Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2024

Từ chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến khát vọng xây dựng nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc hiện nay

Chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đảng ta kế thừa, vận dụng xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Trong bối cảnh mới hiện nay, nhiệm vụ tiếp tục quán triệt giá trị chân lý trên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công cuộc đổi mới đất nước, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc.

Giá trị thời đại của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ thiên tài, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc. Suốt những năm tháng hoạt động cách mạng, Người luôn một lòng phục vụ Tổ quốc và nhân dân, để lại cho đất nước Việt Nam một sự nghiệp cao cả cùng hệ thống di sản tri thức, tinh thần vô giá. Một trong những quan điểm quan trọng, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là quan điểm “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, đó là chân lý, kết quả của sự kế thừa và phát triển những giá trị tư tưởng truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, kế thừa và tiếp thu tinh hoa nhân loại; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng nhất của mỗi quốc gia - dân tộc. Mỗi khi nền độc lập, tự do của nước nhà bị xâm phạm thì khối đại đoàn kết toàn dân càng trở nên mạnh mẽ, gắn kết, sẵn sàng đồng lòng một ý chí, kiên quyết đứng lên chiến đấu đến cùng để giữ vững và bảo vệ nền độc lập mà chúng ta có quyền được hưởng. Độc lập, tự do không phải tự nhiên mà có mà phải tự thân vận động “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, nắm lấy quyền tự quyết định vận mệnh của chính bản thân mình. Do đó, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là mệnh đề hành động, là tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc thúc giục toàn dân đứng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” cũng là mệnh đề đấu tranh, đấu tranh cho chân lý, cho vận mệnh Tổ quốc. Mệnh đề đấu tranh này của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc và được Đảng ta kế thừa, từ đó, áp dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, định hướng nhân dân tiến hành cách mạng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Thực tế cách mạng Việt Nam cho thấy, từ khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng và giành được nhiều thắng lợi trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách đô hộ của thực dân Pháp và chế độ phong kiến ở nước ta, đưa nhân dân ta vào vị thế người dân của một nước độc lập, tự do, là người làm chủ vận mệnh nước nhà. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, trước quốc dân đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ở thời khắc quan trọng mang tính bước ngoặt của lịch sử dân tộc, Người đã khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Khẳng định trên của Người là một chân lý thể hiện ý chí kiên cường, bất khuất và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam,... có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và thời đại sâu sắc.

Thực dân Pháp, với tất cả âm mưu và thủ đoạn, đã quyết tâm cướp nước ta thêm một lần nữa. Dân tộc Việt Nam, với tinh thần yêu nước, đoàn kết một lòng chống giặc ngoại xâm được đặt dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã làm nên một Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Chiến thắng Điện Biên Phủ nói riêng và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung đã tạo cơ sở để tiếp tục sự nghiệp bảo vệ và phát triển thành quả của Cách mạng Tháng Tám, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Bắc, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trong vòng gần một thế kỷ; đồng thời, đó là đòn giáng mạnh mẽ vào hệ thống thực dân, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới. Tuy nhiên, nhân dân ta vẫn chưa thể dành toàn tâm, toàn trí thực hiện công cuộc xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, bởi lẽ đế quốc Mỹ đã dựng nên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam hòng phá vỡ Hiệp định Giơ-ne-vơ, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định lại, rõ hơn rằng: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Tính đúng đắn trong các luận điểm này của Người đã được thể hiện rõ trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Giá trị của độc lập, tự do được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Lời kêu gọi nhân dân cả nước quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, ngày 17-7-1966, Người nhấn mạnh: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đó là lời hịch kêu gọi toàn dân tộc Việt Nam chung một tấm lòng, sẵn sàng cùng nhau vượt qua khó khăn, thách thức; là một cuộc vận động lớn để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, củng cố niềm tin, siết chặt đội ngũ để đi vào giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trường kỳ, không chỉ của dân tộc Việt Nam, mà của cả nhân loại tiến bộ trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”. Ngày 30-4-1975, chúng ta đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối, biến khát vọng về độc lập, tự do, hòa bình của cả dân tộc trở thành hiện thực.

Sưu tầm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét