Thứ Tư, 10 tháng 9, 2025

Xuất phát từ quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc và âm mưu thủ đoạn của kẻ thù

 


Đây là quy luật sinh tồn của mọi quốc gia dân tộc, không riêng Việt Nam. Tuy nhiên, từ đặc điểm Việt Nam là một quốc gia có vị trí quan trọng, thuận lợi về nhiều mặt ở khu vực Đông Nam Á, nên từ thuở các vua Hùng dựng nước đến nay, dân tộc ta gần phải liên tục chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta đã luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng chống ngoại xâm và phải liên tiếp đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, phần lớn là của những quốc gia lớn mạnh, những đế quốc cường bạo. Từ cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong khoảng 22 thế kỷ, dân tộc ta đã phải tiến hành hàng chục cuộc chiến tranh giữ nước. Trong đó, dân tộc ta đã 10 lần chiến thắng oanh liệt, giữ vững nền độc lập dân tộc, hàng trăm cuộc khởi nghĩa, dần chuyển hóa, phát triển thành chiến tranh giải phóng, đưa đến thắng lợi cuối cùng là giải phóng hoàn toàn đất nước.

Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan còn xuất phát từ âm mưu và bản chất của kẻ thù đối với cách mạng nước ta. Kể từ sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, mặc dù kẻ thù đã bị đánh bại, nhưng chúng vẫn chưa từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta. Hiện nay, Việt Nam là mục tiêu trọng điểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Chúng nuôi dưỡng bọn phản động cách mạng trong nước, thành lập các tổ chức chính trị phản động ở nước ngoài trong một số những người Việt lưu vong, lợi dụng thời cơ tìm cách xâm nhập vào Việt Nam hòng phá hoại cách mạng nước ta. Khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô ở Đông Âu sụp đổ, đặc biệt trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế trí thức, quá trình hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, sâu sắc. Trong khi đó, âm mưu cơ bản xuyên suốt của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta không thay đổi, chúng ra sức đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình, âm mưu xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trên các lĩnh vực.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

 


Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong bản “Tuyên ngôn độc lập”, Người chỉ rõ: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”[1]. Người còn căn dặn cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 tại Đền Thượng (Đền Hùng) ngày 19/9/1954: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”[2].

Ngay sau đó, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” đêm ngày 19/12/1946, Người viết: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[3]; “Dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến”[4]; “Hễ còn chủ nghĩa đế quốc thì nguy cơ chiến tranh vẫn còn. Cho nên chúng ta phải luôn luôn cảnh giác và đề phòng, quyết không được chủ quan khinh địch”[5]; “Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”; vừa kiến thiết, xây dựng đất nước vừa bảo vệ Tổ quốc; “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Trong lời Di chúc cuối cùng Người căn dặn: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hi sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta cũng phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Tư tưởng về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh còn được thể hiện sâu sắc trong tư tưởng của người về quân sự, về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược, gắn bó hữu cơ với nhau. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn đề cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tổ quốc và thành quả cách mạng. Đảng ta xác định: “… bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[6].



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 3.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 59.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 534, 104.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 534, 104.

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 534, 104.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. CTQG - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr.156.

Xuất phát từ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

 


Với bản chất hiếu chiến, xâm lược, phản động toàn diện, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu xóa bỏ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa với nhiều thủ đoạn như gây nội chiến và vũ trang xâm lược, thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp tư sản trong nước tuy đã bị đánh đổ về mặt chính trị, nhưng chúng vẫn chưa từ bỏ tham vọng muốn quay trở lại địa vị thống trị đã mất, nên chúng tìm mọi cách liên kết với các phần tử phản động và chủ nghĩa tư bản bên ngoài, hòng lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của giai cấp công nhân.

Lịch sử đã chứng minh sau thắng lợi Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917, 14 nước đế quốc tập trung bao vây hòng tiêu diệt nước Nga Xô viết. Trong nước, bọn phản động nổi lên khắp nơi gây nên cuộc nội chiến thảm khốc (1918-1921). Và sau này, nhân dân Liên Xô phải chống trả quyết liệt chủ nghĩa phát xít, bảo vệ thành công tổ quốc xã hội chủ nghĩa (1941-1945). Từ khi chủ nghĩa xã hội phát triển thành hệ thống thế giới, thì sự chống phá của kẻ thù càng quyết liệt hơn như cuộc chiến tranh ở Triều Tiên, các cuộc bạo loạn phản cách mạng để lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Hunggari, Tiệp Khắc, Ba Lan và ở hòn đảo tự do Cuba vào những năm giữa của thế kỷ XX. Cuối những năm 80, đầu những năm 90 thế kỷ XX đến nay, chúng đã đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thậm chí sẵn sàng tiến hành chiến tranh xâm lược, sử dụng vũ khí công nghệ cao, chống phá toàn diện, hòng làm tan rã các nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết ở Đông Âu và Liên Xô. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một tổn thất của phong trào cách mạng thế giới, song nó cũng để lại cho các nước xã hội chủ nghĩa bài học sâu sắc là xây dựng chủ nghĩa xã hội phải gắn liền với bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

 

Vai trò, trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay

 


Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Trong thời chiến, Quân đội là lực lượng chiến đấu chủ yếu, giải quyết và quyết định mọi vấn đề trên chiến trường, đánh đuổi giặc ngoại xâm và đập tan mọi thế lực phản động, thù địch. Trong thời bình, đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay, là củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt.

Trong bảo vệ Tổ quốc, vai trò của Quân đội còn được thể hiện là lực lượng chính trị tin cậy và tuyệt đối trung thành với Đảng, với Nhà nước và nhân dân. Vai trò của Quân đội còn được thể hiện thông qua chính các chức năng, nhiệm vụ của Quân đội là đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất, đội quân công tác. Hiện nay, Quân đội còn là lực lượng quan trọng tham gia tích cực trên mọi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, cứu hộ cứu nạn, ứng phó với thiên tai, bão lũ, tình huống bất thường về tự nhiên và xã hội của đất nước; xây dựng cơ sở chính trị trên các địa bàn trọng yếu; đoàn kết, tập hợp và vận động nhân dân, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, các đoàn thể xã hội cùng với hệ thống chính trị xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, tăng cường thế trận chiến tranh nhân dân trên mọi miền của Tổ quốc.

Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là chỗ dựa vững chắc cho toàn dân bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là lực lượng chủ yếu thực hiện chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định mọi đường lối chiến lược, sách lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trên từng địa phương, các cơ quan quân sự, các đơn vị quân đội đóng quân trên các địa bàn là lực lượng chủ yếu tham mưu cho Đảng ủy, chính quyền địa phương các cấp đề ra chủ trương, kế hoạch phòng thủ, xây dựng tiềm lực kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh của địa phương, bảo vệ cuộc sống hòa bình, lao động và sản xuất của nhân dân.

Quân đội còn trực tiếp thực hiện chức năng đối ngoại quân sự, quốc phòng góp phần tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, hòa bình và hiểu biết với Quân đội các nước láng giềng và có quan hệ truyền thống, với Quân đội các nước trong khu vực và quốc tế; đấu tranh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ xa, ngăn chặn các âm mưu, thủ đoạn chống phá đất nước của các thế lực phản động, thù địch từ bên ngoài lãnh thổ.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi phải xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt, trong đó cần tập trung xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin yêu.

Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái; sẵn sàng ứng phó với các mối đe doạ an ninh phi truyền thống. Kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triền bền vững đất nước.

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất và hiệu quả của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, nghệ thuật quân sự, đánh thắng chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao của các lực lượng thù địch. Quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt Chiến lược bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới trên từng cương vị, chức trách được giao là trách nhiệm chính trị lớn lao trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân của mọi cấp lãnh đạo, chỉ huy trong Quân đội, trong đó đội ngũ cán bộ chính trị, nhất là chính ủy các cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam có vai trò rất quan trọng.

Trong tình hình mới, bên cạnh thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và đơn vị đã xác định, cần hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, linh hoạt, giữ vững nguyên tắc trong lãnh đạo, chỉ đạo việc sử dụng lực lượng, xử lý các tình huống có liên quan đến quốc phòng, an ninh ở những vùng, địa bàn chiến lược, xung yếu, nơi biên giới, biển, đảo; vừa nêu cao tinh thần chính nghĩa, đoàn kết, hợp tác quốc tế, quan điểm giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển của đất nước, vừa kiên quyết bảo vệ bằng được những mục tiêu không thể mất của đất nước; tránh bị khiêu khích, mắc mưu của kẻ thù, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.

Phát triển kinh tế, xã hội; phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

 


 Đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo sức mạnh tổng hợp của đất nước cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm vai trò chủ đạo thực sự của kinh tế nhà nước; giữ vững ổn định kinh tế không để xảy ra rối loạn về kinh tế. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tập trung đầu tư, nâng cao hiệu quả các khu kinh tế quốc phòng trọng điểm trên các vùng biển, đảo, các vành đai biên giới, các địa bàn xung yếu. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các vùng căn cứ cách mạng, kháng chiến cũ.

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội... Xây dựng nền văn hóa lành mạnh. Tăng cường giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, nhất là cho thế hệ trẻ. Kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa, xâm nhập các sản phẩm văn hóa độc hại, các khuynh hướng thẩm mỹ lệch lạc. Chấn chỉnh kịp thời những sai phạm trong hoạt động báo chí, thông tin truyền thông; tăng cường công tác bảo đảm an ninh an toàn thông tin.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân đối với việc củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện tốt dân chủ cơ sở, tôn trọng nhân dân, kiên quyết đấu tranh với tệ quan liêu, ức hiếp, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân và các hoạt động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc.

Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, thế trận lòng dân; kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Nâng cao chất lượng công tác giáo dục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo đúng các tình huống phức tạp có thể xảy ra, đặc biệt là trên vùng biển đảo, biên giới và các địa bàn chiến lược, trọng điểm. Khắc phục tình trạng lộ, lọt thông tin mật của Đảng, Nhà nước. Tiếp tục: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr.157-158.

Nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ an ninh nội bộ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

 


 Đây là nhiệm vụ và giải pháp quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 về: “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phải luôn chú trọng xây dựng Đảng về chính trị; đổi mới công tác tư tưởng lý luận; tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng; tiếp tục đổi mới, kiện toàn bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng đảng viên; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền đối với  nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, quốc phòng - an ninh.

Phương châm chỉ đạo bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 


Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì mục tiêu nguyên tắc chiến lược, đi đôi với sự vận dụng linh hoạt sách lược, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế, cô lập, phân hóa các phần tử chống đối. Kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với luật pháp quốc tế; có đối sách phù hợp với từng đối tượng, từng tình huống. Đối với nội bộ, lấy việc phát huy dân chủ, giáo dục, thuyết phục, phòng ngừa là chính, đi đôi với giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, xử lý nghiêm minh các sai phạm, kiên quyết đối với những phần tử cầm đầu, ngoan cố. Đối với các thế lực thù địch kiên trì giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, đồng thời sẵn sàng có giải pháp thích hợp, kể cả bắt buộc phải tiến hành đấu tranh vũ trang để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc; kịp thời ngăn chặn, xử lý, chủ động đấu tranh với các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Thường xuyên bám sát cơ sở, nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời mọi mầm mống gây mất an ninh, không để bị động, bất ngờ. Kết hợp giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh phi vũ trang, kết hợp xây dựng với bảo vệ, lấy xây dựng để bảo vệ Tổ quốc. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thế gây ra đột biến; cụ thể hóa quan điểm chủ động bảo vệ Tổ quốc từ thời bình, giữ nước từ lúc nước chưa nguy; phát triển, hoàn thiện quan điểm “tự bảo vệ” trong điều kiện mới. Đảng ta xác định: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”[1]



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 38.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội; lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc

 


Đây là quan điểm thể hiện định hướng mục tiêu, lợi ích và phương hướng bảo vệ Tổ quốc. Độc dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng và là ngọn cờ chiến đấu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Mọi nội dung, nhiệm vụ, phương thức bảo vệ Tổ quốc đều phải hướng đến và thực hiện mục tiêu bao quát có tính định hướng này. Lợi ích cao nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam hiện nay là phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, mọi tư tưởng và hành động, phương pháp và cách thức bảo vệ Tổ quốc đều phải nắm vững quan điểm giữ vững môi trường hòa bình và ổn định; làm cho môi trường này ngày càng tiến triển tốt hơn. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị vừa là mục tiêu chiến lược lâu dài vừa là phương thức, sách lược quan trọng hàng đầu trong bảo vệ Tổ quốc và là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.

Giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

 


Đây là quan điểm mang tính nguyên tắc, quyết định và chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với toàn bộ quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân mà chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của V.I.Lênin đã chỉ ra. Quan điểm này là cơ sở tiền đề, định hướng và chỉ đạo việc xác định các mục tiêu, nội dung, phương châm và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới. Như Đảng ta đã khẳng định: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 160.

Từ quy luật sinh tồn trong sự phát triển của mọi quốc gia dân tộc.

 


Từ khi xã hội loài người xuất hiện, cuộc sống và các hoạt động xây dựng của con người luôn đặt ra yêu cầu khách quan phải có hoạt động bảo vệ, chống lại lực lượng phá hoại. Khi xã hội xuất hiện sự phân chia giai cấp, hình thành các giai cấp và nhà nước, Tổ quốc ra đời, xuất hiện yêu cầu tự vệ, tự bảo vệ - hành động bảo vệ tổ quốc xuất hiện. Ở thời kỳ sơ khai, các tổ quốc luôn tiềm ẩn các mâu thuẫn giai cấp, lúc đầu đơn thuần chỉ là tự phát xâm lấn, lan toả, mở rộng môi trường sống, sau là các hành động tự giác, có tổ chức, đẩy mạnh cướp bóc, tước đoạt, đỉnh cao là các cuộc chiến tranh xâm lược, thôn tính, đô hộ, tiêu diệt, huỷ diệt hay đồng hóa lẫn nhau giữa các dân tộc này với dân tộc khác, giữa các tập đoàn người này với tập đoàn người khác. Trước nhu cầu phát triển của sản xuất, tăng trưởng kinh tế, mở rộng thị trường, cùng với sự gia tăng các xung đột lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc khác biệt, thậm chí đối lập nhau, nên bất kỳ quốc gia nào cũng nhất thiết phải chăm lo dựng nước gắn liền với giữ nước, phải thường xuyên coi trọng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa- môi trường của sự phát triển

 


Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một loại hình tổ quốc mà trong đó giai cấp công nhân và nhân dân lao động thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, ra đời gắn liền với thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là thành quả cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một loại hình tổ quốc phát triển cao nhất trong lịch sử, ra đời, tồn tại, phát triển gắn liền với thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tổ quốc xã hội chủ nghĩa nó cũng bao gồm hai phương diện tự nhiên và chính trị - xã hội như bao tổ quốc khác đang tồn tại, song về phương diện chính trị - xã hội, tổ quốc xã hội chủ nghĩa ưu việt hơn nhiều.

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ra đời là thành quả đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, được xây dựng trên cơ sở chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa. Sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, Tổ quốc xã hội chủ nghĩa bắt đầu hình thành và không ngừng phát triển cùng với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tổ quốc xã hội chủ nghĩa chính là môi trường tự nhiên và xã hội thuận lợi để giai cấp công nhân, nhân dân lao động phát triển toàn diện.

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa khác hẳn về chất so với các loại hình tổ quốc đã có trong lịch sử, với những đặc trưng: Tổ quốc do giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ, nền tảng xã hội là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, thực hiện chủ yếu thông qua nhà nước xã hội chủ nghĩa; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội; xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa; con người được giải phóng khỏi sự áp bức bóc lột, bất công, làm theo năng lực hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết, và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế, trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Những đặc trưng trên từng bước được hình thành và ngày càng được thiết lập vững chắc và đồng thời vừa là mục tiêu, vừa là động lực cơ bản của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Trong thời kỳ C.Mác và Ph.Ăngghen, chủ nghĩa tư bản đang phát triển, tổ quốc xã hội chủ nghĩa chưa xuất hiện nhưng vấn đề đấu tranh giành chính quyền, bảo vệ chính quyền cách mạng được các ông coi là nhiệm vụ quan trọng trong suốt tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Các ông đã chứng minh rằng, dưới sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp công nhân không có tổ quốc. Cái tổ quốc mà giai cấp tư sản rêu rao, thực chất đó là tổ quốc của giai cấp tư sản. Do đó, giai cấp công nhân không phải bảo vệ cái mà họ không có, đó là tổ quốc của giai cấp tư sản. Trái lại, để giải phóng mình và giải phóng toàn xã hội, giai cấp công nhân phải đứng lên đấu tranh lật đổ quyền lực thống trị của giai cấp tư sản, phải giành lấy chính quyền, giành lấy dân chủ, trở thành giai cấp thống trị xã hội, trở thành giai cấp dân tộc, đại biểu cho dân tộc. Với tư cách là người đại diện cho dân tộc, giai cấp công nhân là người đại diện cho tổ quốc, họ có nhiệm vụ phải đẩy lùi sự tấn công của bọn phản cách mạng để bảo vệ những thành quả cách mạng đã đạt được, bảo vệ tổ quốc của mình. Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác viết: “Công nhân không có tổ quốc. Người ta không thể cướp của họ cái mà họ không có. Vì giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp thành dân tộc”[1] để thiết lập nên Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Kế thừa tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đưa ra quan điểm Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thời kỳ V.I.Lênin, chủ nghĩa tư bản đã phát triển và chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản đã bộc lộ rõ, giai cấp tư sản không còn giữ vai trò trung tâm và ngày càng bộc lộ rõ bản chất xâm lược và hiếu chiến, những mâu thuẫn nội tại trong lòng chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc. Chủ nghĩa cơ hội, xét lại trong quốc tế II phát triển mạnh và ủng hộ giai cấp tư sản tiến hành chiến tranh đế quốc, những tiền đề kinh tế, chính trị và xã hội đã tích tụ chín muồi, tạo tiền đề cho cách mạng xã hội chủ nghĩa nổ ra và giành thắng lợi, trước hết là ở nước Nga - khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc.

V.I.Lênin đã phát triển tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen về bảo vệ tổ quốc thành Học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người khẳng định tất yếu phải bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Theo V.I.Lênin, để bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được, giai cấp vô sản tất yếu phải cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là cuộc chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh tự vệ. Người chỉ rõ nếu chúng ta “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình”[2].

Từ thực tiễn công cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền Xô viết non trẻ, bảo vệ Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Ngay sau khi cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thành công, chủ nghĩa đế quốc tìm mọi cách tiêu diệt nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. V.I.Lênin đã chứng minh tính tất yếu khách quan phải bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản chống lại sự tấn công vũ trang của nhà nước tư bản, đế quốc. Người khẳng định: “Kể từ ngày 25 Tháng Mười năm 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành “bảo vệ tổ quốc”, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc, bảo vệ nước Cộng hòa Xô viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội[3]. Đồng thời, Người nhấn mạnh nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đi đôi với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin khẳng định: “Một khi chúng ta đã bắt tay vào công cuộc hòa bình kiến thiết của chúng ta, thì chúng ta sẽ đem hết sức mình ra để tiếp tục tiến hành công cuộc đó không ngừng. Đồng thời, các đồng chí ạ, hãy đề phòng hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của nước ta và của Hồng quân ta như chăm lo con ngươi của mắt mình”[4].



[1] C. Mác, Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2002, tr. 623.

[2] V. I. Lênin, Toàn tập, tập 38, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 165.

[3] V. I. Lênin, Toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 102.

[4] V. I. Lênin, Toàn tập, tập 44, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 368.

Nhận thức về vai trò của tổ quốc

 


Tổ quốc là một phạm trù lịch sử, dùng để chỉ đất nước, con người gắn liền với biên giới, lãnh thổ xác định, những điều kiện kinh tế, tự nhiên, những truyền thống văn hóa, tâm lý tình cảm của những cộng đồng người hình thành trên lãnh thổ đó và một chế độ xã hội, một thể chế chính trị tương ứng.

Tổ quốc là một phạm trù lịch sử, có quá trình ra đời, tồn tại phát triển và đến một giai đoạn lịch sử nhất định nó cũng sẽ mất đi. Tổ quốc chỉ ra đời khi xuất hiện của giai cấp và nhà nước; nó tồn tại, phát triển gắn liền với sự tồn tại, phát triển của giai cấp và nhà nước. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi thể chế chính trị, nhà nước và giai cấp cầm quyền. Do đó, làm cho các yếu tố cấu thành tổ quốc cũng thay đổi theo. Sự mất đi của tổ quốc gắn liền với sự mất đi của giai cấp và nhà nước.

Tổ quốc bao gồm hai phương diện tự nhiên và chính trị -  xã hội của một quốc gia. Về tự nhiên, đó là chủ quyền lãnh thổ: vùng đất, vùng trời, vùng biển, biên giới, hải đảo, các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đã được hình thành trong quá trình lịch sử, là địa bàn cư trú hoạt động, sinh sống của một hay nhiều dân tộc, gắn với những yếu tố ngôn ngữ, bản sắc văn hóa và truyền thống lịch sử. Về phương diện này tổ quốc cũng chính là quê hương, đất nước của con người. Trên phương diện chính trị - xã hội, là chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, được xây dựng trên đó là nhà nước của giai cấp thống trị. Sự tồn tại và phát triển của tổ quốc trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể được quyết định bởi giai cấp thống trị xã hội. Vì vậy, không thể có tổ quốc nếu không hội đủ cả hai phương diện tự nhiên và chính trị - xã hội với mối quan hệ biện chứng của nó. Trong đó, phương diện chính trị - xã hội quyết định bản chất của tổ quốc. V.I. Lênin khẳng định: “Tổ quốc, nghĩa là hoàn cảnh chính trị, văn hóa - xã hội”[1].

Lịch sử xã hội loài người từ khi có giai cấp là lịch sử thay thế nhau của các giai cấp thống trị xã hội, gắn với nó là tổ quốc do giai cấp ấy đại diện. Bao gồm: Tổ quốc của giai cấp chủ nô, quý tộc; tổ quốc của giai cấp địa chủ, phong kiến; tổ quốc của giai cấp tư sản; tổ quốc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động - Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Do vậy, xét trên phương diện chính trị - xã hội có hai loại hình tổ quốc. Tổ quốc do giai cấp bóc lột đại diện, là tổ quốc gắn liền với chế độ tư hữu. Trong loại hình tổ quốc này đầy rẫy các mâu thuẫn và bất công không thể điều hòa. Đặc biệt, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động, sự mâu thuẫn về lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc, giữa lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế.

Khái niệm tổ quốc và khái niệm dân tộc tuy nội hàm có những điểm giống nhau, nhưng không trùng khít hoàn toàn. Tổ quốc bao hàm trong đó dân tộc, đất nước và chế độ xã hội. Còn khi nói đến dân tộc, đó là một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, có chế độ chính trị và nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Ngày nay, các tổ quốc thường là những quốc gia dân tộc hoặc quốc gia đa dân tộc gắn với một chế độ chính trị xác định. Tổ quốc ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước của một quốc gia có chủ quyền.



[1] V. I. Lênin, Toàn tập, tập 17, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 230.

Vai trò, trách nhiệm Quân đội nhân dân Việt Nam trong phát huy nguồn lực con người

 

Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực sắc bén để bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, quân đội ta đã lập biết bao kỳ tích, giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Sở dĩ Quân đội ta có thể đánh thắng mọi kẻ thù, dù chúng có tiềm lực về kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật đến mức nào đi chăng nữa, chính là vì chúng ta đã phát huy tốt vai trò của nguồn lực con người trong sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Với những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là về kinh tế, Quân đội nhân dân Việt Nam đã được Đảng, Nhà nước quan tâm hơn cả về vật chất và tinh thần. Theo đó, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn yên tâm công tác, nỗ lực phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao trình độ chính trị, quân sự, khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ; có thể sử dụng thành thạo và phát huy tốt tính năng, tác dụng của các loại vũ khí, trang bị, kỹ thuật hiện đại. Công tác nghiên cứu khoa học quân sự cũng được đầu tư và có nhiều sáng kiến, cải tiến để nâng cao tính năng kỹ chiến thuật của các loại vũ khí đã có trong biên chế hoặc chế tạo được những loại vũ khí, trang bị mới.

Bên cạnh đó, quá trình phát huy nguồn lực con người trong Quân đội vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Vì vậy, để Quân đội ta có đủ sức mạnh chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù trong điều kiện mới, cùng với việc đầu tư để hiện đại hóa Quân đội, vấn đề đặt ra là phải có những chủ trương, giải pháp phù hợp để phát huy nguồn lực con người trong Quân đội có hiệu quả cao nhất.

Để phát huy nguồn lực con người trong Quân đội hiện nay, cần tập trung bồi dưỡng, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn lực con người trong Quân đội; xây dựng môi trường Quân đội đoàn kết, dân chủ và kỷ luật thực sự là trường học xã hội chủ nghĩa của mọi quân nhân; thực hiện tốt công tác tư tưởng, công tác cán bộ trong Quân đội; đổi mới chính sách, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội.

Nghiên cứu vấn đề nguồn lực con người có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo đó, mỗi nhân viên chuyên môn kỹ thuật phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về con người và phát huy nguồn lực con người; nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của phát huy nguồn lực con người trong quân đội ta. Bản thân tích cực học tập, trau dồi tri thức, kinh nghiệm, chuyên môn, nghiệp vụ; làm chủ các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật được biên chế.

Trên từng cương vị công tác, mỗi nhân viên chuyên môn kỹ thuật, cần quán triệt và thực hiện tốt chính sách quân đội và hậu phương quân đội; thường xuyên quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ; khơi dậy và phát huy sức sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện các nhiệm vụ. Kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện sai trái xung quanh vấn đề con người; đặc biệt là thuyết “Vũ khí luận”, tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí, coi nhẹ vai trò của con người trong chiến tranh công nghệ cao. Xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong đơn vị, quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.


Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa

 


Xây dựng hệ giá trị con người mới xã hội chủ nghĩa nhằm: “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước”[1].

Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Tạo cho con người những phẩm chất và năng lực, đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là con người có giác ngộ xã hội chủ nghĩa sâu sắc, có lập trường tư tưởng vững vàng; có kiến thức sâu và rộng về chuyên môn, nghiệp vụ; có tinh thần và năng lực làm chủ xã hội, làm chủ tự nhiên và làm chủ bản thân mình; có thái độ lao động mới, lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất cao, chất lượng tốt; là người công dân tích cực tham gia vào hoạt động chính trị và xã hội; là con người có văn hoá, kết hợp hài hoà sự phong phú về tinh thần, sự trong sạch về đạo đức và có thể lực tốt, con người có cuộc sống cá nhân và tập thể hài hòa; là con người có tinh thần yêu nước nồng nàn và tinh thần quốc tế cao cả của giai cấp công nhân. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc. Xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân - thiện - mỹ. Gắn xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập.

Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Xây dựng môi trường văn hóa, đời sống văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, đạo đức, lối sống. Nâng cao thể lực, sức khỏe, tuổi thọ cho con người, gắn với việc giáo dục thể chất với giáo dục tri thức, đạo đức, kỹ năng sống, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ Chín, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2014, tr. 12.

THƯ CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC LƯƠNG CƯỜNG CHÚC MỪNG CÁN BỘ, CHIẾN SĨ TTLL NHÂN DỊP KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG!

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Bộ đội Thông tin liên lạc Anh hùng (09/9/1945 - 09/9/2025). Xin trân trọng giới thiệu toàn văn Thư của Chủ tịch nước Lương Cường gửi chúc mừng cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Thông tin liên lạc toàn quân:

Thân ái gửi các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Binh chủng Thông tin liên lạc!

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Binh chủng Thông tin liên lạc, Bộ Quốc phòng (09/9/1945 - 09/9/2025). Tôi thân ái gửi tới các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Binh chủng Thông tin liên lạc những tình cảm thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Là Binh chủng ra đời sớm nhất của Quân đội ta, trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Binh chủng Thông tin liên lạc đã khắc ghi lời Bác dạy, phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, đoàn kết, chủ động, sáng tạo, mưu trí, kiên cường, khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt “Kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn" phục vụ Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị lực lượng vũ trang chiến đấu, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, diễn tập, phỏng, chống khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, sự cố, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và đảm bảo thông tin, truyền hình phục vụ các sự kiện do Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng tổ chức và giành được nhiều thành tích xuất sắc trong các hội thi, hội thao, thi đấu thể thao thành tích cao, xây dựng, phát triển lực lượng Thông tin liên lạc “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hai lần được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều phần thưởng cao quý.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Tôi nhiệt liệt biểu dương, chúc mừng những thành tích xuất sắc của Binh chủng Thông tin liên lạc trong 80 năm qua và mong rằng trong giai đoạn cách mạng mới, Binh chủng Thông tin liên lạc phát huy hơn nữa thành tích đã đạt được, truyền thống Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, tiêu biểu trong phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số của Bộ Quốc phòng; xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, xây dựng lực lượng Thông tin liên lạc “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc, tiến bộ!

Thân ái

Lương Cường

Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.
Yêu nước ST!

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2025

"Người mẹ nào cũng giữ con, lấy ai chiến đấu bảo vệ Tổ quốc"

 

"Chiến tranh không biết sống chết lúc nào. Tôi đã mất một đứa con, con trai đầu lại tha thiết đòi đi, lòng tôi nặng trĩu. Nhưng người mẹ nào cũng giữ con, lấy ai bảo vệ Tổ quốc", Mẹ Huyến chia sẻ.

"Cơn sốt Lê Hoàng Hiệp": Khi người lính bị biến thành thần tượng giải trí

 

- Từ một quân nhân, Lê Hoàng Hiệp bất ngờ được dân mạng tung hô như ngôi sao giải trí. Song, khi sự ngưỡng mộ vượt khỏi giới hạn, lằn ranh giữa tình cảm chân thành và hành vi quấy rối trở nên mong manh.

Cuộc hội ngộ của 2 cựu binh tại A80 sau gần nửa thế kỷ: "Mày chưa chết à?"

 

 "Gặp lại nhau, chúng tôi cảm động quá, cứ ôm nhau mà khóc trong sự ngỡ ngàng của mọi người xung quanh. Tôi thốt lên: "Mày chưa chết à?" vì lâu nay nghĩ cậu ấy đã hy sinh", ông Quế vừa khóc vừa kể.

Tuyên ngôn Độc lập và những bảo vật tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam

 


Không chỉ khẳng định quyền độc lập dân tộc trên bình diện quốc tế, bản Tuyên ngôn Độc lập còn là tiếng nói thiêng liêng của tình yêu nước, nghĩa đồng bào - những bảo vật tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam.

9 định hướng của Tổng Bí thư vì một thế hệ công dân toàn cầu mang bản sắc Việt

 

công cuộc đổi mới giáo dục - đào tạo, xem đó là hành động tiên quyết để thực hiện mục tiêu xây dựng một “nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam”.