Đại hội VI của Đảng khẳng định
tiếp tục thực hiện đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối
xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa do các Đại hội IV và Đại hội V của Đảng
đã xác định. Đồng thời chỉ rõ: “Ngày nay đã có những điều kiện để hiểu đầy đủ
hơn về con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”[1]. Đại
hội khẳng định: “Từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua thời kỳ
quá độ là một tất yếu khách quan và độ dài của thời kỳ đó phụ thuộc vào điều kiện
chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước”[2]. Thời kỳ quá độ do tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất
nhỏ “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đương nhiên phải rất lâu dài
và rất khó khăn”[3]. Do đó, cần phải “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ
tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng, thực hiện
công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là những nội dung cơ bản của đường lối cách mạng
của Đảng ta”[4]. Đảng đã xác định “chặng đường đầu tiên” một bước quá độ nhỏ trong “bước
quá độ lớn”. Nhiệm vụ chủ yếu của chặng đường đầu tiên là “xây dựng những tiền
đề chính trị, kinh tế, xã hội cần thiết để triển khai công nghiệp hóa, hiện đại
hóa xã hội chủ nghĩa trên qui mô lớn”[5].
Cương
lĩnh 1991 đã tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta là quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đồng thời, nêu 7
phương hướng: một là, xây dựng Nhà nước
xã hội chủ nghĩa của nhân dân do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng Cộng
sản lãnh đạo; thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương
xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân
dân; hai là, phát triển lực lượng sản
xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại gắn với phát triển nền nông
nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tam nhằm nâng cao năng xuất lao động và cải
thiện đời sống nhân dân; ba là, thiết
lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa; bốn là, tiến hành cách mạng
tư tưởng - văn hóa làm cho thế giới quan chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội; năm là, thực hiện chính sách Đại đoàn kết dân tộc; chính sách đối
ngoại hòa bình, hợp tác và phát triển; sáu
là, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Sau
đó, các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị tiếp tục bổ
sung, phát triển và cụ thể hóa các quan điểm, phương hướng cơ bản. Đến Đại hội
IX, Đảng đã chỉ rõ thực chất quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống
trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp
thu, kế thừa những thành tựu mà nhân dân đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là về khoa học và
công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”[6]. Để tạo ra sự biến đổi về chất của chế độ xã hội
trên tất cả các lĩnh vực tất yếu phải trải qua thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều
chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ. Lần đầu
tiên, Đảng ta đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa”.
Cương
lĩnh (bổ sung và phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là
khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam
và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp xu thế phát triển của lịch sử”[7]; chỉ
rõ “mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng được về cơ bản nền
tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư
tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ
nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”[8]. Xác định mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI “phấn đấu xây dựng nước ta trở
thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[9].
Cương lĩnh cũng chỉ ra các phương hướng cơ bản đi lên chủ nghĩa xã hội: Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường;
hai là, phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa; ba
là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con
người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và
an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; năm
là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp
tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết
toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tám là, xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh”[10].
Trong
quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản đó, phải đặc biệt chú trọng nắm vững
và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: “quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát
triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định
hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn
thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và
phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa
độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân
dân làm chủ… không phiến diện, cực đoan, duy ý chí”[11].
[1]
Đảng
Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập,
Tập 47, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,2006, tr.374.
[3] Sđd, tr.374.
[4] Sđd, tr.374.
[5] [5]
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng
toàn tập, Tập 47, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,2006,
tr.374.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 47,
Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,2006, tr.84.
[8] Sđd, tr.71.
[9] Sđd, tr.71.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 47,
Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,2006, tr.71.
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,2011, tr.72
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét