu thì người ta thấy, nhiều loại vũ khí, trang bị hiện đại đã bị những người lính bỏ lại trên đường phố, dẫn đến sự thất bại trong cuộc chiến và chính thể của các nước đó đã bị lật đổ hoàn toàn.
Trung tá HUỲNH HIẾU THANH, Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh

 KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, HẠ THẤP UY TÍN CỦA ĐẢNG

Luận điệu phổ biến nhất của các thế lực thù địch hiện nay là “phân” Đảng Cộng sản Việt Nam ra thành “phe nọ” “phái kia” và dựng ra câu chuyện về sự “đấu đá khốc liệt” giữa các “phe phái” trong Đảng Cộng sản Việt Nam, không phải là phe “bảo thủ” hay “cấp tiến” đơn thuần như trước đây nữa mà là phe “thân Tàu” hay “thân Mỹ”, phe “Công An”, phe “Quân đội”...
Có thể dễ dàng nhận thấy quan điểm nói trên không chỉ sai mà là đầy ác ý!
Vậy thì sự thực trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam có phe phái?
Về Đảng Cộng sản Việt Nam, điều rõ như ban ngày không chỉ đối với người dân Việt Nam mà là còn là đối với chính phủ và nhân dân các nước, trước hết là sự kiên định mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Thực tế cho thấy, không có thế lực bên ngoài nào có thể can thiệp được vào công việc nội bộ của Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam giành được chính quyền và lãnh đạo đất nước.
Từ khi có đường lối Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, về đối ngoại, Đảng Cộng sản đã đề ra được một đường lối hết sức đúng đắn và hợp lòng dân, đó là “đa phương, đa dạng hóa, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của tất cả các nước…”. Trong quan hệ với tất cả các nước điều được Đảng Cộng sản thượng tôn là tinh thần hòa hiếu, là bạn là đối tác tin cậy…, nhưng phải tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau.
Vì vậy, thực chất ở Việt Nam là không có “phe thân Tàu” hay “phe thân Mỹ” mà là chỉ có một phe duy nhất là “phe yêu dân tộc”! Vấn đề nhân sự trong Đại hội XIV sắp tới của Đảng, nếu có sự cân nhắc, tranh luận về nhân sự, thì về cơ bản, cũng chỉ xuất phát từ lợi ích của dân tộc mà thôi!
Nhận diện rõ và đấu tranh với bệnh bè phái
Sinh thời, khi nói về biểu hiện của bệnh bè phái, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe”. Bè phái là một căn bệnh nguy hiểm. Nó không chỉ khiến nội bộ lục đục, mất đoàn kết mà còn làm cho uy tín của Đảng với quần chúng nhân dân bị giảm sút nghiêm trọng.
Đoàn kết là nguồn gốc tạo nên sức mạnh của Đảng ta. Nhờ sự đoàn kết, nhất trí một lòng, Đảng ta đã lãnh đạo quần chúng nhân dân làm nên những chiến thắng vang dội, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Dù ở thời kỳ nào, giai đoạn nào, đoàn kết cũng luôn là “chìa khóa” để mở ra sự thành công của Đảng và dân tộc ta. Tuy nhiên, bên cạnh những cán bộ, đảng viên luôn hết lòng, hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc thì cũng có những người lợi dụng vị trí, chức quyền để thỏa mãn lợi ích cá nhân. Để bảo vệ lợi ích của mình, họ không ngần ngại xây dựng “tay chân”, móc nối trên - dưới, trong - ngoài cũng như sẵn sàng trù dập, triệt hạ những người không cùng phe cánh. Dưới sức nóng của công cuộc “đốt lò”, không ít “nhóm lợi ích” đã bị phanh phui, hàng loạt quan chức sai phạm đã bị đưa ra xử lý.
Trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Đảng ta xác định rõ cục bộ, bè phái là một trong những biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức, lối sống và cần phải ngăn chặn, đẩy lùi. Đến Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9-5-2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, Đảng tiếp tục yêu cầu cán bộ, đảng viên phải kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm. Ở mọi thời kỳ, việc đấu tranh, ngăn chặn bệnh bè phái đều có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
“Bắt mạch” căn bệnh này, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra: “Bè cánh được lôi kéo từ những người có họ hàng, là bà con, cháu, chắt, thân tín, thậm chí mở rộng ra là người cùng xóm, cùng quê; rồi “chén chú, chén anh”, tung hô nhau, ủng hộ nhau, dùng số đông, lợi dụng và bóp méo nguyên tắc tập trung dân chủ, dồn những người tốt, có tài nhưng không cùng “cánh” xuống để “tiêu diệt”, để cát cứ, thao túng…”. Có nhiều lý do được đưa ra để bao biện cho việc bè phái. Tuy nhiên, nguyên nhân trực tiếp vẫn là do những người này sa vào chủ nghĩa cá nhân, chưa thấm nhuần tính Đảng, chưa hiểu rõ trách nhiệm của đảng viên và chưa xứng đáng với niềm tin của quần chúng nhân dân.
Bè phái khiến nguyên tắc tập trung dân chủ không được thực hiện nghiêm túc. Đồng thời, nó cũng là nguyên nhân kéo theo nhiều biểu hiện nguy hiểm khác như a dua, nịnh bợ, lấy lòng nhau; thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng; nhận xét, đánh giá, xếp loại cán bộ không dựa trên năng lực thực tế... Nguy hiểm hơn, với những người có chức quyền lớn, họ sẽ lợi dụng quyền lực được giao để phục vụ mục đích cá nhân, tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà, “cánh hẩu” vào các vị trí lãnh đạo, quản lý dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích. Cũng chính bởi bè phái mà nảy sinh tình trạng “nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, bốn đồ đệ, bét trí tuệ”, khiến nhiều người có năng lực nhưng không được trọng dụng, thậm chí bị chèn ép, phải “dứt áo ra đi” khỏi các cơ quan công quyền.
Trước vấn đề đó, ngày 11-7-2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 114-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Theo đó, Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo không bố trí người có quan hệ gia đình đồng thời đảm nhiệm các chức danh có liên quan gồm: Thành viên trong cùng ban thường vụ cấp ủy, ban cán sự Đảng, đảng đoàn; tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong cùng địa phương, cơ quan, đơn vị. Tại phiên họp đầu tiên của Tiểu ban nhân sự Đại hội XIV, Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nhấn mạnh đến việc “chống tư tưởng cục bộ, địa phương, thân quen, “cánh hẩu”, “lợi ích nhóm”” khi chuẩn bị nhân sự cho đại hội Đảng khóa tới. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng thẳng thắn chỉ ra: “Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế là có tội với Đảng, có tội với đồng bào”. Thực tế, bè phái là căn nguyên làm cho không ít cấp ủy, tổ chức đảng bị mất đoàn kết, không còn sức chiến đấu, thậm chí là tê liệt. Dưới vỏ bọc tập thể, các “nhóm lợi ích”, phe phái đã thực hiện hành vi nhũng nhiễu, sai phạm, bòn rút của công, gây thất thoát một lượng lớn tài sản của Nhà nước. Điều này dẫn đến hiệu quả vai trò lãnh đạo của Đảng không thể thực hiện, uy tín của Đảng với quần chúng nhân dân bị giảm sút.
Trước những biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường của thời cuộc, việc kiên quyết đấu tranh với bệnh bè phái là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định đến vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta. Bởi vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần các quy định của Đảng, không ngừng rèn luyện bản lĩnh, tư cách, đạo đức đảng viên, đoàn kết, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện phe nhóm./.
Sáng mãi niềm tin

Phát huy vai trò của công tác cán bộ để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

 TCCS - Năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, vì họ là người quán triệt, tổ chức thực hiện, tiến hành kiểm tra, giám sát, tổng kết thực tiễn. Do vậy, để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, Đảng phải lựa chọn được đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa hồng”, “vừa chuyên”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu tại Lễ khai giảng Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, ngày 14-10-2024_Ảnh: Tư liệu

Vai trò của công tác cán bộ đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(1), “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(2); “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(3),... Với tư cách là Đảng duy nhất cầm quyền, được nhân dân giao phó trọng trách lãnh đạo, để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, yêu cầu đặt ra đối với Đảng là xây dựng bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực để đảm nhận nhiệm vụ được giao.

Nhận thức rõ vị trí và tầm quan trọng của công tác cán bộ đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đồng thời, có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”(4).

Để thực hiện được mục tiêu này, Đại hội XIII của Đảng xác định các nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp đột phá, đặc biệt là: “Đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ...”(5); “Tiếp tục hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, nhất là công tác tổ chức, cán bộ”(6); qua đó, khẳng định việc đổi mới mạnh mẽ trong công tác cán bộ và hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ là nhiệm vụ hệ trọng, được Đảng tập trung chỉ đạo thực hiện trong thời gian qua.

Công tác cán bộ luôn là khâu then chốt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Trong những năm qua, công tác cán bộ của Đảng đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 17-11-2022, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong tình hình mới” cũng chỉ ra hạn chế trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị; trong đó, nhấn mạnh năng lực cụ thể hóa và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng còn hạn chế, hiệu quả chưa cao. Chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để đội ngũ cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc. Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, năng lực hạn chế, phẩm chất, uy tín thấp, vi phạm kỷ luật của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Theo Ban Nội chính Trung ương, “trong năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 606 tổ chức đảng, hơn 24.160 đảng viên (tăng 12% về số đảng viên bị kỷ luật so với năm 2022). Trong đó, thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng, 8.863 đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 19 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Trong đó, lần đầu tiên có 6 cán bộ bị xử lý kỷ luật do vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập. Cũng trong năm 2023, các cơ quan chức năng đã cho thôi giữ chức vụ, nghỉ công tác, bố trí công tác khác đối với 9 cán bộ diện Trung ương quản lý. Các địa phương đã cho từ chức, miễn nhiệm, bố trí công tác khác hơn 360 trường hợp sau khi bị kỷ luật, trong đó có 92 cán bộ thuộc diện tỉnh ủy, thành ủy quản lý. Tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã thi hành kỷ luật 105 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 22 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng”(7). Cách xử lý kiên quyết, nghiêm khắc đó góp phần quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ.

Công tác cán bộ là công việc, nhiệm vụ quan trọng trong việc tổ chức và thực thi quyền lực của Đảng. Vi phạm của một số cán bộ, đảng viên đã gây ảnh hưởng tới uy tín, thanh danh của Đảng, mà nguyên nhân chủ yếu là do cơ chế kiểm soát quyền lực đối với công tác cán bộ chưa hiệu quả. Đây là lĩnh vực khó và dù Đảng ta đã có nhiều văn bản quy định về vấn đề này, nhưng chưa phát huy hết hiệu quả để ngăn ngừa tình trạng chạy chức, chạy quyền, sự tha hóa, biến chất trong công tác cán bộ.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, năng lực hoạch định, năng lực tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, cương lĩnh; năng lực lãnh đạo các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội..., Đảng phải lựa chọn, xây dựng được đội ngũ cán bộ “vừa hồng”, “vừa chuyên”, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn. Muốn vậy, Đảng phải tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền, vì đây là vấn đề then chốt để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong bối cảnh hiện nay.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng thăm, tặng quà động viên cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Phúc Sơn (xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn), Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An_Ảnh: TTXVN

Giải pháp nâng cao chất lượng công tác cán bộ, để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Một là, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ.

Công khai, minh bạch tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ nhân sự; cung cấp, trao đổi thông tin và giải trình khi có yêu cầu; đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương. Điều này sẽ tạo được sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, mà trước hết là trong tập thể cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp. Đoàn kết chính là sức mạnh của Đảng, là vũ khí sắc bén nhất của Đảng ta; trong Đảng có sự đoàn kết thì xã hội sẽ có sự đồng thuận, uy tín của Đảng, của hệ thống chính trị ngày càng được nâng cao, niềm tin của nhân dân dành cho Đảng ngày càng vững chắc. Xử lý nghiêm mâu thuẫn, bất đồng trong nội bộ cấp ủy; nếu không sẽ dẫn đến sự chia rẽ nội bộ, kéo bè kéo cánh, “lợi ích nhóm”. Nghiêm túc, quyết liệt chống chủ nghĩa cá nhân, với các biểu hiện, như vấn đề “lợi ích” trong công tác cán bộ, “lợi ích” từ các dự án đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng và vấn đề cơ cấu, quy hoạch nhân sự của đại hội đảng bộ các cấp.

Hai là, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo, bồi dưỡng về chính trị với rèn luyện, thử thách đội ngũ cán bộ trong các hoạt động, các phong trào thực tiễn.

Cấp ủy, lãnh đạo các cấp cần thường xuyên chăm lo thực hiện công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, thông qua các hình thức, như học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; mở các lớp bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về các nghị quyết của Đảng; tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, được đi học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Bên cạnh đào tạo, bồi dưỡng về chính trị thì khâu rèn luyện, thử thách cho đội ngũ cán bộ trong các hoạt động, các phong trào thực tiễn cũng rất cần được quan tâm sâu sát, tạo sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa “học đi đôi với hành”, giữa lý luận với thực tiễn. Cấp ủy cơ sở cần tổ chức các phong trào thi đua yêu nước để phát triển, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ ưu tú “vừa hồng”, “vừa chuyên” cho Đảng; chủ động, tích cực lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, các tổ chức đoàn thể, thông qua các phong trào thi đua yêu nước, thúc đẩy việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có hiệu quả. Mạnh dạn giao cho cán bộ thực hiện công việc khó, đòi hỏi sự nhiệt tình, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Ba là, xây dựng cơ chế cạnh tranh lành mạnh trong công tác cán bộ.

Hiện nay, tình trạng tư duy “cục bộ địa phương” trong công tác cán bộ còn diễn ra, chưa được ngăn chặn triệt để. Nguyên nhân là do chưa xây dựng được cơ chế cạnh tranh lành mạnh trong tất cả các khâu của công tác cán bộ; đặc biệt, hiện nay khâu đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu nhất, khó khăn nhất. Trên thực tế, đánh giá cán bộ trước khi quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển dễ rơi vào hình thức, cảm tính, thậm chí ở một số nơi còn liên quan đến “nhóm lợi ích”, dẫn đến tình trạng bổ nhiệm cán bộ thì đúng quy trình, nhưng người được bổ nhiệm không “đúng người, đúng việc”.  

Khi đánh giá, lựa chọn cán bộ, cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm quyền phải chú trọng tới đạo đức của người cán bộ; bởi vì, có đạo đức cách mạng sẽ làm cho họ thể hiện được tinh thần trách nhiệm với công việc được giao, luôn ý thức giữ mình trước cám dỗ; đồng thời, họ phải giữ gìn hình ảnh người đảng viên, xác lập các mối quan hệ công việc và xã hội một cách chuẩn mực, trong sáng. Tạo môi trường, cơ chế để đội ngũ cán bộ được thể hiện năng lực của mình một cách bình đẳng, thông qua công việc, bằng sản phẩm cụ thể. Khi đánh giá cán bộ, cần đánh giá cả một quá trình và đánh giá cả chiều hướng phát triển, thì mới có thể sát, đúng với năng lực và phẩm chất, đạo đức của một người cán bộ. Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, đặc biệt là người đứng đầu, cần khách quan, minh bạch trong lựa chọn và sử dụng cán bộ; đồng thời, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm quyền trong công tác cán bộ phải tự kiểm soát lẫn nhau, phải tiên phong, gương mẫu, thực hiện đúng theo Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”, Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”.

Bốn là, kiểm tra, giám sát và xử lý trách nhiệm trong công tác cán bộ của cấp ủy các cấp.

Đảng ta khẳng định, không kiểm tra, giám sát coi như không lãnh đạo. Vì vậy, để công tác cán bộ được thực hiện đúng với chủ trương, quy định, kết luận của Đảng, cấp ủy phải thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, giám sát trong công tác cán bộ. Kiểm tra, giám sát không chỉ thực hiện khi có dấu hiệu vi phạm, mà cần kiểm tra, giám sát toàn bộ quá trình từ khi có dự thảo chủ trương, quy định, quy trình thực hiện về công tác cán bộ thì mới hiệu quả. Cấp ủy cấp trên trực tiếp và ủy ban kiểm tra cấp trên phải thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ, với tinh thần, trách nhiệm, quyết tâm chính trị cao thì công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nói chung và trong công tác cán bộ nói riêng mới bảo đảm hiệu lực, hiệu quả. Nếu không kiểm tra, giám sát thì sẽ khó khắc phục được tình trạng hình thức, né tránh, bao che, tồn tại “vùng cấm” trong công tác kiểm tra, giám sát.

Để ngăn ngừa, hạn chế, ngăn chặn hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, chạy chức, chạy quyền trong công tác cán bộ; trước hết, bản thân cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, đặc biệt là người đứng đầu, phải có nhận thức, trách nhiệm đúng về vai trò của cán bộ và công tác cán bộ; đồng thời, phải luôn xử lý hài hòa mâu thuẫn, bất đồng trong tập thể lãnh đạo, kết hợp thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong tập thể cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp; phát huy vai trò làm chủ, giám sát của nhân dân, tăng cường vai trò phản ánh dư luận xã hội của báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đặc biệt là trong công tác cán bộ của Đảng.

Năm là, xử lý nghiêm hành vi chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.

Tình trạng chạy chức, chạy quyền, tiêu cực hiện nay vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi triệt để; mặc dù Quy định số
205-QĐ/TW, ngày 23-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” và hiện nay là Quy định số 114-QĐ/TW, ngày 11-7-2023, của Bộ Chính trị, “Về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ” chỉ ra rất rõ hành vi chạy chức, chạy quyền, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn và các hành vi tiêu cực khác; nhưng việc thực hiện quy định này trong thực tiễn vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, yêu cầu đặt ra cấp thiết hiện nay là làm rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân. Nếu phát hiện vi phạm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên thì phải xử lý đúng quy định để răn đe, ngăn chặn tình trạng chạy chức, chạy quyền, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những việc phải làm trên cương vị được giao trong công tác cán bộ; qua đó, giữ được kỷ luật của Đảng, đẩy lùi vi phạm, xây dựng được đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là “một việc làm cần thiết, tất yếu; một xu thế không thể đảo ngược”(8); tuy nhiên, đây là công việc không thể chỉ làm một lần là xong, mà phải làm rất kiên quyết, kiên trì, bền bỉ; làm thường xuyên, liên tục, làm đi làm lại nhiều lần, đòi hỏi quyết tâm rất lớn, thống nhất rất cao, biện pháp thực hiện quyết liệt. Vì vậy, tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, phòng, chống hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hành vi chạy chức, chạy quyền là một trong những giải pháp để lựa chọn được đội ngũ cán bộ xứng đáng, có năng lực xây dựng đường lối, cương lĩnh, nghị quyết và cụ thể hóa một cách hiệu quả thông qua hệ thống chính trị. Đây là nhiệm vụ then chốt để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới.

Sáu là, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám làm vì lợi ích chung trong công tác cán bộ.

Bên cạnh thực thi cơ chế phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trong công tác cán bộ thì việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ vì sự nghiệp chung của Đảng và của dân tộc có vai trò quan trọng. Vì vậy, trong công tác cán bộ, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế để tập thể cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm trước quyết định của mình, nhằm lựa chọn đúng người, bố trí đúng việc vì lợi ích chung. Trong lịch sử cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng lựa chọn, bố trí cán bộ là người thực sự có năng lực công tác, có phẩm chất đạo đức tốt, không ngừng nỗ lực phấn đấu, học hỏi, trưởng thành dần trong công việc, nhưng bằng cấp không cao, hoặc chưa có bằng cấp. Đặc biệt là, cán bộ do Bác Hồ lựa chọn đã thể hiện được tài năng của mình để cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Bảy là, thực hiện kiểm soát tốt việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ.

Thực hiện Nghị định số 130/2020/NĐ-CP, ngày 30-10-2020, của Chính phủ, “Về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị”, trong những năm vừa qua, việc kê khai, xác minh tài sản, thu nhập đã được thực hiện nghiêm túc, góp phần không nhỏ vào việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tuy nhiên, quá trình kê khai, xác minh tài sản, thu nhập vẫn còn không ít bất cập; theo báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực năm 2023 của Chính phủ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội: “Về thực hiện các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập, trong kỳ đã có 60.458 người kê khai tài sản, thu nhập lần đầu; 545.535 người đã kê khai tài sản, thu nhập hằng năm; 44.015 người đã kê khai tài sản, thu nhập bổ sung; 161.928 người kê khai tài sản, thu nhập phục vụ công tác cán bộ; 655.299 người đã được công khai bản kê khai tài sản, thu nhập. Kết quả xác minh tài sản, thu nhập năm 2022 là 13.093 người; có 2.664 người có sai sót về kê khai sai mẫu, chưa bảo đảm theo hướng dẫn, không đầy đủ thông tin, chậm thời hạn so với quy định...; có 54 người bị xử lý do không trung thực trong việc kê khai tài sản, thu nhập và giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm(9).

Để tiếp tục thực hiện tốt hơn việc kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập, cần lưu ý các vấn đề sau:

Thứ nhất, thực hiện kiểm soát thu nhập theo Luật Thuế thu nhập cá nhân và quy định kê khai tài sản, thu nhập. Việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ cần được kiểm soát chặt chẽ, đúng mức; các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan quản lý cán bộ, công chức, viên chức có cơ chế giải trình, kiểm tra, xác minh để bảo đảm việc kê khai tài sản, thu nhập được tiến hành một cách công khai, minh bạch, trung thực. Ngoài việc kiểm soát thu nhập thông qua thuế thì cần thực hiện nghiêm túc việc giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm, gắn với việc xác minh tính hợp pháp của tài sản, thu nhập tăng thêm, trường hợp không chứng minh được sẽ bị thu hồi.

Thứ hai, theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, nhiều cơ quan, tổ chức, bao gồm Thanh tra Chính phủ, thanh tra tỉnh, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội về công tác đại biểu, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội, có trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai. Để bảo đảm sự thống nhất, tránh tình trạng chồng chéo thẩm quyền, cần tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền của Đảng với cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập trong bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thứ ba, theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng thì trách nhiệm xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập thuộc về Thanh tra Chính phủ. Các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập khác cũng có trách nhiệm xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ cơ sở dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập trong phạm vi quản lý của mình. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu để có sự quản lý thống nhất đối với cơ sở dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập./.

------------------------

 THỰC HIỆN TỐT CHỨC NĂNG ĐỘI QUÂN CÔNG TÁC, XỨNG DANH “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ gìn mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân; hoàn thành xuất sắc chức năng đội quân công tác; góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, tô thắm hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Không có dân thì không có bộ đội”, “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước, yêu dân, cho nên hy sinh kham khổ…”. Trong kháng chiến, kiến quốc, quân đội ta luôn được nhân dân đùm bọc, che chở. Trong thời bình, quân đội ta tiếp tục được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu vì bình yên của Tổ quốc...
Cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn xác định rõ trách nhiệm, hết lòng giúp đỡ nhân dân cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn... Sức mạnh từ mạch nguồn ấy cần phải được nâng niu, nuôi dưỡng và phát huy hơn nữa trong mọi hoàn cảnh.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh: Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công; từ khi thành lập đến nay, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn dựa vào dân, sát cánh cùng nhân dân thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quân-dân, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong các giai đoạn cách mạng của Ðảng.
Ðể thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, các đơn vị trong toàn quân đã quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đặc điểm, tình hình thực tiễn để xây dựng kế hoạch, chương trình hành động, tích cực vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh của địa phương, tham gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội và hưởng ứng các phong trào, cuộc vận động cách mạng của Trung ương và địa phương phát động.
Trên từng địa bàn đóng quân, bộ đội luôn sâu sát, gắn bó, gần gũi với nhân dân, chia ngọt sẻ bùi trước những khó khăn, vất vả của nhân dân; nhiều cán bộ, chiến sĩ không quản khó khăn, gian khổ, gắn bó với vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng, miền núi, biên giới, hải đảo để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các phong trào, các cuộc vận động cách mạng và nhiệm vụ chính trị của địa phương; nâng cao cảnh giác, nhận rõ âm mưu của các thế lực thù địch, nhất là thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá, làm suy giảm sức mạnh, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc..., góp phần giữ gìn, củng cố niềm tin yêu của nhân dân với Ðảng, Nhà nước; sự gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân.
Các đơn vị quân đội luôn gương mẫu thực hiện đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương củng cố tổ chức, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng-an ninh, phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, nhất là ở các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (hiện nay quân đội phân công 736 cán bộ tăng cường cấp xã; 2.550 đảng viên tham gia sinh hoạt tại các thôn, bản khu vực biên giới; 8.698 cán bộ, đảng viên các đồn biên phòng phụ trách 34.615 hộ dân khu vực biên giới…), góp phần củng cố, tăng cường hiệu lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của cấp ủy, chính quyền cơ sở.
Với phương châm “Dân cần Bộ đội có-Dân khó có Bộ đội”, “Bộ đội chủ động đến với dân, không chờ dân khó khăn phải tìm đến Bộ đội”, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn chủ động, sáng tạo triển khai nhiều phong trào thi đua, tham gia chương trình phát triển kinh tế-xã hội gắn với củng cố quốc phòng-an ninh, cùng địa phương xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.
Từ năm 2019 đến nay, các đơn vị quân đội đã hỗ trợ xây dựng hơn 28.000 căn nhà cho cán bộ, chiến sĩ và các hộ dân nghèo khó khăn về nhà ở. Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, đến nay quân đội đã hỗ trợ, xây dựng được gần 25.000 căn nhà (Nhà tình nghĩa, Nhà Ðại đoàn kết, Nhà Ðồng đội, xóa nhà tạm, nhà dột nát), góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn.
Thông qua hoạt động, đã có nhiều mô hình tiêu biểu của các đơn vị, như: “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Quân đội chung tay vì người nghèo-Không để ai bị bỏ lại phía sau”; “Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân”, “Hải quân Việt Nam làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi, bám biển”, “Thầy giáo, thầy thuốc mang quân hàm xanh”, “Ðiểm dân cư liền kề chốt biên phòng, chốt dân quân biên giới”...
Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích, đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường; trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhất là những lúc khó khăn, hoạn nạn, thiên tai, dịch bệnh, sự có mặt của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam là chỗ dựa tin cậy vững chắc cho cấp ủy, chính quyền địa phương và củng cố niềm tin cho nhân dân.
Khi bão số 3 (Yagi) tàn phá các tỉnh miền bắc (tháng 9/2024), cán bộ, chiến sĩ toàn quân không quản ngại khó khăn, gian khổ, giúp nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả do cơn bão gây ra; đã tổ chức thông báo, kêu gọi hơn 51 nghìn tàu thuyền với gần 220 nghìn người về nơi tránh, trú an toàn; gia cố, hộ đê, xử lý sạt lở hơn 21 km; tổ chức di dời 96 nghìn hộ với gần 375 nghìn lượt người đến nơi an toàn; cứu nạn 870 nghìn người… Ðã có những đồng chí hy sinh vì cuộc sống của nhân dân.
Cùng với đó, các đơn vị quân đội luôn quan tâm xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội, góp phần làm cho cán bộ, chiến sĩ thêm yêu mến đơn vị, gắn bó với nhân dân, lan tỏa hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.
Thông qua công tác dân vận, chức năng đội quân công tác của quân đội đã làm sâu sắc hơn mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam nhận thức sâu sắc về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quân dân; khắc ghi trong lòng lời thề thứ chín trong 10 lời thề danh dự của quân nhân: Kính trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân...; tiếp tục phát huy trách nhiệm chính trị lớn lao, tích cực phối hợp tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.
Chủ động đấu tranh với các quan điểm, hành động sai trái, thù địch nhằm chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân; bảo vệ Ðảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Tích cực xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạnh to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước ta tiến vào kỷ nguyên mới-Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Trung tướng TRƯƠNG THIÊN TÔ
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam

Xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả” theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 TCCS - Để tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, một trong những “nhiệm vụ đặc biệt quan trọng”, “rất cấp bách, bắt buộc phải làm” là thực hiện “cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị”(1). Việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị có ý nghĩa quan trọng để thực hiện nhiệm vụ tinh gọn bộ máy “rất khó” nhưng “không thể chậm trễ hơn được nữa”.

Tổng Bí thư Tô Lâm xem giới thiệu các ứng dụng chuyển đổi số trong các cơ quan đảng khi dự Hội nghị tổng kết công tác năm 2024 và triển khai nhiệm vụ công tác 2025 của Văn phòng Trung ương Đảng_Ảnh: TTXVN

Bộ máy phải tinh gọn để “làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân”

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện và để lại dấu ấn sâu đậm trong quá trình hình thành và phát triển tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam. Bề dày thực tiễn kết tinh nên hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, trong đó nổi bật là những chỉ dẫn về “tinh gọn” để bộ máy mạnh mẽ và sáng suốt, “làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân”.

Tinh gọn bộ máy không phải là một sách lược chính trị, cách thức cải tiến tổ chức tạm thời mà là công việc thường xuyên, có tính quy luật để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Sự quan tâm liên tục của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy ý nghĩa chiến lược của xây dựng bộ máy tinh gọn đối với hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; qua đó, tác động to lớn đến tiến trình vận động và phát triển của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Bộ máy phải tinh gọn là yêu cầu có tính nguyên tắc được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhất quán nhấn mạnh trong toàn bộ quá trình hơn hai thập niên trực tiếp lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị của chế độ dân chủ cộng hòa. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, yêu cầu bộ máy phải tinh gọn thể hiện gián tiếp qua những đề cập rất chi tiết của Người về cách tổ chức, hoạt động của chính quyền trong một số bài viết(2). Trong thời gian dài sau đó, trên cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu: “Cần chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy từ trên xuống dưới làm cho nó gọn gàng, hợp lý…”(3). Tư tưởng và thực tiễn đó khẳng định tính chất to lớn, quan trọng, lâu dài, có ý nghĩa chiến lược của việc tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị.

Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của hoạt động tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị. “Nước ta là nước dân chủ,… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên”; “Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ cho dân”(4). Do vậy, “Chính phủ và Đảng… bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm…”(5). Tinh gọn bộ máy để nhân dân bớt gánh nặng “nuôi” hệ thống chính trị, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả để “làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân và thêm lực lượng vào công việc tăng gia sản xuất”(6). Những nội dung này phản ánh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò động lực của nhân dân. Tinh gọn bộ máy không phải từ nhu cầu lợi ích tự thân của riêng hệ thống chính trị, mà cội nguồn khởi phát và thúc đẩy hoạt động tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị là nhu cầu của nhân dân với tư cách là chủ và làm chủ; là sự tham gia vào xây dựng tổ chức bộ máy của chế độ mới; là sự giám sát và tiếng nói phản ánh, phê bình của nhân dân đối với các tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị. Dựa vào dân là bài học thắng lợi của xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Nhận diện và giải quyết tốt vấn đề lợi ích là yếu quyết để tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng lợi ích chung, song cũng quan tâm đến lợi ích riêng của mỗi cơ quan và cá nhân trong hệ thống chính trị. Người phát huy triệt để sự tương đồng, thống nhất; lợi ích của nội bộ hệ thống chính trị và lợi ích của nhân dân chẳng những không khác biệt, mâu thuẫn, mà còn hòa quyện thống nhất, bởi: “…không có cái lợi ích nào của Đảng mà không phải là lợi ích của nhân dân, hay ngược lại không có lợi ích nào của nhân dân mà không phải là lợi ích của Đảng”(7). Lợi ích của cơ quan, đơn vị trong bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn là “gọn gàng, hợp lý, ít tốn người tốn của”; “mọi người đều có công việc thiết thực”(8). Tinh gọn bộ máy là động lực thúc đẩy mỗi cán bộ nỗ lực vươn lên “thi đua nâng cao năng suất của mình”(9), đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển chung. Vươn lên phát triển là lợi ích to lớn mà hoạt động tinh gọn tổ chức bộ máy mang lại cho mỗi cơ quan, đơn vị và cá nhân trong hệ thống chính trị. Tinh gọn tổ chức bộ máy mang lại lợi ích chung cho đất nước và nhân dân thông qua mang lại lợi ích phát triển cho mỗi cá nhân và đơn vị trong hệ thống chính trị. 

Tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là quá trình thực hiện đồng bộ giữa xây và chống. Chủ tịch Hồ Chí Minh xem tinh gọn bộ máy là quá trình “chỉnh đốn và kiện toàn”. Động lực chủ yếu của xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn là ngăn chặn, phòng trừ các nguy cơ, biểu hiện quan liêu, tiêu cực, xa dân gây ảnh hưởng đến bản chất quyền lực thuộc về nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc đến những biểu hiện tiêu cực này để khẳng định yêu cầu phải tinh gọn tổ chức bộ máy: “Từ các bộ, các ngành và các địa phương, bộ máy đều quá cồng kềnh và càng ngày càng phình ra. Vì vậy mà sinh ra quan liêu, lãng phí”(10); “bộ máy cồng kềnh, nhiều giấy tờ, hình thức... Từ cấp trên xuống cấp dưới, công việc chậm trễ, nhiều khi không ăn khớp. Chúng ta phải sửa chữa các khuyết điểm kể trên, coi trọng và thật sự kiện toàn chính quyền dân chủ nhân dân về các mặt công tác, tổ chức, cán bộ”(11). Kết quả của quá trình chỉnh đốn này là bộ máy được thiết kế và vận hành “gọn gàng, hợp lý, ít tốn người tốn của mà làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân”. Tóm lại, tinh gọn tổ chức bộ máy là “một cuộc sửa chữa, lau chùi, thêm dầu mỡ, thau nước… làm cho bộ máy ấy chạy nhanh hơn, đều hơn, để đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”(12).

Việc bảo đảm tính hệ thống, tính kế thừa trong một chỉnh thể thống nhất vừa là yêu cầu, vừa là mục đích của tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, bộ máy là một chỉnh thể với sự phân công và phối hợp thông suốt: “Một bộ máy là do nhiều thứ máy to nhỏ lắp lại. Các máy ấy đều ăn khớp với nhau, thì bộ máy tốt và sản xuất nhiều. Nếu chỉ một cái máy nhỏ không ăn khớp, thì cũng đã ảnh hưởng xấu đến toàn cả bộ máy”(13). Tinh gọn bộ máy không phải là phá vỡ hệ thống, không phải là “đập đi xây mới” hoàn toàn theo nghĩa phủ định sạch trơn. Người nhấn mạnh: “chỉnh đốn và kiện toàn” là càng để nâng cao tính thống nhất, bảo đảm cho “các máy ấy đều ăn khớp với nhau”. Theo Người, cách mạng là bỏ cái cũ tạo ra cái mới với điều kiện cái cũ lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp và cái mới thì tiến bộ, phù hợp. Với tinh thần đó, phương châm thể hiện trong thực tiễn lãnh đạo xây dựng tổ chức máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là trên cơ sở cái đã có những gì tốt, phù hợp thì giữ và phát huy, bộ phận nào kềnh càng, không phù hợp, lãng phí thì sắp xếp.

Tính toàn diện được thể hiện rõ nét trong tư tưởng và thực tiễn Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trên hai khía cạnh chủ yếu. Về nội dung, hệ thống chính trị phải được tinh gọn cả về bộ máy và nhân sự. Tiến hành sắp xếp, bố trí cơ quan, đơn vị trong hệ thống sao phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước. Trước câu hỏi “Sao bây giờ lại chỉ có 10 bộ?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Vì nước mình nhỏ nên không cần nhiều bộ”(14). Nhận thấy “từ các bộ, các ngành và các địa phương, bộ máy đều quá cồng kềnh và càng ngày càng phình ra”, Người kiên quyết yêu cầu phải sắp xếp lại cho gọn gàng và hợp lý hơn. Về nhân sự, tiến hành sắp xếp và tinh giản. Căn cứ vào việc để sắp xếp, điều chuyển nhân sự sao “cho gọn gàng, hợp lý, mọi người đều có công việc thiết thực, những người thừa phải đưa đi chỗ thiếu”. Về nhân sự, “thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân và thêm lực lượng vào công việc tăng gia sản xuất”(15). Theo Người, tinh giản là “nâng cao năng suất, giảm bớt số người”: “tinh là đưa năng suất lên cao, làm cho mau cho tốt, giản là vừa phải, không kềnh càng, tránh hình thức”. Mặt khác, tinh gọn tổ chức bộ máy phải được thực hiện cả từ trên xuống lẫn từ dưới lên với sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chấn chỉnh bộ máy chính quyền từ dưới lên trên, bắt đầu từ xã; dưới làm lên trên, trên làm xuống dưới, tự nhiên mọi việc sẽ thành”(16); “các địa phương sẽ thi đua với nhau, Trung ương sẽ thi đua với địa phương, làm cho bộ máy ấy chạy nhanh hơn, đều hơn, để đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”(17). Đó là tính toàn diện trong quan điểm về lực lượng và phương thức thực hiện tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị.

Đạo đức cách mạng là “sức mạnh” để tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, gốc tích của bộ máy kềnh càng là do chủ nghĩa cá nhân: “Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra bệnh quan liêu. Kềnh càng. Kiêu ngạo. Chậm chạp. Làm cho qua chuyện. Ham chuộng hình thức”(18). Bệnh bè phái, cục bộ địa phương, trưng diện hình thức, phô trương lãng phí cũng được nhắc đến như là nguyên nhân dẫn đến biên chế phình to quá mức so với yêu cầu thực tế: “Những cơ quan tổ chức kềnh càng không hợp lý, việc ít người nhiều, tốn kém cho công quỹ một cách vô ích. Hoặc ham chuộng hình thức, trưng diện cho sang, phô trương, lãng phí”(19). Trở lực lớn nhất ngăn cản tinh gọn tổ chức bộ máy là chủ nghĩa cá nhân. Sức mạnh nền tảng để “quét sạch chủ nghĩa cá nhân” là tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần chí công vô tư, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng. Chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy “phải gột rửa sạch những bệnh quan liêu, mệnh lệnh, hình thức, phải luôn luôn đi sát với quần chúng, phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính”(20). Xét cho cùng, tinh gọn tổ chức bộ máy cũng chính là quá trình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng “dĩ công vi thượng” của đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

Cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “không thể chậm trễ hơn được nữa”

Các thành tố của hệ thống chính trị Việt Nam được hình thành và phát triển gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Do vậy, trong giai đoạn đầu, tổ chức bộ máy mang những đặc điểm của hệ thống chính trị trong điều kiện vừa kháng chiến vừa kiến quốc, mang đậm nét của bộ máy “chuyên chính vô sản”. Trong thời kỳ đổi mới, hệ thống chính trị được đổi mới xây dựng gắn liền với sự vận động, phát triển của đất nước: “Hệ thống tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội được đổi mới; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng tổ chức được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị cơ bản ổn định, phù hợp với Cương lĩnh và Hiến pháp; bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(21). Tuy nhiên sau gần 40 năm đổi mới, “tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ… gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển, là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai hoặc triển khai hình thức trên thực tế”(22)

Sự nghiệp đổi mới mang lại cho đất nước cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế chưa bao giờ có được như hiện nay. Đó là nền tảng để đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao) và 100 thành lập nước (trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao). Một trong bảy định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc được Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ là tinh gọn tổ chức bộ máy để hệ thống chính trị mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

Nhận thấy tầm quan trọng của xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, Đảng ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên, “So với những thay đổi to lớn của đất nước sau 40 năm đổi mới, sự phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và những thành tựu khoa học - công nghệ; tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta tuy đã được đổi mới ở một số bộ phận, nhưng cơ bản vẫn theo mô hình được thiết kế từ hàng chục năm trước, nhiều vấn đề không còn phù hợp với điều kiện mới là trái với quy luật phát triển”(23)

Đất nước đang đứng trước kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. “Những tồn tại, hạn chế, sự chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gây ra nhiều hệ luỵ nghiêm trọng”, dẫn đến cản trở, làm lỡ thời cơ phát triển của đất nước(24). Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Thời điểm 100 năm đất nước ta dưới sự lãnh đạo Đảng và 100 năm thành lập nước không còn xa, để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi; muốn vậy cần khẩn trương thực hiện cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị”(25); càng làm sớm càng có lợi cho dân, cho nước, không thể chậm trễ hơn được nữa.

Đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương cùng các đồng chí lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh trao đổi với các cử tri xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh_Nguồn: baohatinh.vn

Những giải pháp từ chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tư tưởng và thực tiễn lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại những chỉ dẫn quan trọng, có giá trị nền tảng định hướng cho cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bao gồm: 

Một là, nêu cao và phát huy sức mạnh của đạo đức cách mạng, giải quyết tốt vấn đề lợi ích.

Trước sự khó khăn, phức tạp của cuộc đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(26). Cách mạng tinh gọn về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “thực sự là vấn đề khó, thậm chí rất khó” bởi liên quan đến lợi ích của nhiều cơ quan, đơn vị và cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại chỉ dẫn rất quan trọng: Gốc rễ của bộ máy kềnh càng, biên chế phình to là chủ nghĩa cá nhân - “việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết... chỉ muốn “mọi người vì mình”(27). Trở lực chính của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị hiện nay cũng là chủ nghĩa cá nhân. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân sẽ triệt tiêu “điểm nghẽn” chính của cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy. “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”(28). Vận dụng chỉ dẫn đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh phẩm chất đạo đức dĩ công vi thượng: “tất cả vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sớm sánh vai với các cường quốc năm châu”(29)

Cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nhất định phải gắn liền với quá trình tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nêu cao tinh thần chí công vô tư, đặt lợi ích của đất nước và nhân dân lên trên lợi ích riêng của từng bộ phận, cá nhân với tinh thần khẩn trương “càng làm sớm càng có lợi cho dân, cho nước” như chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm. Tuy nhiên, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là xóa bỏ lợi ích cá nhân chính đáng. Mỗi cơ quan, đơn vị phải thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động có thể bị ảnh hưởng do sắp xếp lại tổ chức, bộ máy theo tinh thần minh bạch, khách quan, kịp thời.

Hai là, huy động và tổ chức tốt lực lượng thực hiện.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “chúng ta tất cả mọi người, bất kỳ ở một chức vụ nào, cao hay thấp, to hay nhỏ, tất cả mọi người làm thành một bộ máy”(30); do vậy, xây dựng tổ chức bộ máy là việc chung của tất cả. Hồ Chí Minh yêu cầu “các địa phương sẽ thi đua với nhau, Trung ương sẽ thi đua với địa phương, làm cho bộ máy ấy chạy nhanh hơn, đều hơn, để đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”(31). Sức mạnh tổng hợp của hệ thống là yếu tố quyết định đến thực hiện chấn chỉnh và kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị “gọn gàng, hợp lý, ít tốn người tốn của mà làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân”.

Cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hiện nay phải bảo đảm sự tham gia thực hiện của toàn hệ thống chính trị. Nêu cao tinh thần triệt để chấp hành, chỉ bàn làm, không bàn lùi; khẩn trương thực hiện, không trông chờ. Huy động được sức mạnh của toàn hệ thống, tổ chức phát động cao điểm thi đua giữa các cơ quan, đơn vị, giữa các địa phương, giữa Trung ương và địa phương. Tổng Bí thư Tô Lâm đưa ra yêu cầu: “đề nghị các cấp, các ngành từ Trung ương tới cơ sở phải xác định quyết tâm chính trị cao nhất trong thực hiện chủ trương này... Các đồng chí cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan cần gương mẫu, chủ động, quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ được giao theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”; “Trung ương không chờ cấp tỉnh, cấp tỉnh không chờ cấp huyện, cấp huyện không chờ cơ sở”; “Trung ương làm gương, địa phương hưởng ứng”. Từng cấp, từng ngành bám sát kế hoạch để tổng kết và đề xuất mô hình cơ quan, đơn vị mình bảo đảm đúng tiến độ”(32).

Dựa vào nhân dân để tiến hành cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Toàn bộ hệ thống chính trị, nhất là các quan báo chí, truyền thông, phải đẩy mạnh tuyên truyền rõ mục tiêu tinh gọn bộ máy để nhận được sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân. Hiện nay, đông đảo nhân dân đang ủng hộ, hưởng ứng chủ trương của Đảng, tạo nên động lực tinh thần to lớn cổ vũ thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy. Bên cạnh đó, cần quan tâm chăm lo và phát huy vai trò của gia đình cán bộ, công chức chịu ảnh hưởng của công cuộc tinh gọn tổ chức bộ máy, sớm ổn định cuộc sống.  

Ba là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới với kế thừa, ổn định và phát triển, giữa sắp xếp bộ máy và tinh giản biên chế.

Cách mạng luôn là quá trình không ngừng đổi mới phát triển trên nền tảng kế thừa các giá trị đã được xác lập. Từ thực tiễn lãnh đạo xây dựng bộ máy tinh gọn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết: phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới và kế thừa, nghĩa là giữa những cái đã có với cái mới. Tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là một cuộc cách mạng, do vậy phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới và kế thừa. Tinh thần được Tổng Bí thư Tô Lâm nêu cao là quyết liệt, mạnh mẽ phải gắn liền với thận trọng, chắc chắn, giữ vững nguyên tắc, vì vậy cần chú trọng: Chỉ kết thúc hoạt động, điều chuyển, sắp xếp những vị trí chồng chéo về chức năng nhiệm vụ, chia cắt về địa bàn, các tầng nấc trung gian; các vị trí đang phù hợp và phát huy tốt thì giữ và nâng chất; chỉ thành lập mới các cơ quan, đơn vị khi thật sự cần thiết; gắn chặt chẽ giữa sắp xếp bộ máy với tinh giản biên chế; thực hiện phương châm sắp xếp bộ máy trước, điều chỉnh biên chế gắn với sắp xếp. Tinh giản biên chế theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là giảm số lượng nhưng tăng năng suất. Thực hiện tốt việc đánh giá cán bộ để “giản” đúng đối tượng, từ đó giúp “giản” nhưng bộ máy phải tinh. Kiểm tra, giám sát chặt chẽ và xử lý nghiêm minh những biểu hiện bè phái, cánh hẩu, cục bộ loại trừ người có năng lực để giữ người kém dẫn đến biên chế bộ máy gọn nhưng không tinh. Ban chỉ đạo ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương phải chịu trách nhiệm trước các yếu kém, sai phạm, tiêu cực trong thực hiện tinh gọn bộ máy.

Bốn là, tinh gọn tổ chức bộ máy gắn liền với hoàn thiện thể chế hệ thống chính trị.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc đến sự phân công và phối hợp như là nền tảng hình thành bộ máy, là điều kiện để xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn. Việc tiến hành cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị phải gắn liền với hoàn thiện thể chế tương ứng. Phát huy trí tuệ của toàn hệ thống chính trị và nhân dân để sớm xây dựng được khung thể chế mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam, đáp ứng được những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Rà soát lại toàn bộ các quy định hiện có để ban hành mới, điều chỉnh, bổ sung các quy định phù hợp với mô hình sắp xếp mới. “Tập trung hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị, gắn với tinh thần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, Trung ương, Chính phủ, Quốc hội tăng cường hoàn thiện thể chế, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát và cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân và doanh nghiệp. Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước, bảo đảm sự phân biệt rõ cấp ban hành chủ trương, chính sách, pháp luật với cấp tổ chức thực hiện”(33).

Thời cơ vươn mình của dân tộc đòi hỏi phải khẩn trương thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, không chỉ phải chủ động, quyết liệt theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”, mà còn phải chắc chắn và hiệu quả. Càng đứng trước “vấn đề khó, thậm chí rất khó” càng phải thấm nhuần những bài học sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này./.

--------------------------------

 XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TINH, GỌN, MẠNH, VỮNG BƯỚC DƯỚI NGỌN CỜ VINH QUANG CỦA ĐẢNG

Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là tất yếu khách quan, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, chủ động giữ nước từ khi nước chưa nguy.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một QĐND hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”. Đảng và Nhà nước ta cũng luôn nhất quán với chủ trương xây dựng Quân đội tiến lên chính quy, hiện đại theo hướng tinh - gọn - mạnh đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Đây là quan điểm, chủ trương, phương hướng hoàn toàn đúng đắn, khoa học, đáp ứng đòi hỏi tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế thời đại, khả năng nền kinh tế đất nước, nhằm tăng cường chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho QĐND Việt Nam hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Trong các kỳ đại hội Đảng thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, Đảng ta cơ bản nhất quán quan điểm xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Chủ trương này dựa trên cơ sở thực tiễn, đó là trong bối cảnh toàn cầu hóa, nếu không có nhận thức đúng, không nắm bắt được thời cơ và xu thế của thời đại, không có tư duy chiến lược, sẽ không đáp ứng được yêu cầu cấp thiết về quốc phòng, về xây dựng và hiện đại hóa Quân đội để thích ứng với điều kiện chiến tranh hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Xây dựng QĐND, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.
Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, ngày 17/1/2022, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW về tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo. Nghị quyết số 05-NQ/TW xác định rõ mục tiêu: Xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Tổ chức Quân đội có cơ cấu và quân số cân đối, hợp lý giữa các thành phần lực lượng, phù hợp với quyết tâm bảo vệ Tổ quốc và yêu cầu chiến đấu trong tình hình mới.
Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, nhất là yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, ngày 26/1/2022, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”, trong đó nêu rõ vị trí, tầm quan trọng của công nghiệp quốc phòng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, xác định rõ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp lớn trong triển khai tổ chức thực hiện. Đây là văn kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng trong phát triển công nghiệp quốc phòng thời kỳ mới.
Theo quan điểm của Đảng, công nghiệp quốc phòng là một bộ phận của công nghiệp quốc gia, gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia nhưng phải hướng vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Điều đó đòi hỏi việc phát triển công nghiệp quốc phòng phải toàn diện; phải là trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn dân, trong đó, Quân đội giữ vai trò nòng cốt nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.
Ngày 2/4/2022, Quân ủy Trung ương ban hành Nghị quyết số 230-NQ/QUTW về lãnh đạo thực hiện tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo, trong đó, đề ra nội dung, giải pháp lãnh đạo thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị, với mục tiêu xác định là đến năm 2025, Quân đội sẽ được xây dựng cơ bản tinh, gọn, mạnh; tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nghị quyết số 230-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương chỉ rõ: Việc điều chỉnh tổ chức của QĐND Việt Nam là yêu cầu tất yếu, khách quan, cấp thiết nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; bảo đảm cho Quân đội có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Gần đây nhất, ngày 27/6/2024, Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp. Trong đó, đề ra nguyên tắc xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp: “Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước”; với phương châm: “Tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, chủ động hội nhập quốc tế, trong đó nội lực là yếu tố quyết định. Phát huy sức mạnh tổng hợp trong xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp; bảo đảm vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ cho lực lượng vũ trang nhân dân trong mọi tình huống. Cơ cấu tổ chức bảo đảm tinh, gọn, mạnh, hiệu quả, hoạt động đồng bộ, thống nhất, phù hợp với đặc thù lĩnh vực quốc phòng, an ninh”.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó, Đông Nam Á với vị trí ngày càng quan trọng, trở thành tâm điểm cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên... diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Trước tình hình đó, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đột phá, thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại nhằm gia tăng tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng, sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc./.
Báo Biên Phòng