Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: 🎙 LỜI CHÚC MỪNG CỦA TỔNG THỐNG NGA V.V. PUTIN NHÂN NGÀY BẢO VỆ TỔ QUỐC (23 THÁNG 2 NĂM 2026)!

     V.V. Putin: Thưa các đồng chí! Thưa các bạn!
Tôi chân thành chúc mừng toàn thể công dân Nga, các cựu chiến binh, toàn thể quân nhân và nhân viên dân sự của Lực lượng Vũ trang nhân Ngày Bảo vệ Tổ quốc.

Ngày 23 tháng 2 đã được đất nước chúng ta kỷ niệm suốt nhiều thập niên qua như một trong những ngày lễ quốc gia quan trọng nhất. Ngày này đã trở thành biểu tượng của tình yêu chân thành của nhân dân đối với những người bảo vệ Tổ quốc, niềm tự hào về quân đội và hải quân của đất nước, về những người đã посвят cuộc đời mình cho sự nghiệp phụng sự Tổ quốc, những người luôn vững vàng đứng canh giữ chủ quyền và an ninh của đất nước, trung thành với lời tuyên thệ quân sự và tận tâm, trung thực hoàn thành nghĩa vụ nghề nghiệp của mình.

Từ thế hệ này sang thế hệ khác, chúng ta trân trọng gìn giữ ký ức về từng trang sử chiến đấu của Tổ quốc. Những trang sử ấy được viết nên nhờ nghệ thuật quân sự của các danh tướng vĩ đại, ý chí bất khuất và lòng dũng cảm của các chiến sĩ và chỉ huy, của tổ tiên chúng ta – những người theo tiếng gọi đầu tiên của Tổ quốc đã lập tức vào hàng ngũ, sát cánh cùng đồng đội chiến đấu.

Năm 2026 được là Năm Đoàn kết các dân tộc Nga. Chúng ta trân trọng sự đoàn kết thiêng liêng này và hiểu rằng từ bao đời nay, những người thuộc các dân tộc và tôn giáo khác nhau đã cùng đứng lên bảo vệ đất nước. Tinh thần yêu nước và trách nhiệm đối với vận mệnh Tổ quốc đã gắn kết họ trong khối thống nhất, truyền cảm hứng cho những chiến công oanh liệt và những chiến thắng vĩ đại, bất diệt.

Thế hệ chiến sĩ Nga ngày nay xứng đáng tiếp nối truyền thống anh dũng và danh dự mà cha ông để lại. Và hôm nay, trong khuôn khổ chiến dịch quân sự đặc biệt, đại diện của mọi dân tộc trong đất nước rộng lớn của chúng ta đang anh dũng, sát cánh bên nhau bảo vệ lợi ích của Nga.

Khả năng cùng nhau chiến thắng vì những mục tiêu chung chính là sức mạnh to lớn của quân đội và của xã hội đa dân tộc của chúng ta. Điều đó đã đúng trong suốt nhiều thế kỷ qua và tôi tin rằng sẽ luôn như vậy.

Xin cúi đầu tri ân tất cả những ai đang chiến đấu vì Tổ quốc. Vĩnh biệt và đời đời ghi nhớ các anh hùng đã ngã xuống vì nhân dân ta.

Thưa các đồng chí!

Chúng ta sẽ tiếp tục triển khai công việc quy mô lớn nhằm củng cố quân đội và hải quân, có tính đến sự phát triển của tình hình quốc tế, dựa trên kinh nghiệm chiến đấu thu được trong chiến dịch quân sự đặc biệt, và dựa vào tiềm lực mạnh mẽ của nền công nghiệp, khoa học cùng các doanh nghiệp công nghiệp và công nghệ cao của chúng ta.

Ưu tiên tuyệt đối vẫn là phát triển bộ ba hạt nhân, yếu tố bảo đảm an ninh của Nga, cho phép thực hiện hiệu quả nhiệm vụ răn đe chiến lược và duy trì cân bằng lực lượng trên thế giới.

Chúng ta sẽ nâng cao một cách chất lượng tiềm lực của tất cả các quân chủng và binh chủng khác của 
Lực lượng Vũ trang, tăng cường mức độ sẵn sàng chiến đấu, tính cơ động và khả năng tác chiến trong mọi điều kiện, kể cả những điều kiện phức tạp nhất. Và tất nhiên, chúng ta sẽ đẩy nhanh tiến độ phát triển các hệ thống triển vọng dành cho Lực lượng Vũ trang.
Tôi tin tưởng điều quan trọng nhất: những trang thiết bị này sẽ luôn nằm trong những bàn tay đáng tin cậy. 

Các chiến sĩ và sĩ quan của chúng ta là những người yêu nước chân chính, những con người có bản lĩnh đặc biệt và ý chí bất khuất, là chỗ dựa của Nhà nước và xã hội.

Xin cảm ơn tất cả các chiến sĩ Nga vì sự phục vụ anh dũng của các bạn. Chúc gia đình, người thân và những người близкие của các bạn mọi điều tốt đẹp nhất!

Nhân dân Nga luôn ở bên các bạn. Và tin tưởng vào các bạn.
Chúc mừng ngày lễ!

******

🎙 Поздравление Президента России В.В.Путина по случаю Дня защитника Отечества (23 февраля 2026 года)

💬 В.В.Путин: Уважаемые товарищи! Друзья!

Сердечно поздравляю всех граждан России, ветеранов, личный состав и гражданский персонал Вооружённых Сил с Днём защитника Отечества.

Дата 23 февраля отмечается в нашей стране уже многие десятилетия как один из самых значимых государственных праздников. Он стал символом искренней народной любви к нашим защитникам, гордости за армию и флот державы, за тех, кто посвятил свою жизнь службе Отчизне, кто надёжно стоит на страже её суверенитета и безопасности, верен воинской присяге и честно, на совесть выполняет свой профессиональный долг.

Из поколения в поколение мы бережно храним память о каждой странице ратной летописи Отечества. Она создавалась благодаря воинскому искусству великих полководцев, несгибаемой воле и мужеству солдат и командиров, наших предков, которые по первому зову Родины занимали своё место в строю рядом с боевыми товарищами.

2026 год объявлен Годом единства народов России. Мы чтим эту священную сплочённость и знаем, что испокон веков на защиту страны поднимались люди разных национальностей и вероисповеданий. Чувство патриотизма, ответственность за судьбу Родины скрепляли их единство, вдохновляли на ратные подвиги и великие, бессмертные победы.

Современное поколение воинов России достойно продолжает традиции доблести и чести, завещанные предками. И сегодня в ходе специальной военной операции героически, плечом к плечу отстаивают интересы России представители всех народов нашей огромной страны.

В умении вместе побеждать ради общих целей – колоссальная сила нашей армии и нашего многонационального общества. Так было на протяжении столетий и, уверен, так будет всегда.

Низкий поклон всем, кто сражается за Отечество. Вечная память героям, павшим за наш народ.

Уважаемые товарищи!

Мы продолжим масштабную работу по укреплению армии и флота с учётом развития международной ситуации, на основе боевого опыта, полученного в ходе специальной военной операции, с опорой на мощные силы нашей промышленности, науки, индустриальных и высокотехнологичных компаний.

Безусловным приоритетом остаётся развитие ядерной триады, которая служит гарантией безопасности России, позволяет эффективно обеспечивать стратегическое сдерживание и баланс сил в мире.

Будем качественно наращивать потенциал всех других родов и видов Вооружённых Сил, повышать их боеготовность, мобильность, способность действовать в любых, самых сложных условиях. И конечно, будем наращивать темпы разработки перспективных систем для Вооружённых Сил.

Уверен в главном: эта техника всегда будет в надёжных руках. Наши солдаты и офицеры – настоящие патриоты, люди особой закалки и несгибаемой воли, опора государства и общества.

Благодарю всех воинов России за доблестную службу. Всего самого доброго вашим семьям, родным и близким!

Народ России – с вами. И верит в вас.

С праздником!
QV-ST!

KỶ NIỆM 47 NĂM CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC!

     Trung Quốc từng tuyên bố trước cuộc chiến xâm lược rằng “sáng ăn cơm Đồng Đăng, chiều ăn cơm Hà Nội”. Quân Trung Quốc đã ngông nghênh tuyên bố như vậy khi tiến quân vào thị trấn cửa ngõ của Lạng Sơn. Thế nhưng, quân bành trướng đã chịu thất bại t.h.ả.m h.ạ.i với những tổn thất nặng nề. Quân và dân ta đã d.i.ệ.t 62.500 tên địch (bình quân mỗi ngày có 1 trung đoàn Trung Quốc bị loại khỏi vòng chiến); p.h.á h.ủ.y 280 xe tăng, xe thiết giáp và 270 xe quân sự các loại, 115 khẩu pháo cối và dàn phóng hỏa tiễn các loại. Trung Quốc đã tiêu hao mất 1,06 triệu quả đạn pháo, 23,8 ngàn tấn đạn, 55 triệu viên đạn cá nhân (nguồn: QĐND Việt Nam). Nguyên nhân khiến quân bành trướng t.h.ả.m b.ạ.i:

1. VỀ THIÊN THỜI:

Người Trung Quốc cứ tưởng đất nước ta vừa trải qua nhiều năm chiến tranh, quốc lực cạn kiệt, quân chủ lực đa số lại đang ở Campuchia (3/4 quân đoàn) thì họ cỏ thể dễ dàng “làm cỏ” nước Nam. Chúng ta dù gặp muôn vàn khó khăn, gian khổ nhưng những người con đất Việt lại dạn dày và trưởng thành trong mưa b.o.m, bão đ.ạ.n, khói lửa chiến tranh; chúng ta vừa thắng Mỹ để thống nhất đất nước, v.ũ k.h.í và khí tài của chúng ta rõ ràng hiện đại hơn họ. Lính Trung Quốc không có kinh nghiệm chiến đấu khi mà lần cuối người Trung Quốc tham chiến đã rất lâu kể từ chiến tranh Triều Tiên 1953. Nhìn bên ngoài cứ tưởng Trung Quốc nắm thiên thời nhưng thực ra đây mới là thời cơ của Việt Nam để biến kẻ rêu rao đi dạy học trở thành tên học trò vỡ lòng.

2. VỀ ĐỊA LỢI:

Trung Quốc xâm lược nước ta, chiến trường nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam, chúng ta nắm từng cành cây, ngọn cỏ, thước núi, tất sông. Chúng ta dựa vào công sự trận địa hiểm trở, đồi núi để bố trí hỏa lực t.i.ê.u d.i.ệ.t địch. Địch từ xa đến, lại hung hăng tấn công ngay, ta lấy sức nhàn để thắng sức mỏi trong điều kiện thông thuộc địa hình, địa vật. Chính vì thế, dù phải lấy 1 địch 10 nhưng chúng ta vẫn x.é x.á.c được con hổ giấy phương Bắc.

3. NHÂN HÒA:

Chúng ta có chính nghĩa khi chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc; được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ủng hộ. Nhân dân ta trên dưới một lòng, đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng; kiên quyết bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Giặc bại vong trước thế trận chiến tranh nhân dân là điều tất yếu.

Chiến tranh đã lùi xa, những vết thương lòng cũng đã dần liền sẹo nhưng dù thế nào thì đó cũng là một phần của lịch sử. Chúng ta với Trung Quốc chắc chắc vẫn mãi là hàng xóm của nhau, đó là bất biến. Chúng ta và họ đã bình thường hóa quan hệ từ 1991, hợp tác song phương đạt nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, chúng ta giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước, giải quyết khác biệt với họ bằng con đường hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, chúng ta phải sòng phẳng với lịch sử, kể cho con cháu về những ngày tháng đau thương nhưng rất tự hào của cha ông ta khi lấy máu xương để ngăn bước quân t.h.ù, giáo dục cho thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước; sẵn sàng chiến đấu hy sinh để bảo vệ núi sông, bờ cõi. Phải ôn lại chiến tranh để trân quý hơn về giá trị của hòa bình và muốn hòa bình thì phải chuẩn bị tốt các điều kiện cho chiến tranh. Việt Nam tự cường để tương lai hùng mạnh, không ai dám động vào./.
QV-ST!

LỊCH SỬ NƯỚC TA: BI KỊCH HOÀNG ĐẾ TÂY SƠN!

     Gia Long (Nguyễn Phúc Ánh 1762-1820), vị hoàng đế thành lập nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng lịch sử Việt Nam. Sau khi Hoàng đế Quang Trung mất, triều Tây Sơn suy yếu, lục đục tranh giành quyền lực, Nguyễn Ánh với sự giúp đỡ của người Pháp tiến quân ra Bắc. Ngày 02/5/1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, nguyên niên ở Kinh thành Phú Xuân sau đó đưa đại quân ra Bắc tiêu diệt vua Tây Sơn Bảo Hưng. 

Ngày 23/6 năm Nhâm Tuất, Gia Long vào thành Thăng Long thanh toán xong tàn dư của triều Tây Sơn. Mùa đông năm Nhâm Tuất, sau khi bắt sống vua Bảo Hưng Nguyễn Quang Toản, xa giá vua Gia Long từ Thăng Long về Phú Xuân bắt đầu “tận pháp trừng trị” vua quan Tây Sơn. Sách Đại Nam thục lục chính biên chép: Quang Toản và những người con khác của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là Quang Duy, Quang Thiệu và Quang Bàn bị 5 voi xé xác, đầu bị bỏ vào vò và giam trong ngục. Quang Tự, Quang Điện, Nguyễn Văn Trị rồi các con của Nguyễn Nhạc gồm Thanh, Hán, Dũng bị giết ngay sau khi bị bắt, chưa kể 31 người có quan hệ huyết thống với Nguyễn Huệ đều bị xử lăng trì. 

Lăng mộ nhà Tây Sơn như các lăng của vua Thái Đức đều bị quật lên, hài cốt bị giã nát quăng đi, đầu ba vua Thái Đức, Quang Trung và Cảnh Thịnh và bài vị vợ chồng Nguyễn Huệ bị giam trong ngục tối. Nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái bị voi giày, chồng bà là Trần Quang Diệu do trước đó đã có lần tỏ ra khoan thứ cho quân Nguyễn nên xin được Nguyễn Ánh tha cho mẹ già 80 tuổi trước khi bị xử chết…Các quan văn khác của Tây Sơn như Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích ra hàng cho đánh đòn và được tha về. Riêng Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường trước có thù riêng nên Nguyễn Ánh cho người đánh chết./.


-----------
Nguồn: Sách “Bi kịch Hoàng Đế”. 
Nhà xuất bản Thanh Hoá.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THƯỢNG TƯỚNG VÕ TIẾN TRUNG - 14 TUỔI, “DŨNG SĨ DIỆT MỸ” NHÍ ĐƯỢC CỬ RA BẮC GẶP BÁC HỒ VÀ TÌM BA ĐOÀN TỤ!

     Năm 1965, cậu bé 11 tuổi Võ Tiến Trung đã là đội trưởng thiếu niên du kích bí mật xã Lộc Phước (nay là xã Vu Gia, thành phố Đà Nẵng). Vừa đánh địch, vừa làm địch vận, cậu lăn lộn giữa chiến tranh như một người lớn thật sự. Mới 14 tuổi, Trung được phong danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ” và được cử ra Bắc học văn hóa. Thôn xóm vẫn chìm trong bom đạn, cậu muốn ở lại chiến đấu nhưng được động viên: “Ra Bắc là cơ hội gặp Bác Hồ… và tìm ba con”!

Tháng 8 năm 1969, Võ Tiến Trung đặt chân đến miền Bắc thì Bác Hồ đã lâm bệnh nặng. Hy vọng được gặp Người tan đi, cậu thiếu niên chỉ còn một mong ước tìm lại ba sau bao năm biệt tin kẻ Bắc người Nam.

Trung được đưa về Trung đoàn an dưỡng 580 ở Nam Hà. Cậu viết đơn xin tìm cha, thấp thỏm chờ đợi từng ngày nhưng mãi không có hồi âm. Vài tháng sau, khi biết Trung là dũng sĩ, đơn vị cử cậu đi kể chuyện truyền lửa tại các trường học, nhà máy, rồi chuyển về số 83 Lý Nam Đế, nơi ở của các anh hùng miền Nam.

Những ngày sống tại Hà Nội, sáng nào Trung cũng mặc bộ quân phục chỉnh tề. Cậu để ý thấy một người đàn ông đội mũ lông thường bước ngang qua, gương mặt quen quen như đã gặp ở đâu đó trong những ký ức mờ xa.

Một chiều, người đàn ông dừng lại hỏi:
- Con miền Nam ra à?

Cậu bé lễ phép đáp: 
- Dạ, con ở Quảng Đà.

Nghe Võ Tiến Trung kể trọn tên xã, thôn, tên ba mẹ, người đàn ông bỗng khựng lại. Rồi ông thả rơi chiếc cặp, lao tới ôm chầm lấy cậu, bật khóc nức nở:
- Tám ơi! Ba đây!

Ông chính là Võ Đức Dật (tên hoạt động Võ Miễn), là thành viên Ban khởi nghĩa giành chính quyền ở xã Duy Mỹ (Duy Xuyên) trong Cách mạng Tháng Tám. Đầu năm 1955, khi cậu bé Trung vừa lọt lòng được vài tháng, ông Võ Miễn (lúc đó là Bí thư chi bộ) buộc phải đưa hơn 50 đảng viên đang đứng trước nguy cơ bị địch thủ tiêu tập kết ra Bắc. 

Ông Dật giờ làm việc ở số 91 - 93 Lý Nam Đế, chỉ cách nơi con ở… đúng vài căn nhà.

Tiếng khóc vỡ òa kéo cả trạm chạy ra. Trạm trưởng hốt hoảng hỏi:
- Có chuyện gì thế?

Ông Dật nghẹn lại:
- Tôi… tìm được con tôi rồi!

Còn Võ Tiến Trung ôm ghì lấy cha, khóc như chưa bao giờ được khóc, kêu với chú Trạm trưởng:
- Chú ơi… con tìm thấy ba con rồi…

Trạm trưởng lập tức bảo lấy hết thịt bò, thịt lợn, một con gà (những thứ vô cùng quý thời ấy) để cha con họ liên hoan mừng đoàn tụ. Tối đó, Võ Tiến Trung được lệnh nghỉ lại với ba. 

Trong căn phòng đơn sơ, Trung nhìn thấy bức ảnh gia đình đặt trên bát hương làm từ cốc nhựa. Đó là tấm hình năm 1965, khi bà Nhân cùng các con chụp gửi ra Bắc cho ông. Một năm sau, một thương binh báo tin dữ, cả gia đình ông đã bị giặc giết hại. Ông Dật mang tấm ảnh ấy làm ảnh thờ, thắp cho vợ con từng ngày.

Khi nghe Trung kể chuyện quê nhà, ông mới biết vợ và bảy người con vẫn bám trụ hoạt động cách mạng. Người con gái thứ hai và cháu ruột đã hy sinh vì bom Mỹ.

Ông Dật ôm mặt khóc, thức trắng đêm thương nhớ người con gái đã mất. Sau đó ông nhờ họa sĩ tách riêng hình chị Ba từ tấm ảnh chung để lập bàn thờ.

Những ngày đoàn tụ ngắn ngủi, hai cha con tranh thủ cùng nhau ra hồ Hoàn Kiếm, dạo bộ, chụp một tấm hình kỷ niệm đầu tiên sau 14 năm trời xa cách. 

Câu bé Võ Tiến Trung sau này phát triển thành Thượng tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Phó Giáo sư, Tiến sĩ. Ông giữ nhiều trọng trách quan trọng trong quân đội: Phó Tư lệnh Quân khu 5. Giám đốc Học viện Quốc phòng Việt Nam./.
QV-ST!

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: SỰ TÀI TÌNH VĨ ĐẠI VÀ TRÍ TUỆ CỦA CHA ANH CHÚNG TA ĐƯỢC THỂ HIỆN MỘT PHẦN TRONG CUỐN 5 ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH!

     Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam hay một chương khốc liệt của lịch sử thế kỷ XX, vẫn luôn là tâm điểm của những tranh luận chưa hồi kết. Sau nửa thế kỷ, những dấu ấn ấy vẫn hiện hữu: là niềm tự hào của người chiến thắng, là nỗi ám ảnh trong tâm linh Mỹ, hay sự day dứt của những người phía bên kia chiến tuyến. 

Tuy nhiên, vượt lên trên những diễn giải lịch sử mang tính đối đầu, cuốn sách "5 đường mòn Hồ Chí Minh" của tác giả Đặng Phong đã khai mở một góc nhìn mới mẻ và đầy trí tuệ. Tác phẩm không nhằm tham gia vào cuộc "chiến tranh luận thuyết" mà tập trung giải mã một hệ thống chi viện đa phương, đa dạng – những mạch máu huyền thoại đã làm nên kỳ tích lịch sử.

Nhắc đến đường mòn Hồ Chí Minh, đa số độc giả thường chỉ hình dung về dải Trường Sơn trùng điệp hay những con “tàu không số” trên biển Đông. Nhưng thực tế, đó là một mạng lưới liên hoàn gồm năm "con đường" khác nhau, trong đó có những lối đi mà ngay cả những người trong cuộc cũng ít khi biết hết. Đầu tiên là hệ thống đường bộ Trường Sơn – nơi mà ngay cả những phương tiện tối tân nhất của Mỹ cũng bị vô hiệu hóa. Sự kỳ diệu không chỉ nằm ở ý chí quyết tâm mà còn ở nghệ thuật tổ chức, hệ thống kho tàng, quân y, và đặc biệt là những phương pháp "đánh lừa" kỹ thuật hiện đại của đối phương một cách lý thú và đầy sáng tạo. 

Song hành với đó là con đường xăng dầu dài 5.000 km, một kỳ tích về hậu cần khi đưa nhiên liệu vượt qua những đỉnh cao nghìn mét, cung cấp sức sống cho xe tăng và vận tải trong những chiến dịch quyết định, điều mà các tài liệu giải mật của Mỹ vẫn chưa thể giải mã hoàn toàn.

Trên mặt biển, "đường mòn trên biển" lại là một câu chuyện về sự biến hóa. Suốt bảy năm đầu, những con "tàu không số" đã vận chuyển hàng chục ngàn tấn vũ khí mà không hề để lại dấu vết. Khi bị theo dõi sát sao, những "con tàu đánh cá thật" hoàn toàn hợp pháp lại được sử dụng để chở cán bộ cao cấp như Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh một cách công khai mà đối phương không hề hay biết. Sự "phi tang" và sai lệch giữa hải đồ của Mỹ so với thực tế của Lữ đoàn 125 chính là minh chứng cho sự mưu trí tuyệt vời.

Thú vị và bí ẩn hơn cả là con đường hàng không và đường chuyển ngân. Con đường hàng không là sự "bí mật trong công khai", khi những chuyến bay dân dụng đi từ Phnom Penh qua chính không phận Sài Gòn để về Hà Nội, mang theo tướng lĩnh, ngoại tệ và hóa chất quan trọng. Cuối cùng, con đường thứ năm – đường chuyển ngân FM – thực sự là một "đường mòn vô hình". Không cần xe cộ hay súng đạn, chỉ bằng những mật mã và hệ thống ngân hàng quốc tế tại Paris, London hay ngay giữa lòng Sài Gòn, nguồn lực tài chính đã được luân chuyển hợp pháp để chi viện cho cách mạng. Suốt 20 năm, con đường này chưa từng bị phát hiện, tạo nên một sự kinh ngạc lớn cho hậu thế.

Sức mạnh của hệ thống này nằm ở hai chữ: Bí mật. Sự cách biệt thông tin giữa các tuyến đường khiến ngay cả những người chỉ huy cao cấp cũng chỉ biết phần việc của mình. Chính sự hiệp đồng bí mật ấy đã tạo nên tính liên hoàn, giúp miền Bắc chi viện toàn diện cho miền Nam.

Cuốn sách của Đặng Phong không chỉ dừng lại ở việc ngợi ca mà đã đi sâu vào đúc kết lịch sử một cách khoa học, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của cả thế hệ đương thời lẫn hậu chiến. Năm con đường ấy, dù trên bộ, dưới nước, trên không hay trong hệ thống tài chính, đều xứng đáng mang tên Hồ Chí Minh – biểu tượng của một dân tộc biết lấy trí tuệ và sự sáng tạo để khỏa lấp những khoảng cách về công nghệ và tiền bạc, viết nên một huyền thoại bất tử trong lịch sử quân sự thế giới./.
QV-ST!

Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2026

THẾ GIỚI - VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN: 🇷🇺🇷🇺🇷🇺 VŨ KHÍ NGA - HỆ THỐNG “DRAGON” NHIỆT ÁP MỚI ĐANG PHỤC VỤ TRONG QUÂN ĐỘI NGA!

     TOS-3 Dragon là hệ thống pháo nhiệt áp hạng nặng mới nhất của Nga, đã trải qua "thử thách thực chiến" tại khu vực Chiến dịch quân sự.

◾️Lần trình diễn đầu tiên của "Dragon" diễn ra vào mùa hè năm 2024 tại một sự kiện kỷ niệm 45 năm thành lập Lữ đoàn sinh hóa và bức xạ Vệ binh số 1.

◾️Vào tháng 11 năm 2025, những đoạn quay đầu tiên về hệ thống TOS-3 "Dragon" trong chiến đấu tại khu vực Chiến dịch quân sự đặc biệt đã xuất hiện trực tuyến. Hệ thống này được phát hiện đang phục vụ trong Lữ đoàn sinh hóa và bức xạ độc lập số 29 thuộc cụm quân Trung tâm của Lực lượng Vũ trang Nga.

◾️Hệ thống này được xây dựng dựa trên kinh nghiệm nhiều năm tham gia các hoạt động chiến đấu.

◾️Yếu tố hạn chế chính của hệ thống pháp nhiệt áp Solntsepek, loại pháo cực kỳ hiệu quả trên chiến trường, là tầm bắn tương đối ngắn – chỉ đến 6 km.

◾️Đây chính xác là vấn đề mà hệ thống TOS-3 "Dragon" mới giải quyết, hệ thống này hoạt động ở khoảng cách lên đến 15-24 km.

◾️Dựa trên khung gầm xe tăng T-80, "Dragon" được trang bị hệ thống bảo vệ động Kontakt-5, các tấm chắn bổ sung, lưới chống máy bay không người lái và hệ thống tác chiến điện tử, giúp tăng đáng kể khả năng sống sót.

◾️Đạn TBS-M3 tạo ra nhiệt độ -3000°C tại tâm vụ nổ, khiến việc thoát khỏi loại vũ khí này gần như bất khả thi.

◾️Và phạm vi tàn phá của một loạt đạn từ "Dragon" có thể lên tới 40.000 m² (mỗi chiều là 200 × 200 m)

◾️Điều quan trọng cần nhớ là Nga vẫn là quốc gia duy nhất trên thế giới sản xuất hàng loạt hệ thống súng phun lửa hạng nặng thuộc loại này./.
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: CUỘC CHUYỂN QUÂN THẦN TỐC CỦA VIỆT NAM NĂM 1979...

     Ngày 17/2/1979, Trung Quốc đưa quân tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam. Lúc này, quân chủ lực của ta vẫn đang tham chiến tại Campuchia để truy kích quân diệt chủng Pôn Pốt, các khí tài quân sự thu giữ được tại Tổng kho Long Bình đều được sử dụng đánh bọn diệt chủng nên không kịp chuyển ra Bắc chi viện. Ngay thời điểm đó, Tướng Liên Xô là G.I. Obaturov đã bay sang Việt Nam, gặp Tướng Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Trọng Tấn và Tổng Bí thư Lê Duẩn để đề nghị hỗ trợ Việt Nam thực hiện chuyển khẩn cấp quân đoàn Việt Nam từ Campuchia đến Lạng Sơn bằng đường bộ cùng máy bay An-12 của Liên Xô và được phía ta đồng ý. Một chiến dịch chuyển quân thần tốc với quy mô lớn chưa từng có từ Nam ra Bắc đã được thực hiện.

Trong thời gian từ khi nổ ra cuộc chiến đến đầu tháng 3/1979, chúng ta đã thực hiện một cuộc chuyển quân thần tốc với việc đưa hơn 8.900 lượt quân cùng 1.000 tấn hàng từ miền Nam ra Bắc. Đầu tiên, phía Liên Xô đã huy động 12 chiếc An-12 sang Việt Nam để làm nhiệm vụ vận tải chiến lược, giúp ta đưa quân từ mặt trận Tây Nam ra mặt trận biên giới phía Bắc. Loại máy bay này được sử dụng với công suất tối đa, với chỉ tổng cộng 2 tiếng cho một lượt bay từ Tân Sơn Nhất ra Nội Bài, mỗi ngày một chiếc An-12 có thể bay tối đa tới 10 lượt Tân Sân Nhất - Nội Bài - Tân Sơn Nhất (bay ra đầy tải, bay rỗng vào ngược TP. Hồ Chí Minh). Với mỗi lượt chuyển được tối đa 100 binh sĩ cùng vũ khí ra miền Bắc, mỗi ngày một chiếc An-12 có thể chở ra Hà Nội được tối đa tới 500 binh sĩ. Toàn bộ đều do phi công Liên Xô là người điều khiển.

Một số đơn vị đặc công - lực lượng tinh nhuệ được ưu tiên di chuyển bằng cả trực thăng UH-1, CH-47, Mi-8, Mi-6. Trung đoàn 916 chở quân từ các nơi về sân bay Tân Sơn Nhất, Cần Thơ, Đà Nẵng. Sau đó, bộ đội hành quân ra Bắc bằng máy bay của Trung đoàn không quân 918. Ngoài ra, từ ngày 22/2/1979 tới ngày 3/3/1979, toàn bộ phi đội 10 máy bay tiêm kích F-5 của Trung đoàn Không quân 935, 10 máy bay cường kích A-37 của Trung đoàn Không quân 937 cùng với 8.900 bộ đội và 1.000 tấn hàng đã được vận chuyển an toàn ra Hà Nội với tổng cộng... 805 chuyến bay vận tải quân sự - một tần suất bay khổng lồ trong lịch sử quân sự Việt Nam./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG “XÂY MỚI CẦU SÔNG LÔ MỞ RA KHÔNG GIAN VÀ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN MỚI!”

     Thủ tướng yêu cầu nghiên cứu đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới theo quy hoạch, với quy mô tương đương cầu Phong Châu mới; phấn đấu đến Tết nguyên đán 2027 nhân dân có cầu mới đi lại.

Chiều 14/2, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì họp Thường trực Chính phủ với các bộ, ngành Trung ương và tỉnh Phú Thọ về tình hình khắc phục hư hỏng công trình cầu sông Lô. Cùng dự có Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà; lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan Trung ương và tỉnh Phú Thọ.

Theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ, dự án cầu sông Lô và cứng hóa mặt đê tả sông Lô được Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ phê duyệt ngày 21/4/2008, với tổng mức đầu tư 320 tỷ đồng, trong đó công trình cầu 231 tỷ đồng. Dự án triển khai xây dựng trên địa bàn huyện Đoan Hùng (nay là xã Đoan Hùng), tỉnh Phú Thọ; được nghiệm thu đưa vào khai thác từ ngày 11/11/2015 và được nghiệm thu hết bảo hành công trình từ ngày 10/1/2018.

Theo kết quả khảo sát, kiểm định tổng thể của đơn vị tư vấn đối với kết cấu dầm cầu, trụ cầu không phát hiện các vấn đề bất thường. Tuy nhiên, kết quả thí nghiệm bê tông khoan rút lõi một số bệ trụ và cọc khoan nhồi không đạt yêu cầu theo thiết kế. Kết cấu móng trụ T3, T4, T5, T6 hiện tại không đủ khả năng chịu lực theo tiêu chuẩn 22TCN 272-05. Việc hư hỏng các cọc khoan nhồi như đã nêu là không đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn khai thác.

Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ đã chỉ đạo điều chỉnh phương án tổ chức phân luồng, tổ chức giao thông qua cầu sông Lô phù hợp với điều kiện thực tiễn; đồng thời đề xuất 2 phương án gồm: phương án sửa chữa, khắc phục hư hỏng và phương án đầu tư xây dựng Cầu Sông Lô mới.

Thảo luận tại cuộc họp, các đại biểu đều thống nhất cần khẩn trương có biện pháp sửa chữa, khắc phục hư hỏng cầu sông Lô đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân; nhất trí với đề xuất đầu của tỉnh Phú Thọ về tư xây dựng Cầu Sông Lô mới.

Kết luận cuộc họp, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính hoan nghênh các bộ, ngành, cơ quan và tỉnh Phú Thọ đã có phản ứng trước sự cố cầu sông Lô. Tuy nhiên đến nay vẫn còn lúng túng, chưa có phương án rõ, khả thi, xử lý sự cố, đáp ứng yêu cầu đi lại của người dân.

Nhấn mạnh việc xảy ra hư hỏng cầu sông Lô phải được điều tra, kết luận trong tháng 2/2026 để xử lý theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và việc sửa chữa, sử dụng cầu sông Lô cũ do tư vấn đề xuất, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo phải có phương án đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, phục vụ, mở ra không gian phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng, nhất là trong bối cảnh hợp nhất 3 tỉnh và nhu cầu phát triển giai đoạn mới.

Do đó, vừa phải sửa chữa, khắc phục hư hỏng cầu sông Lô vừa đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới; trước mắt, nghiên cứu bắc ngay cầu phao phục vụ người dân đi lại trong lúc này, nếu cần thiết.

Lưu ý phải có tầm nhìn xa, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu nghiên cứu đầu tư xây dựng cầu sông Lô mới theo quy hoạch, với quy mô tương đương cầu Phong Châu mới; hoàn thành trong 1 năm, phấn đấu đến Tết nguyên đán 2027 nhân dân có cầu mới đi lại. Tỉnh Phú Thọ làm chủ đầu tư dự án cầu sông Lô mới; các đơn vị Quân đội tham gia, hỗ trợ tỉnh Phú Thọ triển khai dự án.

Về kinh phí, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tỉnh Phú Thọ đảm nhiệm việc giải phóng mặt bằng phục vụ dự án và đường dẫn hai đầu cầu; Trung ương hỗ trợ tỉnh Phú Thọ kinh phí phần xây lắp cầu từ nguồn dự phòng của năm 2025 chuyển sang; tuyệt đối không để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

Yêu cầu các bộ, ngành và tỉnh Phú Thọ triển khai nhiệm vụ theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, những vấn đề vượt thẩm quyền thì báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý, Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ, đây là trường hợp khẩn cấp nên phải đầu tư theo cơ chế Lệnh tình trạng khẩn cấp, tổ chức triển khai với phương châm “làm ngày, làm đêm, làm thêm ngày nghỉ,” “vượt nắng thắng mưa, không thua bão gió,” “chỉ bàn làm, không bàn lùi” để “không lãng phí một ngày, không chậm trễ trong một tuần, không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng và không để bị động trong cả năm,” tất cả vì sự phát triển của đất nước, vì cuộc sống của nhân dân./.

Ảnh: Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì họp về công tác khắc phục hư hỏng công trình cầu sông Lô thuộc địa bàn xã Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUY ĐỊNH MỚI CỦA BẠN BÍ THƯ VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG THẺ ĐẢNG VIÊN!

     Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú vừa ký ban hành Quy định số 06-QĐ/TW về quản lý và sử dụng thẻ đảng viên.

Quy định số 06-QĐ/TW quy định về trách nhiệm, thẩm quyền của các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ và đảng viên trong việc quản lý, sử dụng và xử lý vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thẻ đảng viên.

Theo quy định, quản lý thẻ đảng viên là các hoạt động cấp mới, cấp lại thẻ đảng viên; sản xuất, in, hủy thẻ đảng viên; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thẻ đảng viên của cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy các cấp.

Thẻ đảng viên được dùng để biểu quyết trong sinh hoạt đảng, trong đại hội đảng các cấp (trừ các trường hợp biểu quyết bằng phiếu kín); thực hiện các thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử theo quy định.

Việc quản lý và sử dụng thẻ đảng viên bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định. Nghiêm cấm việc làm giả thẻ đảng viên.

Về trách nhiệm của đảng viên, quy định nêu rõ:

Đảng viên phải bảo quản, giữ gìn cẩn thận thẻ đảng viên. Đảng viên sử dụng thẻ đảng viên đúng quy định; không cho người khác mượn, sử dụng thẻ đảng viên; không được dùng thẻ đảng viên để cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố vay, mượn tiền, tài sản; không được đăng tải hình ảnh thẻ đảng viên lên mạng xã hội với mục đích xấu hoặc không phải thẻ của mình; không được tự huỷ thẻ đảng viên.

Nếu thẻ đảng viên bị sai, bị hỏng, bị mất phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với cấp uỷ, chi bộ quản lý trực tiếp để xem xét, đề nghị việc cấp lại thẻ đảng viên theo quy định.

Đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xoá tên và đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác phải nộp lại thẻ đảng viên cho chi bộ.

Đảng viên từ trần thì gia đình của đảng viên được giữ lại thẻ đảng viên và không được sử dụng thẻ đảng viên trái với Quy định này.

Đảng viên phát hiện thẻ đảng viên của đảng viên khác bị thất lạc hoặc có những hành vi sử dụng trái với Quy định này phải kịp thời báo cáo cấp uỷ, chi bộ quản lý trực tiếp để báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý.

Cũng theo quy định, chi bộ, cấp uỷ cơ sở có trách nhiệm: Quán triệt, hướng dẫn đảng viên quản lý, sử dụng thẻ đảng viên đúng quy định; đề nghị cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng uỷ được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng uỷ được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền kết nạp đảng viên) cấp mới, cấp lại thẻ đảng viên cho đảng viên theo quy định; tổ chức phát thẻ đảng viên tại cuộc họp chi bộ gần nhất.

Định kỳ hằng năm tổ chức kiểm tra thẻ đảng viên tại cuộc họp kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên cuối năm; báo cáo cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng uỷ được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng uỷ được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền kết nạp đảng viên) kết quả kiểm tra.

Chi bộ, cấp ủy cơ sở có trách nhiệm tiếp nhận, xác minh, báo cáo kịp thời các trường hợp mất thẻ, hỏng thẻ hoặc sử dụng thẻ đảng viên không đúng quy định lên cấp uỷ cấp trên trực tiếp; thu lại thẻ đảng viên khi đảng viên xin ra khỏi Đảng, bị khai trừ, xoá tên và đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức khác hoặc thẻ đảng viên bị sai, bị hỏng và nộp lên cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng (hoặc đảng uỷ được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng uỷ được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền kết nạp đảng viên).

Thực hiện nghiệp vụ về phát, quản lý thẻ đảng viên theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương; báo cáo định kỳ hoặc khi có yêu cầu về tình hình quản lý, sử dụng thẻ đảng viên.

Quy định cũng nêu rõ các trường hợp xử lý vi phạm gồm: Đảng viên tự ý trả thẻ đảng viên hoặc tự huỷ thẻ đảng viên bị xoá tên đảng viên theo quy định; Đảng viên sử dụng thẻ đảng viên sai quy định; làm mất thẻ đảng viên không có lý do chính đáng; để người khác sử dụng thẻ đảng viên thì tuỳ theo mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của Đảng.

Tổ chức đảng, đảng viên phát hiện những hành vi trái với quy định này mà không kịp thời tố giác hoặc bao che thì tuỳ theo mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của Đảng. Tổ chức, cá nhân làm giả thẻ đảng viên thì tuỳ mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước./.
Ảnh: Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG "THÀNH LẬP 3 TRƯỜNG THIẾU SINH QUÂN TẠI 3 MIỀN"!

     Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng cho biết, quân đội sẽ tổ chức triển khai thành lập 3 trường thiếu sinh quân tại 3 miền Bắc, Trung, Nam.

Chiều 14/2, tại Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng đã trình bày chuyên đề tư duy, nhận thức mới về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đại hội XIV.

Bộ trưởng nhấn mạnh, quan điểm về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là bộ phận quan trọng trong hệ thống quan điểm, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, là “kim chỉ nam” cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Nêu về lịch sử dân tộc "dựng nước đi đôi với giữ nước", "thượng sách giữ nước phải khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc", Bộ trưởng cho biết đó là tư tưởng, nghệ thuật quân sự độc đáo, bài học lịch sử, là quy luật tồn tại, phát triển của dân tộc ta.

Đại tướng Phan Văn Giang lược trích nội dung trong Hịch Tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: "Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi..., mọi người đều tài..., nếu được như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng".

Đại tướng cũng dẫn lại thư gửi cán bộ và chiến sĩ nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập QĐND Việt Nam (năm 1958), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Chúng ta phải ra sức xây dựng quân đội ta thành một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc".

Đại hội XIV xác định bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, kiên định bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ nền văn hóa và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước.

Đại hội cũng xác định bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng; tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững và củng cố môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước.

Theo Bộ trưởng, Đại hội XIV kế thừa, phát triển các nội dung về bảo vệ Tổ quốc từ các kỳ đại hội trước, đồng thời bổ sung mục tiêu “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc” lên trên hết, trước hết; “bảo vệ uy tín, vị thế quốc tế của đất nước”, “bảo vệ an ninh con người”, “an ninh kinh tế, an ninh mạng”; “tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong”.

Bộ trưởng nhấn mạnh, đây là quan điểm, chủ trương thể hiện sâu sắc sự phát triển tư duy mới của Ðảng đối với nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Quyết tâm nghiên cứu, sản xuất vũ khí trang bị tiên tiến, hiện đại

Đại hội XIV xác định tăng cường quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó QĐND là nòng cốt, nhưng có bước phát triển mới.

Đại hội cũng xác định tăng cường tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia; nâng cao khả năng huy động đáp ứng yêu cầu trong mọi tình huống quốc phòng.

Bộ trưởng nêu rõ, xây dựng tiềm lực quốc phòng cần xây dựng đồng bộ, thống nhất các tiềm lực: tiềm lực chính trị, tiềm lực kinh tế, văn hóa, xã hội; tiềm lực khoa học - công nghệ; tiềm lực quân sự; phải bắt đầu từ xây dựng thế trận quân sự, dựa vào nhân dân, xây dựng tiềm lực chính trị tinh thần, lấy xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là then chốt.

Xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là chủ trương lớn, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước ta đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Đại hội XIII xác định xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Đến Đại hội XIV khẳng định xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. "Như vậy Đảng ta xác định sớm 5 năm so với Đại hội XIII đề ra", Bộ trưởng thông tin thêm.

Bộ trưởng Quốc phòng nêu về chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương về “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa”, “5 vững” và mục tiêu “quyết tâm nghiên cứu, sản xuất vũ khí trang bị tiên tiến, hiện đại”.

"Hơn 80 năm qua, Quân đội luôn thực hiện tốt ba chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động và sản xuất”, Bộ trưởng nêu rõ.

Trong thực hiện chức năng là đội quân chiến đấu, Bộ trưởng nhấn mạnh, QĐND được xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; tổ chức tinh, gọn, mạnh có cơ cấu đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, lực lượng; giữa lực lượng thường trực và dự bị động viên; sắp xếp tổ chức quân sự địa phương đồng bộ với tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.

Một nội dung đáng chú ý được Bộ trưởng Quốc phòng cho hay là việc tổ chức triển khai thành lập 3 trường thiếu sinh quân tại 3 miền Bắc, Trung, Nam.

Đại hội XIV tiếp tục xác định xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển.

Cùng với tiếp tục khẳng định tính lưỡng dụng, hiện đại trong Văn kiện Đại hội XIII, Đại hội XIV bổ sung thêm các thành tố “tự chủ, tự lực, tự cường” trong phát triển công nghiệp quốc phòng nhằm phát huy nội lực, tự lực tiến tới tự chủ chiến lược trong suốt quá trình từ nghiên cứu đến sản xuất và phát triển; không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm chất lượng ngày càng cao.

"Chuyển từ cơ bản mua sắm sang tự chủ, tự sản xuất", Bộ trưởng nhấn mạnh.

Về hội nhập quốc tế, Đại hội XIV xác định đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, tích cực tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc, hỗ trợ nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa, khắc phục hậu quả chiến tranh.

"Chỉ một nội dung triển lãm công nghiệp quốc phòng quốc tế cũng tạo điều kiện cho chúng ta nâng cao được hiệu quả phát triển công nghiệp quốc phòng và nâng cao vị thế, uy tín của Quân đội và đất nước", Đại tướng dẫn chứng./.


QV-ST!

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

ĐẰNG SAU NHỮNG ÂM MƯU CÁCH MẠNG MÀU, MỤC ĐÍCH CHÍNH CỦA MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY THƯỜNG TẬP TRUNG VÀO 4 TRỤ CỘT SAU:

1. Thay đổi quỹ đạo Địa chính trị (Geopolitics)
Đây là mục tiêu quan trọng nhất. Mỹ không cần một quốc gia phải "dân chủ" thực sự, họ cần quốc gia đó thân Mỹ và xa rời các đối thủ.
Xây dựng "Vành đai ngăn chặn": Ví dụ tại Ukraine, Georgia hay Kyrgyzstan, mục đích là ép các nước này rời bỏ ảnh hưởng của Nga để gia nhập NATO/EU, tạo ra một vòng vây quân sự sát sườn đối thủ.
Xóa bỏ các "cái gai": Những quốc gia có đường lối độc lập, không nghe lời hoặc dám thách thức hệ thống tài chính/quân sự của Mỹ (như Iraq thời Saddam, Libya thời Gaddafi hay Iran hiện nay) sẽ là mục tiêu hàng đầu.

2. Kiểm soát Tài nguyên và Thị trường
Kinh tế luôn là động cơ ngầm. Sau khi một chính quyền bị lật đổ bởi Cách mạng màu, các quốc gia Phương Tây thường tiến hành:
Tư nhân hóa tài sản quốc gia: Các tập đoàn đa quốc gia sẽ nhảy vào mua lại tài nguyên (dầu mỏ, khoáng sản) hoặc các ngành viễn thông, ngân hàng với giá rẻ mạt.
Áp đặt hệ thống tài chính: Buộc quốc gia đó phải vay nợ từ IMF/World Bank, từ đó bị trói buộc về chính sách kinh tế trong hàng thập kỷ.

3. Duy trì vị thế Độc tôn (Hegemony)
Mỹ muốn duy trì một "Trật tự thế giới dựa trên luật lệ" (do chính họ đặt ra).
Vũ khí hóa Nhân quyền: Bằng cách tự cho mình quyền phán xét quốc gia nào "dân chủ", quốc gia nào "độc tài", Mỹ có thể can thiệp vào bất cứ đâu mà không cần tuyên chiến chính thức.
Ngăn chặn các cực quyền lực mới: Bất kỳ quốc gia nào có tiềm năng liên minh để tạo ra một cực kinh tế/quân sự mới (như khối BRICS hay các liên minh tại Trung Đông) đều dễ trở thành mục tiêu của bạo loạn lật đổ để làm suy yếu từ bên trong.

4. Thử nghiệm và Xuất khẩu "Mô hình quản trị"
Phương Tây tin rằng mô hình của họ là "đỉnh cao của văn minh" và muốn áp đặt nó lên toàn cầu để dễ bề quản lý.
Khi một quốc gia áp dụng mô hình chính trị kiểu Tây, họ dễ dàng bị thâm nhập bởi các tổ chức phi chính phủ (NGO), các quỹ hỗ trợ và các kênh truyền thông phương Tây, từ đó bị "đồng hóa" về văn hóa và tư tưởng.
Bảng so sánh giữa "Khẩu hiệu" và "Sự thật"
Khẩu hiệu Phương Tây rao giảng
Mục đích thực tế đằng sau
Bảo vệ Nhân quyền
Tạo cớ để can thiệp pháp lý và trừng phạt kinh tế.
Đấu tranh chống tham nhũng
Loại bỏ các lãnh đạo không phục tùng lợi ích phương Tây.
Tự do ngôn luận/Internet
Tạo điều kiện cho các chiến dịch tâm lý chiến, tin giả để kích động biểu tình.
Hỗ trợ nhân đạo
Tài trợ cho các lực lượng đối lập dưới danh nghĩa cứu trợ.

Nói một cách ngắn gọn: "Cách mạng màu" là một phương thức chiến tranh rẻ tiền hơn chiến tranh truyền thống. Thay vì tốn xương máu binh sĩ Mỹ, họ dùng sự bất bình của người dân địa phương làm "vũ khí", dùng truyền thông làm "đạn dược" để hạ gục một chính phủ từ bên trong.

Hệ quả cuối cùng thường không phải là "tự do" như người dân mong đợi, mà là một chính quyền mới dễ điều khiển hơn hoặc một quốc gia suy yếu và lệ thuộc hơn./.
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: TƯỚNG VÕ TIẾN TRUNG - ANH HÙNG XUẤT PHÁT TỪ LÒNG CĂM THÙ GIẶC!

     Sinh năm 1954 tại xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, mảnh đất “trung dũng, kiên cường”.

Đầu năm 1955, khi Võ Tiến Trung vừa chào đời được vài tháng, ông Võ Miễn -lúc đó là Bí thư chi bộ - đã đưa hơn 50 đảng viên đang có nguy cơ bị địch thủ tiêu tập kết ra Bắc. Địch rất cay cú vì chưa thực hiện được mưu đồ nên chúng liền bắt vợ và con của ông Miễn - bà Đỗ Thị Nhân cùng Võ Tiến Trung còn đang đỏ hỏn vào tù, ép buộc bà khai ra thông tin của chồng và những người đảng viên. Tuổi thơ của Võ Tiến Trung vì thế mà cũng gắn liền với chốn lao tù.

Sau khi được trả tự do khỏi nhà lao cùng mẹ, “cậu bé” Võ Tiến Trung tham gia làm liên lạc cho đội công tác xã Lộc Phước (nay là xã Vu Gia, thành phố Đà Nẵng).

Thời điểm đó, phong trào phá “ấp chiến lược” ở quê đồng chí diễn ra mạnh mẽ. Tuy còn nhỏ tuổi nhưng đồng chí Trung sớm tham gia hoạt động cách mạng.

Năm 1965, Mỹ đưa quân vào miền Nam và tăng cường tuyên truyền về sức mạnh quân sự của chúng. Lính Mỹ được trang bị áo giáp, mũ sắt, giày bọc

thép… nhằm tạo tâm lý e ngại cho lực lượng du kích. Tuy nhiên, Trung không bị ảnh hưởng bởi những lời tuyên truyền này.

Một lần, khi thấy lính Mỹ cởi áo giáp đặt xuống đất, cậu bé Trung lén giấu một quả lựu đạn đã rút chốt dưới lớp áo. Khi tên lính nhấc áo lên, lựu đạn rơi xuống và phát nổ, làm một tên chết và hai tên bị thương.

Sau sự việc đó, du kích đặt vấn đề: nếu địch mặc đầy đủ trang bị thì sẽ đánh bằng cách nào. Trung tiếp tục suy nghĩ và tìm cách phù hợp.

Trong một lần khác, khi lính Mỹ vào làng, Trung cùng một trinh sát giấu hai quả lựu đạn trên cây, chờ thời cơ tiếp cận. Khi địch tập trung, hai quả lựu đạn được kích nổ, gây thương vong. Từ đó, Trung được tin tưởng giao thêm nhiệm vụ.

Năm 1966, Trung được đưa ra Tây Ninh cùng đoàn du kích Quảng Đà để báo cáo thành tích. Tại đây, Trung gặp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (lúc đó được giới thiệu với bí danh “Trường Sơn”).

Biết Võ Tiến Trung đã được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, đồng chí Trường Sơn tặng cậu một chiếc hộp đẹp để đựng chiếc Huân chương đó. Võ Tiến Trung liền ngỏ lời:

- Thưa chú, chú cho con đổi được không?

- Cháu muốn đổi gì?

- Con muốn đổi tấm huân chương này lấy khẩu súng ngắn chú đeo.

Khi đồng chí Trường Sơn hỏi lý do, Trung giải thích: "Mang về nhà, thấy hộp huân chương, địch sẽ giết cả nhà cháu. Nhưng nếu được chú cho khẩu súng và một ít kíp nổ điện, cháu có vũ khí để đánh Mỹ".

Trước ngày trở về, đồng chí Trường Sơn tặng Võ Tiến Trung một hộp kíp nổ điện và một khẩu súng K59, rồi bảo: "Cháu nhỏ, khẩu súng này vừa với cháu và dễ sử dụng".

Năm 1969, khi phát hiện gần 100 lính Mỹ hành quân lùng sục, Trung báo tin cho đơn vị và tham gia chuẩn bị bẫy mìn bằng cách kết hợp nhiều quả đạn pháo, đạn cối cùng kíp điện để tạo trận địa dài khoảng 200m.

Khi địch lọt vào, mìn phát nổ, tạo điều kiện cho bộ đội xung phong tiêu diệt gần trọn đại đội Mỹ.

Riêng đồng chí Võ Tiến Trung được xác nhận tiêu diệt 15 tên địch và được phong danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú.

Sau đó, đồng chí tiếp tục tham gia chiến đấu, nhiều lần lập công, bảy lần được công nhận danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân./.
Ảnh: Thượng tướng Võ Tiến Trung - Nguyên UVTW Đảng, nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CHỦ NGHĨA DÂN TỘC THẮNG THẾ TRONG BẦU CỬ THÁI LAN, NHƯNG BẾ TẮC KHU VỰC ĐANG HIỆN HỮU!

     Kết quả sơ bộ cuộc tổng tuyển cử Thái Lan đang thu hút sự chú ý của dư luận khu vực khi Đảng Bhumjaithai (BJT), do Thủ tướng Anutin Charnvirakul lãnh đạo, giành chiến thắng áp đảo với khoảng 193–194 ghế, vượt qua People’s Party và đẩy các lực lượng dân túy, cải cách như Pheu Thai vào thế yếu. Đây được xem là một trong những thắng lợi hiếm hoi trong nhiều năm của một đảng bảo thủ thân hoàng gia và quân đội, phản ánh xu hướng tâm lý xã hội Thái Lan đang nghiêng về “ổn định” thay vì cải cách sâu rộng.

Giới phân tích nhận định, chiến thắng của BJT không đơn thuần là kết quả của cạnh tranh chính trị nội bộ, mà còn là đỉnh cao của làn sóng chủ nghĩa dân tộc đang được khai thác mạnh mẽ trong bối cảnh bất ổn khu vực. Trong suốt chiến dịch tranh cử, Thủ tướng Anutin đã tận dụng căng thẳng biên giới Thái Lan – Campuchia, biến các vấn đề an ninh thành thông điệp trung tâm, qua đó chuyển hóa nỗi lo xã hội thành lá phiếu ủng hộ.

Hình ảnh “lãnh đạo thời chiến” được xây dựng nhất quán, với các phát ngôn cứng rắn về biên giới, an ninh quốc gia, thậm chí đề xuất xây dựng tường ngăn cách với Campuchia. BJT cũng thể hiện xu hướng trao vai trò chủ đạo trong chính sách biên giới cho quân đội, thay vì đặt trọng tâm vào kênh ngoại giao, khiến căng thẳng song phương trở thành một phần của thông điệp cầm quyền.

Tuy nhiên, đằng sau thắng lợi chính trị ngắn hạn là những rủi ro dài hạn. Việc sử dụng chủ nghĩa dân tộc như một công cụ củng cố quyền lực có thể đẩy quan hệ Thái Lan – Campuchia vào trạng thái “hòa bình lạnh”, với nguy cơ xuất hiện các vụ đụng độ lẻ tẻ, đàm phán kéo dài và thiếu đột phá. Điều này không chỉ gây bất ổn an ninh khu vực, mà còn làm suy yếu nền kinh tế của cả hai nước, vốn phụ thuộc đáng kể vào thương mại song phương và hợp tác biên giới.

Ở bình diện rộng hơn, ASEAN cũng đứng trước một phép thử mới. Trong bối cảnh Philippines dự kiến đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2026, trọng tâm nghị sự nhiều khả năng sẽ tập trung vào Biển Đông, khiến xung đột Thái Lan – Campuchia thiếu vắng vai trò trung gian hòa giải hiệu quả. Các lợi ích hợp tác chiến lược, trong đó có triển vọng khai thác khí đốt tại Vịnh Thái Lan – từng được xem là điểm tựa cho hợp tác song phương – đang bị đe dọa bởi lập trường cứng rắn, ưu tiên quân sự hơn ngoại giao của chính quyền BJT.

Giới quan sát cho rằng, Thủ tướng Anutin đang “chơi lá bài quốc phòng” để củng cố quyền lực trong nước. Tuy nhiên, nếu đẩy xu hướng này đi quá xa, nguy cơ khơi mào một vòng xoáy căng thẳng mới là hiện hữu, biến khu vực biên giới Thái Lan – Campuchia thành một “mồi lửa” địa chính trị, tác động tiêu cực không chỉ đến hai quốc gia liên quan mà còn tới ổn định chung của Đông Nam Á./.



QV-ST!

THẾ GIỚI - VIỆT NAM: 🇻🇳🇨🇺 PHÁO BINH VIỆT NAM - CUBA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY “KINH NGHIỆM TỪ CHIẾN TRANH LẠNH ĐẾN HIỆN ĐẠI HÓA”!

     Một bài viết trên kênh quân sự Nga đã phân tích mô hình hợp tác pháo binh giữa Việt Nam và Cuba - mối quan hệ được hình thành từ thời Chiến tranh Lạnh và tiếp tục được duy trì, phát triển cho đến ngày nay.

Theo bài viết, tổ hợp pháo tự hành Jupiter V của Lực lượng vũ trang Cuba chính là cơ sở để Việt Nam nghiên cứu, phát triển phiên bản tương tự, dù giữa hai hệ thống vẫn tồn tại một số khác biệt nhất định.

Trong quá trình hiện đại hóa kho pháo 130 mm, Hà Nội đã lựa chọn con đường gần như trùng khớp với Havana - cả về tư duy khai thác trang bị sẵn có lẫn giải pháp kỹ thuật tổng thể.

Những hình ảnh được công bố cho thấy các tư liệu tương đối cũ, ghi lại quá trình thử nghiệm tổ hợp pháo tự hành PTH 130-K255B của Việt Nam. Trong khi đó, hai bức ảnh cuối minh họa tổ hợp pháo tự hành 130 mm Jupiter V của Cuba, qua đó cho phép đối chiếu trực quan giữa hai mô hình.

Tương tự Cuba, Việt Nam đã phát triển tổ hợp pháo tự hành dựa trên các kho dự trữ sẵn có của pháo kéo 130 mm M-46/Type 59, kết hợp với khung gầm xe tải KrAZ-255 - loại phương tiện vốn có số lượng lớn và phù hợp để làm nền tảng cơ động cho pháo tự hành hạng nặng.

Việc kế thừa kinh nghiệm thành công từ Cuba giúp Việt Nam không phải “phát minh lại bánh xe”, mà tập trung tối ưu hóa những giải pháp đã được kiểm chứng trong thực tế. Kết quả là một phương án hiện đại hóa có chi phí thấp, cấu trúc đơn giản, hợp lý và phù hợp với điều kiện của các quốc gia còn sở hữu nhiều pháo kéo cũ cùng các dòng xe tải quân sự tương đương.

Bài viết cũng nhấn mạnh rằng, cho đến nay, pháo 130 mm M-46 vẫn được đánh giá là một loại pháo có hỏa lực mạnh. Trên thị trường quốc tế hiện vẫn có các loại đạn với tầm bắn lên tới 38-44 km. Đối với Việt Nam, lợi thế không chỉ nằm ở kho dự trữ lớn với nhiều chủng loại đạn, mà còn ở việc đã làm chủ được công nghệ sản xuất hàng loạt đạn pháo 130 mm, tạo nền tảng quan trọng cho việc duy trì và nâng cao hiệu quả chiến đấu của lực lượng pháo binh./.




QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUYẾT KHÔNG ĐỂ TỔ QUỐC BỊ BẤT NGỜ TRONG MỌI TÌNH HUỐNG!

     Trong ảnh là cận cảnh tên lửa Sông Hồng do Việt Nam nghiên cứu, sản xuất, ra mắt cuối năm 2024 và hiện đã đưa vào trực chiến. Một sản phẩm tiêu biểu của công nghiệp quốc phòng Việt Nam thời kỳ mới, trong đó có phiên bản tầm bắn hơn 300km - đủ để khẳng định năng lực làm chủ công nghệ ngày càng cao của chúng ta.

Còn nhớ hơn 10 năm trước, không ít kẻ tự nhục, chống phá vẫn rêu rao câu chuyện “Việt Nam chưa sản xuất nổi ốc vít” nhằm hạ thấp uy tín, bôi đen nền công nghiệp nước nhà. Nhưng thực tế đã trả lời bằng những sản phẩm rất cụ thể, rất thuyết phục.

Năm 2025 ghi dấu hàng loạt bước tiến mạnh mẽ của công nghiệp quốc phòng Việt Nam:
– Tên lửa các loại
– UAV trinh sát và UAV chiến đấu
– Kính nhìn đêm, bom lượn thông minh
– Áo giáp, mũ chống đạn
– Dòng súng STV từng bước thay thế AK
– Và nhiều trang bị quân sự hiện đại mà chỉ một số ít quốc gia trên thế giới mới có khả năng tự sản xuất

Không phải để khoe khoang.
Không phải để tự mãn.
Mà để nhắc nhau một điều rất rõ ràng:

👉 Không ngủ quên trong thành tựu.
👉 Không mơ hồ trước những biến động phức tạp của tình hình mới.
👉 Và quyết không để Tổ quốc bị bất ngờ trong bất kỳ tình huống nào.

Đó không chỉ là khẩu hiệu, mà là trách nhiệm, là ý chí và là lựa chọn chiến lược của cả một dân tộc./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VIỆT NAM LỌT NHÓM TOP 10 QUỐC GIA ĐÁNG SỐNG NHẤT THẾ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHỈ HƯU!

     Trong bảng xếp hạng năm 2026 vừa được trang thông tin “Retraite sans Frontières (Hưu trí không biên giới)” của Pháp công bố, Việt Nam đã lần đầu tiên góp mặt trong danh sách 10 quốc gia đáng sống nhất thế giới dành cho người nghỉ hưu, nhờ chi phí sinh hoạt hợp lý, điều kiện sống ngày càng cải thiện và hệ thống hạ tầng, y tế có nhiều tiến bộ.

Bảng xếp hạng trên được xây dựng trong bối cảnh ngày càng nhiều người về hưu tại châu Âu, trong đó có Pháp, cân nhắc lựa chọn sinh sống dài hạn ở nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, tận hưởng khí hậu thuận lợi và tối ưu hóa thu nhập hưu trí.

Để xác lập thứ hạng, Retraite sans Frontières đã phân tích 12 tiêu chí, trong đó chi phí sinh hoạt chiếm tỷ trọng lớn nhất, tương đương 20% tổng số điểm.

Theo ông Paul Delahoutre, nhà sáng lập tổ chức này, việc sinh sống ở nước ngoài có thể giúp người nghỉ hưu tiết kiệm từ 15-50% chi tiêu hằng ngày so với ở Pháp. Các tiêu chí quan trọng khác bao gồm khí hậu, chất lượng dịch vụ y tế, mức độ an toàn, khả năng tiếp cận dịch vụ và điều kiện đi lại.

Ngoài các yếu tố về đời sống, chính sách thuế cũng được xem là đòn bẩy then chốt khi lựa chọn điểm đến hưu trí. Một số quốc gia áp dụng các ưu đãi thuế hấp dẫn đối với lương hưu chuyển từ nước ngoài, tạo sức hút đáng kể đối với những người về hưu ngoại quốc.

Trong danh sách năm nay, Việt Nam đứng thứ 9, đánh dấu lần đầu tiên được xếp hạng trong top 10. Theo đánh giá, Việt Nam ghi điểm nhờ chi phí sinh hoạt thấp, môi trường sống đa dạng, cùng hệ thống y tế và hạ tầng đô thị đang được cải thiện rõ rệt.

Dù mức sinh hoạt vẫn nhỉnh hơn một số điểm đến châu Á khác, Việt Nam được xem là lựa chọn cân bằng giữa chi phí, điều kiện sống và tiềm năng phát triển trong dài hạn.

Dẫn đầu bảng xếp hạng tiếp tục là Bồ Đào Nha, nhờ chi phí sinh hoạt thấp hơn khoảng 15% so với Pháp, khoảng cách địa lý gần, mạng lưới giao thông thuận tiện và chất lượng hạ tầng đồng bộ. Tây Ban Nha xếp ngay sau, nổi bật với lợi thế giáp Pháp, ẩm thực phong phú và hệ thống dịch vụ tương đương các tiêu chuẩn châu Âu.

Các vị trí tiếp theo lần lượt thuộc về Hy Lạp, Thái Lan, Mauritius, Maroc, Tunisia, Senegal và Indonesia, trong đó đảo Bali (Indonesia) tiếp tục được đánh giá cao nhờ chi phí sinh hoạt thấp và khí hậu dễ chịu, dù còn hạn chế về khoảng cách địa lý và chất lượng dịch vụ y tế.

Các chuyên gia khuyến nghị trước khi quyết định chuyển hẳn nơi sinh sống khi về hưu, người dân nên có thời gian khảo sát thực tế tại quốc gia dự định lựa chọn, nhằm đánh giá đầy đủ các yếu tố về điều kiện sống, y tế, an ninh và khả năng hòa nhập cộng đồng.

Việc Việt Nam lần đầu tiên góp mặt trong danh sách các điểm đến hưu trí hàng đầu thế giới của Retraite sans Frontières được xem là tín hiệu tích cực, phản ánh sức hút ngày càng tăng của quốc gia Đông Nam Á này đối với cộng đồng quốc tế, trong bối cảnh xu hướng “hưu trí xuyên biên giới” được dự báo sẽ tiếp tục lan rộng trong những năm tới./.
QV-ST!

GỐC LÀ DÂN!

     "Dân duy bang bản, bản cố bang ninh" (Dân là gốc của nước, gốc có vững thì nước mới yên) - sách cổ Trung Hoa "Hạ thư" đã từng ghi vậy. Là người thấm nhuần tinh hoa văn hóa phương Đông cũng như phương Tây, sinh thời, Bác Hồ vĩ đại trong mọi suy nghĩ và hành động đã thể hiện rõ tư tưởng "gốc là dân".

Trong tác phẩm "Phép dùng binh của ông Tôn Tử", viết năm 1943 nhưng xuất bản tháng 2-1945 tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ đã nhấn mạnh khi diễn giải những ý tưởng quân sự của danh tướng Trung Hoa cổ đại rằng, được lòng dân là yếu tố cần thiết đầu tiên để giành chiến thắng: "Tất cả dân đồng tình với ta, có thể cùng sống chết mà không sợ nguy hiểm". Bác cũng dẫn lại lời của Khổng Minh: "Trước hết, cốt lấy lòng dân, thứ hai mới cốt lấy thành trì của địch". Thế nhưng, khác với các thủ lĩnh chính trị của những thời đại khác, trong ý niệm thường trực của Bác, người dân không chỉ là những ngọn gió để đẩy thuyền lên hay lật thuyền xuống mà là đối tượng cần được hướng tới, yêu thương, chăm lo, những người có quyền được tự do, bình đẳng và sống trong những điều kiện xứng đáng với kiếp nhân sinh.

Chính vì thế nên lo cho dân, cho nước luôn là nỗi niềm canh cánh năm canh của Bác Hồ. Theo hồi ức của đồng chí Lê Giản, nguyên Tổng Giám đốc Nha Công an Trung ương, ngay từ lúc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vừa thành công, chuẩn bị rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội để xây dựng chính quyền mới, Bác đã dặn dò: "Nhân dân bao năm nhường cơm xẻ áo cho mình thì mình phải có trách nhiệm chăm lo đời sống cho nhân dân. Các chú thấy đồng bào ở đây còn lạc hậu lắm, người ở trên sàn, dưới nuôi súc vật mất vệ sinh, vì vậy các chú phải ở lại chăm lo cải thiện đời sống cho nhân dân, để đồng bào ở đây cũng được hưởng thành quả của Cách mạng".

Cũng chính vì tình yêu thương thực sự bao la với nhân dân nên trong mọi chuyện liên quan tới đời sống nhân dân và đất nước, Bác đều muốn tìm hiểu thấu đáo sự thật. Trong mọi trường hợp, Bác đều muốn trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, với cán bộ, chiến sĩ để biết rõ tâm trạng, suy tư thực của họ. Một lãnh tụ lịch duyệt và từng trải như Bác không thể nào không biết đến những tích ngụ ngôn về các chuyện "giả lễ chúa Mường" Đông Tây kim cổ. Thí dụ như chuyện nữ hoàng Nga Ekaterina có lần đi kinh lý xuống địa phương, bị ông quan sở tại là Potiomkin "qua mặt" bằng cách dựng lên hàng loạt bức tranh quang cảnh xóm thôn trù phú, thịnh vượng để nữ hoàng tưởng rằng đất nước mà bà đang trị vì phát triển lắm (trong tiếng Nga, thành ngữ "Làng xóm của Potiomkin" về sau đã được dùng để chỉ tất cả những trò dối trên lừa dưới như thế). Bác hẳn cũng biết một thủ lĩnh phương Đông, cũng trong một lần xuống kinh lý địa phương, cứ tưởng mùa màng bội thu lắm vì các cán bộ lãnh đạo ở đó đã buộc người dân nhổ lúa đến trồng ở hai bên đường san sát, mặc dù sau đó thì lúa chết, làm thiệt hại vô kể...

Tai nghe, mắt thấy mới tư duy được chuẩn xác. Đó là phương thức làm việc gần dân, vì dân, cho dân của Bác. Đồng chí Nguyễn Tài, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, lần đầu tiên được gặp Bác ở chiến khu từ đầu năm 1945. Khi đó, Cách mạng còn trong giai đoạn hoạt động bí mật và còn ít ai biết mặt và tên người lãnh đạo tối cao. Cùng các đồng đội trong Đoàn thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu lên tới Tân Trào, đồng chí Nguyễn Tài gặp ngay một cụ già, áo chàm vắt vai, quần chàm xắn tới đầu gối, ngay lập tức đã đặt ra nhiều câu hỏi và lắng nghe những câu trả lời rất chăm chú. Đồng chí Nguyễn Tài nhớ lại: "Tôi kể tình hình đói ở dưới xuôi, cảnh người chết dọc đường mà tôi được tận mắt nhìn thấy; phân tích việc giặc Nhật hất cẳng giặc Pháp, tiếp tục áp bức, bóc lột dân ta; giải thích về Mặt trận Việt Minh và chính sách cứu nước của Việt Minh. Cụ hỏi tôi: Các cháu lên đây làm gì? Tôi đáp là học quân sự để đánh đuổi giặc Nhật, giành độc lập cho dân ta...". Tóm lại, đồng chí Nguyễn Tài đã "tuyên truyền Cách mạng" cho ông cụ mà đồng chí ngỡ là người dân thường trên miền sơn cước. Ông cụ cứ nghe anh thanh niên miền xuôi lên nói mà không hề bộc lộ gì khác ngoài những lời như: "Ngày trước, khi giặc Pháp đến cướp nước ta thì đồng bào dưới xuôi bị nô lệ trước, trên này bị nô lệ sau; bây giờ trên này độc lập trước, thế nào đồng bào dưới xuôi cũng sẽ được độc lập…". Về sau, đồng chí Nguyễn Tài đã vừa kinh ngạc vừa sung sướng khi biết cụ già mặc đồ chàm hôm ấy chính là ông Ké, là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc! Không chỉ vì yêu cầu giữ bí mật mà Bác đã hành xử một cách dân dã như vậy. Đơn giản là Bác muốn biết tận tường và đích xác tâm trạng thực của lớp thanh niên đang hăm hở đi theo Cách mạng khi đó.

Còn đây là hồi ức của đồng chí Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nhiều năm từng làm người bảo vệ cho Bác: "Là một lãnh tụ, không dễ có ai quan tâm đến các vùng đất, con người cụ thể nhiều như Bác. Những chuyến công tác về địa phương của Bác cứ được tiến hành liên tục. Bác đi đâu, đến đâu cũng đều chuẩn bị kỹ nhưng không hề báo trước. Người giải thích đơn giản: "Bác muốn đi để thấy cảnh thật, người thật, việc thật, chứ đâu muốn đi để thấy cảnh được đón tiếp?". Đi đến đâu, làm việc gì xong là Bác về ngay. Chẳng bao giờ Bác chấp nhận tiệc tùng, chiêu đãi...".

Gần dân, sâu sát nhân dân nên Bác Hồ luôn biết cách tìm ra những vấn đề có lợi nhất cho dân, cho nước, ngay cả trong những tình huống tưởng chừng như quá nan giải. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong bài viết "Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa", Bác đã đề cập tới vấn đề cải thiện dân trí cho thích hợp với chế độ mới: "Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập... Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH...".

Thực sự thương dân nên Bác luôn đặt ra cho chính quyền Cách mạng nhiệm vụ chính yếu và trên hết là hành động vì quyền lợi chân chính của dân. Theo quan niệm của Bác, Chính phủ không thể có mục đích phấn đấu gì hơn ngoài mục đích phục vụ nhân dân tận tụy, công tâm. Trong bài viết "Chính phủ là công bộc của dân", viết ngày 19-9-1954 với bút danh Chiến Thắng, Bác đã xác định ngay nhiệm vụ và đặc tính căn bản của chính quyền cách mạng: "Non hai tháng trước đây, trước cuộc khởi nghĩa 19-8-1945, nói tới hai chữ Chính phủ, người ta nghĩ ngay tới một bọn đầu đảng cướp nguy hiểm, xảo quyệt. Trái lại, ai ai đối với Chính phủ nhân dân hiện nay cũng đều có một cảm tình thân mật xen lẫn tôn kính sâu xa: Chính phủ đối với ta là "người anh cả" trong gia đình, một đồng chí phụ trách trong một địa phương, một người đứng mũi chịu sào ta có thể vững lòng trông cậy và gửi số mệnh vào. Người xưa nói: Quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc Chính phủ phải nhằm mục đích duy nhất là mưu cầu tự do, hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh". Rất giản dị nhưng rất chính yếu và luôn luôn đúng đắn!

Ngay cả tới lúc chuẩn bị ra đi vào cõi vĩnh hằng, canh cánh trong lòng Bác vẫn là nỗi lo cho dân, cho nước. Lời dặn dò cuối cùng trong Di chúc của Bác vẫn là: "Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân".

Mạnh Tử ngày xưa cũng từng nói: "Lấy ân huệ nuôi dân, lấy nghĩa sai khiến dân". Biết thế lại càng thấy tấm lòng của Bác với dân chân thành và ruột thịt hơn biết chừng nào!
Ảnh: Bác Hồ về thăm bà con Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) tháng 2/1961./.
QV-ST!