Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: "GIÁO DỤC KHAI PHÓNG" CÓ PHÙ HỢP VỚI VIỆT NAM?

     Giáo dục khai phóng có nguồn gốc từ châu Âu - Hoa Kỳ và là mô hình, phương pháp giáo dục bằng cách khai mở những kiến thức mới mẻ, hướng tới việc phát huy tối đa tự do sáng tạo của cá nhân, giải phóng tư duy, năng lực trí tuệ của con người...
Chính vì khái niệm hoa mỹ này, bên cạnh những mặt tích cực của nó, ở Việt Nam từ khi nó được đưa vào phát triển ở VN đã để lại rất nhiều hệ lụy về mặt tư tưởng trong quá trình định hướng XHCN ở nước ta.

Có thể nhận thấy, nếu cứ để một guồng máy kinh tế thị trường vận hành và quay mãi mà không chú tâm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc kết tinh trong nền kinh tế để cho văn hóa lai căng thì sẽ chệch hướng XHCN không ai có thể lường trước.

Nếu để cho nền giáo dục khai phóng phát triển mà xem nhẹ giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc, đạo đức XHCN kết tinh trong nền giáo dục thì một vài thế hệ sau sẽ sinh ra những con người phai nhạt lý tưởng XHCN và có thể sẽ tạo ra một thế hệ người Việt mang mầm mống văn hóa, đạo đức tư sản, lai căng kệch cỡm...

Chúng ta đang nhìn thấy một mảng tối xã hội hiện nay từ giáo dục khai phóng đã tạo ra những sản phẩm thực dụng, cá nhân chủ nghĩa, tham vọng vật chất tầm thường, tư tưởng thỏa mãn dừng lại; tuy được thừa hưởng thành quả phát triển của đất nước, một bộ phận con cái các gia đình trung, thượng lưu ... trong xã hội thích ăn ngon mặc đẹp, đi xe sang, chơi sang, đua đòi, lai căng lối sống văn hóa tư sản, thậm chí suy đồi đạo đức, cha mẹ mình thì thờ ơ vô cảm nhưng lại khóc lóc cho một Idol ngoại quốc bằng chính cái "tự do suy nghĩ" của mình. Đạo đức xuống cấp vẫn đang diễn ra âm thầm nhưng không được hoặc không có biện pháp hiệu quả để ngăn chặn từ và gia đình, nhà trường... và công tác quản lý văn hóa - xã hội. Đó là một phần nguy cơ chệch hướng XHCN trong giáo dục và không thể phủ nhận nguyên nhân của nó chính là ảnh hưởng của nền giáo dục khai phóng, nó thật sự không phù hợp và đang tấn công vào các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống của người Việt Nam.

Chúng ta có thể thấy một thời gian dài sau khi Liên Xô sụp đổ, nước Nga dưới thời Tổng Thống Putin, chính phủ Nga không chủ trương phát triển giáo dục khai phóng của phương Tây mà ngược lại họ chống du nhập phương pháp giáo dục này, họ cấm các tổ chức NGo hoặc hạn chế đầu tư vào nước Nga về giáo dục, xã hội hóa giáo dục bằng bao cấp và đề cao phương pháp giáo dục truyền thống Xô Viết gắn với bảo vệ các giá trị văn hóa, đạo đức, lịch sử dân tộc, thậm chí Tổng thống Putin còn cho ra đời hẳn một Sắc lệnh, đó là "Sắc lệnh bảo vệ lịch sử Xô Viết" trước sự tấn công, xóa bỏ của các tư tưởng thù địch với Nga trong quá khứ và hiện tại. Có thể thấy, nước Nga từ một quốc gia bất ổn cả về kinh tế chính trị - xã hội thời "hậu Xô Viết", chỉ sau vài thập kỷ họ đã cường thịnh trở lại. Vậy thì tại sao chúng ta không tham khảo điều này???

Gần đây dư luận rất quan tâm đến vấn đề giáo dục khai phóng. Tôi nghĩ chắc chắn đa số người dân hiểu biết họ sẽ không đồng tình với phương pháp, mô hình giáo dục này mà một số nhà quản lý giáo dục đang xây dựng và tiến hành ở Việt Nam.

Nên chăng, các nhà lãnh đạo, quản lý ngành giáo dục cần tham khảo kỹ mô hình, phương pháp giáo dục của các nước trung lập phát triển xem kỹ và có một hướng đi đúng cho nền giáo dục XHCN, đừng "thả rông" để tư nhân hóa nền giáo dục, vô hình chung giáo dục tự tách khỏi sự lãnh đạo thực chất của Đảng, và như thế nó sẽ âm thầm chuyển hóa nền chính trị đất nước như Ucraina khi nào không thể lường trước được.../.
Ảnh sưu tầm: Sản phẩm của nền giáo dục khai phóng, các bạn có thể checkin Google sẽ biết.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: KHÔNG HỀ CÓ HÀI CỐT CHAVASSIEUX TRÊN ĐÀI PHUN NƯỚC CON CÓC Ở VƯỜN HOA DIÊN HỒNG!

     Thời gian gần đây, đặc biệt là ngày hôm qua, trên mạng xã hội Facebook xuất hiện một số bài viết cho rằng trên đài phun nước Con Cóc ở Vườn hoa Diên Hồng, Hà Nội có hài cốt của một viên quan chức cao cấp người Pháp.

Thông tin này được một số trang có lượng người theo dõi và ảnh hưởng khá lớn đăng lại, thậm chí từ đó còn xuất hiện những ý kiến đặt vấn đề về cái gọi là “trấn yểm” tại khu vực này.

Thông tin về hài cốt thực ra không chỉ xuất hiện trên mạng xã hội mà trước đó đã được một số báo và trang thông tin điện tử đăng lại. 

Nguồn đáng chú ý là bài “Vườn hoa Diên Hồng 120 năm trước” của tác giả Minh Phúc, đăng ngày 24/9/2018 trên trang Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. Cuối bài, tác giả dẫn nguồn Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, hồ sơ 9482. 

Mới nhất hôm 25/8, 1 tờ báo điện tử đã viện dẫn thông tin từ nguồn này trong bài viết có tên”Ít người biết: Trên đỉnh đài phun nước vườn hoa Con Cóc (Hà Nội) có ngôi mộ cổ 125 năm của Quyền Toàn quyền Đông Dương”.

Sau khi tìm hiểu lại các tài liệu của Việt Nam và Pháp, đồng thời hôm nay trực tiếp liên hệ với Trung tâm Lưu trữ quốc gia I để kiểm tra chính hồ sơ 9482, mình xin có đôi lời như sau.

Người được nhắc đến là Léon Jean Laurent Chavassieux (1848–1895), một quan chức cao cấp trong bộ máy thuộc địa Pháp ở Đông Dương, từng giữ chức Thống sứ Bắc Kỳ (Résident supérieur au Tonkin) và từng đảm nhiệm quyền Toàn quyền Đông Dương. Chavassieux sinh ngày 29/7/1848 tại Montbrison, Loire, Pháp và mất tại Hà Nội ngày 7/6/1895, khi chưa đầy 47 tuổi.

Chỉ năm ngày sau, báo Pháp L’Avenir du Tonkin số ra ngày 12/6/1895 đăng bài Obsèques de M. Chavassieux – “Lễ tang ông Chavassieux”, tường thuật khá chi tiết tang lễ và việc mai táng ông.

Theo bài báo, thi hài Chavassieux đã được đặt vào quan tài từ hôm trước. Từ 4 giờ 30 chiều, các đơn vị quân đội trong lực lượng đồn trú tập hợp làm lễ danh dự. Đến 5 giờ 30, lễ di quan bắt đầu trong tiếng đại bác bắn loạt chào và tiếng kèn. Đoàn tang có vệ binh bản xứ, quân nhạc Trung đoàn Hải quân số 9 và khoảng 50 vòng hoa.

Chiếc quan tài được bài báo mô tả: «le cercueil épais, d’un poids énorme»

Tức là: “Chiếc quan tài dày, có trọng lượng cực lớn.”

Quan tài nặng đến mức những người phu khiêng không đủ sức đưa xuống các bậc thềm. Bài báo ghi họ hai lần làm rơi quan tài, cuối cùng phải có những người châu Âu trợ giúp mới đưa được lên xe tang.

Quan trọng hơn, bài báo ghi rất rõ nơi Chavassieux được an táng: «…on arrive au cimetière de la route de Hué où a été faite l’inhumation.»

Tức: “…đoàn tới nghĩa trang đường Huế (phố Huế?), nơi việc an táng được tiến hành.”

Ngay sau đó là câu: «Après les prières, M. le général Duchemin s’avance sur le bord de la tombe…»

Tức: “Sau những lời cầu nguyện, Tướng Duchemin tiến đến bên mép ngôi mộ…”

Như vậy, tài liệu báo chí Pháp xuất bản ngay sau sự kiện ghi cụ thể: Chavassieux mất tại Hà Nội ngày 7/6/1895, thi hài được đặt trong một chiếc quan tài rất nặng, được đưa tới nghĩa trang đường Huế và an táng tại đó.

Chỗ này các bác đọc kỹ giúp.

Hai năm sau, ngày 30/4/1897, Thống sứ Bắc Kỳ ban hành Nghị định số 263 về việc tuyển chọn bản vẽ thiết kế công trình tưởng niệm Chavassieux. Theo tài liệu được Trung tâm Lưu trữ quốc gia I giới thiệu, công trình được xây dựng “trên chính phần mộ của ông ở nghĩa trang cũ của Hà Nội”, với kinh phí dự tính 3.250 đồng. Thiết kế của kiến trúc sư Harlay được lựa chọn, nhà thầu Guillaume được giao thi công và năm 1898 công trình được nghiệm thu.

Một nguồn tiếng Pháp khác, trong phần giới thiệu về kiến trúc sư Noël Louis Daniel Fabre, cũng ghi: «Auteur du monument Chavassieux au cimetière de Hanoï (1898).»

Tức: “Tác giả Đài tưởng niệm Chavassieux tại nghĩa trang Hà Nội (1898).

Các bác lưu ý, Đài tưởng niệm này được xây dựng ngay trên trên phần mộ của viên Quan Pháp. Chắc chắn nó rất chắc chắn, như những gì chúng ta thường thấy trên phần mộ của những nhân vật có chút tiếng tăm ở các nghĩa trang châu Âu. Nó khánh thành năm 1898, tức 3 năm sau khi viên quan Pháp này được đào sâu chôn chặt trong 1 quan tài bằng gỗ lim rất nặng.

Còn đài phun nước Con Cóc tại Vườn hoa Diên Hồng ngày nay lại có một mốc thời gian muộn hơn.

Phải đến ngày 29/9/1899, Hội đồng Thành phố Hà Nội mới họp bàn và lựa chọn vị trí xây dựng đài phun nước tại khu đất đối diện Dinh Thống sứ Bắc Kỳ, giới hạn bởi các đại lộ Henri Rivière, Courbet và phố Cựu Lâu, nay tương ứng khu vực các phố Ngô Quyền, Lý Thái Tổ và Lê Thạch. Năm 1901, đài phun nước hoàn thành và được đưa vào sử dụng.

Các mốc này cũng chính là những gì bài “Vườn hoa Diên Hồng 120 năm trước” của Minh Phúc, đăng ngày 24/9/2018 trên trang Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, trình bày. Theo bài viết, năm 1897 người Pháp tuyển chọn thiết kế xây đài tưởng niệm Chavassieux “trên chính phần mộ của ông ở nghĩa trang cũ của Hà Nội”; năm 1898 công trình được nghiệm thu. Đến 29/9/1899, Hội đồng Thành phố Hà Nội mới chọn vị trí xây đài phun nước tại khu vực Vườn hoa Diên Hồng ngày nay và năm 1901 công trình hoàn thành.

Tuy nhiên, khi mô tả đài phun nước, tác giả Minh Phúc không hiểu sao lại có một câu:
“Ở giữa và trên trụ đá ấy chính là tiểu sành đựng di hài của Chavassieux.”

Cuối bài, tác giả chỉ dẫn nguồn tài liệu là “Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, hồ sơ 9482.”

Có thêm hai dữ liệu đáng chú ý.

Năm 2009, nhiếp ảnh gia Stéphane Asseline thực hiện khảo sát đài phun nước trong chương trình khảo sát chuyên đề về di sản kiến trúc thuộc địa Hà Nội. Hồ sơ hiện được lưu trong cơ sở dữ liệu POP của Bộ Văn hóa Pháp, mã IVR11_20090000350. Phần chú thích ghi:
«Vue d’ensemble de la fontaine du square Chavassieux construite en 1901.»

Tức: “Toàn cảnh đài phun nước tại Quảng trường Chavassieux, được xây dựng năm 1901.”

Đối tượng được xác định là: «fontaine; square» tức “đài phun nước; quảng trường”.

Trong hồ sơ khảo sát này không có thông tin nói công trình là mộ, cũng không có thông tin về tiểu sành hay hài cốt Chavassieux.

Khảo sát báo chí Pháp đương thời qua sự trợ giúp của AI, cũng không thấy bất cứ thông tin nào về việc này. 

Như đã mô tả ở trên, năm 1898, đài tưởng niệm viên quan Pháp này đã được xây dựng chắc chắn trên phần mộ ông ta ở nghĩa trang. Vậy thì chẳng có lý do ngay sau đó lại quật mộ ông ta lên, moi hài cốt từ quan tài gỗ lim chắc chắn cho vào tiểu sành để lộ thiên trên nóc 1 đài phun nước, chưa kể đó là 1 việc cực kỳ cấm kỵ theo quan điểm Thiên chúa giáo.

Đến năm 2024, đài phun nước Con Cóc được tiến hành một cuộc tu bổ lớn. Phương án của đơn vị thực hiện là “tu bổ triệt để, hạ giải toàn bộ công trình”. Các cấu kiện đá được tháo dỡ, quét 3D, đánh số, sửa chữa rồi lắp lại; phần kết cấu gạch bên trong được thay bằng bê tông cốt thép.

Trong những thông tin công khai mà mình tìm được về quá trình hạ giải và tu bổ này không có thông tin nào về việc phát hiện hoặc xử lý tiểu sành hay hài cốt Chavassieux.

Và cuối cùng là việc xác minh hôm nay, ngày 3/9/2026.

Do bài của Minh Phúc dẫn cụ thể hồ sơ 9482, sáng nay mình đã trực tiếp liên hệ Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, đề nghị kiểm tra chính hồ sơ này để xác thực chi tiết về chiếc tiểu sành.

Một cán bộ có trách nhiệm của Trung tâm, trưa nay sau khi lấy hồ sơ ra đọc, đã nhắn tin trả lời mình, khẳng định: 
“Nếu theo hồ sơ đó thì không có chi tiết đó trong hồ sơ.”

Cán bộ này đồng thời cho biết tác giả Minh Phúc hiện không có ở Việt Nam và đã báo cáo cấp trên để trước mắt sửa, bỏ chi tiết này trong bài viết.

Xin hoan nghênh sự vào cuộc có trách nhiệm của Trung tâm Lưu trữ quốc gia 1 trước 1 thông tin đầy tranh cãi đã tồn tại từ 8 năm nay.

Như vậy, chuỗi tài liệu hiện có cho thấy: năm 1895 Chavassieux được chôn bằng quan tài tại nghĩa trang đường Huế; năm 1897 người Pháp tổ chức tuyển chọn thiết kế đài tưởng niệm trên phần mộ của ông; năm 1898 công trình tại nghĩa trang được nghiệm thu; đến năm 1899 mới chọn địa điểm xây đài phun nước và năm 1901 đài phun nước mới hoàn thành. Hồ sơ khảo sát của Bộ Văn hóa Pháp năm 2009 không nói đến hài cốt; cuộc hạ giải toàn bộ công trình năm 2024 cũng không có thông tin công khai nào về việc phát hiện hài cốt. 

Và điểm quan trọng nhất, chính hồ sơ 9482 được bài viết năm 2018 viện dẫn, sau khi được Trung tâm Lưu trữ quốc gia I kiểm tra lại ngày 3/9/2026, cũng không có chi tiết về việc đặt tiểu sành đựng di hài Chavassieux trên đài phun nước.

Cách đây 3 ngày, qua một cuộc điện thoại trao đổi, nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến, người đã dành rất nhiều năm nghiên cứu về Hà Nội cũng khẳng định với mình không hề có chuyện đó.

Vậy đó, thưa các bạn.  Đây mới là SỰ THẬT!
#QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: VỀ VIỆC SAU KHI CHỦ TỊCH HỘI NHÀ VĂN BỊ CÁCH CHỨC!

     Việc đăng bài phê phán các cá nhân, tổ chức "bảo kê", bao che, tung hô các "rác phẩm văn học nghệ thuật", chúng ta không hề có động cơ cá nhân mà là trách nhiệm trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ giá trị lịch sử, văn học cách mạng,... vì tương lai đất nước theo mục tiêu con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn.

TẤM LỢP" TẠM THỜI
                    ****
Như mọi người đã biết, sau khi "ngôi nhà văn chương" tốc nóc", ngay lập tức được che tạm bằng "tấm lợp" cận kề. Việc nhận diện "tấm lợp" này ít nhiều giúp chúng ta hiểu bức tranh văn học nghệ thuật thời điểm hiện tại. Để nhận diện, rất cần "tiếp cận đa chiều". Sau đây là một chiều chất liệu "tấm lợp" từng che chắn cho "rác phẩm - Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh (nguồn báo Tuổi trẻ). Anh chị em cho ý kiến ạ!
                      * *
                       *
Nhận định của "tấm lợp" tạm thời (khi còn là PCT Hội Nhà văn VN) về "Nỗi buồn chiến tranh":
"Nỗi buồn chiến tranh là tác phẩm TẦM CỠ không chỉ nhiều người viết mong muốn mà nhiều quốc gia mong muốn có được cho văn học của mình. Như mọi tác phẩm lớn khác, nó luôn vượt qua những lớp bụi thiên kiến để cống hiến chất nghệ thuật VÀNG RÒNG cho người đọc.

Ở khía cạnh hẹp hơn, tôi nghĩ tác phẩm này góp phần làm dòng văn học viết về chiến tranh của chúng ta trở nên đa chiều, đa dạng hơn. Nên tự hào vì chúng ta đã có một tác phẩm như thế"...

Và: "Đây là một tác phẩm văn học gây xúc động với "BẺ ĐẸP" văn chương đầy nhạc tính, chất thơ và sự độc đáo của ngôn từ, khả năng thể hiện đến tột cùng nỗi đau đớn cũng như niềm hạnh phúc của con người trong chiến trận...". "Nỗi buồn chiến tranh mang tính đổi mới sâu sắc khi nó tạo ra một "LỐI BIẾT", một cơ chế thẩm mỹ rất mới nhưng vẫn "mang dấu vết thời đại mà Bảo Ninh đang sống, tột cùng đau thương nhưng cũng rất huy hoàng...".

Đối lập với đánh giá trên, xin dẫn 2 nhận định tiêu biểu ở 2 thời điểm cách nhau 30 năm:
1. Nhận định đăng trên Tạp chí Cộng sản, số tháng 10 năm 1995, trong bài: Từ đâu đến Nỗi buồn chiến tranh, đã viết: "Bằng sự bôi nhọ sự nghiệp chống Mỹ của nhân dân ta, Bảo Ninh không chỉ xúc phạm những người đang sống... Tác giả Nỗi buồn chiến tranh còn muốn giết chết hẳn những người đã vĩnh viễn nằm xuống để cho "dân tộc quyết sinh...".

2. Đánh giá của Báo Cựu Chiến binh Việt Nam, ngày 24/12/2025 viết: "Lịch sử của một dân tộc không phải là bản thảo nháp để ai đó tùy tiện gạch xóa, sửa câu, thay nghĩa theo cảm xúc cá nhân hay theo thị hiếu tư tưởng thời thượng. Lịch sử càng không phải là vật hy sinh cho những thử nghiệm văn chương vô trách nhiệm".

Nguyên Hà đồng tình với nhận định trên bởi, cuốn sách lấy bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mĩ và tay sai, viết về những người trong cuộc mà Bảo Ninh từng là đồng đội. Tuyệt đại đa số những người còn sống phê phán, đòi đốt bỏ, đòi xử lý tác giả, cá nhân, tổ chức "khai quật" lại, cho phép xuất bản, lưu hành, tung hô, vinh danh đến tột đỉnh cuốn sách đã bôi nhọ, phỉ báng họ.

Đây cũng chính là kết luận về cuốn sách Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh được báo Cựu Chiến binh Việt Nam đặt cho tiêu đề bài đăng: "SAI LẦM CÓ THỂ SỬA, CÒN PHẢN BỘI THÌ KHÔNG"./.


Theo Facebook Nguyên Hà!
#QV-ST!

CÁI GỌI LÀ “THỦ TƯỚNG VNCH PHAN HUY QUÁT RA "THÔNG CÁO" MỜI QUÂN ĐỘI MỸ VÀO MIỀN NAM”!

     Ba ngày sau khi "tiễn" Nguyễn Khánh lưu vong, ngày 28/2/1965, Đại sứ Taylor báo với Quát rằng Mỹ sẽ đổ quân vào miền Nam. Quát không hề công khai việc này cho nội các, chỉ yêu cầu Mỹ làm việc với Phó thủ tướng Thiệu và Tổng chỉ huy quân lực Trần Văn Minh. Sáng 8/3/1965, một sĩ quan Mỹ đến gặp Thủ tướng Phan Huy Quát, yêu cầu ông soạn thảo một thông cáo chung bằng hai thứ tiếng Anh-Việt để thông báo rộng rãi về cuộc đổ bộ của quân Mỹ ở Đà Nẵng. Tổng trưởng phủ thủ tướng Bùi Diễm bất ngờ bị Quát gọi đến làm "thông cáo mời Mỹ". Bùi Diễm thuật lại:
- Quát: "Biên càng ngắn càng tốt. Chỉ mô tả sự kiện rồi khẳng định rằng chúng ta đã đồng ý mà thôi..."
- Diễm: "Có việc gì đặc biệt xảy ra mà chúng ta chưa biết không? Tại sao họ lại hành động bất ngờ như vậy?"
- Quát: "Anh ơi, họ đang đổ bộ ở bãi biển. Họ đã lên bờ rồi. Anh hãy thảo ngay bản thông cáo rồi chúng ta sẽ bàn luận chuyện này sau!".
Lúc đó Đà Nẵng có cảng nước sâu và một sân bay có đường băng dài gần 3km, nhưng người Mỹ lại chọn bãi biển Xuân Thiều vắng vẻ để đổ quân. Họ cũng không báo trước với chính quyền Sài Gòn vì nếu lộ tin ra cho "Việt Cộng" thì sẽ là một thảm họa cho lực lượng đổ bộ.
Tham khảo: 
-. "US Marines in Vietnam. The landing and the buildup". 1965. J. Sulimson & C.M. Johnson, 1978, trang xii-xiii, 3-10.
- "Gọng kềm lịch sử", Bùi Diễm. Phần 17- Sự can thiệp của Mỹ.
Ảnh: Thủ tướng Phan Huy Quát trong lễ tiễn tướng Nguyễn Khánh đi "làm đại sứ lưu động" ngày 25/2/1965. Sau 1975, Phan Huy Quát bị bắt khi vượt biên và chết trong nhà lao Chí Hòa ngày 27 tháng 4 năm 1979.
Nguồn: Diễn đàn lịch sử Việt Nam LSVN.
#QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGÀY VĂN HÓA VIỆT NAM 2026 BỘ NỘI VỤ ĐỀ XUẤT NGHỈ 4 NGÀY LIÊN TỤC -TỪ 21 TỚI 24/11!

     Ngày 24/11 sắp tới - Ngày Văn hóa Việt Nam: Người lao động được nghỉ làm, hưởng nguyên lương.

Bộ Nội vụ đề xuất 2 phương án cho năm nay: Hoán đổi ngày làm việc thứ Hai liền kề để tạo kỳ nghỉ liên tục 4 ngày hoặc nghỉ đúng ngày, không hoán đổi ngày làm việc.

Đối với năm 2027, ngày 24/11 rơi vào thứ Tư, Bộ Nội vụ đề xuất thực hiện nghỉ đúng ngày theo Nghị quyết số 28/2026/QH16, không thực hiện hoán đổi.

Theo Thông tin Chính phủ
#QV-ST!

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC:🇻🇳 DÙNG LÁ NGÓN ĐÁNH GIẶC - CÂU CHUYỆN VỀ NỮ DU KÍCH PA CÔ HỒ THỊ ĐƠM GIỮA ĐẠI NGÀN A LƯỚI.

     Giữa đại ngàn Trường Sơn những năm tháng chiến tranh, người con gái Pa Cô Hồ Thị Đơm, thường được gọi thân mật là Kăn Đơm, đã để lại một câu chuyện về lòng quả cảm và sự mưu trí khiến nhiều thế hệ không khỏi khâm phục.

Sinh năm 1940 tại A Lưới, Thừa Thiên Huế, Kăn Đơm sớm tham gia cách mạng, làm giao liên, xây dựng cơ sở và gắn bó với phong trào du kích địa phương.

🌿 Một cách đánh giặc đầy mưu trí

Tháng 5/1962, khi quân Mỹ - Diệm xây dựng các lô cốt tại đồn A Co, Kăn Đơm nhận thấy quân địch thường xuống suối Ka Êch lấy nước sinh hoạt.

Từ đặc điểm của núi rừng quê hương, nữ du kích Pa Cô đã nghĩ ra một cách đánh đặc biệt: sử dụng lá ngón để làm nguồn nước của địch mất khả năng sử dụng. Cách làm táo bạo khiến quân địch bị tổn thất, hoang mang và phải đối phó với một đối thủ mà chúng khó lường trước được.

🎯 Người nữ du kích của đại ngàn

Không chỉ nổi bật bởi sự mưu trí, Kăn Đơm còn là một chiến sĩ kiên cường. Bà nhiều lần trực tiếp tham gia chiến đấu, hai lần được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.

Trưởng thành từ phong trào cách mạng, bà được tín nhiệm giữ chức xã đội phó, vận động nhân dân đào hàng nghìn mét đường hầm, xây dựng công sự, làm chông bẫy và củng cố làng chiến đấu.

Những năm tháng bám đất, bám làng giữa chiến trường A Lưới đã góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, trở thành một phần ký ức không thể quên của đồng bào Pa Cô và quân dân Trường Sơn.

💚 Người dân gọi bà là “Nữ tướng rừng xanh” - không phải bởi quân hàm, mà bởi bản lĩnh, lòng quả cảm và những đóng góp bền bỉ cho quê hương, đất nước.

🏅 Năm 1994, Hồ Thị Đơm (Kăn Đơm) được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Từ cuộc đời của người nữ Anh hùng giữa đại ngàn A Lưới, thế hệ hôm nay càng thêm thấm thía giá trị của lòng yêu nước, sự mưu trí, ý chí kiên cường và tinh thần cống hiến.

Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng biết bao tuổi xuân, mồ hôi và sự hy sinh của những người đi trước.

Xin thành kính tri ân Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Thị Đơm (Kăn Đơm) - người con ưu tú của đồng bào Pa Cô, người đã góp phần viết nên những trang sử hào hùng giữa đại ngàn Trường Sơn. 🇻🇳
#QV-ST!

QUÂN SỰ THẾ GIỚI: MÁY BAY KHÔNG NGƯỜI LÁI SKAT CÓ THỂ BAY XA 100 KM - NHU CẦU Ở NƯỚC NGOÀI RẤT LỚN!

🌏📚🌼🇷🇺🇷🇺🇷🇺
Máy bay không người lái trinh sát né tránh các máy bay đánh chặn theo hai chế độ. Theo chỉ huy tiểu đội UAV Nafis Asadullin, máy bay không người lái trinh sát SKAT 350M đã tăng tầm hoạt động lên 100 km.

Theo ông, máy bay không người lái này có thể tự động né tránh các máy bay đánh chặn của đối phương nhờ các cảm biến trên thân máy. Nó cũng có thể thực hiện các thao tác điều khiển bằng tay hoặc thậm chí giảm độ cao xuống dưới mức bay nguy hiểm.

Nhà báo Andrei Vakula của Zvezda cho biết thêm rằng các thiết bị Skats được sạc đầy pin cứ sau ba giờ, và việc này chỉ mất không quá năm phút.

Họ thay pin và gấp chiếc dù mới - các binh sĩ gọi nó là "shawarma" với nhau. Họ cũng kiểm tra máy quay. Nó có khả năng zoom 30x, cho phép họ, ví dụ, nhìn thấy cả phù hiệu hình chữ V từ độ cao 1,5 km.

Andrey Vakula, nhà báo của Zvezda

Giám đốc điều hành của Tập đoàn Kalashnikov, Alan Lushnikov, cho biết các máy bay không người lái chiến đấu của công ty đã thu hút được sự quan tâm đáng kể từ các khách hàng nước ngoài sau khi được sử dụng trong điều kiện chiến đấu thực tế. Những sản phẩm này bao gồm dòng Skat và Kub./.
#QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NGA KHÁNH THÀNH TƯỢNG ĐÀI KỶ NIỆM CHIẾN THẮNG PHÁT XÍT NHẬT!

     Ở Nga mới khánh thành tượng đài kỷ niệm chiến thắng chủ nghĩa quân phiệt Nhật tại Công viên Khu vực N.N. Muravyov-Amursky Khabarovsk, vùng Khabarovsk, Nga. Bức tượng là hình ảnh một chiến sĩ Hồng quân đang đập vỡ cột mốc khắc hình biểu tượng hoa cúc. 

Lãnh sự Nhật tại Khabarovsk liền đề nghị phía Nga gỡ bỏ biểu tượng hoa cúc vì đây là đại diện cho hoàng gia Nhật Bản 

Phía Nga tất nhiên là từ chối, ông Nikolai Ovsienko, phó Chủ tịch Hội lịch sử quân sự Nga, cho biết bức tượng được dựng dựa theo sự thật lịch sử, thứ mà người lính Hồng quân đập là cột mốc biên giới được người Nhật dựng trên đảo Sakhalin, sau khi đảo này được giải phóng, Hồng quân đã phá hủy cột mốc này.

Sau chiến tranh Nga - Nhật 1904-1905, Nga phải cắt cho Nhật phía Nam đảo Sakhalin theo vĩ tuyến 50 độ Bắc, để Nhật thành lập tỉnh Karafuto (樺太庁 (Hoa Thái thính) Karafuto-chō), phía Nga gọi là Nam Sakhalin. Năm 1945, Liên Xô phát động chiến dịch Mãn Chẫu, đánh bại đạo quân Quan Đông của Nhật Bản ở Đông Bắc Trung Quốc, chiến dịch giải phóng Nam Sakhalin bắt đầu vào ngày 11/8/1945 và hoàn thành giải phóng vào ngày 25/8/1945./.

#QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: TỔNG THỐNG TRUMP BỊ DÂN MẠNG HOA KỲ TỐ LÀ BỊ "TÂM THẦN PHÂN LIỆT" (?)

     Ngày 24/07, Tổng thống Trump trả lời phỏng vấn báo đài, cho biết đã có 200.000 lính Mỹ thiệt mạng ở Việt Nam. Điều đáng chú ý là trước đó 2 ngày, vào 22/07, chính ông ấy đăng trên Truth Social rằng Hoa Kỳ đã mất hơn 59.000 lính tại Việt Nam.

Thế mà vào rạng sáng nay, ông ấy lại thay đổi con số về lính Mỹ thiệt mạng ở Việt Nam. Tổng thống Trump cho biết đã có 100.000 lính Mỹ thiệt mạng ở Việt Nam, đó là một con số rất lớn.  

Phản ứng của dân mạng Hoa Kỳ rất là dữ dội và khó chịu, đặc biệt làn sóng cựu chiến binh phản đối Trump là không hề nhỏ. Nhiều dân mạng trên X đã đánh giá Tổng thống Trump bị “tâm thần phân liệt”. Nhiều bình luận trên tờ Yahoo, X tố cáo Tổng thống Trump trốn lính, không hề hiểu được nỗi đau của nhiều cựu chiến binh và luôn tìm cách chọc tức cái chết của hàng chục ngàn lính Hoa Kỳ đã thiệt mạng ở Việt Nam.

Đồng thời nhiều dân mạng cũng đặt dấu hỏi về thông tin chính xác lính Mỹ thiệt mạng ở Việt Nam, đó là 58.000, 100.000 hay 200.000? Liệu con số thực sự là bao nhiêu? Hay là Hoa Kỳ đã che giấu những sự thật về con số lính thiệt mạng ở Việt Nam?
#QV-ST!

BẠN CÓ BIẾT: VÌ SAO DÂN TA QUEN GỌI NGƯỜI TRUNG QUỐC LÀ NGƯỜI “TÀU”!

     Cái danh xưng “Tàu” có một lịch sử đặc biệt và nét đặc biệt này gắn liền với sự cai trị của phong kiến phương Bắc đối với dân ta, nước ta.

Một số người nghĩ đơn giản rằng sở dĩ ta gọi người Trung Quốc là “Tàu” bởi vì họ sang ta bằng “tàu”! Từ nguyên học đâu có dễ dàng và ngộ nghĩnh như thế.

Tàu là một yếu tố Hán cổ và trong tiếng Hán cũng như tiếng Việt còn có nghĩa là “xe”. Tàu (trong tàu bè) là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ 艚 mà âm Hán Việt hiện đại là tào, có nghĩa là “thuyền”. Chữ tào 艚 này cũng thông với chữ tào 漕, mà theo biện luận của Lưu Quân Kiệt trong Đồng nguyên tự điển tái bổ (Ngữ văn xuất bản xã, Bắc Kinh, 1999) thì đều còn có nghĩa là “xe”. Cái nghĩa “xe” của từ tàu vẫn hiện hành trong tiếng Việt.

Cứ so sánh tiếng Bắc, tiếng Nam thì thấy ngay. Cái mà trong Nam gọi là tàu thì ngoài Bắc gọi là thuyền. Rồi ngoài Bắc gọi là tàu hỏa thì trong Nam gọi là xe lửa. Thế là cái nghĩa “xe” đã thấp thoáng trong danh ngữ tàu hỏa (nếu không đi sâu vào từ nguyên thì dễ hiểu lầm đây là cách dùng theo ẩn dụ). Rồi ngược lên đầu thế kỷ XX, cả trong Nam ngoài Bắc đều gọi máy bay là tàu bay. Thế là cái nghĩa “xe”, mở rộng là “phương tiện chuyên chở”, đã nằm ngay trong danh ngữ tàu bay.

Cho nên, trong thành ngữ tàu bay tàu bò thì cả hai thứ “tàu” này chẳng qua đều cùng là “xe”. Vậy thì có lẽ ta sẽ biện luận rằng vì ngày xưa Tàu sang ta bằng xe nên tổ tiên ta đã gọi họ là “Tàu” chăng? Nên nhớ rằng họ đã sang ta từ xưa và sang thành nhiều đợt, lẻ tẻ có, thành đoàn có và đây là cả một câu chuyện dài.

Chúng tôi khẳng định rằng Tàu là âm cổ Hán Việt của từ ghi bằng chữ 曹 mà âm Hán Việt hiện đại là tào, có nghĩa rộng là “cơ quan triều đình”, hiểu rộng ra là “quan”. Trong thời Bắc thuộc, nói chung giới cai trị là người Trung Hoa cho nên dân chúng đã quan niệm rằng người Trung Hoa là “tàu”, nghĩa là “quan”. Nếu cho rằng đây là một nếp nghĩ vô lý thì xin nhớ lại chuyện đã xảy ra hồi tháng 8, tháng 9-1945 tại Sài Gòn, dân Việt Nam đã đánh bất cứ người Pháp nào mà họ gặp ngoài đường vì theo họ hễ là người Pháp thì đều là “thực dân”.

Do quan niệm trên mà về sau tất cả mọi người Trung Hoa dù không làm quan - đây là tuyệt đại đa số - cũng được “vinh dự” gọi là “Tàu”. Thế là cái danh xưng “Tàu” có một lịch sử đặc biệt và nét đặc biệt này gắn liền với sự cai trị của phong kiến phương Bắc đối với dân ta, nước ta./.
#QV-ST!

BẠN CÓ BIẾT: KỶ NIỆM 81 NĂM NGÀY QUỐC KHÁNH Ở SÀI GÒN!

KHI BÁC ĐỌC TUYÊN NGÔN Ở BA ĐÌNH, THÌ Ở SÀI GÒN CÓ MỘT NGƯỜI PHẢI ỨNG KHẨU TRƯỚC CẢ TRIỆU ĐỒNG BÀO

Ngày mùng 2 tháng 9 ai cũng nhớ Quảng trường Ba Đình.

Nhưng ít người biết rằng cùng ngày hôm ấy, Sài Gòn cũng có một lễ Độc lập - và nó đã diễn ra theo một cách không ai lường trước.

Ngày 31/8/1945, Trung ương điện vào miền Nam: 2 giờ chiều mùng 2/9, Chính phủ lâm thời sẽ ra mắt quốc dân tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Ủy ban Hành chánh lâm thời Nam Bộ lập tức quyết định tổ chức một cuộc mít tinh thật lớn để biểu dương lực lượng. Lễ đài được dựng ngay giữa trung tâm Sài Gòn, sau lưng Nhà thờ Đức Bà, trên đại lộ Norodom (nay là đường Lê Duẩn).

Trưa 2/9, khắp các ngả đường đổ về trung tâm là biển người. Cờ đỏ sao vàng. Cờ của các hiệp đoàn, đoàn thể yêu nước. Hàng nghìn khẩu hiệu viết bằng nhiều thứ tiếng giăng khắp phố.

Hơn nửa triệu người. Tất cả đứng chờ, để được nghe giọng Bác từ Hà Nội vọng vào.

Nhưng sóng radio không đến được.

Hãy tưởng tượng khoảnh khắc đó.

Hơn nửa triệu con người đứng dưới nắng Sài Gòn. Chờ đợi. Im lặng. Và không có gì cả.

Lúc ấy, Trần Văn Giàu - Chủ tịch Ủy ban Hành chánh lâm thời Nam Bộ - bước lên lễ đài.

Ông không có bài diễn văn nào chuẩn bị sẵn. Ông ứng khẩu.

Và ông nói. Nói về máu xương của cha ông. Nói về những ngày nô lệ đã qua. Nói về cái giá của hai chữ độc lập. Bài nói kết lại bằng lời kêu gọi quốc dân sẵn sàng chiến đấu - rằng “Ngày độc lập bắt đầu từ nay!”, rằng không một thành lũy nào ngăn nổi ý chí của muôn dân trên đường giải phóng.

Một người có mặt hôm ấy kể lại: dù hoàn toàn ứng khẩu, ý tứ vẫn sâu sắc, giọng vẫn hùng hồn, và bài nói đã thu hút tâm hồn của cả triệu con người đứng đó.

Sau này, các nhà nghiên cứu xếp bài diễn văn ngày 2/9/1945 của Trần Văn Giàu vào kho hùng văn của đất phương Nam - bên cạnh bài hịch của Trương Định và văn tế của cụ Đồ Chiểu.

Tiếp lời ông, Nguyễn Lưu - Tổng thư ký Công đoàn Nam Bộ - thay mặt nhân dân đọc lời tuyên thệ. Lời thề rất giản dị và rất quyết liệt: nếu người Pháp trở lại xâm lược, thì không đi lính cho Pháp, không làm việc cho Pháp, không bán lương thực cho Pháp, không dẫn đường cho Pháp.

Và hơn nửa triệu người giơ nắm tay lên, đồng thanh hô ba lần:
“XIN THỀ! XIN THỀ! XIN THỀ!”

Tiếng hô vang rền như sấm giữa lòng Sài Gòn.

Điều khiến mình xúc động nhất ở câu chuyện này:

Miền Nam hôm ấy không nghe được giọng Bác. Nhưng miền Nam vẫn đứng lên. Vẫn thề. Vẫn một lòng hướng về Hà Nội, hướng về Chính phủ lâm thời, hướng về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Không cần sóng radio. Không cần ai chỉ đạo từng câu từng chữ. Bởi vì cái thôi thúc ấy đã nằm sẵn trong máu của một dân tộc suốt gần trăm năm chờ ngày được gọi tên.

Nam hay Bắc, Ba Đình hay Norodom - cùng một ngày, cùng một lòng.

Đó chính là sức mạnh đã làm nên đất nước này.

Hôm nay, 81 năm sau, xin cúi đầu nhớ đến tất cả những con người của mùa thu năm ấy - ở cả hai đầu Tổ quốc./.
Ảnh: Nhà cách mạng Trần Văn Giàu.
#QV-ST!

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA: SỰ KHÁC BIỆT GIỮA SỬ CHÍNH THỐNG VÀ TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN!

     Sử thần viết để hậu thế biết một nước đã đi qua những gì. Dân gian kể để con cháu không quên mình là ai. Hai dòng ấy cùng chảy về một quá khứ, nhưng ở hai “chiềng” khác nhau. Chính sử là những bộ biên niên quốc sử chính thống, ghi chép niên đại, sự kiện, nhân vật và các chỉ dụ, hịch từ triều đình cho là quan trọng. Ví dụ, Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu (1272) ghi lịch sử từ Triệu Đà (207 TCN) đến Lý Chiêu Hoàng (1225); Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên (thế kỷ 15) tiếp tục từ 1226 đến 1427. Trên nền tảng này, Ngô Sĩ Liên dưới triều Lê Thánh Tông (năm 1479) biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư - cuốn quốc sử chính thống đầu tiên còn nguyên vẹn của Việt Nam. Bộ sử này (gồm 15 quyển) ghi lại lịch sử từ thời Kinh Dương Vương (năm 2879 TCN) đến năm 1427. Sau khi hoàn thành, các đời vua Lê (Huyền Tông, Hy Tông) tiếp tục hiệu đính, bổ sung và cuối cùng in ấn vào năm 1697.  

- Đại Việt sử ký (1272) - Lê Văn Hưu (nhà Trần).  
- Đại Việt sử ký tục biên (thế kỷ 15) - Phan Phu Tiên (nhà Lê Sơ).  
- Đại Việt sử ký toàn thư (1479, in 1697) - Ngô Sĩ Liên (nhà Hậu Lê).  

Chính sử của Đại Việt ghi rõ năm, tháng, niên hiệu, người ra chiếu và kết quả thắng - bại. Sau mỗi biến cố lớn thường có “lời bàn” của sử thần, phân tích ai đúng, ai sai, nguyên nhân hưng suy. Dù có thể không đồng ý tuyệt đối với từng lời bình của thời xưa, công lao của họ là đã giữ được khung xương lịch sử bằng giấy mực. Nếu không có những bộ sử này, nhiều thời kỳ trong quá khứ có thể chỉ còn là những cái tên mơ hồ.

Truyền thuyết dân gian - ký ức văn hóa

Bên kia, truyền thuyết dân gian ghi chép bằng lời kể trong đình làng, đền miếu, ca dao tục ngữ. Một số truyền thuyết được các danh sĩ nho học sưu tập vào sách chữ Hán. Ví dụ, khoảng năm 1329 Lý Tế Xuyên tập Việt điện u linh tập - tuyển truyện về các vị thần linh được thờ ở đồng bằng Bắc Bộ thời Trần. Cuối thời Trần, Lĩnh Nam chích quái (do Trần Thế Pháp sưu tầm, đời Lê hiệu đính) gồm 22 truyện huyền thoại và cổ tích ở đất Lĩnh Nam. Những tác phẩm này không nằm trong chính sử, nhưng đóng vai trò giữ ký ức tập thể: kể về nguồn gốc nòi giống, anh hùng dân gian, những hiện tượng siêu nhiên mang ý nghĩa biểu tượng. 

- Việt điện u linh tập (1329) - Lý Tế Xuyên, tuyển truyện về các thần linh, thờ ở Bắc Bộ.

- Lĩnh Nam chích quái (cuối Trần, hiệu đính cuối thế kỷ 15) - tập 22 truyện kỳ ảo của dân gian Lĩnh Nam.  

Trong truyền thuyết, người Việt hỏi những câu lớn: “Chúng ta sinh ra từ đâu? Núi này thiêng ở điểm gì? Khi giặc đến, đứa trẻ nào sẽ đứng lên cứu nước?” Nội dung tập trung vào ý nghĩa và hình tượng anh hùng hơn là niên đại. Chẳng hạn, chuyện Thánh Gióng - thần Phù Đổng - kể rằng có đứa trẻ lên ba vụt lớn, cưỡi ngựa sắt đánh đuổi giặc Ân rồi bay về trời. Dân gian không bận tâm ghi ngày đánh giặc, mà nhấn vào thông điệp: đất này có anh hùng trẻ tuổi sẵn sàng dậy non khi nguy biến. Tương tự, chuyện An Dương Vương trong truyền thuyết có Kim Quy hiện thần, Nỏ Thần, Mỵ Châu-Trọng Thủy… Tất cả là hình ảnh để giải thích vì sao thành Cổ Loa, giếng Ngọc, con gái vua liên quan đến việc mất nước. Truyền thuyết không cung cấp được biên niên sử chính xác, nhưng chúng cho thấy người Việt dựng hình tượng như thế nào để tự hào hoặc cảnh tỉnh. 

Sự bổ sung qua lại

Hai dòng sử này bổ sung cho nhau. Nhiều lúc chính sử và truyền thuyết đan xen, nhất là khi sử liệu khan hiếm. Đặc biệt sau hơn 20 năm Bắc thuộc (1407-1427), nhiều sách vở Đại Việt bị tịch thu hoặc đốt hết. Minh Thành Tổ thậm chí ra sắc lệnh (1406-1407) “trừ kinh sách Nho, Phật, Lão ra, mọi sách vở văn tự [Việt]… từ ca lý dân gian cho đến sách dạy trẻ… một mảnh một chữ đều phải đốt hết” và phá hủy bia ký do người An Nam dựng. Nhiều tư liệu bị mất mát là thế, nên kể cả Sử quán đời Lê phải trông cậy vào truyền thuyết và văn hóa dân gian để điền vào các khoảng trống. Ngô Sĩ Liên không chỉ căn cứ vào Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, mà còn “tiếp thu từ dã sử, lời truyền tụng” - cụ thể là đã dùng Lĩnh Nam chích quái và Việt điện u linh tập làm tư liệu khi biên soạn sử. Lần đầu tiên những chuyện thần thoại này được xem như nguồn tư liệu chính thống để dựng một bộ biên niên sử. Nhờ vậy, Đại Việt sử ký toàn thư mới ghi nhận truyền thuyết thời Hồng Bàng làm điểm khởi nguyên của dân tộc. 

Nên đọc lịch sử sao cho đúng? Cần đọc chính sử để biết “việc gì đã xảy ra”, xét bằng nguồn sử liệu và đối chiếu. Cần đọc truyền thuyết để biết cộng đồng hiểu sự kiện ấy thế nào, vì sao họ còn nhắc mãi. Khi có sự trùng khớp, đó thường là xương sống lịch sử. Khi khác biệt, đó là dấu vết vết thương, nỗi sợ, hay nhu cầu chính trị của người kể chuyện. Ví dụ, Ngô Sĩ Liên trong bản toàn thư vẫn ghi vụ An Dương Vương mất nước, nhưng ông giãi bày với tư duy Nho giáo rằng Rùa Vàng, thần Kim Quy chỉ biểu tượng cho “khí thiêng” của đất nước. Phải nhìn vào hai nguồn để hiểu trọn vẹn: truyền thuyết giải thích ý nghĩa Mỵ Châu chết bi thương, nỏ thần mất như lời cảnh tỉnh, còn sử sách cho ta biết ngày mất nước diễn ra. 

Cả chính sử và truyền thuyết đều có giới hạn. Chính sử do triều đại thắng cầm bút, thường thiên về năm tháng, chú trọng vua chúa, đôi khi giấu bớt khuyết điểm của người cầm quyền. Truyền thuyết thì tô vẽ hoặc ghép nối - nhiều làng đăng ký chung một anh hùng, thảm cảnh hóa chiến thắng hay ngược lại, hư cấu để gìn giữ linh thiêng, thậm chí dùng phục vụ lễ hội. Nhưng bỏ một bên thì lịch sử cũng mất một nửa hồn. 

Kết luận: Đọc sử cần mở cả hai cuốn - sách sử chính thống lẫn truyện dân gian. Chính sử là nền móng, truyền thuyết là ký ức phủ lên nền móng ấy. Nhờ bộ bút của Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên… chúng ta có từng mốc lịch sử khúc triều chính thống; nhờ dân gian kể truyền miệng mà tinh thần đại Việt không bao giờ cạn trong lòng người. Người xưa đã âm thầm làm một việc đáng trân trọng: họ giữ lại cho chúng ta một Đại Việt bằng chữ, và bao thế hệ vô danh cũng giữ lại một Đại Việt khác bằng lời kể dân gian. Nhờ cả hai nguồn ấy, hôm nay chúng ta mới còn có thể trở về với cội nguồn của chính mình. 

Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư và các bộ lịch sử Hán Nôm (Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên); Việt điện u linh tập (Lý Tế Xuyên, 1329); Lĩnh Nam chích quái (Trần Đình Hoành giới thiệu)./.
#QV-ST!

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: KHÔNG THỂ THA THỨ VÌ ĐÃ ĐƯỢC GIÁO DỤC, LẠI CÒN CÓ HỌC THỨC!

     Một bộ phận tri thức đang than khóc cho ông Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn vừa bị Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03 Bộ Công an) khởi tố, bắt tạm giam để điều tra tội tham nhũng. Tôi nghĩ, như thế là cản trở công cuộc đốt lò đang nhức nhối hiện nay. Bời vì, Tội lớn như thế tha thứ thế nào đc khi mà anh có tri thức, có trình độ, có giáo dục, có lập trường, quá thừa tư duy nhận biết xấu và tốt, sạch và bẩn.. chứ đâu phải như người dân nhận thức hạn chế, trộm một con gà ăn qua bữa để khi bị bắt mới biết mình vi phạm pháp luật đâu. 

Hơn nữa, gần đây, hàm thứ trưởng như anh Thuấn, việc đãi ngộ của Nhà nước cho anh thiếu thứ gì đâu mà tham thế!

Bác Trọng đã từng nhắc nhở cán bộ cách đây hàng chục năm: "nhà cửa, tiền bạc thiếu thốn gì đâu mà sao tham thế". 

Cụ còn nhắc câu nói Paven Coocsaghin, nhân vật trong tiểu thuyết Thép đã tôi thế đấy của nhà văn Nga Nicolai Ostrovsky: "Cái quý nhất của con người là cuộc sống và danh dự sống, bởi vì đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí; để khỏi hổ thẹn vì những việc làm ty tiện, đớn hèn, bị mọi người khinh bỉ; để đến khi nhắm mắt xuôi tay ta có thể tự hào rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời - sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, mang lại hạnh phúc cho Nhân dân".

Ấy thế thì chúng ta tiếc gì, xót gì cho một kẻ có học mà vô lương tham nhũng. Hiện nay để Nhân dân ấm no, giàu mạnh bình an đất nước bình yên hạnh phúc thì có 2 tội danh cần phải xử nghiêm: 

TỘI THAM NHŨNG VÀ TỘI PHẢN QUỐC! 
Vì đây là nguy cơ phá hoại chế độ ta bất cứ lúc nào. Đề nghị pháp luật xử nghiêm!
#QV-ST!

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: BÀI HỌC BI KỊCH LÊ MÃ LƯƠNG - TỪ BIỂU TƯỢNG ANH HÙNG ĐẾN VẾT TRƯỢT CỦA "TƯỚNG TRỞ CỜ"!

     Sự kiện A80 năm ngoái, đã có lúc cả Threads city sục sôi khi xuất hiện hình ảnh một vị tướng trên ngực lấp kín huân huy chương. Cả mxh sục sôi, nhiều người trẻ biết ơn ngưỡng mộ. Nhưng rồi...

Các bạn ạ! Lịch sử luôn có những khúc quanh nghiệt ngã, và số phận con người đôi khi lại là minh chứng rõ nhất cho những khúc quanh đó. 

Trong lịch sử quân sự và xã hội Việt Nam đương đại, cái tên Lê Mã Lương từng là một tượng đài lẫm liệt, một biểu tượng của lòng yêu nước độc nhất vô nhị. Thế nhưng, hành trình từ một người lính viết đơn bằng máu đến một ông già bất mãn, bị giới trẻ quay lưng và trở thành tâm điểm của những sự chế giễu, chính là một bi kịch lớn về sự tha hóa của lý tưởng.

1. Thời kỳ hoàng kim: Tượng đài được trọng vọng tại A80

Vào những năm tháng chiến tranh khốc liệt, Lê Mã Lương là hiện thân cho câu nói bất hủ của chính mình: "Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù". Trở về từ chiến trường với một con mắt bị hỏng và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân khi mới 21 tuổi, ông nhận được sự kính trọng tuyệt đối từ Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Sự trọng vọng ấy thể hiện rõ nhất khi ông được giao những trọng trách lớn, đặc biệt là giai đoạn gắn bó với các cơ quan nghiên cứu và quản lý văn hóa - lịch sử của quân đội (như Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam). Trong giới học thuật và các câu lạc bộ tướng lĩnh, cựu chiến binh cao cấp (như tầm ảnh hưởng tại các câu lạc bộ, ban liên lạc truyền thống lớn thuộc Cục An ninh văn hóa tư tưởng - trước đây là A80), ông luôn được đón tiếp như một thượng khách, một tiếng nói có trọng lượng. Người ta từng nhìn ông bằng ánh mắt ngưỡng mộ dành cho một nhân chứng sống của lịch sử.

2. Bi kịch dùng người: Sự ngộ nhận giữa chiến thuật và chiến dịch

Nhìn lại sự nghiệp của Lê Mã Lương, các nhà phân tích quân sự sắc sảo đều nhận ra một khoảng trống lớn trong tư duy của ông, dẫn đến một bài học đắt giá về công tác cán bộ của thể chế.

Lê Mã Lương xuất sắc ở cấp chiến thuật/trận đánh, tức là một người lính dũng cảm, một chỉ huy phân đội (đại đội, tiểu đoàn) mưu lược trên chiến trường hẹp. Ở đó, ông chỉ cần lòng dũng cảm và mệnh lệnh tiến lên. Tuy nhiên, ông lại hạn chế ở cấp chiến dịch và chiến lược. Khi đất nước hòa bình, địa chính trị thay đổi, sự đối ngoại và giữ gìn bờ cõi đòi hỏi cái đầu lạnh, sự mềm dẻo của những nhà ngoại giao và tầm nhìn vĩ mô của những tướng lĩnh phòng tuyến.

Sai lầm của thể chế đôi khi là việc quá chiều chuộng và thần thánh hóa các danh hiệu thời chiến, khiến cá nhân ông ngộ nhận rằng tài năng của mình là vạn năng. Khi không được bổ nhiệm vào các vị trí tổng tư lệnh hay các vị trí chiến lược cao hơn (do hạn chế về tư duy vĩ mô và sức khỏe), sự kiêu ngạo cộng sản và "bệnh công thần" bắt đầu nảy mầm. Ông quay sang nhìn nhận đường lối ngoại giao hòa bình, giữ nước bằng luật pháp quốc tế của thế hệ đi sau là "nhút nhát", để rồi từ đó trượt dài vào vũng lầy bất mãn.

3. "Gạc Ma - Vòng tròn bất tử" và sự tiếp sức của Võ Văn Thưởng

Đỉnh điểm của sự bất mãn và hành vi "trở cờ" của Lê Mã Lương gắn liền với cuốn sách đầy tai tiếng: "Gạc Ma - Vòng tròn bất tử". Cuốn sách này, thay vì là một nén tâm nhang thuần túy, đã bị biến tướng thành một công cụ chính trị chứa đựng những tư liệu sai lệch nghiêm trọng.

Trong cuốn sách này, Lê Mã Lương với vai trò chủ biên đã cố tình lồng ghép và bảo vệ luận điểm xuyên tạc rằng có lệnh "tuyệt đối không được nổ súng" từ cấp cao nhất vào năm 1988, một đòn chí mạng đánh vào uy tín của Quân đội Nhân dân Việt Nam, phủ nhận quyền tự vệ chính đáng của các chiến sĩ.

Sự việc càng trở nên ồn ào khi có sự xuất hiện của ông Võ Văn Thưởng (khi đó là Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương). Bằng việc ghé thăm đường sách và mua cuốn sách này, khen ngợi cuốn sách này, nó chính là một sự "tiếp sức và bảo kê" về mặt chính trị để hợp thức hóa những nội dung sai trái. 

Dù sau đó, khi sự thật về các lỗi tư liệu và nội dung xuyên tạc bị phơi bày, các cơ quan chức năng đã kiên quyết thu hồi cuốn sách, nhưng vết rạn nứt về lòng tin và sự hoài nghi mà nó để lại là không thể cứu vãn.

(Ông Thưởng ơi, tội ông lớn lắm!)

4. Những hạt sạn tư liệu đen tối và làn sóng phẫn nộ từ đồng đội

Sự sụp đổ thần tượng mang tên Lê Mã Lương không phải do các cơ quan truyền thông áp đặt, mà xuất phát từ chính sự cẩu thả, bóp méo lịch sử bị phơi bày. Cuốn sách do ông Lê Mã Lương chủ biên đã phạm phải những sai sót tư liệu không thể tha thứ.

Thứ nhất, là cố tình bóp méo mệnh lệnh chiến đấu. Sách viết sai lệch bản chất mệnh lệnh của Đại tướng Lê Đức Anh. Lệnh thực tế là "không được nổ súng trước" nhằm tránh mắc bẫy khiêu khích, tạo cớ chiến tranh của đối phương, nhưng nếu bị tấn công thì được quyền nổ súng tự vệ tối đa. Ông Lương đã cắt xén thành "cấm nổ súng", biến các chiến sĩ hy sinh thành những nạn nhân chịu trận vô ích.

Thứ hai, là nó đã xúc phạm người sống, làm nhục người chết. Sách ngang nhiên tuyên bố cựu binh Mai Xuân Hải đã hy sinh và biến ông thành liệt sĩ, trong khi thực tế ông Hải vẫn đang sống sờ sờ tại quê nhà. Sự cẩu thả này giáng một đòn đau đớn vào gia đình nhân chứng.

Thứ ba, là sai lệch tình tiết trận đánh ở Gạc Ma. Nhiều cựu binh trực tiếp chiến đấu tại Gạc Ma khẳng định, các diễn biến về vị trí tàu, sự phối hợp giữa các lực lượng và trang thiết bị vũ khí trong sách bị thêu dệt, ly kỳ hóa theo tư duy văn nghệ sĩ hơn là sự thật lịch sử quân sự khốc liệt.

Chính những vết đen này đã châm ngòi cho làn sóng phẫn nộ từ các cựu chiến binh cùng thời. Nhiều vị tướng lĩnh lão thành và các cựu binh Hải quân từng vào sinh ra tử đã thẳng thắn lên tiếng chỉ trích Lê Mã Lương. Họ cho rằng ông là "tướng lục quân" không hề hiểu biết về tác chiến hải quân, chưa từng nếm trải sóng gió Trường Sa nhưng lại ngồi một chỗ phán xét, suy diễn. Đồng đội cùng thời chỉ trích ông đã phản bội lại hương hồn của 64 liệt sĩ khi biến sự hy sinh anh dũng của họ thành công cụ để thỏa mãn cái tôi bất mãn của cá nhân mình.

5. Từ anh hùng đến "trò cười" của giới trẻ thời công nghệ

Khi bước vào thời đại số, khi thông tin không còn bị độc quyền và tư duy phản biện của thế hệ trẻ ngày càng cao, bộ mặt thật của sự "bất mãn" đã bị bóc trần.

Giới trẻ ngày nay không còn thần tượng một ai đó chỉ vì cái danh hiệu quá khứ. Họ nhìn vào thực tế. Khi những đoạn video ghi lại các phát ngôn kích động, đòi "hỏi tội Bộ Ngoại giao", hay những tư duy quân sự lỗi thời, "máu chiến" bất chấp đại cục của ông Lương bị đưa lên mạng, ông lập tức bị giải huyền thoại.

Từ một vị tướng anh hùng, Lê Mã Lương trong mắt thế hệ trẻ Gen Z và các bạn trẻ am hiểu lịch sử bỗng chốc trở thành một "tướng bảo tàng" đúng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng: một người chỉ có thể sống bằng hào quang quá khứ nhưng lại muốn định đoạt tương lai bằng tư duy cũ kỹ. Những phát ngôn lệch chuẩn, mang tính công thần của ông bị đem ra làm tư liệu chế giễu (meme) trên các diễn đàn. Họ quay lưng không phải vì họ phản bội lịch sử, mà vì họ nhận ra người anh hùng năm xưa đã tự biến mình thành công cụ cho các thế lực chống phá, thành một kẻ "trở cờ" đáng thương hơn đáng trách.

Các bạn ạ, hành trình của Lê Mã Lương là bài học sâu sắc về sự tu dưỡng. Danh hiệu anh hùng có thể được định hình trong một khoảnh khắc trên chiến trường, nhưng tư cách của một người yêu nước chân chính phải được thử thách qua suốt cả cuộc đời. Khi cái tôi vượt qua đại cục, khi lòng kiêu ngạo che mờ lý trí, người ta rất dễ rơi vào bi kịch: cả nửa đời đầu đi tìm vinh quang, nửa đời sau dùng chính danh tiếng đó để tự bôi tro trát trấu vào mặt mình.

Cám ơn tất cả các bạn đã!
Ảnh: Thiếu tướng Lê Mã Lương - Tại Lễ Quốc Khánh 2/9/2025.
#QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CÔNG BỐ BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP!

     Ngày 30/8/1945 là một chi tiết rất đáng chú ý trong quá trình hình thành bản Tuyên ngôn Độc lập, bởi nó cho thấy trước khi công bố văn kiện lịch sử này, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tự mình hoàn chỉnh bản thảo mà còn chủ động phát huy trí tuệ tập thể, lắng nghe ý kiến của các đồng chí lãnh đạo.

Theo tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh, ngày 30/8/1945, Hồ Chí Minh mời một số đồng chí đến trao đổi, góp ý cho bản dự thảo Tuyên ngôn Độc lập. Người đọc bản thảo cho mọi người nghe rồi hỏi ý kiến.

Một buổi góp ý đặc biệt tại Hà Nội
Những ngày cuối tháng 8 năm 1945, tại số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Hồ Chí Minh đang tập trung hoàn thành văn kiện sẽ thay mặt Chính phủ lâm thời tuyên bố trước quốc dân và thế giới.

Theo một số tư liệu, sáng 30/8, chủ tịch Hồ Chí Minh và Trường Chinh mời Võ Nguyên Giáp cùng một số người đến trao đổi, góp ý cho dự thảo. Bản Tuyên ngôn lúc đó về cơ bản đã hoàn thành và được Người đọc cho tập thể nghe để góp ý, thông qua. Điều đáng nói là Người rất xúc động trước thời khắc ấy. Sau khi đọc bản dự thảo, Người nói:

“Trong đời, Người đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy.” 

Đằng sau câu nói ấy không chỉ là niềm vui của một người vừa hoàn thành một văn kiện quan trọng. Đó còn là sự xúc động trước thành quả của hàng triệu người Việt Nam đã đấu tranh, hy sinh trong nhiều thập kỷ. Theo tư liệu được dẫn lại, Người nhấn mạnh rằng bản Tuyên ngôn là “hoa, là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh”, là kết quả của hy vọng, nỗ lực và niềm tin của hơn 20 triệu đồng bào Việt Nam.
 
Và ngày 31/8, Người vẫn tiếp tục sửa
Công việc chưa dừng lại ở ngày 30/8.

Ngày 31/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục bổ sung một số điểm vào bản thảo, đồng thời kiểm tra công tác chuẩn bị cho cuộc mít tinh ngày 2/9 tại Quảng trường Ba Đình. 

Điều này cho thấy một điều rất đáng suy ngẫm:
Một văn kiện được viết bởi một lãnh tụ nhưng không phải là sản phẩm của sự chủ quan cá nhân.
Người trực tiếp chấp bút, nhưng trước khi đưa ra trước quốc dân và thế giới, Người lắng nghe tập thể, tiếp thu ý kiến và tiếp tục chỉnh sửa đến những giờ cuối cùng.

Đến 14 giờ ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Điều đặc biệt nằm ở chữ “dân chủ”
Nếu nhìn kỹ chuỗi sự kiện 28–29/8 → 30/8 → 31/8 → 2/9, ta thấy một quy trình rất rõ:
Viết → suy ngẫm → đưa ra tập thể góp ý → tiếp thu → chỉnh sửa → hoàn chỉnh → công bố.

Vì vậy, câu chuyện ngày 30/8/1945 không chỉ có giá trị lịch sử. Nó còn phản ánh một phương pháp làm việc: việc càng lớn, trách nhiệm càng cao thì càng phải biết lắng nghe trí tuệ của người khác. Và có lẽ chính vì vậy mà Tuyên ngôn Độc lập không đơn thuần là một bài văn chính luận của chủ tịch Hồ Chí Minh. Nó trở thành một văn kiện lập quốc, được viết trong thời khắc mà vận mệnh của cả một dân tộc đang chuyển sang một trang mới./.


#QV-ST!

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐƯỢC VÀ MẤT!

BÀI 3.
(Tiếp theo và hết).
     Đúng là nước ta đã từng nhận sự giúp đỡ của bạn bè và có cả các quốc gia “phi bạn bè” cũng như các tổ chức quốc tế!

Bạn bè giúp ta để chúng ta có thể qua cơn hoạn nạn. Chỉ “có qua cơn hoạn nạn, mới hiểu tận lòng nhau” (một câu trong bài hát “Giữa Mạc-tư-khoa nhớ về Hà Tĩnh” của nhạc sĩ Trần Hoàn). Sự giúp đỡ của Liên Xô ngày trước là to lớn về mặt vật chất. Sự cho đi được coi là mất, bởi phần lớn là viện trợ không hoàn lại, nhưng cái được về mặt tinh thần mà nhân dân Liên Xô nhận lại thì không gì so sánh được. Đó là tình cảm mà người dân Việt Nam dành cho nhân dân Liên Xô ngày ấy và nhân dân Nga hôm nay. Cụ thể là lòng tin, sự chân thành trong hợp tác kinh tế và KHKT, sự tôn trọng lẫn nhau mà nhiều mối quan hệ hiện nay giữa ta và một số nước không bao giờ có được.

Ngày nay, cũng là bè bạn, cũng vẫn có sự giúp đỡ và hợp tác, và đôi khi chúng ta cũng đã “hiểu tận lòng nhau”. Ngày nay sự giúp đỡ “vô tư” hầu như rất hiếm, ngoài cái sự “hai bên cùng có lợi” còn có ý đồ muốn kẻ được giúp đỡ phải phụ thuộc vào người giúp về lâu dài, tức là yếu tố độc lập và tự chủ bị lu mờ. Đó không khác gì cách hành xử của chế độ thực dân xưa. May mắn thay, nước ta luôn học những bài học như thế được rút ra từ nước láng giềng. Nước ở phương bắc đã bỏ ra hàng trăm triệu, hàng tỷ đô-la tuy con số là lớn nhưng làm sao lớn bằng cái họ nhận lại được, tức là tuyển chọn được một chư hầu, sẵn sàng phục vụ chủ. Cái được này mới lớn.

Nghe anh chị em trên facebook nói nhiều về những đồng tiền mà chính phủ Mỹ và mấy tổ chức quốc tế chi cho sự nghiệp văn hóa và giáo dục nước nhà. Lão cũng thấy nghi ngại. Số tiền mà những nước giàu có chi ra khoảng vài trăm triệu, là cái mất quá nhỏ bé đối với họ, song nếu như họ chuyển hóa được những người trẻ của ta từ yêu nước sang nghi ngờ những kỳ tích của tổ tiên và cha ông, thì cái được đó mới là lớn.

Về phía ta, mấy trăm triệu đô-la nếu vào những năm tháng đói kém, loạn lạc là lớn, nhưng ngày nay, thu nhập quốc dân của ta đã tính bằng con số hàng trăm tỷ đô-la thì cái được đó là rất nhỏ. Đổi lại, không khéo và nếu không phòng ngừa, có khí cái mất lại là vô hạn. Cứ hình dung mà xem, cả một thế hệ chẳng còn niềm tự hào về dân tộc mình, chẳng còn lòng yêu nước mình thì nếu một khi quốc gia bị xâm phạm, ai sẽ đứng ra chống giặc như cha ông ta đã từng? Cái mất đó mới lớn, và những quốc gia bỏ ra vài trăm triệu đô là quá nhỏ, thì cái họ được như lão nói trên là quá lớn, ngoài sự mong đợi của họ, như vậy là họ quá lời. Ông cựu cố vấn ngoại giao Mỹ đã nói rồi đó thôi, họ có giấu diếm gì đâu, “những gì mà bom đạn không thể làm được, thì sức mạnh của đồng đô-la sẽ giải quyết”. Phải chăng, ngày nay đồng đô-la đang thể hiện sức mạnh của nó?

Những ai còn xem nhẹ sự giáo dục thế hệ trẻ từ trong nhà trường ra xã hội, hãy nhớ câu “giáo dục là quốc sách”, “văn hóa còn thì dân tộc còn”. Nhưng mới chỉ qua câu chuyện về sách giáo khoa, về thi cử đã làm cho những người luôn đau đáu về sự tồn vong của quốc gia và dân tộc, cảm thấy bất an. Như ông thủ tướng chính phủ ta đã nói, việc vi phạm trong giáo dục như chuyện thi cử “không đơn thuần là bệnh thành tích, đó là sự vi phạm pháp luật và sự xuống cấp về đạo đức”.

Có đáng lo không? Những người thầy, ngoài truyền đạt kiến thức cho lớp trẻ, còn phải giảng giải và uốn nắn những nhận thức và hành động lệch lạc của chúng. Đúng như lời ông thủ tướng nói, “chúng ta dạy các em sự trung thực, lòng dũng cảm và ý thức tuân thủ kỷ luật. Vậy nhưng sẽ ra sao, nếu người thầy lại chính là người tiếp tay hoặc trực tiếp bẻ cong luật lệ?”. Ngành giáo dục nếu bỏ đi lời dạy của tổ tiên, “Tiên học lễ, hậu học văn” thì đó là cái mất lớn nhất mà không có cách gì có thể lấy lại trong một sớm một chiều. Nếu điều đó xảy ra, kẻ thù của chúng ta sẽ nhận được cái được ngoài sức tưởng tượng của chúng.

Các bạn ạ, trên đời, sự được mất luôn đồng hành với nhau. Vì vậy hãy cân nhắc kỹ trước khi quyết định những vấn đề có ảnh hưởng đến sinh mệnh của mình. Đừng như những tên Huấn hoa hồng, Phú Lê hay Hải Sapa gì đó, những kẻ cứ nghĩ mình sẽ được mãi nhưng cuối cùng thì nhận lại cái mất một cách đau đớn, lớn lao trong bốn bức tường trại giam. Như thế có đáng? ./.
Ảnh: Những tên thực dân cũ và mới chưa khi nào từ bỏ ý muốn bắt dân ta trở lại cuộc đời nô lệ. Hãy cảnh giác!
#QV-ST!

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐƯỢC VÀ MẤT!

BÀI 2.
     Rồi những công chức người Việt trong bộ máy cai trị của Pháp trước sự được mất cũng đau lòng lắm. Năm 1954, trong lúc người dân Việt hân hoan thì những người công chức này mang lòng oán hận những người Việt Minh. Đừng trách họ, vì cái sự mất mát của họ là quá lớn. Trong gia đình lão có một người là công chức của Pháp, một ngày sau 1975, người ấy và lão gặp nhau tại Sài Gòn, để rồi lão nghe ông trách, “các ông đã đuổi tôi chạy từ Hà Nội vào Sài gòn, vậy mà các ông còn đuổi tiếp, bây giờ tôi lại chạy tiếp sang Mỹ”. Năm 1954, gia đình ông rời Hà Nội theo dòng người di cư vào nam, ông phải bỏ lại căn biệt thư cạnh hồ Hale (tên gọi ngày nay là hồ Thiền Quang); nay phải chạy tiếp, ông bỏ lại một căn nhà hai tầng trên một con phố buôn bán sầm uất. Đau không? Đau chứ! Buồn không? Buồn chứ!

Những người không nhận ra con đường tất yếu và cái lẽ đương nhiên của dân tộc thì họ không thể chấp nhận được sự mất mát này. Thế mới sinh ra kẻ chống, người chửi chế độ mới. Chuyện không gì là lạ. Cái được không phải chỉ là của riêng từng người dân Việt mà là cái được của cả một dân tộc đã trải qua hàng ngàn năm chống quân xâm lược, nay giang sơn đã thu về một mối, người dân làm chủ vận mệnh của mình. Cái được đó mới là lớn, lớn như chưa bao giờ có được như thế.

Tóm lại, cái sự được mất thì tùy vào cách nghĩ của mỗi người, những người yêu nước thì cái sự được mất không bao giờ được tính bằng tiền; ngược lại với những người coi đồng tiền là trên hết, thì họ không thể chấp nhận cái sự được mất như của người yêu nước. Người yêu nước coi sự mất nước là cái mất lớn nhất. Ngược lại những người coi tiền là trên hết thì cái mất lớn nhất là mất đi cái kiếp tôi đòi.

Tất cả những cái được mà dân tộc Việt Nam dành được trong suốt hàng ngàn năm qua, là những cái mất quá lớn của thế lực phong kiến, đế quốc và thực dân, nên họ ra sức chống phá cũng là điều tất nhiên, không khác gì lắm với người họ hàng mà lão nói ở trên. Những thế lực đó chỉ mong có một ngày chế độ Cộng sản bị sụp đổ. Cái điều “mong ước” của họ cũng chẳng lạ, vì họ đã bị mất quá nhiều, không chỉ là tiền bạc, sinh linh mà còn mất cả danh tiếng nữa.

Nhiều lần lão thấy những người ra đi từ nước Việt, hiện đang sinh sống tại Mỹ, Pháp, Úc vân vân, trên tay họ là những miếng vải vàng mà lòng lão chợt thấy thương cho họ và cũng buồn cười thay. Bởi cho đến hôm nay, sau khi đã bỏ nước ra đi, tính ra cũng là trên nửa thế kỷ rồi, mà họ vẫn ôm lấy cái mảnh vụn vỡ ra từ cuộc đời họ. Họ chả còn gì, đến một cái tên tổ quốc để mà tự hào cũng chẳng có; một gia tài thì đã vỡ vụn. Trong khi nơi mà họ từ bỏ ra đi để đến miền “đất hừa”, nay đã trở thành một dân tộc vĩ đại, được bạn bè yêu mến và ngưỡng mộ, kẻ thù cũng phải đặt bút ký được làm “đối tác chiến lược toàn diện”. Còn họ? Chẳng còn gì, chỉ còn lại một mảnh vải vàng, chả có ai công nhận đó là một lá cờ. Cái mất của một kiếp làm thuê là vậy, trong khi cái được của dân tộc này thì không gì sánh nổi.

Nhưng xin hỏi? Sự hận thù từ những kẻ thua cuộc đối với nước ta còn không? Đương nhiên là còn. Đừng ai nghĩ rằng chúng đã ngừng chống phá. Thất bại trong việc dùng súng đạn thì chúng dùng các phương tiện khác, kiểu như văn hóa, giáo dục và nhất là đồng dollar để làm lung lay ý chí quật cường của dân tộc ta, như chúng ta đã và đang thấy, và chúng ta cũng đã và đang chống lại. Cuộc chiến này là không có giới tuyến, khó khăn lắm. Nhưng cuối cùng chúng ta vẫn là người chiến thắng! ./.
(Còn nữa)
Ảnh: Nhân dân với lá cờ tổ quốc và lãnh tụ kính yêu.
#QV-ST!

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐƯỢC VÀ MẤT!

BÀI 1.
     Viết nhân ngày tết Độc lập (2/9) của nước ta. Những vấn đề trong bài viết này do lão chiêm nghiệm được thì lão viết ra. Lão biết, những điều lão viết chẳng có gì mới đối với mọi người!

Xin mọi người hiểu cho, chẳng có xã hội nào mà chỉ toàn tốt hay toàn xấu. Nếu là những người trung thực thì tự mình xem xét toàn bộ hoàn cảnh của một xã hội ấy rồi hãy đánh giá, rằng xã hội ấy tốt hay xấu; được nhiều hơn mất hay ngược lại?

Trời để cho lão sống đến nay đã là 90 năm, ngày khởi đầu của lão là ngày bắt đầu của những tháng đói kém của năm Đinh Sửu (1937). Xã hội ta ngày ấy, theo lão nghĩ, ngoài những kẻ thống trị, chỉ còn hai thành phần - giàu và nghèo. Người giàu thì được nhiều hơn mất, ngược lại là người nghèo. 

Ngày của những năm 30, người giàu, nhất là những gia đình có dính líu đến nhà cầm quyền thực dân thì được nhiều hơn mất. Cái được của họ là nhiều của, nhiều tiền, tất nhiên được thỏa thích ăn chơi. Thời ấy, loại hình ăn chơi phổ biến là “cô đầu” và thuốc phiện. Ngày ấy lão còn nhỏ nên chưa có hiểu biết về loại hình “cô đầu”, nhưng người nghiện thuốc phiện thì lão biết. Khi lão bước vào trường trung học, lão ở trọ nhà một nhà giàu, lão thấy ông ta “ngậm tẩu” suốt ngày, thân thể nhỏ thó, có lần lão thấy ông ấy nằm gọn trong một cái nia phơi lúa. Một lần, chả hiểu vì điều gì, ông ta dùng chân đạp bà vợ một đạp, bà vợ đứng vững như tượng còn ông chồng thì ngã lăn ra đất. Một hình ảnh về cái sự được mất qua bảy, tám chục năm mà lão không quên.

Còn người dân, nhất là những người dân nghèo thì mất nhiều hơn được. Cái mất lớn nhất là “người cày” mà không có ruộng cày. Làng của lão hình như chỉ có bốn gia đình địa chủ, nhưng nắm giữ toàn bộ số ruộng hiện có lúc đó của làng. Chính gia đình lão phải nhận ruộng cấy tô của một người trong họ. Cái mất lớn thứ hai, là mất quyền làm chủ gia đình mình và bản thân mình, nguyên nhân chính là do chính sách “ngu dân” của thực dân Pháp. Thế người dân được cái gì? Khó nói nhỉ? Có lẽ, được ăn sạch, bởi gạo nhà, khoai nhà, rau nhà, thịt cá của nhà, chả ai biết cái thuốc trừ sâu với cái thuốc tăng trọng là gì. Có lẽ nhờ đó, thì người chết vì đói nhiều hơn số người chết vì bệnh hiểm nghèo (chỉ trong tháng Ba, 1945 đã có hơn hai triệu người chế đói).

Lão nói sơ qua về những ngày lão sống dưới sự đô hộ của Pháp như vậy. Đến khi có đảng Cộng Sản, lãnh đạo toàn dân đánh đuổi quân xâm lược Pháp thì dân ta được nhiều hơn mất; ngược lại nước Pháp và những công chức của họ thì mất nhiều hơn được. Nói về cái sự mất của thực dân Pháp thì nó lớn vô cùng. Đó là mất quyền cai trị ở xứ Đông dương, nơi mà Pháp (qua nhiều thế hệ) đã đặt ách thống trị trong suốt gần thế kỷ, nay bỗng bị dân “Annamite” (tên gọi khinh miệt mà Pháp đặt cho nước ta) đánh đuổi, nêu một tấm gương sáng cho các dân tộc bị bắt làm nô lệ, vùng lên, đặc biệt là nhiều nước ở châu Phi thuộc Pháp./.
(Còn nữa).
Ảnh: Quân viễn chính Pháp rút khỏi thủ đô HN (A) & quân ta vào tiếp quản (B).
#QV-ST!

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: MỘT NỀN GIÁO DỤC 'CÀNG CẢI CÁCH CÀNG NÁT', NHÂN DANH TƯƠNG LAI ĐỂ HỦY HOẠI TƯƠNG LAI!

     Các bạn có tin được không, chỉ trong 24h mà fanpage của BGD ít nhất 5 lần nhắc đến kế hoạch vĩ đại đó là đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2, tiến tới dạy Văn dạy sử dạy Toán bằng tiếng Anh. Và xen kẽ vào đó là họ hô hào cải tổ cải cách giáo dục, nâng tầm diện mạo Việt Nam để biến học sinh thành thế hệ công dân toàn cầu.

Nhưng thực tế, kết quả thì sao ạ? Xin thưa, có một nghịch lý đau đớn đang hiển hiện ngay trước mắt chúng ta, rằng chưa bao giờ hai chữ “cải cách” lại được vang lên nhiều đến thế, nhưng cũng chưa bao giờ niềm tin của xã hội dành cho giáo dục lại chạm đáy như lúc này. 

Sau khi Việt Nam gia nhập vào WTO, đánh đổi bằng việc chấp nhận cho Tư bản phương Tây xâm nhập giáo dục nước nhà. Gần hai thập kỷ qua, hàng triệu học sinh và phụ huynh đã trở thành những “chuột bạch” trong một phòng thí nghiệm khổng lồ, nơi những quyết sách mang danh “đổi mới” liên tục được tung ra, để rồi cái kết để lại chỉ là sự hoang mang, kiệt quệ và một bức tranh giáo dục hỗn loạn đến xót xa.

Nhìn lại chặng đường từ năm 2008 đến nay, người ta không khỏi rùng mình trước sự bất lực của một kỳ thi mang tầm vóc quốc gia. Mục tiêu sáp nhập kỳ thi tốt nghiệp và đại học để “tiết kiệm”, để “chống lãng phí” và “giảm áp lực” rốt cuộc đã mang lại điều gì? Nó sinh ra một kỳ thi mang tính cào bằng, một đề thi không còn khả năng phân loại học sinh một cách thực chất. 

Năm nào cũng có tình trạng “làm láo báo cáo hay”, BGD thì tự hào vì “chất lượng đào tạo, đổi mới giáo dục” đã “thu được kết quả tự hào”. Ừ thì họ tự hào vì điểm thi của học sinh ngày càng cao, điểm chuẩn vào trường TOP cũng ngày càng tăng. Thế nhưng, có biết đâu là bi kịch “29 - 30 điểm vẫn trượt đại học” đã trở thành vết thương nhức nhối qua nhiều mùa tuyển sinh. 

Cay đắng thay khi cả nước bàng hoàng chứng kiến câu chuyện của 2 thi sinh Nguyễn Mạnh Thắng và Nguyễn Mạnh Hùng, hai thủ khoa khối A00 toàn quốc năm 2023 với số điểm kinh ngạc 29,35 điểm nhưng vẫn ngậm ngùi trượt Nguyện vọng 1 vào ngành Khoa học máy tính (IT1) của Đại học Bách khoa Hà Nội chỉ vì thiếu đúng 0,21 điểm so với điểm chuẩn 29,42. (do khoa này BK lấy điểm Toán nhân đôi, mà em thủ khoa không được 10 Toán). 

Vậy đấy các bạn ạ. Khi điểm số cao chót vót trở nên rẻ rúng vì đề thi quá dễ hoặc phân hóa kém, giá trị của sự nỗ lực, của những đêm thức trắng bên đèn sách đã bị tước đoạt một cách thô bạo. Hệ quả tất yếu của việc đề thi quốc gia mất đi khả năng sàng lọc là các trường đại học top đầu không còn dám tin vào kết quả đó nữa. Họ buộc phải tự cứu mình bằng cách tự chủ tuyển sinh, lập ra các kỳ thi Đánh giá năng lực (ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP.HCM ...) hay Đánh giá tư duy (ĐH Bách khoa Hà Nội) riêng biệt. Mục tiêu sáp nhập ban đầu để “giảm tải” hoàn toàn phá sản. Giờ đây, học sinh không những phải căng mình cho kỳ thi tốt nghiệp mà còn phải chạy đôn chạy đáo, đóng tiền nộp phí để tham gia vô số kỳ thi riêng của các trường. Gánh nặng chồng lên gánh nặng, lãng phí lại chồng lên lãng phí!

Chưa dừng lại ở đó, việc phân cấp, giao quyền tổ chức thi hoàn toàn về cho các địa phương tự lo đã mở đường cho những ung nhọt tiêu cực nhức nhối. Bản chất của một kỳ thi quốc gia cần nhất là sự công bằng và nghiêm túc, nhưng mô hình này đã biến nó thành mảnh đất màu mỡ cho những bàn tay nhúng chàm. Làm sao chúng ta có thể quên được bóng đen gian lận chấn động tại Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình vào năm 2018? Và nỗi đau ấy một lần nữa lại bị xới xéo khi bước sang năm 2026, vụ án gian lận thi cử có tổ chức mang tính hệ thống tại điểm thi Trường THPT Chuyên Tuyên Quang bị phanh phui. Từ nghi vấn bất thường khi 147 bài thi đạt điểm 10 môn Toán tập trung tại một điểm thi, cơ quan chức năng đã phải khởi tố hàng chục bị can (trong đó có cả Trưởng điểm thi và thư ký) vì hành vi gian trá, làm xáo trộn hoàn toàn kết quả của hàng trăm thí sinh. 

Giáo dục kiểu gì mà sự gian trá được dung túng ngay trong phòng thi? Sự công bằng ở đâu cho những sĩ tử nghèo học bằng thực lực? 

Và tôi tin rằng những trường hợp gian lận thi cử bị phanh phui ấy chỉ là 1 góc nhỏ, phần nồi của tảng băng chìm, vì còn quá nhiều thứ chưa bị đưa ra ánh sáng.
 
Nhìn vào chiều sâu của cuộc cải cách giáo dục, cải tổ chương trình giảng dạy và đổi mới sách giáo khoa (SGK), sự bức xúc của dư luận càng dâng cao tột độ. Cái gọi là triết lý “một chương trình, nhiều bộ sách” của CT GDPT 2018 đã đẩy xã hội vào cảnh “mỗi nơi một phách”. Việc thực hiện nhiều bộ SGK cùng lúc không chỉ gây lãng phí khủng khiếp hàng chục nghìn tỷ đồng ngân sách quốc gia và tiền bạc của người dân, mà còn trực tiếp tạo ra sự đứt gãy, thiếu đồng bộ trong hệ thống giáo dục phổ thông.

Đáng phẫn nộ hơn cả là nội dung giá trị nhân văn, tinh thần yêu nước trong sách ngữ văn, lịch sử... đang bị xâm hại nghiêm trọng. Những tác phẩm cách mạng hào hùng, những áng văn trữ tình ngợi ca tình yêu quê hương đất nước thấm đẫm tâm hồn bao thế hệ học sinh dần bị loại bỏ hoặc thu hẹp diện tích. Thay vào đó, người ta cay đắng phát hiện sự xuất hiện của những tác phẩm mang màu sắc phản chiến bi ai, méo mó, nhìn nhận lịch sử và cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của dân tộc bằng con mắt tiêu cực, hoài nghi của những cá nhân cũng có tư tưởng lệch lạc, thậm chí phản động như trong một số trích đoạn, tư liệu chọn lọc của Bảo Ninh, Hà Thủy Nguyên, Nguyễn Quang Thiều... 

Đau xót thay. Những tác phẩm mang danh đổi mới tư duy nhưng rỗng tuếch, ngáo đá, thiếu tính giáo dục đang từng ngày gặm nhấm tâm hồn non nớt của học sinh. 

Xót xa thay khi dư luận phải đặt dấu hỏi lớn về nhân thân và tư tưởng của những nhân vật cộm cán, đầy tranh cãi được tin tưởng giao trọng trách Tổng chủ biên và biên soạn SGK. Việc để những người có quá khứ tư tưởng lệch lạc, mang danh phản động và “chớm phản động”, “lật sử” như Nguyễn Minh Thuyết, Đỗ Ngọc Thống, Trần Đình Sử, Vũ Hoàng Giang... ngồi vào ghế cầm cân nảy mực cho nội dung giáo dục quốc gia là một sự xúc phạm lớn đối với niềm tin của nhân dân và là mối nguy hại khôn lường cho định hướng tư tưởng của thế hệ tương lai.

Sau tất cả những đổ vỡ, rắc rối và phức tạp ấy, điều trớ trêu nhất là gì? Càng cải cách càng nát, học sinh phụ huynh hoang mang tột độ, ngân sách lãng phí vô kể, gian lận như rươi... nhưng tuyệt nhiên không một ai phải đứng ra chịu trách nhiệm! 

Đó chính là nghịch lý thời đại, Bộ trưởng nào lên cũng hứa như thần, nhưng “nói như rồng leo làm như mèo mửa”. Qua bao nhiêu đời bộ trưởng, những người ra quyết sách sai lầm vẫn “hạ cánh an toàn” hoặc thuyên chuyển công tác, bỏ lại sau lưng một đống hoang tàn cho người dân gánh chịu. Không một lời xin lỗi thực chất, không một án phạt nghiêm khắc cho những kẻ đã làm lỡ dở tương lai của cả một thế hệ.

Và tấn bi kịch ấy dường như vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Khi vết thương cũ còn chưa kịp lành, ngành giáo dục lại tiếp tục vẽ ra đề án đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Ai cũng hiểu hội nhập là cần thiết, “công dân toàn cầu” cũng vui đấy, nhưng hãy nhìn vào thực tế phũ phàng: Việc in ấn hàng trăm triệu bộ giáo trình song ngữ mới, nghiên cứu học liệu, tổ chức hàng ngàn chuyên đề tập huấn, đào tạo lại đội ngũ giáo viên... đang ngốn một lượng ngân sách khổng lồ của quốc gia. 

Chỉ tính riêng giai đoạn đầu, con số đề xuất chi ra đã lên tới 580.133 tỷ đồng! Một số tiền khổng lồ, một chiếc bánh ngân sách vĩ đại lại chuẩn bị được đem ra chi xài, trong khi cơ sở vật chất ở vùng sâu vùng xa còn thiếu thốn, giáo viên phổ thông còn chật vật với đồng lương ít ỏi. Liệu đây có phải là một chiếc “bánh vẽ” tiếp theo để hợp thức hóa những cuộc chi tiêu nghìn tỷ, để rồi vài năm sau lại kết thúc bằng hai từ “rút kinh nghiệm”? 

Sợi dây kinh nghiệm ấy xem như dài quá chăng, khi mà ông Bộ trưởng BGD nào cũng xin rút. Song nên nhớ, giáo dục là quốc sách hàng đầu, là tương lai của một dân tộc, chứ không phải là nơi để người ta mang ra thử nghiệm những tư duy chắp vá, phi thực tế và đầy lợi ích nhóm. 

Đã đến lúc phải nhìn thẳng vào sự thật, phải lên tiếng mạnh mẽ để ngăn chặn những cuộc “cải cách” vô trách nhiệm đang từng ngày băm vằn nền giáo dục nước nhà. 

Bộ Giáo dục và Đào tạo ạ, cầu xin các vị đừng “nhân danh tương lai để hủy hoại tương lai”!
#QV-ST!