Hội
nghị lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) Đảng Lao động Việt
Nam, họp ngày 23 tháng 1 năm 1961 đã
quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam thay cho Xứ ủy Nam Bộ, được thành
lập tháng 10 năm 1954.
Trung ương Cục miền Nam (trong bài này được viết tắt thành Trung ương Cục miền
Nam) là một bộ phận của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại chiến trường miền
Nam Việt Nam, có nhiệm
vụ "...căn cứ vào nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc và các
nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và Bộ Chính trị về cách mạng miền Nam mà đề
ra chủ trương, chính sách, phương châm, kế hoạch công tác và chỉ đạo cụ thể ở
miền Nam"[1].
TƯCMN có các phiên hiệu là B2, R, Ông Cụ, dùng để bảo mật trong chiến trường.
Địa bàn chỉ đạo lúc đầu là cả miền Nam Việt Nam, tức từ vĩ tuyến 17 trở vào.
Tháng
10 năm 1961 tại căn cứ Mã Đà, miền Đông Nam Bộ -
vùng Trị An ngày nay - Trung ương Cục miền Nam họp phiên đầu tiên gồm có các
ông: Nguyễn Văn Linh (Mười
Cúc), Võ Toàn (Võ Chí Công, Năm
Công), Phan Văn Đáng (Hai
Văn), Trần Lương (Trần Nam Trung, Hai
Hậu), Phạm Văn Xô (Hai
Xô), Phạm Thái
Bường (Ba Bường), Võ Văn Kiệt (Sáu
Dân), Nguyễn Đôn, Trần Văn Quang (Bảy
Tiến), Trương Chí
Cương (Tư Thuận), Lê Quang Thành (Tư Thành).
Hội
nghị bầu ra ban thường vụ gồm 6 người với chức vụ sau:
·
Nguyễn Văn Linh - Bí thư Trung ương
Cục miền Nam
·
Võ Chí Công - Phó bí thư Trung ương
Cục miền Nam
·
Phan Văn Đáng - Phó bí thư Trung
ương Cục miền Nam
·
Lê Quang Thành - Ủy viên thường vụ
·
Phạm Văn Xô - Ủy viên thường vụ
·
Trần Lương - Ủy viên thường vụ
Nguyễn
Đôn và Trương Chí Cương được cử làm Bí thư và Phó Bí thư Khu V. Đặc biệt hội
nghị quyết định thành lập các T1, T2, T3, T4... thay cho các liên tỉnh ủy trước
kia; quyết định chuyển căn cứ từ Mã Đà về bắc Tây Ninh. Lúc này Mặt trận Dân
tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã thành lập ngày 20 tháng 12 năm 1960 nhưng
chưa có lãnh tụ, do đó hội nghị tập trung chỉ đạo việc giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Việc giải
thoát thành công tại Phú Yên (đêm 30 tháng 10 năm 1961, tại mộ
bà Du Ký vùng chân núi Chóp Chài, Tuy Hòa), vào cuối tháng 11 năm 1961, luật sư
Nguyễn Hữu Thọ về đến bắc Tây Ninh.
Ngày 1 tháng 1 năm 1962,
Trung ương Cục miền Nam ra tuyên bố thành lập Đảng Nhân dân Cách
mạng Việt Nam, và công bố cương lĩnh hoạt động của mình.
Tháng 2 năm 1962 Đại
hội lần thứ I Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được tổ chức
và luật sư Nguyễn Hữu
Thọ được bầu làm chủ tịch.
Năm
1963, Trần Văn Trà (Tư Chi)
vào thay Trần Văn Quang ra Trung ương.
Cuối
năm 1963, Lê Đức Anh (Sáu Nam)
rời Hải Phòng vào Nam
nhận nhiệm vụ Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Miền.
Tháng
10 năm 1964, Nguyễn Chí Thanh được
Trung ương cử vào làm Bí thư Trung ương Cục, kiêm Bí thư Quân ủy Miền. Ông
truyền đạt nghị quyết Trung ương 9 khóa III, điều chỉnh lại công tác tổ chức
chỉ đạo, từ đó Trung ương Cục miền Nam phụ trách trực tiếp từ Khu VI (gồm Lâm Đồng, Bình Thuận, Ninh Thuận) trở vào đến Cà Mau (tức địa bàn B2). Từ Ninh Thuận trở
ra do Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo. Phân công Võ Chí Công về khu V làm Bí
thư Khu ủy, kiêm Chính ủy quân khu.
Đầu
năm 1965, Trần Độ (Chín Vinh)
và Lê Quang Thành (Tư Thành) được Trung ương cử vào bổ sung thêm cho Trung ương
Cục.
Tháng
7 năm 1967, Nguyễn Chí Thanh đột ngột qua đời do bị đau tim. Tháng 10 năm
1967, Phạm Hùng, Ủy viên Bộ
Chính trị, được Trung ương cử vào thay thế. Tiếp đến, Hoàng Văn Thái (Mười
Khang), Ủy viên Trung ương Đảng, được Trung ương tăng cường vào làm Phó Bí thư
Trung ương Cục miền Nam, kiêm Phó Bí thư Quân ủy Miền.
Đầu
năm 1968, Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ
Chính trị, được Trung ương bổ sung vào làm Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam,
nhưng đến tháng 5 năm 1968 được chuyển sang công tác ngoại giao. Vào thời kỳ
này Nguyễn Văn Linh kiêm
thêm Bí thư Khu trọng điểm gồm Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và một số huyện của các tỉnh phụ
cận.
Trung
ương cục Miền Nam thời điểm năm 1969: Phạm Hùng (Bí thư), Hoàng Văn Thái,
Nguyễn Văn Cúc, Trần Văn Trà, Trần Nam Trung, Trần Độ, Lê Trọng Tấn, Đồng Văn
Cống, Lê Đức Anh, Nguyễn Hữu Xuyến, Nguyễn Thị Định, Lê Chấn (Lê Văn Tưởng),
Đào Sơn Tây, Hai Giá.
Ngày
6 tháng 6 năm 1969, tại căn cứ Tà Nốt, Bắc Tây Ninh, Đại hội đại biểu quốc dân
toàn miền Nam đã họp và bầu ra Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm
Chủ tịch. Hậu thuẫn cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
là: Mặt trận Dân
tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt
Nam (Mặt trận 2), cùng các đoàn thể cách mạng do Trung ương Cục
miền Nam lãnh đạo.
Ngày
2 tháng 9 năm 1969, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ cùng đoàn Trung ương Cục miền Nam ra
viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau đó Nguyễn
Hữu Thọ ở lại miền Bắc cho đến sau ngày giải phóng miền Nam.
Tháng
3 năm 1973, Hoàng Văn Thái cùng
đoàn do Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam Nguyễn Văn Linh dẫn đầu ra Bắc dự
hội nghị, sau hội nghị Hoàng Văn Thái ở lại miền Bắc nhận nhiệm vụ mới.
Nghị
quyết số 247-NQ/TW, ngày 29/9/1975 Hội nghị lần thứ hai mươi tư của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định giải thể Trung ương Cục miền
Nam, giải thể các Khu uỷ ở cả hai miền, đồng thời, thành lập Ban đại diện Trung
ương Đảng và Chính phủ ở miền Nam, một hình thức tổ chức làm việc để thực hiện
sự chỉ đạo tại chỗ của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính ph
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét