Thời gian qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính
trị, Ban Bí thư đã ban hành, chỉ đạo ban hành nhiều quy định về kiểm
tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, bảo đảm khá đầy đủ, toàn diện, tạo
cơ sở chính trị, pháp lý quan trọng để cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban
kiểm tra các cấp thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và
thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên, góp phần
kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có hiệu quả.
Các quy định, quy chế, hướng
dẫn về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được sửa đổi, bổ sung, ban hành
bảo đảm đồng bộ, thống nhất và chặt chẽ hơn, xác định rõ hơn nội dung, đối
tượng kiểm tra, giám sát, làm cơ sở để xem xét, đánh giá, kết luận, xác
định trách nhiệm của tập thể, cá nhân vi phạm và nâng cao chất lượng, hiệu
lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Qua đó, góp phần từng
bước kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội
bộ, tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, “tư duy nhiệm kỳ”, tha
hóa quyền lực trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.
Thực hiện các quy định của
Đảng, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, công tác kiểm tra,
giám sát, kỷ luật của Đảng đã có bước tiến mới, với những kết quả rất quan
trọng, mang tính đột phá. Việc xử lý kỷ luật đảng đối với tổ chức đảng và
đảng viên vi phạm được thực hiện nghiêm minh, công khai, không
có “vùng cấm”, không có ngoại lệ. UBKT Trung ương tích cực đổi
mới hoạt động kiểm tra, giám sát, chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời phát
hiện dấu hiệu vi phạm. Tăng cường công tác giám sát với cách làm mới (trong đó
có hoạt động xác minh...); theo dõi địa bàn, khai thác tài liệu các cơ quan
liên quan. Lựa chọn những vấn đề trọng tâm, trọng điểm để kiểm tra, đáp ứng yêu
cầu, nhiệm vụ và những vấn đề gây bức xúc trong xã hội. Chỉ tiến hành kiểm tra
theo chức năng, nhiệm vụ, đó là kiểm tra việc chấp hành quy chế làm việc, thực
hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy,
tổ chức đảng. Tập trung kiểm tra, phát hiện vấn đề trọng tâm, nhanh chóng kết
luận, xử lý, tạo niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Kiên quyết,
khách quan, chính xác, không suy diễn; đề cao đối thoại với đối tượng bị kiểm
tra. Xem xét kỷ luật phải công tâm, khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể,
chính xác, thấu tình, đạt lý. Tăng cường kiểm tra các tổ chức đảng, đảng viên ở
cấp huyện và cơ sở khi có dấu hiệu vi phạm (cách cấp); kịp thời tiến hành kiểm
tra lại các vụ việc dư luận quan tâm, UBKT cấp dưới đã kiểm tra nhưng chưa đáp
ứng yêu cầu. Thường trực UBKT Trung ương chủ động và có quyết tâm chính trị cao
trong chỉ đạo kiểm tra, giám sát, gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ; thường
xuyên nghe các đoàn kiểm tra, giám sát báo cáo và kịp thời định hướng, chỉ đạo,
tạo sự thống nhất trong quá trình kiểm tra, giám sát. Thực hiện việc công khai
kết quả các phiên họp của UBKT Trung ương. Chú trọng tuyên truyền trên báo chí
về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng.
UBKT Trung ương đã tập trung
kiểm tra làm rõ, kết luận nhiều vi phạm nghiêm trọng, quyết định kỷ luật, đề
nghị kỷ luật nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, trong đó có cả
những cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, lãnh đạo chủ chốt
các địa phương, đơn vị, cả đương chức và nghỉ hưu, khắc phục tư tưởng “hạ cánh
an toàn” trong cán bộ, đảng viên. Nhiều vụ việc phức tạp, tồn đọng, kéo dài, dư
luận quan tâm đã được xem xét, kết luận và xử lý nghiêm minh, có tác dụng cảnh
báo, răn đe đối với cán bộ, đảng viên, góp phần tăng cường kiểm soát quyền lực
trong Đảng.
Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII
của Đảng đến tháng 6-2023, cấp ủy các cấp đã kiểm tra 114.878 tổ chức đảng và
619.030 đảng viên, trong đó có 136.864 cấp ủy viên các cấp; giám sát 85.117 tổ
chức đảng và 282.471 đảng viên, trong đó có 82.495 cấp ủy viên. Qua giám sát,
phát hiện 407 tổ chức đảng và 1.264 đảng viên có dấu hiệu vi phạm; chuyển kiểm
tra khi có dấu hiệu vi phạm 47 tổ chức đảng và 201 đảng viên. UBKT các cấp tăng
cường kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, đã kiểm tra 6.873 tổ chức đảng và
20.824 đảng viên, trong đó có 10.162 cấp ủy viên các cấp, chiếm 48,8% số đảng
viên được kiểm tra; giám sát 59.854 tổ chức đảng và 86.678 đảng viên, trong đó
có 52.350 cấp ủy viên các cấp, chiếm 60,4% số đảng viên được giám sát.
Qua kiểm tra, giám sát, thi
hành kỷ luật đảng, có thể thấy, nội dung vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên
chủ yếu là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; thiếu trách
nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, dẫn đến xảy ra
các vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai, khoáng sản, tài chính, tài sản, thực
hiện dự án đầu tư; và vi phạm về phẩm chất đạo đức, lối sống… Đáng chú ý là vi
phạm còn xảy ra ở cả các lĩnh vực nhạy cảm, như thực hiện chính sách nhân đạo,
an sinh xã hội, y tế, giáo dục… Có trường hợp từng là cán bộ lãnh đạo bộ, ngành
đã bị kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng do có những bài viết, phát ngôn trái với
Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước, suy
thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tính chất, mức
độ, hậu quả của các vi phạm ngày càng lớn, có những vụ việc gây thiệt hại rất
lớn về tiền, tài sản của Nhà nước; nhiều vi phạm diễn ra trong một thời gian
dài, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành nhưng không được phát hiện, kiểm tra
kịp thời, dẫn đến khi xử lý để lại hậu quả rất nặng nề.
UBKT Trung ương đã tham mưu với
Ban Bí thư ban hành 24 quy chế phối hợp giữa UBKT Trung ương và các cơ quan, tổ
chức đảng có liên quan, tham mưu về phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Đảng
với thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử ngày càng chặt
chẽ, đồng bộ, hiệu quả hơn, hạn chế sự chồng chéo trong thực hiện chức năng,
nhiệm vụ, thẩm quyền; kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong lãnh đạo,
quản lý để đề xuất bổ sung, sửa đổi các văn bản có liên quan cho phù hợp. Việc
công khai kết luận kiểm tra và xử lý vi phạm đối với tổ chức đảng, đảng viên
trên các phương tiện thông tin đại chúng đã có tác động tích cực, góp phần giáo
dục cán bộ, đảng viên, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Cùng với kỷ luật của
Đảng, các cơ quan nhà nước cũng tiến hành kỷ luật hành chính tương xứng, bảo
đảm kịp thời, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng và kỷ luật của Nhà nước; kỷ luật
của Đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho kỷ luật của Nhà nước, kỷ luật của
đoàn thể và xử lý hình sự. Đây là bước đột phá trong công tác kiểm tra, giám
sát, kỷ luật của Đảng, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong
bộ máy nhà nước.
Đặc biệt, việc kiểm tra, giám
sát, đôn đốc công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tăng cường, nhiều
cấp ủy, tổ chức đảng đã đưa công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thành
nhiệm vụ trọng tâm của công tác kiểm tra, giám sát. Theo thống kê bước đầu,
trong hơn 10 năm qua, cấp ủy, UBKT các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 3.700 tổ
chức đảng, hơn 213.000 đảng viên, trong đó có hơn 8.760 đảng viên bị kỷ luật do
tham nhũng hoặc liên quan đến tham nhũng, hơn 700 đảng viên bị kỷ luật do vi
phạm về kê khai tài sản, thu nhập. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, UBKT
Trung ương đã kỷ luật gần 220 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý. Riêng từ đầu
nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật 95 cán bộ thuộc diện Trung
ương quản lý, cao hơn 8 lần so với nhiệm kỳ Đại hội XI (11 cán bộ) và gần bằng
số cán bộ cao cấp bị xử lý kỷ luật của cả nhiệm kỳ Đại hội XII (113 cán bộ).
Phải xử lý kỷ luật cán bộ là
điều không ai mong muốn, là điều không khỏi đau xót, nhưng là việc không thể
không làm. Thực tế xử lý kỷ luật cán bộ cao cấp vi phạm vừa qua cho thấy, nhìn
một cách tổng thể công tác cán bộ của Đảng được quy định rất chặt chẽ và khoa
học, nhất là việc đề bạt, cất nhắc, luân chuyển cán bộ thuộc diện Trung ương
quản lý phải qua nhiều bước, nhiều cơ quan, ban, ngành ở Trung ương xem xét,
thẩm định. Do đó, không thể có lỗ hổng về quy trình, quy định. Phải chăng lỗ
hổng ở đây là do tổ chức, cá nhân thực hiện các quy trình, quy định đó tạo ra,
là sự thiếu trách nhiệm, nể nang, né tránh, là lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm
của những người có thẩm quyền, trách nhiệm đánh giá, nhận xét, luân chuyển, bổ
nhiệm cán bộ? Vì thế, cần tăng cường kiểm tra, giám sát nội bộ Đảng, ngăn chặn,
phòng ngừa vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên, phát hiện và khắc phục ngay
những thiếu sót, khuyết điểm khi mới manh nha; bảo đảm cho Đảng ta, trước hết
là các cơ quan lãnh đạo và cán bộ lãnh đạo của Đảng luôn kiên định về chính trị,
vững vàng về đường lối, không chệch hướng, có phẩm chất cách mạng tốt, ngăn
chặn, đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Quan
điểm chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư và UBKT Trung ương trong việc xử lý cán
bộ sai phạm là rất dứt khoát, bởi nếu không kịp thời ngăn chặn được sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sự “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” thì sẽ ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Cách thức tiến hành của UBKT
Trung ương trong xem xét các vụ việc và xử lý trách nhiệm những tập thể, cá
nhân có khuyết điểm liên quan trong thời gian vừa qua được dư luận và cán bộ,
đảng viên đánh giá cao. Việc công khai thông tin thể hiện sự cương quyết, trách
nhiệm và thẳng thắn trong xử lý cán bộ sai phạm, cho dù đó là cán bộ ở cấp nào,
đương chức hay nghỉ hưu. Cách thức công khai như vậy cũng cần được áp dụng ở cả
cấp địa phương khi xem xét xử lý cán bộ sai phạm để tạo niềm tin trong nhân
dân. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ
luật đảng thời gian qua còn không ít khuyết điểm, hạn chế. “Việc tự kiểm tra,
phát hiện và xử lý vi phạm của nhiều cấp ủy, tổ chức đảng vẫn là khâu yếu; còn
nhiều tổ chức đảng và đảng viên có vi phạm nhưng chưa được phát hiện kịp
thời... Công tác giám sát ở các cấp chưa thường xuyên, có nơi, có lúc chưa thực
chất, phạm vi, đối tượng còn hẹp... Việc thi hành kỷ luật đảng ở một số nơi
chưa nghiêm, còn hiện tượng nể nang, ngại va chạm”. Việc thực hiện các nguyên
tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa
nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ,
“lợi ích nhóm”, “trông chờ, nghe ngóng”, “nhẹ trên, nặng dưới” hoặc bao che sai
phạm của các địa phương, cơ quan, đơn vị. Công tác tự kiểm tra, giám sát của
một số cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị để phòng ngừa, ngăn chặn, đấu
tranh xử lý tiêu cực, sai phạm liên quan đến tham nhũng, kinh tế còn hạn chế.
Đặc biệt, việc
kiểm soát quyền lực của cấp ủy và UBKT các cấp
nhằm phòng ngừa sự lợi dụng quyền hạn trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra,
giám sát vẫn chưa thực sự được quan tâm, chú trọng. Trên thực
tế, có nhiều biểu hiện lợi dụng quyền hạn trong thực thi nhiệm vụ kiểm tra,
giám sát chưa được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, như nhận hối lộ,
nhận quà biếu; tự ý tiếp xúc với đối tượng kiểm tra, giám sát; sử dụng các tài
liệu thẩm tra, xác minh, kết quả kiểm tra, giám sát để trục lợi; bao che, “bỏ
qua” hành vi vi phạm của đối tượng vi phạm; làm sai lệch kết quả kiểm tra, giám
sát gây bất lợi hoặc có lợi cho đối tượng kiểm tra, giám sát... Các biểu hiện
tha hoá quyền lực xuất hiện với nhiều hình thức, mức độ khác nhau rất đa dạng,
tinh vi song mục đích chính vẫn là trục lợi – tức là tham nhũng (cả về vật chất
và phi vật chất); dùng quyền lực tác động không đúng, “ưu ái” với một số đối
tượng thân quen hoặc lợi dụng vị trí công tác để thao túng, thâu tóm quyền lực
của tập thể, của người khác trái quy định nhằm trục lợi, “chỉ một cá nhân có
thể thâu tóm, thao túng cả tập thể”, hoặc “năng lực, bộ máy, quyết tâm không
thiếu nhưng vẫn không phát hiện và xử lý được tham nhũng”? Như vậy, phải chăng
có vấn đề “lợi ích nhóm” và có sự dung túng, bao che, tiếp tay của cán bộ, đảng
viên có chức vụ, quyền hạn? Lợi ích càng lớn thì sự tha hoá quyền lực càng
nhanh, mạnh và quyết liệt, dữ dội hơn. Thực tế cho thấy, một khi luật pháp lỏng
lẻo hay quyền lực ít được giám sát, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, đầy đủ thường
xuyên thì sự tha hoá quyền lực càng biểu hiện công khai, trắng trợn hơn!
Sưu tầm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét