Thứ Hai, 17 tháng 8, 2020
Tái diễn thủ đoạn phao tin COVID-19 để chống phá Nhà nước
Tái diễn thủ đoạn phao tin COVID-19 để chống phá Nhà nước
Cảnh giác trước trò lôi kéo của tà đạo “Thanh Hải vô thượng sư”
Cảnh giác trước trò lôi kéo của tà đạo “Thanh Hải vô thượng sư”
Cần nhận diện đúng các vấn đề về chủ quyền Biển Đông
Cần nhận diện đúng các vấn đề về chủ quyền Biển Đông
Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2020
Ý NGHĨA CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Thời kỳ 1930-1945, cách mạng Việt Nam đã có đội tiên phong lãnh
đạo là Đảng Cộng sản với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, đưa cách mạng nước ta
phát triển theo xu thế của thời đại đã được mở ra từ Cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tháng Mười Nga năm 1917.
Quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền đã diễn
ra với 3 cao trào cách mạng có ý nghĩa như 3 cuộc tổng diễn tập chuẩn bị cho
cuộc Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền về tay nhân dân: Cao trào cách mạng
1930-1931 mà đỉnh cao là Xô Viết-Nghệ Tĩnh, cao trào đấu tranh đòi dân sinh,
dân chủ (1936-1939) và cao trào giải phóng dân tộc dẫn tới Cách mạng Tháng Tám
1945 (1939-1945). Đó là quá trình đấu tranh cách mạng vô cùng khó khăn, gian
khổ của Đảng và dân tộc ta và đã giành được những thắng lợi vẻ vang.
Thực tiễn 15 năm đấu tranh cách mạng giành chính quyền, Đảng và
nhân dân đã đặt ra và giải quyết thành công nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cơ
bản trong đường lối chiến lược và sách lược, bảo đảm cho phong trào cách mạng
phát triển đúng hướng, phát huy sức mạnh của cả dân tộc.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật xâm lược, xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mở ra thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công dẫn đến sự ra đời nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – Nhà
nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đó là sự kiện quan trọng bậc nhất trong
lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc. Đó cũng là thắng lợi đầu tiên của Chủ
nghĩa Mác - Lênin ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, thắng lợi của tư tưởng
Hồ Chí Minh. Đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình của thế kỷ XX.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Do sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của
Đảng, do sức mạnh đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài mặt trận
Việt Minh, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thắng lợi”; “Chẳng những giai cấp lao
động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân
tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong
lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15
tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.
Chủ lực
PHÁT HUY SỨC MẠNH NỘI LỰC VÀO CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã tạo nên bài học quý báu về phát huy sức mạnh nội lực. Trước hết, thông qua phát huy sức mạnh nội lực từ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Quá trình đó, nhờ đoàn kết thống nhất, Đảng đã phát huy trí tuệ, xác định đường lối chính trị đúng đắn; thường xuyên làm tốt công tác tư tưởng và xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng; tăng cường công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng từ “thành thị đến thôn quê” và tổ chức thực hiện cương lĩnh, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng để bảo đảm cho Đảng luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đồng thời, luôn cảnh giác đề phòng nghiêm ngặt và kiên quyết loại ra khỏi Đảng những phần tử giả danh cộng sản chui vào Đảng để phá hoại. Chính vì thế, chỉ với 5.000 đảng viên, Đảng không chỉ phát huy sức mạnh to lớn của một tổ chức Mácxit chân chính mà còn tập hợp, huy động được sức mạnh nội lực của toàn dân tộc trong Mặt trận Việt Minh tạo sức mạnh như nước vỡ bờ, triều dâng sóng dềnh biển cả, nhấn chìm bè lũ cướp nước và bán nước.
Bằng
tinh thần quảng giao trong quan hệ quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh “làm bạn
với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”, Việt Nam chủ
động, tích cực hội nhập quốc tế, đã có quan hệ với 189 nước và đã là thành viên
của rất nhiều tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và quốc tế. Việt Nam đã hai lần
được bầu làm Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (2008-2009
và 2020-2021). Năm 2020, Việt Nam làm Chủ tịch luân phiên ASEAN và đến nay đã
tham gia nhiều tổ chức và diễn đàn quốc tế, trở thành một thành viên tích cực,
có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Điều đáng chú ý là mới đây, chúng ta được
Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu với số phiếu tín nhiệm rất cao, gần như tuyệt
đối, lần thứ hai trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp
quốc. “Với những thành tựu to lớn đã đạt được, chúng ta có cơ sở để khẳng định
rằng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như
ngày nay”. Đây là những thành quả tất yếu từ quá trình phát huy sức mạnh nội
lực của cả dân tộc Việt Nam.
Để
tiếp tục phát huy sức mạnh nội lực của dân tộc, tận dụng cơ hội, vượt qua nguy cơ,
thách thức, Đảng nhấn mạnh phải khơi dậy tinh thần yêu nước, đây là một trong
những giá trị, thuận lợi cơ bản để phát huy tối đa sức mạnh nội lực của dân tộc
Việt Nam. Đồng thời, phải nhận thức đúng và xử lý tốt các nhân tố tạo thành
động lực tổng hợp để đổi mới và hội nhập, kết hợp hài hòa các lợi ích; phát huy
lòng yêu nước, tinh thần dân tộc; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc và phát huy nhân tố con người. Quá trình đó, đòi hỏi tăng cường xây
dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Theo đó, trước hết và trên hết
là thực hiện nhiệm vụ “then chốt” xây dựng, chỉnh đốn Đảng vững mạnh về chính
trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác xây
dựng, chỉnh đốn Ðảng theo tinh thần Nghị quyết Ðại hội XII của Ðảng và Nghị
quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XII về Tăng cường xây dựng,
chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gắn
với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về Đẩy mạnh học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện quyết liệt cuộc
đấu tranh phòng, chống tham nhũng, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ.
Phải
nhận thức đúng và xử lý tốt các nhân tố tạo thành động lực tổng hợp để đổi mới
và hội nhập, kết hợp hài hòa các lợi ích; phát huy lòng yêu nước, tinh thần dân
tộc; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy nhân tố
con người.
Đặc
biệt coi trọng xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đổi mới chính sách giai cấp,
chính sách xã hội, nhất là đổi mới, hoàn thiện chính sách dân tộc, chính sách
tôn giáo, chính sách đối với công nhân, nông dân, trí thức, với cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài, chính sách đối với các thành phần kinh tế, phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm huy động sức mạnh nội lực cho sự nghiệp
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Tiếp
tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 9 khóa
XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu
cầu phát triển bền vững đất nước, trong đó chú trọng xây dựng lòng yêu
nước, với mục tiêu đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách
nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất
nước.
Hơn
nữa, trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, để khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, trong chính sách đại đoàn kết
phải chú ý phát huy tính năng động của mỗi người, mỗi bộ phận để mọi việc từ
lãnh đạo, quản lý, đến sản xuất kinh doanh, học tập và lao động đều có năng
suất, chất lượng, hiệu quả ngày càng cao. Đồng thời, phải khắc phục những mặt trái
của kinh tế thị trường, nhất là tâm lý chạy theo đồng tiền, cạnh tranh không
lành mạnh làm phai nhạt truyền thống đoàn kết, tình nghĩa tương thân, tương ái
của dân tộc.
Cùng
với các biện pháp trên, trong điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc
tế, phát huy tối đa sức mạnh nội lực dân tộc còn đòi hỏi phải củng cố sự đoàn
kết với phong trào cách mạng các nước trên thế giới. Thực hiện chính sách ngoại
giao mềm dẻo, có nguyên tắc theo phương châm Việt Nam là bạn, là đối tác tin
cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và
phát triển… Thực hiện “thêm bạn bớt thù” trong hội nhập quốc tế, góp phần biến
sức mạnh ngoại lực thành sức mạnh nội lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
75 năm trôi qua, bài học phát huy sức mạnh nội lực trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã tồn tại với thời gian và chính thời gian đã làm cho giá trị lịch sử, giá trị hiện thực của bài học đó thêm sâu sắc và bền vững, tiếp tục toả sáng, định hướng cho việc phát huy cao độ sức mạnh nội lực của dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.
SỨC MẠNH NỘI LỰC - YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH LÀM NÊN THẮNG LỢI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Với tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” khi thời cơ đến vào giữa tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh nội lực của hơn 20 triệu người dân Việt Nam đã được phát huy. Chỉ trong vòng nửa tháng, đã làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám, giành chính quyền về tay nhân dân trên phạm vi cả nước.
Cách
mạng Tháng Tám năm 1945 đã tạo nên bài học quý báu về phát huy sức mạnh nội
lực. Trước hết, thông qua phát huy sức mạnh nội lực từ sự đoàn kết thống nhất
trong Đảng. Quá trình đó, nhờ đoàn kết thống nhất, Đảng đã phát huy trí tuệ,
xác định đường lối chính trị đúng đắn; thường xuyên làm tốt công tác tư tưởng
và xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng; tăng cường công tác xây dựng hệ thống
tổ chức Đảng từ “thành thị đến thôn quê” và tổ chức thực hiện cương lĩnh, đường
lối, chủ trương chính sách của Đảng để bảo đảm cho Đảng luôn vững mạnh về chính
trị, tư tưởng và tổ chức. Đồng thời, luôn cảnh giác đề phòng nghiêm ngặt và
kiên quyết loại ra khỏi Đảng những phần tử giả danh cộng sản chui vào Đảng để
phá hoại. Chính vì thế, chỉ với 5.000 đảng viên, Đảng không chỉ phát huy sức
mạnh to lớn của một tổ chức Mácxit chân chính mà còn tập hợp, huy động được sức
mạnh nội lực của toàn dân tộc trong Mặt trận Việt Minh tạo sức mạnh như nước vỡ
bờ, triều dâng sóng dềnh biển cả, nhấn chìm bè lũ cướp nước và bán nước.
Cùng với phát huy sức mạnh nội lực từ sức mạnh của khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, sức mạnh nội lực của Cách mạng Tháng Tám còn được phát huy cao độ từ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng biết tin dân, dựa vào dân, hiểu thấu dân tâm, quy tụ nhân tâm và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp hài hòa giữa ý Đảng với lòng dân. Với quan điểm “Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ 5, 7 người giết 2, 3 anh vua, 9, 10 anh quan mà được” và “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”, trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng xác định quyền lợi của bộ phận của giai cấp phải đặt dưới sự tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Vì thế, để đoàn kết sức mạnh của toàn dân tộc, tháng 5/1941, Mặt trận Việt Minh ra đời đã hướng tới việc mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quy tụ và phát huy cao độ sức mạnh nội lực của dân tộc cho một cuộc hồi sinh vĩ đại./.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự kiện có tầm vóc thời đại
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một trong những thắng lợi nổi bật, vĩ đại nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX.
Thắng lợi này đã mở ra kỷ nguyên mới
trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội; đồng
thời để lại những bài học kinh nghiệm trong quá trình đấu tranh cách mạng dưới
sự lãnh đạo của Đảng, trong đó có bài học phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn
dân tộc.
Ngược dòng lịch sử để trở về những
ngày mùa thu Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của 75 năm trước để ôn lại những bài
học lịch sử quý báu còn nguyên giá trị đến ngày nay là việc làm cần thiết để
kết nối giữa quá khứ với hiện tại.
Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc
PGS, TS Đỗ Xuân Tuất, Phó viện
trưởng Viện Hồ Chí Minh và các Lãnh tụ của Đảng khẳng định: Cách mạng Tháng Tám
là thành quả của một quá trình đấu tranh lâu dài, kiên cường, bất khuất của
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc-Hồ Chí Minh. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám là minh chứng sinh
động của thắng lợi trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, của tư tưởng Hồ Chí
Minh, cho thấy nội dung, giá trị tư tưởng của Người về giải phóng và phát
triển, nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con
người của Hồ Chí Minh.
Theo PGS, TS Đỗ Xuân Tuất, Cách mạng
Tháng Tám là cuộc cách mạng điển hình được tiến hành bằng sức mạnh của toàn dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua mặt trận Việt Minh-hình ảnh trung tâm của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc và của Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Lời hiệu triệu của
Chủ tịch Hồ Chí Minh “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn thể
đồng bào ta hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta” chính là tiếng gọi
của non sông, là lời hịch sống dậy tài dân và sức dân từ trong chiều sâu lịch
sử của dân tộc ngàn năm văn hiến với dòng chảy chủ lưu là truyền thống yêu
nước.
Về tinh thần dân tộc thể hiện trong
sự đoàn kết để chiến thắng kẻ thù xâm lược, PGS, TS Phạm Hồng Chương, nguyên
Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các Lãnh tụ của Đảng cho rằng: Toàn bộ tinh
thần dân tộc được tích lũy trong tiến trình lịch sử và tiếp tục nhân lên trong
gần một thế kỷ oanh liệt chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phát xít và chế độ
phong kiến để đưa tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Tất cả tinh thần dân
tộc được tích hợp trong tiến trình đó lại hội tụ ở Hồ Chí Minh rồi tỏa sáng
trong Bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo để tuyên bố trước thế giới về
sự ra đời của nước Việt Nam mới-nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Khẳng định về sức mạnh của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Thạc sĩ Bùi Thế Đông
(Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch) nhấn mạnh: Chủ trương đoàn
kết, tập hợp lực lượng của Mặt trận Việt Minh góp phần quan trọng vào việc
chuẩn bị lực lượng cách mạng, chuyển cách mạng Việt Nam sang thời kỳ cao trào
và tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Có thể nói, Mặt
trận Việt Minh ra đời là đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm thực
hiện chiến lược đoàn kết toàn dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám. Chính nhờ việc
xây dựng có hệ thống vững chắc, rộng khắp, các tổ chức quần chúng yêu nước
trong Mặt trận Việt Minh mà cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền diễn ra
thuận lợi, nhanh chóng và ít đổ máu.
Nhận định thắng lợi của Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 là minh chứng của một cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, thể
hiện tinh thần đoàn kết của nhân dân ta, chị Nguyễn Vân Anh (Khu Di tích Chủ
tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch) nhấn mạnh: Đây là cuộc cách mạng điển hình
về tinh thần chủ động, sáng tạo, biết tranh thủ thời cơ chung, tự mình đứng lên
giải phóng cho mình; đồng thời cũng cho thấy những quyết định đúng đắn, sáng
tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người không chỉ hoạch định đường lối, xây dựng lý
luận cách mạng giải phóng dân tộc đi tới chủ nghĩa xã hội mà còn là người tổ
chức, kiến tạo phong trào cách mạng, tìm đường, mở đường, dẫn đường và định
hướng sự phát triển của đất nước trong tương lai.
Theo Giám đốc Khu Di tích Chủ tịch
Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch Nguyễn Văn Công, Cách mạng Tháng Tám năm 1945
thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - Nhà nước công nông đầu tiên
ở khu vực Đông Nam Á, đã đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại trong tiến trình
phát triển của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả
đấu tranh kiên cường, bền bỉ, anh dũng của nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo
tài tình, sáng suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự vận dụng sáng tạo
Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam.
Phát huy giá trị tinh thần của Cách
mạng Tháng Tám
Tự hào được hàng ngày làm việc tại
nơi đã ghi dấu chân Người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc-Chủ tịch Hồ Chí Minh, chị
Trần Ngọc Lan (Khu Di tích Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch)
bày tỏ: Mùa thu Tháng Tám lịch sử mãi là những trang sử hào hùng, ghi dấu
truyền thống đấu tranh anh hùng, bất khuất, biểu tượng sáng ngời ý chí quật
khởi của cả dân tộc còn vang dội đến hôm nay và mai sau, là động lực tiếp thêm
sức mạnh và niềm tin chiến thắng để thế hệ hôm nay được sống trong hòa bình,
viết tiếp trang sử vẻ vang của đất nước. Quá khứ hào hùng và âm vang lịch sử từ
mùa Thu năm 1945 vọng về trở thành điểm tựa tinh thần cho đất nước ta vững vàng
trên con đường hội nhập và phát triển bền vững, xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội.
75 năm nhìn lại, thế hệ ngày nay
càng hiểu hơn về sự kiện vĩ đại nhất của những ngày mùa Thu Tháng Tám, càng
thấy rõ hơn giá trị của độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất để thấy rõ trách
nhiệm của thế hệ trẻ là giữ vững và phát huy tinh thần hào hùng ấy vào trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đồng quan điểm với đồng nghiệp Trần
Ngọc Lan, chị Cao Thanh Huyền (Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ
tịch) nhấn mạnh: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự kiện có tầm vóc thời đại,
có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với các dân
tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên thế giới vùng lên đấu tranh
giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Ý nghĩa và tầm vóc vĩ đại của
Cách mạng Tháng Tám không chỉ đóng khung trong một thời điểm, không gian nhất
định mà ngày càng lan tỏa cao rộng hơn cùng với tiến trình phát triển của đất
nước. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những trang sử vẻ
vang nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Giá trị to lớn và ý nghĩa đặc biệt
sâu sắc của Cách mạng Tháng Tám và Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945-văn bản
pháp lý đặt cơ sở cho việc thiết lập Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, với mục
tiêu độc lập-tự do-hạnh phúc, khơi nguồn sáng tạo và soi sáng con đường cách
mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Mùa thu Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mãi mãi là một trang sử vàng sáng chói. Nhìn lại quá hào hùng để tưởng nhớ công lao to lớn, vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới đồng thời góp phần lan tỏa giá trị to lớn cũng như ý nghĩa đặc biệt sâu sắc của Cách mạng Tháng Tám và Bản Tuyên ngôn Độc lập./.
Ảnh: Bức tranh vẽ lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII quyết định đặt nhiệm vụ giải
phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh tại Cao Bằng tháng
5-1941 trưng bày trong triển lãm chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh-Người sáng lập
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” tại Khu Di tích Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí
Minh tại Phủ Chủ tịch.
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỘC LẬP, DÂN TỘC
Cách mạng Tháng Tám (CMT8) có giá trị vĩ đại không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại. Thế nhưng hiện nay, vẫn có thế lực từ bên ngoài với tâm địa đen tối, bằng những lập luận thiếu tử tế hòng xuyên tạc và phủ định giá trị của CMT8.
Họ cho rằng
không cần phải làm CMT8 vì với xu thế chính trị sau Chiến tranh thế giới thứ
hai, thực dân Pháp rất muốn và sẽ tự trao trả độc lập cho Việt Nam. Hơn nữa, họ
còn cho rằng dân tộc Việt Nam cũng không cần độc lập mà cứ là một thuộc địa của
Pháp thì sẽ phát triển hơn. Đáng buồn và đáng giận là vẫn có những người Việt
Nam thuộc thế hệ sau được hưởng thành quả từ xương máu của thế hệ đi trước,
nhưng vì thiếu hiểu biết, suy nghĩ nông cạn đã bị ảnh hưởng từ những thông tin
sai trái, để rồi có những lời lẽ vô ơn khi nhắc tới CMT8.
Đầu tiên cần
phải khẳng định, thắng lợi của CMT8 năm 1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong
lịch sử của dân tộc ta, đất nước ta. Thắng lợi này đã chính thức chấm dứt ách
đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp đối với nước ta, mở ra kỷ nguyên độc lập,
lần đầu tiên tên nước Việt Nam có trên bản đồ thế giới, với tư cách và vị thế
của một quốc gia-dân tộc độc lập, có chủ quyền. Về ý nghĩa vĩ đại của CMT8, Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: “Lịch sử dân tộc ta có nhiều thời kỳ rất vẻ
vang. Nhưng trước ngày CMT8, dân tộc ta đã phải trải qua gần một thế kỷ vô cùng
tủi nhục. Trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xóa nhòa dưới bốn chữ “Đông
Dương thuộc Pháp”. Thực dân Pháp gọi đồng bào ta là lũ Annamít dơ bẩn. Thiên hạ
gọi chúng ta là vong quốc nô... CMT8 thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra đời. Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Nhân dân ta tự làm chủ vận
mạng của mình. Tên tuổi của nước ta lại lừng lẫy khắp năm châu, bốn biển”(1).
CMT8 cũng trở thành nguồn động viên to lớn để nhiều dân tộc thuộc địa đứng lên
giành độc lập.
Thực tế là Việt
Nam giành chính quyền từ tay phát xít Nhật chứ không phải từ thực dân Pháp. Bản
Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc nêu rõ rằng, thực dân Pháp “đã
bán nước ta hai lần cho Nhật”. Đó là "mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến
xâm lăng Đông Dương... thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta
rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật". Rồi ngày
9-3-1945, phát xít Nhật đã đảo chính, hất cẳng thực dân Pháp không chỉ ở Việt
Nam mà toàn cõi Đông Dương. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu
hàng. Sau đó, phát xít Nhật đã dựng lên một chính phủ bù nhìn do Trần Trọng Kim
đứng đầu. Chính phủ này chỉ tồn tại trên giấy, không làm gì và cũng không thể
làm gì. Mọi quyền hành đều trong tay phát xít Nhật.
Như thế, câu
chuyện thực dân Pháp trả độc lập, tự do cho Việt Nam là điều hoàn toàn nực cười
cả về pháp lý, đạo lý và thực tế lịch sử. Vì người ta không thể “cho” hay “trả”
cái mà người ta không có.
Và thực dân
Pháp có muốn trả độc lập, tự do dân tộc Việt Nam không?
Thực dân Pháp
không bao giờ muốn! Lịch sử đã cho thấy rõ ràng! Khi thế cuộc của Chiến tranh
thế giới thứ hai đã rõ ràng với chiến thắng của phe Đồng minh, thực dân Pháp đã
có mưu đồ quay trở lại xâm lược nước ta. Ngay sau khi nước ta giành độc lập,
thực dân Pháp theo chân quân Mỹ, Anh vào Nam Bộ để giải giáp quân Nhật. Ngày
23-9-1945, quân Pháp bất ngờ tấn công để lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ
tại Nam Bộ. Nam Bộ bị quân Pháp dìm trong bể máu. Độc lập, tự do của nhân dân
ta ở Nam Bộ chỉ không đầy một tháng lại bị thực dân Pháp tước đi. Cả Nam Bộ
đứng lên kháng chiến để đánh đuổi quân Pháp. Sau khi tấn công chiếm Nam Bộ,
Pháp tiếp tục đưa quân ra miền Bắc, liên tục khiêu khích, đòi tước vũ khí của
Quân đội ta. Nhiều lần Chính phủ ta đã tỏ thiện ý thương lượng, đàm phán, với
sự nhân nhượng vì mong muốn duy trì hòa bình, tránh đổ máu cho dân tộc nhưng
không thể được trước tâm địa đen tối của thực dân Pháp quyết cướp nước ta một
lần nữa. Quân Pháp quyết gây chiến tranh khi liên tiếp gây ra các vụ thảm sát
tại Hải Phòng và Hà Nội.
Sau đó, ngày
18-12-1946, thực dân Pháp gửi hai tối hậu thư liên tiếp, đòi tước vũ khí của
Quân đội ta. Đến ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Lời kêu gọi Toàn
quốc kháng chiến. Cả dân tộc đứng lên trường kỳ kháng chiến 9 năm để đánh đuổi
thực dân Pháp, kết thúc bằng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Hiệp định
Geneva được ký kết. Thế nhưng thực dân Pháp rút đi thì đế quốc Mỹ cũng ngay lập
tức thế chân tại miền Nam, với mưu đồ biến miền Nam nước ta thành thuộc địa
kiểu mới và để từ đó tấn công phá hoại miền Bắc. Lịch sử đã chứng minh rằng,
các nước thực dân, đế quốc luôn muốn đặt ách thống trị tại Việt Nam, không bao
giờ muốn nước ta được độc lập, nhân dân ta được tự do. Từ khi Chủ tịch Hồ Chí
Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, dân tộc ta đã phải anh dũng, kiên cường chiến
đấu suốt 30 năm nữa, đổ bao xương máu mới có được độc lập, tự do, thống nhất
trên cả nước.
Ấy thế mà ngày
nay, vẫn có những kẻ muốn lừa bịp giới trẻ, vẽ ra ảo tưởng thực dân, đế quốc
tốt bụng, sẽ trao trả độc lập, tự do cho dân tộc ta, đem lại sung sướng, hạnh
phúc cho nhân dân ta và chúng ta chẳng cần phải làm gì, chỉ trông chờ vào sự
tốt bụng đó.
Nguy hiểm hơn,
có những người mang dòng máu Việt Nam lại gieo rắc luận điệu cho rằng, nước ta
chẳng cần độc lập để làm gì, mà cứ giữ là thuộc địa của Pháp có khi lại phát
triển hơn, đời sống người dân sung sướng hơn. Luận điệu ấy chắc chắn chỉ có
trong đầu óc của những kẻ thiếu tử tế và thiếu nhân cách. Suy nghĩ ấy là của
những kẻ luôn muốn ăn bám và tư duy lệ thuộc. Đó là những kẻ không xứng đáng
đứng trước tổ tiên để nhận mình là con cháu Việt Nam. Lịch sử oanh liệt hàng
nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc cho thấy ý thức, khát vọng độc lập,
tự chủ đã ăn sâu vào máu của mỗi người Việt Nam. Người Việt Nam, dân tộc Việt
Nam sẵn sàng chiến đấu, hy sinh chứ quyết không chịu đặt dưới ách cai trị của
dân tộc khác. Dân tộc Việt Nam cũng không chịu để kẻ thù cướp đi bất cứ tấc đất
nào của cha ông để lại.
Khi đọc những
lời lẽ hùng hồn trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh bất ngờ dừng lại và hỏi: “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?”. Và cả triệu
người đồng thanh đáp lại vang dội: “Có!”. Trong giờ phút ấy, chắc hẳn từ vị Chủ
tịch nước cho tới từng người dân đều xúc động nghẹn ngào, nhiều giọt nước mắt
đã rơi... Tại Sài Gòn (nay là TP Hồ Chí Minh), do hạn chế về kỹ thuật, không
thể tiếp sóng phát thanh trực tiếp lời Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Lễ tuyên ngôn
độc lập từ Quảng trường Ba Đình, do đó, ông Trần Văn Giàu, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ,
Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Nam Bộ, Chủ tịch Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ
đã được đề nghị lên phát biểu. Trong phát biểu của mình, ông Trần Văn Giàu cũng
nêu rõ:
“Việt Nam từ
một xứ thuộc địa đã trở thành một nước độc lập... Việt Nam đương tiến bước trên
đường sống”. Ông cũng đã chỉ rõ mưu toan của thực dân Pháp: “Kẻ địch toan tính
một cuộc âm mưu gác lại ách nô lệ trên cổ 25 triệu đồng bào”. Ông đã hỏi những
người dự lễ: “Đồng bào ở đây có ai thừa nhận một quan toàn quyền cai trị xứ ta
không? Có ai chịu bó tay để cho chế độ thực dân-ra mặt hay giấu mặt-trở lại
không?”. Sau mỗi câu hỏi của ông, cả triệu người đồng thanh đáp lại: “Không!
Không! Không!” vang dội cả góc trời. Thay mặt hàng triệu người dân Nam Bộ, ông
Trần Văn Giàu nói lên quyết tâm bảo vệ Tổ quốc: “Chúng ta thề cương quyết đứng
bên cạnh Chánh phủ, chống mọi sự xâm lăng, dầu chết cũng cam lòng”(2).
Chính vì ý
thức, khát vọng độc lập, tự do rất mãnh liệt như vậy nên dù trải qua bao thăng
trầm của lịch sử, dân tộc ta vẫn giữ được bản sắc của mình, không bị đồng hóa
như rất nhiều dân tộc khác trên thế giới này đã từng tồn tại và biến mất.
Cái ý nghĩ,
mong muốn nhờ vào ngoại bang để có được hạnh phúc, phồn vinh đã bị không chỉ
lịch sử Việt Nam mà còn là lịch sử nhân loại chứng minh sự sai lầm. Suy nghĩ
sai lầm tai hại ấy không chỉ làm cho nhiều thế hệ hào kiệt, nhiều nhà cách mạng
tiền bối của Việt Nam phải sa cơ, thất bại mà còn làm cho con đường cứu nước, giải
phóng dân tộc của chúng ta kéo dài. Phải đến khi nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc
tìm được con đường cứu nước chân chính, đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
và lãnh đạo cách mạng Việt Nam thì sự nghiệp giải phóng dân tộc mới đi đúng
hướng. Trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã
viết: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến.
Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
“Đem sức ta mà
tự giải phóng cho ta” chính là thể hiện tinh thần, ý thức tự chủ, tự lực, tự
cường của cuộc CMT8. Đó chính là phương thức cứu nước đúng đắn mà thế hệ trước
đã tìm ra, đã thực hiện thành công và trao truyền lại cho thế hệ những người
Việt Nam tiếp theo. Ngày nay, bài học vô giá phải trả bằng máu đó phải được
tiếp tục khắc cốt ghi tâm trong những người con mang dòng máu Việt Nam. Dân tộc
ta không thể phó mặc, không thể trông chờ vào bất cứ dân tộc nào, quốc gia nào
để bảo vệ chủ quyền đất nước, để được độc lập, tự do. Dân tộc ta cũng không thể
trông chờ vào bất cứ dân tộc, quốc gia nào để được hạnh phúc, phồn vinh, phát
triển. Chúng ta trước hết phải dựa vào sức mình! Bằng tinh thần đoàn kết, bằng
trí tuệ, ý chí, sức lực, lòng dũng cảm của mình, chắc chắn chúng ta sẽ làm được
điều đó! Dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam sẽ trường tồn!
Đã gần 75 năm
kể từ ngày lời Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang vọng trên Quảng
trường Ba Đình. Việt Nam của chúng ta ngày nay đã rất khác xưa, đã là một đất
nước độc lập, tự do, thống nhất, hòa bình, hạnh phúc và đang ngày càng phát
triển. Với vị thế quốc gia của mình, Việt Nam có tiếng nói ngày càng có trọng
lượng trên trường quốc tế, được bạn bè quốc tế lắng nghe, tin tưởng và nể
trọng. Tất cả thực tế đó đã chứng minh những luận điệu xuyên tạc về CMT8 là
hoàn toàn sai trái, không thể có chỗ đứng trong lòng những người Việt Nam chân
chính và nhân loại có lương tri.
Ngày 19-8-1945, sau cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát lớn, quần chúng nhân dân Thủ đô đã đánh chiếm Bắc Bộ phủ, cơ quan đầu não của chính quyền tay sai Pháp ở Bắc Bộ. Cách mạng Tháng Tám mở ra một thời đại mới ở Việt Nam - thời đại nhân dân Việt Nam làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của chính mình./.
Tổng khởi nghĩa tháng Tám và câu chuyện “Có ngày 17 mới có ngày 19”.
Đó là nhìn nhận của ông Lê Đức Vân, cựu thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu, nguyên Ủy viên thanh vận Hà Nội, người được giao lãnh đạo khởi nghĩa ở ngoại thành những ngày tháng 8 năm 1945. Bởi lẽ trước ngày 17/8 phong trào Việt Minh đã lớn mạnh, rất nhiều cuộc đấu tranh trực diện với quân thù đã diễn ra ở khắp Hà Nội. Ngoài việc giải truyền đơn, áp phích, phá kho thóc thì tiến hành nhiều hoạt động công khai, diễn thuyết xung phong “ủng hộ Việt Minh đả đảo bù nhìn”, ủng hộ độc lập khởi nghĩa diễn ra ở nơi đông người như: chợ, trường học, rạp chiếu bóng, rạp hát. Ông kể, cứ ở nơi đông người thì chúng ta lại trực tiếp diễn thuyết công khai cho nên ảnh hưởng của Việt Minh là rất rộng, gần như mọi người ở Hà Nội đều ngả sang ủng hộ Việt Minh. “Sau khi Chánh thanh tra Bắc Kỳ bị bắn, lực lượng phản động run hết, nhân dân nội ngoại thành biết tin đó bảo Việt Minh giỏi quá, và tất cả cùng hoạt động công khai, lúc đó ảnh hưởng của Việt Minh rất lớn. Khi ấy, Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim thấy tình hình bất lợi mới tổ chức một cuộc mít tinh để lên dây cót lấy lại tinh thần. Cuộc mít tinh tổ chức vào ngày 17/8 ở Nhà hát Lớn”- ông Vân nhớ lại. Cũng theo ông Lê Đức Vân: “Chúng tôi được lệnh của Thành ủy là tất cả các hội viên cứu quốc tham gia mít tinh hết. Tham gia cuộc mít tinh không phải là để dự mà đi phá cuộc mít tính đó, và biến nó thành cuộc mít tinh của mình. Cho nên chúng tôi huy động tất cả các đoàn viên, thanh niên cứu quốc, phụ nữ, mỗi người mang theo một lá cờ đỏ con, sao vàng bằng giấy và giao cho một tổ có nhiệm vụ lên chiếm diễn đàn. Khi cuộc mít tinh vừa bắt đầu xong thì anh Lê Phan (sau này là chiến sĩ Trường Sơn công tác tại Cục Công binh Trường Sơn) tiến lên cướp micro trao cho chị Kiều Trang Anh (thành viên của Đội cứu quốc thành Hoàng Diệu) lúc đó mới 17 tuổi nói vo rất nhanh khoảng 5-10 phút rằng: Chính quyền bù nhìn đã tan rã, bây giờ mọi người hãy ủng hộ Việt Minh, tổng khởi nghĩa giành độc lập. Cùng lúc đó có một lá cờ đỏ sao vàng rất to do anh Trần Lâm (nhà báo lão thành cách mạng lúc đó đang là đội viên Đội tuyên truyền xung phong nội thành Hà Nội thuộc Mặt trận Việt Minh) buông xuống. Ngay sau đó, một thành viên trong đội danh dự đã lấy từ trong người ra lá cờ đỏ sao vàng to, có cán, quay đầu hô “tiến lên”. Do anh đứng ở cuối đoàn nên khi quay đầu trở thành người dẫn đường. Những người tham dự mít tinh cũng xoay người đi theo. Cả đoàn nhằm hướng Tràng Tiền mà đi. Đến đâu, người dân từ hai bên đường ra gia nhập đến đó. Vừa đi mọi người vừa hô “Ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Việt Minh, Việt Nam độc lập”. Cuộc mít tinh của Chính phủ Trần Trọng Kim đã nhanh chóng biến thành biểu tình, tuần hành của quần chúng cách mạng. Toàn bộ Hà Nội trừ cụ già và em nhỏ thì xuống đường hết và hoàn toàn theo Việt Minh. “Nhận thấy giờ khởi nghĩa đã đến nên ngay tối hôm đó, Ủy ban Quân sự cách mạng và Thành ủy Hà Nội đã họp mở rộng và quyết định tổng khởi nghĩa là ngày 19/8, không thể làm sớm ngay ngày hôm sau nhưng không thể chậm hơn được nữa”- cựu binh thành Hoàng Diệu Lê Đức Vân nhớ lại. Chiều ngày 17/8, tại làng Vạn Phúc – An toàn khu của Xứ ủy tại Hà Đông, ông Nguyễn Khang sau khi trực tiếp khảo sát tình hình Hà Nội trở về đã trao đổi với ông Trần Tử Bình – Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ và đi tới quyết định: Dựa trên Chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” tiến hành cho Hà Nội khởi nghĩa mà không cần chờ lệnh của Trung ương. Việc chớp thời cơ này thật táo bạo vì lúc đó Ủy ban khởi nghĩa chỉ dựa hoàn toàn vào sức mạnh của chính nhân dân Thủ đô, với các tổ tự vệ chiến đấu mà chưa có sự hỗ trợ của đội quân giải phóng từ Trung ương và các chiến khu. Sáng ngày 18/8, Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội chuyển trụ sở về số nhà 101 Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo). Các ủy viên tích cực chuẩn bị cho công việc sáng hôm sau. Sáng ngày 19/8/1945, cả Hà Nội vùng dậy dưới rừng cờ đỏ sao vàng với hàng nghìn nông dân, công nhân, dân nghèo, bằng những vũ khí thô sơ, cùng với hàng vạn quần chúng nhân dân ở khu vực ngoại thành kéo vào, xuống đường tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố. Cuộc mít tinh lớn chưa từng có của quần chúng cách mạng đã diễn ra, trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm Phủ khâm sứ, Trại lính Bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn. Họ vừa đi vừa hô khẩu hiệu: “Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim”; “Thành lập chính phủ dân chủ cộng hòa Việt Nam”; “Anh em binh lính hãy mang súng gia nhập hàng ngũ chiến đấu bên cạnh Việt Minh”; “Việt Nam hoàn toàn độc lập”. Chiều ngày 19/8, Hà Nội ngập tràn trong niềm vui thành công của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền, chính quyền đã về tay nhân dân./.
13 HÀNH VI VI PHẠM PHÒNG CHỐNG COVID19 VÀ MỨC PHẠT
1. Người không đeo khẩu trang nơi công cộng bị phạt tiền tối đa đến 300.000 đồng.
2. Người vứt
khẩu trang đã sử dụng không đúng nơi quy định tại nơi công cộng bị phạt tiền
tối đa đến 5.000.000 đồng, nếu vứt ra vỉa hè, đường phố bị phạt tối đa đến
7.000.000 đồng.
3. Người che
giấu tình trạng bệnh của mình hoặc của người khác khi mắc bệnh COVID-19 bị phạt
tiền tối đa đến 2.000.000 đồng
4. Không thực
hiện quyết định áp dụng biện pháp tạm đình chỉ hoạt động của cơ sở kinh doanh
dịch vụ ăn uống công cộng có nguy cơ làm lây truyền dịch bệnh tại vùng có dịch
thì bị phạt tiền tối đa đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân, 20.000.000 đồng
đối với tổ chức.
5. Không thực
hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình
chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng để phòng, chống dịch
COVID-19 thì bị phạt tiền tối đa đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân,
20.000.000 đồng đối với tổ chức.
6. Người không
thực hiện quyết định kiểm tra, giám sát, xử lý y tế trước khi ra vào vùng có
dịch bị phạt tiền tối đa đến 20.000.000 đồng.
7. Người nào
trốn khỏi nơi cách ly; không tuân thủ quy định về cách ly; từ chối, trốn tránh
việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly để phòng, chống dịch COVID-19
có thể bị xử phạt hành chính tối đa đến 10 triệu đồng hoặc bị xử lý theo Điều
240 Bộ luật Hình sự trong trường hợp gây truyền dịch bệnh cho người khác.
8. Hành vi trốn
khỏi nơi cách ly, không tuân thủ quy định về cách ly; từ chối, trốn tránh việc
áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly mà làm gây thiệt hại từ
100.000.000 đồng trở lên do phát sinh chi phí phòng, chống dịch bệnh COVID-19
thì bị xử lý theo Điều 295 Bộ luật Hình sự.
9. Người nào
khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối gây lây truyền dịch
bệnh COVID-19 cho người khác bị xử lý theo Điều 240 Bộ luật Hình sự.
10. Người nào
đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông thông tin giả mạo, thông tin sai sự
thật, thông tin xuyên tạc về tình hình dịch bệnh COVID-19 có thể bị phạt tiền
tối đa đến 15 triệu đồng hoặc bị xử lý theo Điều 288 Bộ luật Hình sự.
11. Người có
hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở người thi
hành công vụ trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 thì bị xử lý theo Điều 330
Bộ luật Hình sự.
12. Chủ cơ sở
kinh doanh, người quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ (như quán ba, vũ trường,
karaoke, dịch vụ mát xa, cơ sở thẩm mỹ…) thực hiện hoạt động kinh doanh khi đã
có quyết định tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh để phòng chống dịch bệnh
COVID-19, gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng trở lên do phát sinh chi phí phòng,
chống dịch bệnh thì bị xử lý theo điều 295 Bộ luật Hình sự.
13. Người có
hành vi lợi dụng sự khan hiếm hoặc tạo sự khan hiếm giả tạo trong tình hình
dịch bệnh COVID-19 để mua vét hàng hóa đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
công bố là mặt hàng bình ổn giá hoặc hàng hóa được Nhà nước định giá nhằm bán
lại để thu lợi bất chính thì bị xử lý theo quy định tại điều 196 Bộ luật Hình
sự./.
- Nguồn Bộ Y tế
PHÁT HUY TINH THẦN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC GIAI ĐOẠN MỚI
Sau khi thành lập ngày
3/2/1930, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân tiến hành ba cao trào cách mạng: Cao
trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, Cao trào
cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936-1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân
tộc (1939-1945). Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ
Chí Minh vĩ đại, ngày 19/8/1945 nhân dân ta đã giành thắng lợi trong cuộc tổng
khởi nghĩa “long trời, lở đất”, đập tan xiềng xích nô lệ hàng trăm năm của thực
dân, đế quốc, giành chính quyền về cho nhân dân. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba
Đình lịch sử, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Nhà nước công nông đầu
tiên ở Đông Nam châu Á.
Qua 75 năm, những bài học kinh
nghiệm quý giá của cuộc Cách mạng Tháng Tám luôn tạo nên sức mạnh nội lực cho
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác,
lập nên những kỳ tích vang dội trong thế kỷ XX và hai thập niên thế kỷ XXI. Đó là
thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp và can thiệp
Mỹ, kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ; đó là thắng lợi của cuộc
kháng chiến 21 năm chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất
Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội; đó là thắng lợi của hai cuộc
chiến tranh biên giới để bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ
quốc, đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi
họa diệt chủng và tiến hành công cuộc hồi sinh đất nước; đó là thắng lợi của sự
nghiệp đổi mới đất nước, vượt qua cơn “động đất chính trị” trên thế giới khi
chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, đưa hệ thống xã
hội chủ nghĩa trên thế giới lâm vào thoái trào, xây dựng đất nước từ đống tro
tan đổ nát của 30 năm chiến tranh; vượt qua mọi khó khăn bao vây, cấm vận, đưa
nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, tiến hành sự nghiệp đổi mới đạt
được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Những năm qua, dưới sự lãnh
đạo của Đảng, đất nước ta đã ra khỏi nhóm nước chậm phát triển và trở thành
nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang thực hiện mục tiêu đưa nước
ta phát triển trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa.
Năm nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ
niệm 75 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 trong bối cảnh tình hình thế
giới và trong nước có nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen, như: Trên thế giới
hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Kinh tế thế giới đang rơi
vào suy thoái do đại dịch COVID-19, nhưng các nước đang cố gắng vượt qua. Ở
trong nước, đại dịch COVID-19 cũng ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển kinh tế và
mọi mặt của đời sống xã hội, nhưng cả hệ thống chính trị đang tích cực vào cuộc
chống dịch và đồng thời phát triển kinh tế; tình hình chính trị - xã hội ổn
định, công tác xây dựng Đảng được đẩy mạnh, nhất là công cuộc phòng, chống tham
nhũng, lãng phí được triển khai quyết liệt và có hiệu quả theo tinh thần “không
có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “không ngừng nghỉ”. Do vậy niềm tin của các
tầng lớp nhân dân với Đảng ngày càng tăng lên. Quốc phòng, an ninh được tăng
cường. Công tác đối ngoại ngày càng nâng cao vị thế của nước ta trên trường
quốc tế. Từ 1/1/2020, nước ta đảm nhiệm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo
an Liên hợp quốc lần thứ hai với số phiếu cao 193/194 phiếu và Chủ tịch ASEAN.
Trước mắt, chúng ta cũng phải đối mặt còn
nhiều khó khăn, thách thức, như: Tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức
tạp, khó lường, nhất là căng thẳng giữa Mỹ - Iran và một số nước khác, tình
hình Biển Đông thời gian qua đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ phức tạp, trở thành
“điểm nóng” trên thế giới. Cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc
đang tác động tiêu cực đến kinh tế thế giới. Chủ nghĩa bảo hộ đang ảnh hưởng
đến tăng trưởng của kinh tế toàn cầu. Ở trong nước, tuy kinh tế tăng trưởng
nhiều năm liền cao nhưng năng suất, chất lượng, quy mô, sức cạnh tranh của nền
kinh tế còn thấp, thêm vào đó lại do tác động của đại dịch COVID-19 đang ảnh
hưởng nặng nề đến sự phát triển; tình trạng tham nhũng, tiêu cực còn diễn biến
phức tạp, khoảng cách giàu – nghèo ngày càng dãn rộng, phân hóa xã hội gia
tăng, đạo đức xã hội xuống cấp đáng lo ngại; biến đổi khí hậu, thiên tai, bão,
lụt, hạn hán diễn ra nhanh và phức tạp. Bốn nguy cơ: Chệch hướng XHCN, tụt hậu
xa hơn về kinh tế, tham nhũng và “diễn biến hòa bình” vẫn tồn tại, có mặt còn
gay gắt hơn, lại thêm bốn vấn đề bức xúc hiện nay về an toàn giao thông, an
toàn môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm và an toàn thông tin mạng đang là
những vấn đề “nóng” của xã hội hằng ngày, hằng giờ tác động, ảnh hưởng đến diễn
biến tư tưởng, sức khỏe, chất lượng cuộc sống và an toàn tính mạng của cán bộ,
nhân dân. Bên cạnh đó, các thế lực thu địch, phản động đẩy mạnh chống phá nền
tảng tư tưởng của Đảng bằng các thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta để phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng,
hòng làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Trước tình hình đó, phát huy thành quả của
Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp
tục kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để đưa đất nước ngày
càng phát triển, sánh vai với các nước phát triển trong khu vực và thế giới.
Chủ
lực




