ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP - DANH TƯỚNG THẾ KỶ
20
Bí
thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng Chiến dịch Điện Biên Phủ là Đại tướng Võ Nguyên
Giáp, Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (được thụ phong năm
1948), một trong những người đầu tiên sáng lập ra Đội Việt Nam Tuyên truyền
Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này.
Ông
là vị tướng tài ba chưa từng học qua bất cứ trường lớp quân sự nào nhưng đã
nhiều lần giành thắng lợi trên cương vị chỉ huy của các chiến dịch lớn trước
đó. Ông là một nhà quân sự đã vận dụng tài giỏi chiến thuật chiến tranh du
kích; là người lập kế hoạch và trực tiếp chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ năm
1954. Chiến dịch đó đã giành thắng lợi vang dội “chấn động địa cầu”.
Cuối
năm 1953, đầu năm 1954, kế hoạch đánh tập đoàn cứ điểm lịch sử Điện Biên Phủ
được ta ráo riết chuẩn bị theo phương thức “đánh nhanh, thắng nhanh”. Đây là
trận đánh đầu tiên Quân đội ta sử dụng đại bác 105 ly và pháo cao xạ, nên tinh
thần bộ đội rất phấn chấn. Hầu hết các đồng chí trong Đảng ủy mặt trận, Bộ Chỉ
huy Chiến dịch và các chuyên gia nước ngoài đều có chung ý kiến: Cần đánh ngay
trong lúc địch chưa tăng cường thêm quân và củng cố công sự. Nếu không đánh
sớm, địch tăng cường lực lượng, tập đoàn cứ điểm sẽ trở nên quá mạnh và nếu không
đánh nhanh sẽ khó giải quyết vấn đề tiếp tế, vì tuyến đường từ hậu phương ra
tiền tuyến quá xa.
Tuy
nhiên, với con mắt của một thiên tài quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận
ra những khó khăn, sự mạo hiểm của phương thức đánh này: “Nhiều người cho rằng
sự xuất hiện lần đầu của lựu pháo và cao xạ sẽ làm quân địch choáng váng, nhưng
chúng ta chỉ có vài ngàn viên đạn. Đặc biệt mọi người đều tin vào khí thế của
bộ đội khi xuất quân, tin vào sức mạnh tinh thần. Nhưng sức mạnh tinh thần cũng
có những giới hạn. Không phải chỉ với sức mạnh tinh thần cao mà lúc nào cũng
chiến thắng quân địch! Chúng ta cũng không thể giành chiến thắng với bất kể giá
nào, vì phải giữ gìn vốn liếng cho cuộc chiến đấu lâu dài”. Bám sát trận địa và
theo dõi sát sao mọi diễn biến của chiến trường, Đại tướng đã nhận ra ba khó
khăn lớn mà chúng ta đang phải đối mặt:
“Thứ
nhất, bộ đội chủ lực ta đến nay chỉ tiêu diệt cao nhất là tiểu đoàn địch tăng
cường, có công sự vững chắc ở Nghĩa Lộ. Ở Nà Sản, chúng ta mới đánh vào vị trí
tiểu đoàn, dưới tiểu đoàn, công sự dã chiến nằm trong tập đoàn cứ điểm, vẫn có
những trận không thành công, bộ đội thương vong nhiều.
Thứ
hai, trận này, tuy ta không có máy bay, xe tăng, nhưng đánh hiệp đồng binh
chủng bộ binh, pháo binh với quy mô lớn lần đầu mà lại chưa qua diễn tập. Vừa
qua có trung đoàn xin trả lại pháo vì không biết phối hợp thế nào.
Thứ
ba, bộ đội ta từ trước tới nay chỉ quen tác chiến ban đêm, ở những địa hình dễ
ẩn náu. Chủ lực ta chưa có kinh nghiệm công kiên ban ngày trên trận địa bằng
phẳng, với một kẻ địch có ưu thế về máy bay, pháo binh và xe tăng. Trận đánh sẽ
diễn ra trên một cánh đồng dài 15km và rộng 6-7km...
Tất
cả mọi khó khăn đó đều chưa được bàn bạc kỹ và tìm cách khắc phục.
Nhưng
giải quyết ra sao? Pháo binh đã vào vị trí, các đại đoàn đều có mặt ở tuyến
xuất phát xung phong. Quyết định hoãn trận đánh một lần nữa sẽ tác động tới
tinh thần bộ đội như thế nào...?
Tôi
nhận thấy phải cho các đơn vị rút khỏi trận địa để nghiên cứu một cách đánh
khác, dù bộ đội có thắc mắc. Phải chuyển từ phương án “đánh nhanh, thắng nhanh”
sang “đánh chắc, tiến chắc.” (trích “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử”).
Trước
đó, khi quân ta đang chuẩn bị kéo pháo vào trận địa, Đại tướng đã hết sức băn
khoăn trước phương án “đánh nhanh, thắng nhanh”, nhưng chưa có đủ cơ sở thực tế
để bác bỏ phương án này. Ông cũng đã tranh thủ ý kiến của các đồng chí trong Bộ
chỉ huy Chiến dịch và chuyên gia quân sự nước bạn, nhưng không nhận được sự
đồng thuận. Lần này, khi đã có những luận cứ thực tế, Đại tướng đã quyết định
tổ chức cuộc họp Đảng ủy mặt trận để trưng cầu ý kiến và quyết định phương thức
đánh.
Trong
cuộc họp này, sau khi ghi nhận tất cả các ý kiến, Đại tướng đã nêu ra tất cả
những khó khăn và nhắc lại lời căn dặn của Bác trước khi lên đường đi chiến
dịch: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không
chắc thắng không đánh. Vì nếu thua thì hết vốn”. Với sự phân tích thấu đáo của
Đại tướng, Đảng ủy đã đi tới nhất trí, nếu thực hiện phương thức “đánh nhanh,
thắng nhanh” trận đánh có thể gặp nhiều khó khăn mà ta chưa có biện pháp cụ thể
để khắc phục và Đại tướng đi đến kết luận: “Để đảm bảo nguyên tắc cao nhất là
“đánh chắc thắng” cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ “đánh nhanh, thắng
nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh
cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết và kéo pháo ra”.
Quyết
định này thực sự là một đòn cân não đối với Đại tướng. Bao nhiêu mồ hôi xương
máu của bộ đội, bao nhiêu tiền của của nhân dân đã đổ ra để mở 82km đường và kéo
pháo vào trận địa, nay lại nhận được lệnh kéo pháo ra, làm sao không tác động
mạnh tới tinh thần anh em binh sĩ? Trước đó, trận đánh đã phải lui lại 5 ngày
(từ ngày 20 lùi lại ngày 25-1-1954) do việc kéo pháo vào trận địa gặp khó khăn,
nay lại tiếp tục hoãn mà chưa ấn định được thời gian mở màn chiến dịch, tư
tưởng bộ đội sẽ ra sao? Việc thay đổi cách đánh có thể ảnh hưởng đến sinh mệnh
chính trị của người cầm quân, nhưng vì mục tiêu cuối cùng là chắc thắng, vì nếu
mạo hiểm có thể “nướng” hàng ngàn binh sĩ trên chảo lửa chiến trường một cách
vô ích, nên Đại tướng đã đi đến quyết định cuối cùng kéo pháo ra trận địa sau
11 ngày đêm trăn trở suy nghĩ.
Thắng
lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ mang đậm dấu ấn của ông trong việc tạo thế, tổ
chức hậu cần, thay đổi chiến thuật. Sau Chiến dịch này, Hiệp định Geneva về
Đông Dương được ký kết, đặt dấu chấm hết cho sự có mặt của người Pháp ở Việt
Nam sau hơn 80 năm.
Là
một người có tài tổ chức và kiên nhẫn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng bước
xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam từ 34 người vào tháng 12-1944 thành một đội
quân với hơn một triệu người năm 1975. Là một nhà chiến lược - chiến thuật bậc
thầy, ông đã lãnh đạo quân đội giành thắng lợi trong cả hai cuộc chiến tranh.
Tên tuổi của Đại tướng gắn liền với một chiến thắng có ý nghĩa quốc tế của Quân
đội nhân dân Việt Nam trong trận Điện Biên Phủ - lần đầu tiên quân đội của một
nước thuộc địa châu Á đánh bại trên chiến trường quân đội của một cường quốc
châu Âu.
Với
hơn 50 năm tham gia hoạt động chính trị ở cấp cao, trong đó có 30 năm là Tổng
tư lệnh Quân đội, ông có uy tín lớn trong Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Quân
đội và trong nhân dân, được coi là một trong những học trò xuất sắc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh và là Người anh cả của Quân đội nhân dân.
Ông
được cả thế giới biết đến như một trong những danh tướng của thế kỷ 20 - người
đã đánh bại nhiều viên tướng quân đội Pháp trong kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược và lần lượt đọ sức với nhiều danh tướng của quân đội Hoa Kỳ trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét