Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2020

 

QUỐC KHÁNH 2-9, VIỆT NAM NHÌN VỀ TƯƠNG LAI

TỪ ĐẠI DỊCH.

           Ngày 2-9 năm nay, Việt Nam kỷ niệm 75 năm Quốc khánh. Đây là dịp để chúng ta nhìn lại, đánh giá lại những gì chúng ta đã làm được, chưa làm được. Nhưng quan trọng hơn là nhìn về những năm tới, Việt Nam phải làm gì?

Xin giới thiệu bài viết của GS Trần Văn Thọ:

Đối với quá trình phát triển của một đất nước, thời gian 75 năm là rất dài. Thông thường, nếu hoàn toàn ở trong thời bình và có chiến lược, chính sách đúng đắn thì chỉ cần 60 năm để một nước chậm tiến vươn lên địa vị của một nước tiên tiến.

Sau năm 1945, một số nước ở châu Á đã thực hiện quá trình vươn lên đó trong thời gian ngắn hơn, chỉ độ 40 năm.

Việt Nam ta từ năm 1945 đến nay, chiến tranh và đường lối phát triển sai lầm trước đổi mới đã làm mất đi hơn 40 năm, khoảng 30 năm gần đây mới thực sự bước vào quá trình phát triển. Kinh tế Việt Nam đã đạt mức thu nhập trung bình thấp từ 10 năm trước.

Từ đó chúng ta bàn luận làm sao để phát triển thành nước trung bình cao và sau đó tiếp tục vươn lên thành nước tiên tiến.

Để phác họa con đường phát triển tương lai, cho đến gần đây chúng ta thường tham khảo kinh nghiệm các nước đi trước, và dựa trên các khung mẫu lý luận đã được xác lập, dĩ nhiên có tính toán đến những thay đổi về khoa học, công nghệ, về địa chính trị, về phân công quốc tế...

Nhưng đại dịch Covid-19 đã làm thay đổi tất cả. Chúng ta phải thay đổi tư duy phát triển và vẽ ra một viễn cảnh mới về tương lai Việt Nam.
Thế giới "hậu corona" hay "với corona"?

Hiện nay chúng ta chưa biết bao giờ sẽ chấm dứt đại dịch virus corona, bao giờ sẽ có vắcxin để trị dịch và ngăn ngừa lây nhiễm. Thế giới sẽ bước vào giai đoạn "hậu corona" (post corona) hay sẽ phải sống chung với corona (with corona)?

Dù tính bất xác định còn cao, chưa biết tình hình sẽ triển khai theo hướng nào, nhưng có hai điều hầu như chắc chắn.

Một là dù đại dịch lần này có thể khắc phục nhưng trong tương lai rất có thể sẽ xảy ra các nạn dịch khác. Cho đến nay, loài người đã chứng kiến 4 lần đại dịch (thế kỷ 14, thế kỷ 15, năm 1918 và 2020) và nhiều lần khác với quy mô nhỏ hơn.

Do đó, ngay từ bây giờ chúng ta phải chủ động thiết kế một xã hội có thể sống chung với dịch, phải tích cực tìm ra sự chuyển hoán mới chứ không nên mong tình thế trở lại bình thường như trước.

Hai là qua đại dịch lần này chúng ta thấy được thế nào là một xã hội nhân văn, thế nào là cuộc sống chất lượng cao, một phương thức làm việc hợp lý...

Tổng hợp các yếu tố liên quan hai điểm trên, chủ động phác họa một xã hội lý tưởng, thích nghi với khả năng dịch bệnh tái phát và dựa trên những thay đổi về công nghệ, có thể nêu ra viễn ảnh của thế giới.

Thứ nhất, tính chất "tập trung" của hoạt động kinh tế, xã hội có hiệu quả làm tăng hiệu suất nhưng sẽ phải thay đổi để đối phó với dịch bệnh. Đô thị hóa, tập trung dân số sẽ chững lại hoặc phân tán về các địa phương.

Trong tương lai "tập trung vừa phải", quy mô vừa phải sẽ là hình mẫu của đô thị. Việc tiếp xúc giữa người với người phải bị hạn chế nên các ngành dịch vụ có tính cách tập họp đông người như vui chơi, ca nhạc, hội thảo... sẽ phải giảm hoặc chuyển sang hình thức "từ xa".

Thứ hai, phương thức làm việc sẽ thay đổi. Sẽ ngày càng có nhiều công việc, nhiều người làm việc tại nhà. Trên phạm vi quốc tế, người ở nước này có thể quản lý công việc tại nước khác, làm giảm nhu cầu di chuyển. Công nghệ thông tin, kỹ thuật số phát triển giúp cho phương thức làm việc tại gia, tại nơi mình ở thực hiện dễ dàng.

Thứ ba, trong mùa có dịch, cùng với số lượng lao động làm việc tại gia ngày càng đông, người lãnh lương hưu và nhiều người khác sẽ sinh hoạt ở nhà. Nhưng xã hội vẫn phải cần những người lao động làm việc ở bệnh viện và các cơ sở sản xuất. Đó là những lao động thuộc loại thiết yếu, là những người dấn thân vì cộng đồng, xã hội cần có biện pháp khích lệ và biết ơn họ.

Thứ tư, trong thời đại phải sống chung với dịch bệnh, sẽ có nhiều người do tính chất của nghề nghiệp họ không thể làm việc tại gia nhưng không thuộc loại lao động thiết yếu nói ở trên nên phải chịu thất nghiệp hoặc thu nhập rất thấp.

Chúng ta phải nghĩ đến biện pháp tái phân phối thu nhập để cứu giúp những người đó. Chẳng hạn Nhà nước đưa ra chính sách cung cấp thu nhập cơ bản cho tất cả mọi người ở dưới giới tuyến nghèo.

Thứ năm, thực phẩm và hàng hóa liên quan y tế ngày càng thiết yếu. Vì an ninh quốc gia, các nước sẽ ngày càng ưu tiên cung cấp cho các nhu yếu phẩm này. Chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa ưu tiên nước mình mà một số nước gần đây đã áp dụng sẽ có khuynh hướng mạnh hơn.

Thứ sáu, dịch bệnh Covid-19 có khuynh hướng làm yếu toàn cầu hóa. Lưu thông hàng hóa, dịch chuyển lao động bị hạn chế. Đặc biệt, lao động giản đơn di chuyển phải tập trung tại các cơ sở sản xuất nên dễ lây bệnh.

Để tránh rủi ro đó, các nước thiếu lao động sẽ tích cực dùng người máy trong những lĩnh vực có thể dùng được thay vì nhập khẩu lao động.

Công nghệ thông tin trong 25 năm qua đã thúc đẩy toàn cầu hóa (vì giảm chi phí kết nối quốc tế) nhưng bây giờ sẽ chuyển sang giai đoạn làm yếu toàn cầu hóa vì sẽ làm cho các dịch vụ, quản lý có thể thực hiện từ xa, không cần di chuyển lao động.

Con đường phát triển của VN trong thời đại mới

Theo tư duy cũ, con đường phát triển của một nước chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và sau đó sang thời đại hậu công nghiệp trong đó các ngành dịch vụ giữ vai trò chủ đạo. Trong công nghiệp lại có các giai đoạn từ công nghiệp nhẹ sang công nghiệp nặng và công nghiệp có hàm lượng chất xám, hàm lượng trí tuệ cao.

Trong quá trình phát triển đó, đô thị hóa và tập trung dân số, tập trung hoạt động kinh tế ngày càng mạnh. Theo tư duy này thì Việt Nam hiện nay đang ở trình độ giữa thu nhập trung bình thấp và trung bình cao, công nghiệp đang chuyển từ nhẹ sang nặng, và độ 15 năm nữa sẽ dần dần bước qua thời đại hậu công nghiệp.

Tuy nhiên thời đại sống chung với Covid-19 cùng với sự lớn mạnh của kinh tế số sẽ làm đảo lộn trật tự phát triển của tư duy cũ. Với tư duy mới, con đường phát triển của Việt Nam trong tương lai có thể phác họa như sau:

Thứ nhất, nông, công và dịch vụ hầu như đồng thời phát triển, không theo tuần tự như tư duy cũ. Nông ngư nghiệp phải được coi trọng hơn và kết hợp với công nghiệp, với kinh tế số và một số ngành dịch vụ (lưu thông, phân phối, tiếp thị...) để hiện đại hóa.

Việt Nam có lợi thế về tài nguyên nông ngư nghiệp, nên được tận dụng theo hướng hiện đại hóa sẽ vừa bảo đảm an ninh lương thực cho 100 triệu dân vừa xây dựng thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, cung cấp thực phẩm chất lượng cao cho thế giới.

Thứ hai, phải đặt lại vấn đề đô thị hóa và phát triển nông thôn. Nếu tiền đề là dịch bệnh còn kéo dài hoặc chấm dứt nhưng về lâu dài có khả năng tái phát thì phải xây dựng đô thị theo mô hình khác với tư duy cũ.

Mật độ dân số phải thấp hơn, đường sá rộng rãi hơn, công viên nhiều hơn. Giao thông công cộng như tàu điện, xe buýt cũng phải thiết kế theo hướng giãn cách xã hội. Ngoài ra cần khuyến khích mọi người dùng xe đạp trong thành phố.

Việt Nam có nhiều thành phố cỡ trung và nhỏ nằm rải rác khắp nước, nhất là ven biển, nên nếu được đầu tư xây dựng theo hướng mới, dân số sẽ phân tán từ Hà Nội và TP.HCM về các thành phố cỡ trung và nhỏ này.

Trong quá trình chú trọng phát triển nông nghiệp kết hợp với công nghiệp thực phẩm và xây dựng hạ tầng kinh tế và văn hóa, nông thôn sẽ giữ lại một lực lượng lao động và dân số nhất định. Tóm lại, đây là chiến lược phân tán và không quá tập trung vào một vài đô thị.

Thứ ba, công nghệ thông tin, kỹ thuật số, tự động hóa là trọng tâm của thời đại sắp tới làm thay đổi phương thức lao động (ngày càng tăng hình thức làm việc tại nhà, quản lý từ xa...) và làm phát sinh chênh lệch giữa người dân trong việc tiếp cận với kỹ thuật, công nghệ mới và thích ứng với hoàn cảnh mới.

Giáo dục từ xa cũng sẽ phổ biến hơn (nhất là trong mùa dịch) và sẽ gây tình trạng bất bình đẳng giữa gia đình có và không có điều kiện tham gia. Nhà nước sẽ phải có biện pháp trợ giúp và cải cách nội dung giáo dục, đào tạo theo hướng làm cho tất cả mọi người dân đều có điều kiện tham gia và có năng lực tối thiểu về kỹ thuật số.

Thứ tư, tự động hóa làm cho sản xuất công nghiệp và dịch vụ ngày càng ít dùng lao động. Mặt khác, để tránh rủi ro bệnh dịch lan truyền khi có tập trung lao động, các nước thiếu lao động cũng sẽ tìm cách đẩy mạnh tự động hóa và hạn chế nhập khẩu lao động.

Việt Nam sẽ chịu áp lực tạo công ăn việc làm cho 100 triệu dân nên sẽ phải nghiên cứu một hình thức chia sẻ công việc, trong đó người có công việc giảm giờ làm và giảm thu nhập để nhiều người khác có thể tham gia lao động. Giải quyết tốt việc làm cũng sẽ làm cho Việt Nam sớm chấm dứt xuất khẩu lao động, một biểu hiện của giai đoạn phát triển thấp và không đáng tự hào.

Thứ năm, một xã hội nhân văn dựa trên tinh thần tương thân tương ái sẽ rất cần thiết và Việt Nam phải hướng tới. Để đánh giá một nước văn minh hay không, một trong những tiêu chí quan trọng để phán đoán sẽ là chính sách của chính phủ và thái độ của người dân đối với người yếu thế trong xã hội.

Hình ảnh nào cho Việt Nam kỷ niệm 100 năm độc lập?

Trong 75 năm qua, Việt Nam chỉ có độ 30 năm thật sự phát triển và đã đạt được một số thành quả nhất định.

Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, năm 2018 GDP trên danh nghĩa của Việt Nam xếp thứ 47 và GDP tính theo sức mua ngang giá (PPP) xếp thứ 30 trên 193 nước. Hầu như các dự báo dài hạn đều cho thấy Việt Nam sẽ phát triển với tốc độ cao hơn nhiều nước và vào khoảng năm 2045 sẽ lọt vào nhóm 20 nước (G20) có nền kinh tế lớn.

Tôi cũng nghĩ là khả năng đó rất cao. Dân số nước ta sắp đạt 100 triệu. Hiếm có nước nào đông dân như thế mà có sự thống nhất cao về văn hóa, ngôn ngữ và hầu như không có mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo, lại nằm giữa vùng phát triển nhất trên thế giới. Một nước có các tính chất đó rất dễ phát triển thành một nước tiên tiến.

Dĩ nhiên Việt Nam sẽ có tiếng nói quan trọng hơn trên vũ đài thế giới. Nhưng uy tín, giá trị của Việt Nam không phải chỉ ở mặt đó.

Trong thời đại mới với khả năng đại dịch sẽ tái phát, nếu Việt Nam xây dựng được một đất nước theo tư duy mới, mô hình mới và trên cơ sở một xã hội nhân văn thì người Việt Nam sẽ hạnh phúc hơn và thế giới sẽ tham khảo mô hình phát triển của chúng ta.

VT.




 

BÀI HỌC ĐẮT GIÁ TỪ VỤ ĐỒNG TÂM

     

            Từ ngày 07/9/2020, Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án “Giết người” và “Chống người thi hành công vụ” xảy ra ngày 09/01/2020 tại thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án này là đặc biệt nguy hiểm đã khiến 3 cán bộ, chiến sĩ công an hy sinh; gây hoang mang, lo lắng đối trong nhân dân; mất trật tự an ninh và gây nhiều hệ lụy khác cho xã hội. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã cho trình chiếu đoạn clip tóm tắt lại quá trình các đối tượng cố tình tạo ra sự tranh chấp đất đai ở Đồng Tâm và những hành vi sai phạm của các bị cáo vào sáng 09/01/2020 dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

             Đứng trước vành móng ngựa, một số ít đối tượng đã quanh co, chối tội, còn lại các bị cáo khác đều cúi đầu khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khẳng định hành động của mình là vi phạm pháp luật, gây rắc rối trong xã hội, đặc biệt đã làm 3 cán bộ chiến sĩ công an hy sinh và xin được sự khoan hồng của pháp luật. Trước tòa, Lê Đình Chức, Lê Đình Doanh đã kể lại quá trình sát hại 3 cán bộ chiến sỹ, tiến hành dùng dao phóng lợn đâm, xiên, rồi đổ xăng thiêu đốt cán bộ chiến sĩ công an như thế nào...; Lê Đình Công sau khi nhận tội cũng đã gửi lời xin lỗi tới gia đình các nạn nhân, mong được lượng thứ cho hành vi mất nhân tính của mình gây ra.

            Theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành, những hành vi phạm tội giết người, phạm tội có tổ chức, trong đó có người giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu; có người chuẩn bị về công cụ, phương thức, thủ đoạn phạm tội; người trực tiếp thực hành tội phạm và có người đóng vai trò xúi giục, giúp sức, cổ vũ về mặt tinh thần… đều phải chịu những hình phạt rất nghiêm khắc của luật pháp, có thể bị xử phạt tù nhiều năm, tù chung thân hoặc tử hình.

            Tất cả vì nhận thức pháp luật không đúng đắn, tham lam mù quáng, nghe theo những lời kích động, cổ súy của những thành phần xấu, các bị cáo đã gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng cho xã hội, gia đình và cá nhân, cho dù bản thân có nhận thức ra được những lỗi lầm của mình thì tất cả cũng đã muộn màng và không có gì có thể bù đắp được nữa./.

           XH.


THÁNG 9 MÙA THU ĐỘC LẬP - QUỐC KHÁNH VIỆT NAM

Ngày Quốc khánh Việt Nam là ngày lễ chính thức của Việt Nam, diễn ra vào ngày 2 tháng 9 hằng năm, kỷ niệm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba ĐìnhHà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một trong các tiền thân của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

CHUYỆN HAI NGƯỜI.

Một ông đại biểu Đồng Nai.

Bến Tre cũng có một ngài điểm tên.

Mỗi vùng dân cử đưa lên.

Chăm cho dân ở trên nền nhân dân.


Hãy làm cho hết tinh thần.

Vì lợi ích của nhân dân xứ mình.

Đừng làm mấy chuyện bất bình.

Để cho dân chúng họ khinh ở đời.


Ngẫm ra mà cứ nực cười.

Ở đâu cũng thấy hai người xía vô.

Hùa theo mấy đứa vong nô.

Lộng ngôn, cuồng chữ, hồ đồ quá đi.


Tạo dựng điều tiếng thị phi.

Mục đích hai vị là gì nữa đây?

Phải chăng tạo gió chuyển lay.

Kích động dân chúng đổi thay cơ đồ.

VIẾT LÁO - LỀU BÁO VIỆT TÂN.

 Lại một bài viết láo.

Của lều báo Việt Tân.

Một tay viết ngu đần.

Lấy bút danh Lạc Việt.


Nội dung bài báo viết.

Nhằm chống lại Đảng ta.

Công kích lãnh đạo là.

Tổng Bí thư - Bác Trọng.


Một bài viết lật lọng.

Không hiểu rõ ngọn nguồn.

Mang bản chất con buôn.

Bồi bút làm chính trị.


Mọi người nên chú ý.

Tránh trang Việt Tân ra.

Một trang web xấu xa.

Chỉ toàn là rác rưởi.

CHU HẢO - KẺ PHẢN BỘI THẾ HỆ


Chu Hảo sinh năm 1940. Cùng thời với hắn là một thế hệ kiêu dũng biết chừng nào. Thế hệ ấy đã phải oằn mình ngay từ trong bụng mẹ bởi gót giày xâm lăng của thực dân, chào đời, tiếng khóc đầu tiên cất lên lại hòa lẫn trong tiếng rít bom đạn trút xuống thân thể Tổ quốc, hắn bú mớm sữa mẹ trong cảnh đói rét thê lương của đồng bào bị đọa dày dưới gót dày Nhật, Pháp, hắn và thế hệ hắn chập chững bước đi khi cả dân tộc phải bò trườn dưới đòn roi của đế quốc. Rồi hắn và bạn bè được cả dân tộc che chở để đến trường, được học tập dù ngoài trời đất kia, cả nước là chết chóc, là tang thương, là máu và nước mắt của đồng bào chiến sỹ đang lầm lũi đánh giặc cứu nước. 15, 16 tuổi thế hệ của hắn đứng trước chọn lựa quan trọng nhất của đời người: Hiến dâng thân mình, đem sinh mệnh của mình hòa vào sinh mệnh Tổ quốc, cùng sống - chết với Tổ quốc hay là đứng yên giữ lấy an toàn mạng sống riêng của mình?

QUỐC GIA VIỆT NAM VÀ VIỆT NAM CỘNG HÒA CÓ TÍNH CHÍNH DANH HAY KHÔNG ?


Ngày 30/08/1945, Hoàng đế Bảo Đại đọc bản thoái vị trao "ấn, kiếm" lại cho phái đoạn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Như vậy ông đã công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính phủ lâm thời đại diện cho toàn dân Việt Nam, trở thành công dân Vĩnh Thụy và chính bọn thực dân Pháp xâm lược và đô hộ Việt Nam. (tướng sĩ Nguyễn Tri Phương tiêu biểu cho cuộc chống lại thực dân Pháp xâm lược những năm đầu)

Bằng những thủ đoạn chống phá mới, các thế lực thù địch, phản động đã thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

 Dù muốn hay không, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, trong hàng ngũ của chúng ta có một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bị lôi kéo, mua chuộc, thoái hóa, biến chất. Một số cán bộ, đảng viên sau khi bị tiêm nhiễm thông tin tiêu cực, độc hại đã tỏ ra hoài nghi về con đường cách mạng, có tư tưởng xét lại một số chủ trương của Đảng, như đảng viên làm kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế tư nhân hay vấn đề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,... Họ hoài nghi và cho rằng, đây chính là biểu hiện, là minh chứng về sự dần “đổi màu” của Đảng, của chế độ. Nhiều cán bộ, đảng viên từ lung lay lập trường, lại bị tác động, tấn công dồn dập của kẻ thù trên không gian mạng nên dẫn tới tha hóa, biến chất, biến thành những phần tử cơ hội chính trị, thậm chí phản bội lại lợi ích dân tộc và nhân dân.

Có những cán bộ phai nhạt lý tưởng, không kiên định con đường cách mạng, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin, nói và làm trái với quan điểm của Đảng, sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, lợi dụng công nghệ và mạng xã hội để “chia sẻ”, “bình luận”, hùa theo các quan điểm sai trái, lệch lạc; không tận tâm, tận lực vì Tổ quốc, vì cách mạng, vì nhân dân, không làm tròn chức trách, bổn phận được giao; kết bè, kéo cánh, tham nhũng, hủ hóa, cơ hội, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân; gián tiếp tiếp tay cho các lực lượng thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Mạng xã hội hiện nay giúp kết nối những người xa lạ, nhưng lại bị lợi dụng làm xa cách con người trong một tổ chức. Một bộ phận cán bộ, đảng viên dần đi vào lối sống “ảo”, làm việc thiếu chuyên tâm, ngại học tập lý luận chính trị, dẫn tới xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng, từ bỏ con đường đã chọn. Nhiều cán bộ, đảng viên mất phương hướng, lầm lẫn giữa cái đúng và cái sai, cái tốt và cái xấu, thực và “ảo”, bạn và thù. Thực tế cho thấy, sau khi bị tiêm nhiễm, có những cán bộ đi vào quá trình “tự diễn biến”, căn bệnh ngày càng trầm trọng thêm nếu tổ chức không phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời. “Diễn biến” đến “độ” nhất định sẽ dẫn tới sự “chuyển hóa”, trở thành “sâu mọt” trong tổ chức và hành vi tất yếu tiếp theo là tiếp tay cho kẻ địch lên mạng nói xấu, bôi nhọ, tuyên truyền các quan điểm sai trái, phản động, thù địch.

Có thể nhận thấy rằng, dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư các thế lực thù địch, phản động đang đẩy mạnh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên với những cách thức và biện pháp mới vừa tinh vi, đa dạng, vừa phức tạp và nguy hiểm hơn trước. Nhưng dù được tiến hành với hình thức và biện pháp nào đi chăng nữa thì mục tiêu, bản chất chống phá của các thế lực thù địch, phản động vẫn không hề thay đổi, từ gieo rắc sự nghi ngờ, lung lay về lý tưởng và cuối cùng là sự thay đổi, buông bỏ lập trường giai cấp công nhân, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, vấn đề đặt ra là phải nhận diện chính xác những tác động, nhất là những tác động tiêu cực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để từ đó, có những biện pháp khắc chế hữu hiệu./.

Dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thủ đoạn chống phá đa dạng, tinh vi, phức tạp và nguy hiểm hơn.

Thông qua không gian mạng, mà trực tiếp là các trang mạng xã hội, các diễn đàn, hệ thống truyền thông đa phương tiện, các thế lực thù địch gieo rắc các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, tấn công trực diện, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phá hủy nền tảng tư tưởng của Đảng, bản chất cách mạng của Đảng và Nhà nước. Với luận điệu xuyên tạc được lặp đi lặp lại nhiều lần, các thế lực thù địch sử dụng công nghệ để tạo ra sự “thu hút” ảo, như số lượng người đọc, người bình luận, người chia sẻ “khủng” để gây chú ý, hoài nghi, hoang mang và dần làm lung lay tư tưởng của một số cán bộ, đảng viên. Chúng đội lốt, nhân danh “công lý”, “tập thể”, “quyền dân sự” để lập các hội, nhóm nhằm tập hợp, lôi kéo một số cán bộ thoái hóa, biến chất; lập ra cái gọi là “thư ngỏ”, “tâm thư”, “kiến nghị” rồi phát tán nội dung trên các trang mạng xã hội, trong đó có facebook, zalo cá nhân hòng làm nhiễu loạn tình hình.

Lợi dụng một số sai lầm, khuyết điểm, sơ hở trong quản lý kinh tế - xã hội ở nơi này hay nơi khác, sự tha hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên, chúng tung ra các bài viết, phát tán tài liệu kích bác, bôi nhọ lãnh tụ, bôi đen chế độ. Chúng thổi phồng tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của một số cán bộ, coi đó là căn bệnh “thâm căn cố hữu” của chế độ ta. Chúng lợi dụng công nghệ để kết nối giữa các tổ chức, cá nhân, các trang mạng phản động ở nước ngoài và trong nước nhằm trao đổi thông tin, tài liệu, tài chính, phương tiện và phối hợp triển khai các biện pháp chống phá ta từ bên trong. Các tổ chức phản động ở nước ngoài cũng lợi dụng công nghệ như một “cánh cửa” dang rộng “vòng tay” đón những phần tử phản động, cơ hội, bất mãn chính trị trong nước để tập hợp lực lượng.

Các lực lượng thù địch lợi dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ trí tuệ nhân tạo để đầu tư tài chính, công nghệ, con người cho lĩnh vực truyền thông nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, vu khống, lôi kéo, dần dần làm “đổi màu” truyền thông, tách truyền thông khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Chúng triệt để lợi dụng công nghệ để đầu tư kỹ lưỡng cho các sản phẩm truyền thông xấu, độc, phản giá trị; khoét sâu vào trí tò mò, thích cái mới lạ, tin giật gân về các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để nhanh chóng lan tỏa trên môi trường mạng toàn cầu. Điều đó không chỉ khiến một bộ phận người dân có trình độ nhận thức thấp, ít thông tin bị mê hoặc mà còn làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên hoài nghi, hoang mang, dao động, lung lay lập trường và dần tin theo, nghe theo, nói theo, từ đó hình thành dư luận tiêu cực lan tỏa trong xã hội. Cuối cùng, điều nguy hiểm nhất là chúng tiêm nhiễm tư tưởng thù địch, dẫn đến sự chống đối, quay lưng lại với chế độ của một số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất.

Tiện ích của nền tảng công nghệ 4.0 cho phép người dùng tiếp cận thông tin mới nhất, nhanh nhất, nóng nhất ở bất kỳ nơi đâu, vào bất cứ lúc nào. Báo in chính thống đứng trước những thách thức to lớn của mạng xã hội. Công nghệ đã biến những kẻ chống đối, cơ hội chính trị, lực lượng phản động thành các “nhà báo”, “nhà quay phim”, “nhiếp ảnh gia” hiện trường (livestream), thậm chí là “học giả uy tín” để chúng nhào nặn thông tin, trộn lẫn thật giả, đúng sai để bình luận, thêu dệt, gán ghép với mưu đồ chính trị đen tối trong mọi sự kiện; làm cho cán bộ, đảng viên dao động, nghi ngờ giữa đúng và sai, thật và giả, dần dần đi đến chỗ mất niềm tin vào Đảng và chế độ. Chúng kêu gọi phi chính trị hóa với mưu đồ đen tối làm cho Quân đội xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng; làm cho cán bộ, chiến sĩ lung lạc, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, dần mất phương hướng, bạc nhược về chính trị, tê liệt sức chiến đấu; biến Quân đội thành đội quân không còn là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nữa.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm cho cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trở nên khó khăn, phức tạp hơn.

 Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm thực hiện các âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta; khiến cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng ta càng khó khăn, phức tạp và khó lường hơn. Giờ đây, tiến bộ công nghệ bị các thế lực thù địch lợi dụng biến thành “công cụ” hữu hiệu tuyên truyền xuyên biên giới nhằm xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhờ sự trợ giúp của công nghệ, hoạt động chống phá gia tăng về quy mô, đa dạng về hình thức, nguy hiểm về tính chất, không bị giới hạn bởi không gian, thời gian; làm “mờ đi” chủng tộc, màu da, quốc tịch, hệ tư tưởng, bạn - thù. Con người dễ bị lạc vào thế giới “ảo” dưới sự dẫn dắt bởi tin giả, tin xấu, độc của các thế lực phản động với sự hỗ trợ đắc lực của các thành tựu công nghệ mới. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng công nghệ để đẩy tin giả, tin xấu, độc lên không gian mạng, gây nên hỗn loạn thông tin, lẫn lộn thật giả, rồi tiến tới “tiêm nhiễm”, “dẫn dắt”, “đánh lừa”, “ru ngủ” đến mức làm cho người sử dụng đôi khi mất cảnh giác, không thể tự nhận biết về việc mình đang “tự diễn biến”, đang “tự chuyển hóa”./.

Một bức tranh sinh động đối với mạng xã hội ở Việt Nam

 Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin, tự do internet nói chung và MXH nói riêng. Điều này đã được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013, được cụ thể hóa trong nhiều luật, nghị định cùng nhiều văn bản pháp luật khác và được biểu hiện sinh động trên thực tế.

Ngoài các báo điện tử, các trang tin, thông qua MXH (Facebook, YouTube, Lotus, Viber, Zalo, Twitter, Instagram...), người dân Việt Nam có thể tự do chia sẻ thông tin, hình ảnh, clip, bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về mọi vấn đề của đời sống xã hội. Trong hệ thống chính trị, bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương ở Việt Nam ngày càng nhiều cơ quan, tổ chức sử dụng MXH để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính, giữ mối liên hệ với người dân, nắm bắt và giải quyết kịp thời những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân…

Hệ thống pháp luật của Việt Nam về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin của công dân là cơ bản đầy đủ, đồng bộ và tương thích với luật quốc tế về quyền con người. Đặc biệt, Luật An ninh mạng (ANM), sau một năm có hiệu lực đã dần đi vào cuộc sống, mang lại những hiệu quả rất rõ nét, thiết thực trong đời sống xã hội. Trước, trong và sau khi luật ra đời, không ít thông tin xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động cho rằng việc Việt Nam ban hành Luật ANM là "vi phạm quyền con người, bóp nghẹt tự do dân chủ, tự do ngôn luận...". Thực tế, sau một năm thực thi đã chứng minh Luật ANM hoàn toàn không vi phạm quyền con người, không bóp nghẹt tự do ngôn luận, mà ngược lại đã tạo nên nền tảng pháp lý vững chắc, phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hoạt động vi phạm pháp luật trên không gian mạng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân... Mọi cá nhân vẫn được bày tỏ chính kiến trên không gian mạng, tự do ngôn luận hoàn toàn không bị hạn chế nếu chấp hành các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, luật đã giúp tạo môi trường lành mạnh, an toàn. Nhiều thông tin, bài viết, video clip ảnh hưởng tiêu cực đến chuẩn mực, đạo đức xã hội đã được ngăn chặn, xử lý; đời tư cá nhân được bảo vệ; hoạt động kinh doanh trên môi trường mạng được bảo đảm; các đối tượng tung tin sai lệch, nhất là về dịch Covid-19 gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch đã bị xử lý./.
.

Cần có chế tài xử phạt nghiêm minh

 Cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có tự do internet, MXH. Mặt khác, đối với những người vi phạm các quy định của pháp luật trên không gian mạng, đăng phát các thông tin thất thiệt, lừa đảo, xuyên tạc, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân... các cơ quan chức năng của Việt Nam sẽ xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Việt Nam kiên quyết phản đối, đấu tranh với mọi hành vi lợi dụng quyền con người nói chung và quyền tự do internet, MXH nói riêng để chống phá, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

 Ngày 3-2-2020, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 15/2020/NĐ-CP về “xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử” thay thế Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13-11-2013.

Nghị định số 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định khá cụ thể về hành vi thông tin sai sự thật trên môi trường viễn thông. Nhưng quá trình tổ chức thực hiện có những hạn chế và diễn biến tình hình đã thay đổi, xuất hiện những kẽ hở, mức độ xử phạt chưa đủ sức răn đe... Vì thế mà tình trạng dùng MXH, trang thông tin, tài khoản cá nhân để đăng thông tin sai sự thật chưa giảm, thậm chí có chiều hướng gia tăng.

Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ra đời với 124 điều, đã quy định rõ hơn, chi tiết hơn về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực. Đây được xem là phương thuốc mạnh hơn trong việc phòng, chống những thông tin giả, sai lệch, xấu độc đang lan tràn trên không gian mạng thời gian vừa qua.

Hệ thống pháp luật của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, đồng bộ, kịp thời điều chỉnh mọi mặt của đời sống. Việc đưa pháp luật vào cuộc sống, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật cho người dân đang được các cấp, các ngành, các địa phương chú trọng thực hiện. Cùng với đó, trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, điều quan trọng đối với mỗi người dân là phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo trong tiếp nhận và xử lý thông tin. Trong khi thực hiện quyền của mình, mỗi người còn phải tôn trọng quyền và lợi ích của tập thể, cá nhân; luôn đặt lợi ích quốc gia-dân tộc lên hàng đầu, thể hiện rõ tinh thần thượng tôn pháp luật.

Việc Việt Nam ban hành Luật ANM, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thực chất là nhằm bảo vệ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin, tự do internet, tự do MXH của người dân ngày càng tốt hơn; làm cho môi trường mạng của Việt Nam ngày càng trong lành và an toàn hơn, phục vụ tốt cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luận điệu cho rằng Luật ANM, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP cùng các văn bản quy phạm pháp luật mà Việt Nam ban hành và thực hiện là "bóp nghẹt tự do dân chủ, tự do ngôn luận...", “vi phạm tự do mạng xã hội”... thực chất là hành vi tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước ta. Việt Nam luôn hướng đến xây dựng Nhà nước pháp quyền, tiến bộ, dân chủ và văn minh, trong đó các quyền con người nói chung, quyền tự do internet, tự do MXH nói riêng được tôn trọng và bảo đảm. Đồng thời, Việt Nam kiên quyết vạch trần và đấu tranh không khoan nhượng với những tổ chức, cá nhân lợi dụng vấn đề này để vi phạm pháp luật, đi ngược lại lợi ích của đất nước và nhân dân.

Tỉnh táo trong tiếp nhận thông tin

Cũng cần thấy rằng nhận thức, quan điểm về internet, MXH và tham gia MXH của một số người chưa đúng, chưa đầy đủ. Không ít người dùng nghĩ rằng tự do internet, tự do MXH là vô hạn, không thấy rõ sự gắn bó giữa quyền lợi với nghĩa vụ và trách nhiệm của mình khi tham gia MXH. Do cách nhìn thiên về mặt trái của MXH nên vẫn có người nhìn nhận MXH với thái độ thành kiến. Đi kèm với tốc độ phát triển mạnh mẽ của internet, MXH, Việt Nam cũng là quốc gia có nguy cơ xảy ra các hành vi phạm pháp từ MXH.

Đặc biệt, tình trạng tin giả, lừa đảo, xuyên tạc, bịa đặt qua MXH là một trong những vấn đề nhức nhối nổi lên thời gian qua. Nguyên nhân của tình trạng này do đâu? Phân tích chúng ta thấy dư luận phản ứng rất mạnh mẽ trước những vấn đề thuộc giá trị đạo đức truyền thống hoặc các vấn đề nóng, vấn đề có tính thời sự cao trong đời sống xã hội. Lợi dụng yếu tố tâm lý này, nhiều người đã tạo ra các tin giả, tin lừa đảo, tin bóp méo, xuyên tạc sự thật với động cơ và mục đích cá nhân. Vì mục đích kinh tế mà một bộ phận bán hàng online cố tình tạo ra tin giả và lan truyền tin giả nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng vào trang MXH của mình.

Sự bùng phát của tin giả, tin xuyên tạc cũng một phần do chính những người tiếp cận thông tin, những người tham gia MXH. Do nhận thức hạn chế, thiếu kiến thức và kinh nghiệm cần thiết nên không ít người không biết thông tin mình tiếp cận là đúng hay sai, có cơ sở khoa học hay không, tác động, ảnh hưởng đến người khác, đến xã hội như thế nào nên đã đăng tải, chia sẻ, bình luận một cách tùy tiện, vô trách nhiệm... Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động tạo ra rất nhiều thông tin giả, thông tin xấu độc nhằm tuyên truyền xuyên tạc, kích động, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang trong dư luận, tạo sự bất ổn về an ninh trật tự để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Một số đối tượng mang danh “thực hiện quyền tự do ngôn luận” thông qua MXH để “bày tỏ quan điểm cá nhân” nhưng thực chất là tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và đã bị xử lý trước pháp luật. Sau mỗi trường hợp bị xử lý, các thế lực thù địch, phản động lại lu loa rằng “Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận”, “vi phạm tự do internet”... Cần khẳng định rõ rằng giọng điệu ấy không nhằm mục đích gì khác là bao che, dung túng, tiếp tay cho những hành vi vi phạm pháp luật và sâu xa là chống phá Việt Nam. Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do MXH là nhiệm vụ của mọi quốc gia trên thế giới. Nhưng cũng như các quyền cơ bản khác, quyền tự do MXH chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào mục đích đúng đắn và phục vụ lợi ích chung của cộng đồng. Mọi hành vi lợi dụng quyền này để vi phạm pháp luật thì không chỉ có Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải xử lý nghiêm minh.

Để đối phó với nạn tin giả, tin xấu độc trên không gian mạng, trước hết cần tuyên truyền, giáo dục để mọi người thấy rõ tính nguy hại của vấn đề; nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của người dân, nhất là người tham gia MXH cần tỉnh táo trong tiếp cận thông tin để tránh bị lợi dụng tiếp tay cho kẻ xấu, đồng thời tích cực đấu tranh với vấn nạn tin giả.

Tin giả lan truyền nhanh nhất ở bộ phận độc giả thiếu hiểu biết nhưng lại quá nhẹ dạ, cả tin… Do vậy, mỗi người cần đề cao trách nhiệm tự thân, nâng cao trách nhiệm đối với các nội dung được đăng tải, chia sẻ. Có thể ví MXH như cái chợ, ở đó người ta bán đủ thứ thông tin, hình ảnh mà không ai kiểm chứng, kiểm duyệt. Ở đó có cả hàng thật lẫn hàng giả, hàng nhái; lẫn cả hàng tươi ngon với hàng ôi thiu… Mỗi chúng ta hãy trở thành những người “tiêu dùng thông thái” khi tham gia vào chợ thông tin này. Hãy giữ cho mình tác phong thận trọng và luôn mang tâm thế của người hiểu biết, tỉnh táo. Chỉ có như vậy mới tạo ra cho mình một bộ lọc chuẩn trong thời đại "bão" thông tin này.

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2020

YÊU NƯỚC HAY YÊU ĐẢNG?

Bọn Phản động nó luôn tìm cách xuyên tạc vấn đề, cố tách tính quần chúng nhân dân ra khỏi Đảng. Họ cố dẫn dắt rằng Đảng chỉ là một tổ chức không liên quan đến lòng yêu nước, họ cố lái để hướng dân theo quan niệm sai lầm rằng “đất nước là trường tồn, đảng phái là nhất thời”, vì vậy chỉ cần yêu nước thôi là đủ. Thế nhưng yêu nước là gì? Yêu nước bắt nguồn từ những điều rất đỗi bình thường. Bạn yêu quý cảnh đẹp quê hương, thích thú với lịch sử, truyền thống của dân tộc, trân trọng ngôn ngữ, văn hóa, giá trị vật chất và tinh thần của ngàn xưa để lại... Thế là chủ nghĩa yêu nước từ đó hình thành và chi phối mọi hoạt động của bạn. Người yêu nước chân chính, dù đi khắp 4 phương trời thì tình cảm vẫn hướng về đất mẹ, hành động vẫn nhằm làm giàu đẹp cả về vật chất lẫn tinh thần cho quốc gia, dân tộc, làm vẻ vang thêm truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Và khi có giặc xâm lăng, chính chủ nghĩa yêu nước đó sẽ kết thành sức mạnh chống lại quân xâm lược. Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã từng nói: "Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, và những người thi đua là những người yêu nước nhất". Như vậy, yêu nước là hành động nhằm làm giàu đẹp cho đất nước cả về phương diện vật chất lẫn tinh thần, chứ không có kiểu yêu nước mà bằng mồm thuần túy, cũng không có kiểu hô hào yêu nước nhưng tâm trí lại ở tít tận trời Tây hoặc làm những việc phương hại đến uy tín của quốc gia, dân tộc; cũng không thể mang tư tưởng tự nhục cao mà bảo rằng mình yêu nước; hoặc tệ hại hơn nữa là hàng ngày hàng giờ bám gót ngoại bang nhưng vẫn treo trên đầu lưỡi chữ yêu nước thương dân! Không phải! Đối với bọn này, Tổ quốc chỉ là công cụ để xu nịnh ngoại bang và lừa gạt đồng bào. Như vậy, trong mỗi người dân Việt Nam đúng nghĩa nói chung, đều có lòng yêu nước nồng nàn. Truyền thống 4.000 năm dựng nước và giữ nước là đáng tự hào, tự tôn dân tộc. Hiếm có quốc gia nhỏ bé nào trải qua ngàn năm Bắc thuộc, trăm năm Tây xâm lại giữ vững bản sắc văn hóa tinh thần đến vậy. Trong mỗi người dân Việt Nam đều bùng cháy ngọn lửa của chủ nghĩa yêu nước mạnh mẽ, để khi cần, chỉ cần một xu hướng cách mạng đưa lối chỉ đường sẽ kết thành làn sóng dữ dội cuốn bay tất cả những khó khăn. Đảng Cộng sản Việt Nam chính là xu hướng cách mạng đó. Mang trong mình hơi thở thời đại và lý tưởng cách mạng đúng đắn, Nhiệm vụ của Đảng Cộng sản Việt Nam là hướng ngọn lửa yêu nước của người dân trở thành ngọn lửa chung của toàn dân tộc, hiệu triệu sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại để hoàn thành sứ mạng lịch sử là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sự thực là trước khi có Đảng, chủ nghĩa yêu nước với những người con ưu tú như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Cao Thắng, Phan Đình Phùng, Trương Định, Đội Cấn... đã từng rực cháy ngọn lửa yêu nước sáng ngời nhưng chừng đó là chưa đủ để hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc. Từ khi có lý tưởng Cộng sản, với bản chất, lập trường của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng Cộng sản Việt Nam có lợi ích gắn liền với lợi ích của giai tầng chiếm số đông trong xã hội đã đủ thế và lực để đưa cách mạng đến thành công. Những gì Đảng làm đều để phục vụ lợi ích của các giai tầng ấy. Lịch sử hình thành và phát triển đã chứng minh rằng, lợi ích của Đảng cũng là lợi ích chung của toàn dân tộc. Hai khái niệm này chưa bao giờ có thể tách rời như những gì bọn phản động đang tích cực rêu rao. Là một người Đảng viên trước hết phải là người yêu nước. Có lòng yêu nước nồng nàn mới thúc đẩy hành động của con người lên một tầng cao mới đó là khát khao cống hiến, có thêm một lý tưởng để phấn đấu. Đứng dưới lá cờ vinh quang của Đảng, người Đảng viên phải ý thức được rằng họ đã mang trong mình một lý tưởng cách mạng, nhiệm vụ của họ là cụ thể hóa chủ nghĩa yêu nước theo lý tưởng cộng sản tức là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Ngoài ra không có lợi ích nào khác. Không ý thức được điều đó tức là họ chưa xứng đáng là người đảng viên cộng sản. Hoặc là một kẻ cơ hội, hoặc là những kẻ phá hoại, sớm muộn cũng bị loại trừ, đào thải. Những người phấn đấu suốt đời cho lý tưởng Cộng sản, chỉ biết còn Đảng còn mình là những người yêu nước chân chính. Điều đó không thể phủ nhận. Như vậy, yêu Đảng là toàn tâm toàn ý cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, lý tưởng Cộng sản. Không phải tách rời khỏi lòng yêu nước mà ngược lại chính lòng yêu nước là động lực to lớn cho những đảng viên chân chính quyết tâm, phấn đấu hi sinh cho lý tưởng cách mạng của Đảng. Không phải cứ trở thành Đảng viên là mặc định mình đủ tư cách làm cách mạng. Làm sao cho xứng với danh dự và truyền thống của Đảng mới là điều mà mỗi Đảng viên phải luôn tâm niệm để trưởng thành. Người dân bình thường luôn có sẵn tinh thần yêu nước. Họ chưa tiếp xúc với lý tưởng của Đảng, chưa có cảm tình với Đảng nên họ chưa hiểu hết, chưa yêu Đảng là chuyện hết sức bình thường. Nhưng bọn phản động tuyên truyền rằng yêu nước là phải chống lại Đảng, phải ghét Đảng. Đó là xuyên tạc, là đánh tráo khái niệm. Rõ ràng rằng những kẻ ra rả luận điệu đó luôn tìm cách chia rẽ dân tộc, kích động bạo lực, phá rối cuộc sống bình yên hiện tại. Đối với chúng trách nhiệm tối thiểu của công dân đó là nghiêm chỉnh chấp hành hiến pháp và pháp luật chúng còn không thực hiện được thì nói gì đến lòng yêu nước như chúng rêu rao? Đó là chưa kể đến ý thức tự nhục cao luôn sẵn sàng hạ thấp dân tộc mình để xu nịnh ngoại bang. Những kẻ đó nói về lòng yêu nước nghe chừng hơi lố. Trách nhiệm của một công dân bình thường trong xã hội là làm thật tốt chức trách mà xã hội đã giao. Bên cạnh đó coi trọng những chuẩn mực đạo đức, tôn trọng pháp luật là đủ. Chỉ khi nào tiếp xúc, giác ngộ lý tưởng Cộng sản, tự nguyện đi theo con đường cách mạng, vấn đề yêu Đảng, cống hiến cho Đảng mới được nghiêm túc đặt ra. Người yêu nước chưa cần phải yêu Đảng nhưng đi ngược lại lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xuyên tạc lý tưởng Cộng sản, phủ nhận công sức mà các thế hệ cha ông đã tốn công lao, xương máu gây dựng, ra sức phá hoại nền độc lập tự do mà Việt Nam đang xây dựng thì chắc chắn không phải là người yêu nước, càng không xứng đáng là Đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta cần khắc tâm: " Mưu đồ vào Đảng chỉ để vụ lợi cho bản thân thì không nên vào! .... Còn vào Đảng xong, lợi lộc không được như ý thì sinh ra bất mãn, hằn thù..., rồi trở cờ, bán đứng... là quân phản động"

Lật tẩy chiêu trò chia rẽ nhân dân với Đảng của các thế lực thù địch

Chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng. chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thường xuyên đưa ra Những luận điệu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”; đưa ra những lập luận, như: “một đảng cầm quyền thì không có dân chủ”, với những yêu sách đòi “Đảng ta phải từ bỏ quyền lãnh đạo” và coi đó là vấn đề “căn cốt”, “then chốt” để hợp lòng dân, v.v. Từ những lời lẽ, giọng điệu trên chúng ta thấy rõ, mục tiêu số một của các thế lực thù địch là nhằm chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; làm cho nhân dân hoài nghi vai trò lãnh đạo của Đảng, xa Đảng, đối lập, chống lại Đảng, thủ tiêu nguồn sức mạnh vô địch và sức sống của Đảng, để đi đến thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Chúng ta không cần phải trình bày nhiều về các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa đã thiết lập nên vị thế lãnh đạo, vai trò dẫn dắt dân tộc, vị thế cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như tính chất mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân trong quá trình cách mạng nước ta. Đảng đã vì dân mà ra đời, lãnh đạo cách mạng, đưa nhân dân thoát khỏi đêm trường nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo, duy nhất cầm quyền ở nước ta. Và, nhân dân Việt Nam đã theo Đảng, đoàn kết dưới ngọn cờ của Đảng làm nên những kỳ tích vĩ đại của thế kỷ XX, ngày nay đang vững bước trên con đường đổi mới. Đó là bản chất và nội dung cốt lõi của mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân đã, đang và vẫn thể hiện sinh động trong thực tiễn và là nguồn sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam, không có thế lực nào, dù nham hiểm đến đâu cũng không thể xuyên tạc, chia rẽ được. Bởi, vai trò của Đảng đối với vận mệnh và tương lai của dân tộc, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là khách quan. Tính khách quan đó, không chỉ do chính lịch sử dân tộc và khát vọng của nhân dân Việt Nam quy định, mà còn do chính bản chất cách mạng, tính tiền phong, gương mẫu của Đảng. Vai trò và mối quan hệ đó đã được khẳng định trong thực tiễn lịch sử Việt Nam suốt 90 năm qua, không ai có thể bác bỏ. Do đó, không thể vì sự hạn chế, khuyết điểm nào đó mà nói bừa rằng, Đảng ta đã “hết vai trò”, “không còn khả năng để lãnh đạo đất nước”, “không còn là đảng của nhân dân, vì nhân dân”, v.v. Và, cũng không thể phán xét một cách hồ đồ rằng, quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân không còn nữa, rồi kích động, hô hào nhân dân chống đối lại Đảng và chế độ. Không chỉ trong lịch sử, mà thực tiễn ngày nay cho thấy, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã và đang được thụ hưởng thực sự trong cuộc sống hằng ngày, được bạn bè quốc tế ngưỡng mộ và lạc quan tin tưởng vào sự phát triển của Việt Nam. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân. Mọi người dân đều trực tiếp hoặc gián tiếp đề đạt nguyện vọng và đóng góp ý kiến cho các cơ quan công quyền. Các kênh đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng, phát huy hiệu quả. Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát không chỉ trở thành quy chế, thiết chế dân chủ trong xã hội, mà còn là phương châm hành động trong xây dựng hệ thống chính trị và là yêu cầu ứng xử của cán bộ, đảng viên trong tiếp xúc, quan hệ với nhân dân. Nhân dân lao động là chủ thể mọi quyền lợi và nghĩa vụ; quyền hạn và trách nhiệm; cống hiến và hưởng thụ. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Đảng đã thực sự gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình đúng với Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã hiến định. Đó là thực tế, hiện thực sinh động không thể phủ nhận, đã bác bỏ mọi sự xuyên tạc chống phá, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

Với tất cả sự khiêm tốn của người cách mạng chúng ta vẫn có thể nói rằng "Đảng ta thật là vĩ đại"

Như đã thành thông lệ, sắp đến kỳ Đại hội Đảng, các thế lực thù địch lại ra sức chống phá cách mạng nước ta trên mọi lĩnh vực; trong đó, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là một trong những chiêu trò nguy hiểm nhất. Vì vậy, đấu tranh bác bỏ luận điệu xuyên tạc của chúng, nhằm bảo vệ uy tín của Đảng, cũng như mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân là việc làm cấp thiết. Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam 90 năm qua, đã chứng minh mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với nhân dân Việt Nam là mối quan hệ gắn bó trong một chỉnh thể thống nhất. Tính thống nhất đó, được thể hiện tập trung ở chỗ: Sự ra đời, tồn tại và mục tiêu hoạt động của Đảng là vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; nguồn sức mạnh bất tận và vô địch của Đảng là từ nhân dân, ở trong nhân dân. Đảng là của dân, vì dân, dân một lòng, một dạ theo Đảng. Đảng luôn quan tâm chăm lo cho lợi ích của nhân dân và nhân dân cũng luôn sẵn sàng chiến đấu, xả thân vì sự nghiệp cách mạng của Đảng. Quá trình cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định sức mạnh dời non, lấp biển của sự thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân; đồng thời, thể hiện sức mạnh của sự thống nhất giữa lý tưởng của Đảng với khát vọng không có gì quý hơn độc lập, tự do của nhân dân. Sự thống nhất đó, là nhân tố cơ bản, sức mạnh chủ yếu tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp cách mạng làm nên những thắng lợi vĩ đại, huy hoàng của dân tộc Việt Nam trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm trước đây và công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. Những thành tựu có được ngày hôm nay là sự cố gắng to lớn, rất đáng tự hào của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, được bạn bè quốc tế ngưỡng mộ. Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận một số yếu kém, khuyết điểm trong quá trình xây dựng đất nước, nhất là công tác lãnh đạo, quản lý, vai trò nêu gương của cấp ủy, chính quyền cơ sở. Theo đó, trong tình hình mới, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII). Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách hợp lòng dân, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”1. Thực hiện tốt những yêu cầu này, không chỉ củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, mà còn làm thất bại mọi sự xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với dân của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay./.

âm mưu của kẻ thù và hành động của chúng ta?

Nhận thức rõ sức mạnh vô địch của Đảng Cộng sản Việt Nam là ở mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, các thế lực thù địch luôn tìm mọi chiêu trò phá hoại, công kích nhằm chia rẽ Đảng với dân; lôi kéo, kích động, tách nhân dân ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho dân xa Đảng, thậm chí đối lập với Đảng. Gần đây, người ta lại thấy những chiến dịch rầm rộ được các thế lực thù địch bên trong và bên ngoài hợp sức tấn công vào công tác chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng. Những luận điệu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”; đưa ra những lập luận, như: “một đảng cầm quyền thì không có dân chủ”, với những yêu sách đòi “Đảng ta phải từ bỏ quyền lãnh đạo” và coi đó là vấn đề “căn cốt”, “then chốt” để hợp lòng dân, v.v. Không khó hiểu khi vấn đề đảm bảo dân chủ được các thế lực thù địch tung ra ngày càng nhiều, với những chiêu trò ngày càng tinh vi, xảo quyệt nhằm làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Chúng ra sức xuyên tạc, công kích bằng những luận điệu: Đại hội XIII chẳng có gì mới, vẫn theo phương hướng “chính trị bảo thủ”; vẫn tiếp tục “tôn thờ một chủ thuyết đã bị phá sản” và “không thể trông chờ ” vào ban lãnh đạo mới để đưa đất nước đi theo trào lưu văn minh nhân loại(!). Lợi dụng một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống được đưa ra xét xử, chúng cố tình thổi phồng, gán ghép cho Đảng ta đủ các bệnh hoạn: nào là “dốt nát”, “võ biền”, “vi phạm dân chủ”, “chà đạp lên lợi ích của nhân dân”, “thất nhân tâm” làm hại dân, hại nước. Nhiều “cuốn sách”, “tờ báo”, “tờ rơi”, “tâm thư”,“thư ngỏ”, “tuyên cáo” xuyên tạc mục đích hoạt động của Đảng không phải vì lợi ích của nhân dân, mà là lợi ích của nhóm cán bộ, đảng viên có chức có quyền và người thân của họ. Và, Đảng Cộng sản Việt Nam hết “vai trò lãnh đạo”; “quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân không còn nữa”. Rồi, chúng kêu gọi như lời “hịch”: trách nhiệm của những người yêu nước phải “nắm lấy thời cơ này, vượt qua thách thức, đánh đổ ban lãnh đạo của Đảng, giải tán Đảng, mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triển của đất nước”; “bỏ lỡ thời cơ này là có tội với dân tộc”, v.v. Từ những lời lẽ, giọng điệu trên chúng ta thấy rõ, mục tiêu số một của các thế lực thù địch là nhằm chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; làm cho nhân dân hoài nghi vai trò lãnh đạo của Đảng, xa Đảng, đối lập, chống lại Đảng, thủ tiêu nguồn sức mạnh vô địch và sức sống của Đảng, để đi đến thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Mưu đồ chiến lược của TQ ở Biển Đông

 

Thứ nhất, lợi ích của Biển Đông là về vấn đề kinh tế, đầu bảng là tài nguyên dầu khí, sau đó là băng cháy. Khu vực Đông Nam Á có lượng băng cháy cực lớn. Đây là nguồn năng lượng của tương lai, có thể sử dụng trong nhiều thế kỷ, theo tính toán sơ bộ là khoảng 800 năm tới. Đây là nguồn năng lượng tuyệt vời. Do đó, TQ nhìn vào nguồn băng cháy như một loại tài nguyên thay thế cho dầu khí đang dần trở nên cạn kiệt.

Thứ hai, Biển Đông được xác định là một trong 4 khu vực đánh cá chủ yếu của ngư dân TQ.

Thứ ba, Biển Đông cũng được xác định là con đường sinh mệnh của nền kinh tế TQ. Trong số 27 tuyến vận tải của TQ, 17 trong số đó nằm ở Biển Đông. Biển Đông giúp kết nối TQ với 125 nước và vận chuyển 3/4 lượng dầu nhập khẩu vào nước này.

Về an ninh quốc phòng, đây là một bức trường thành tự nhiên trên biển. Biển Đông như một vành đai quân sự, phòng thủ, là rào cản an ninh để ngăn chặn những rủi ro và uy hiếp từ bên ngoài.

Về mặt địa chiến lược, TQ xác định Biển Đông như sân sau, nơi tập dượt của hải quân TQ để tiến ra thế giới bên ngoài.

Biển Hoa Đông ở phía đông TQ quá nông, lại có một đối thủ khó nhằn là Nhật Bản án ngữ phía ngoài. Còn đối với Biển Đông, vùng biển này rộng 3,4 triệu km2, độ sâu trung bình là 1.400 mét và có rất nhiều rãnh sâu. Đây là địa điểm tuyệt vời cho sự hoạt động của các loại tàu ngầm.

Muốn thành bá chủ toàn cầu, TQ phải trở thành cường quốc trên biển. Điều này chỉ có thể thực hiện được ở Biển Đông, vùng biển mà xung quanh đó toàn các quốc gia nhỏ bé. Về mặt địa chiến lược, đây là cửa ngõ duy nhất, là bàn đạp để TQ đi ra thế giới bên ngoài. Do vậy, trong cái nhìn đại chiến lược của người TQ, Biển Đông có lợi ích sống còn.

Trung Quốc sắp đặt Biển Đông trong chiến lược an ninh - phát triển như thế nào?

Từ các văn kiện Đại hội Đảng, chương trình nghị sự của chính phủ và thông tin chính thức từ phía TQ, nước này xác định Biển Đông là một phần quan trọng, cũng là điểm khởi đầu cho con đường tơ lụa trên biển. Con đường này là trọng tâm của sáng kiến Vành đai - Con đường. Sáng kiến này là một phần của giấc mơ chấn hưng TQ.

Biển Đông là một phần của chiến lược biến TQ thành một cường quốc biển. Một quốc gia muốn tiến vào vị trí trung tâm quyền lực chính trị của thế giới thì không thể không trở thành một cường quốc biển.

Chính giới TQ đã lồng ghép vấn đề Biển Đông vào mục tiêu trăm năm, coi đó là việc triển khai thực hiện giấc mộng Trung Hoa. Nước này thậm chí còn đưa vấn đề chủ quyền và lợi ích trên biển thành một trong những lợi ích cốt lõi của TQ, tương tự như vấn đề Đài Loan, Tân Cương và Tây Tạng. Tần suất TQ đưa ra lời khẳng định các đảo ở Biển Đông thuộc về mình từ ngàn đời đang không ngừng tăng lên.

Nguyên thủ các quốc gia trên thế giới thường ít nói về vấn đề chủ quyền. Thay vào đó, họ thường để cho những cơ quan có thẩm quyền lên tiếng. Tuy nhiên, liên tiếp trong năm 2016, Chủ tịch TQ đã 3 lần phát biểu câu chuyện này ở nước ngoài, điều trước đây chưa từng có đã thể hiện sự quan tâm đến mức tối đa của TQ đối với vấn đề Biển Đông.

Bên cạnh đó, cơ quan truyền thông nhà nước TQ liên tục khẳng định rằng nước này không có gene xâm lược, không xâm phạm vào lợi ích của các nước khác, thế nhưng TQ sẽ không bao giờ từ bỏ quyền lợi của mình.

Năm 2021, TQ sẽ diễn ra sự kiện kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng. Cùng với các sự kiện lớn này, TQ sẽ tiến hành nhiều hành động lớn, tình hình Biển Đông vì thế cũng sẽ liên quan đến câu chuyện này.

TQ không đem lợi ích cốt lõi ra trao đổi, không có chuyện nhân nhượng, thỏa thuận và từ bỏ tham vọng Biển Đông. Đây là một thông điệp rất rõ ràng.

Chủ tịch TQ từng có một câu nói mà chúng ta cần phải lưu ý: “Quân đội TQ triệu tập là có, đến là có thể đánh và đánh là có thể thắng, để bảo vệ chủ quyền và các quyền liên quan ở Biển Đông”.

Vậy vài chục năm nữa Biển Đông sẽ như thế nào? Biển Đông sẽ có thể lúc nóng, lúc lạnh, lúc căng thẳng lúc hòa hoãn. Tất nhiên, chúng ta cần có những nhìn nhận đúng đắn, có những động thái kiên quyết đối với vấn đề này; để chúng ta không để bị động, bất ngờ./.


Đã đoàn kết rồi thì phải tiếp tục đoàn kết hơn nữa

 Trong bài viết mới đây với nhan đề: “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội 13 của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhắc lại lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Đại hội sẽ làm cho Đảng ta đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa, tư tưởng và hành động đã nhất trí, càng nhất trí hơn nữa”.

    Ngày 3/4/1960, trước khi diễn ra Đại hội đại biểu lần thứ 3 của Đảng 5 tháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Một cách thảo luận dự thảo Điều lệ Đảng” đăng trên Báo Nhân Dân. Bài báo có đoạn viết: “Đại hội Đảng rất quan hệ đến tương lai cách mạng của Đảng ta và nhân dân ta. Đại hội sẽ làm cho Đảng ta đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa, tư tưởng và hành động đã nhất trí, càng nhất trí hơn nữa. Cho nên, toàn thể đồng chí ta phải thảo luận kỹ càng các đề án và đóng góp ý kiến dồi dào, để đảm bảo đại hội thành công thật tốt đẹp”. Đây chính là bài học xây dựng đảng của Đảng ta mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết- Thành công, thành công, đại thành công".

Mỗi lần Đại hội là dịp để nhìn lại công việc Đảng đã làm, xác định phương hướng, nhiệm vụ trong những nhiệm kỳ tới. Chính vì thế, với một tinh thần thẳng thắn, nhìn thẳng sự thật, phát hiện ra sự thật và nói đúng sự thật để tìm ra nguyên nhân và biện pháp, phương hướng khắc phục. Đó vừa là những cơ hội vừa là điều kiện làm cho Đảng ta mạnh hơn, vĩ đại hơn, xứng đáng với niềm tin tưởng của Nhân dân. Cho nên Đại hội được coi là dịp để giữ vững, tăng cường đoàn kết, để tinh thần “đã đoàn kết rồi thì phải tiếp tục đoàn kết hơn nữa”./.

VÌ SAO VIỆT NAM ĐỀ XUẤT LẬP TRUNG TÂM GÌN GIỮ HOÀ BÌNH

 

Đánh giá cao các sĩ quan "mũ nồi xanh" Việt Nam, Liên Hợp Quốc "gợi ý chúng ta thành lập Trung tâm nâng cao năng lực gìn giữ hoà bình khu vực", theo đại diện Bộ Quốc phòng.

Theo Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng – Cục trưởng gìn giữ hòa bình Việt Nam (Bộ Quốc phòng) cho biết:

Việt Nam đề xuất thành lập Trung tâm gìn giữ hòa bình khu vực châu Á Thái Bình Dương? Bởi vì

- Việt Nam đưa ra đề xuất này từ gợi ý của Liên Hợp Quốc. Chúng ta tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình muộn so với nhiều nước, nhưng được các quốc gia liên quan và Liên Hợp Quốc đánh giá là đạt kết quả xuất sắc.

Sáu năm qua, Việt Nam đã cử hàng trăm sĩ quan đi làm nhiệm vụ bảo vệ hòa bình Liên Hợp Quốc (các Phái bộ ở châu Phi). Trong 30 sĩ quan đã hoàn thành nhiệm vụ trở về thì 10 người khi kết thúc nhiệm kỳ được đánh giá 11/11 tiêu chí xuất sắc (chiếm 33%). Tỷ lệ này thường là 1-2% ở các quốc gia khác.

Các sĩ quan nữ đang tham gia gìn giữ hòa bình trong đội hình bệnh viện dã chiến là 10/63 (15,8%), nữ sĩ quan hoạt động cá nhân là 2/10 (20%). Trong khi đó tỷ lệ bình thường các nước đạt 5-10% đã được Liên Hợp Quốc đánh giá cao.

Có thể nói, kết quả xuất sắc của các sĩ quan Việt Nam làm nhiệm vụ tại Phái bộ đã chứng minh năng lực huấn luyện, chuẩn bị lực lượng của chúng ta và gây ấn tượng rất tốt với các bên liên quan.

Tại cuộc hội đàm trực tuyến với Phó tổng thư ký Liên hợp quốc Atul Khare hồi tháng 7, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã chia sẻ mong muốn Liên Hợp Quốc cùng Việt Nam xây dựng Trung tâm gìn giữ hòa bình khu vực với hình thức phù hợp.

Nếu được thành lập, Trung tâm đặt tại Việt Nam sẽ là nơi huấn luyện, chia sẻ kinh nghiệm, nâng cao năng lực của các lực lượng như công binh, quân y, ngoại ngữ, pháp luật, phụ nữ tham gia gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc... Bước đầu một số quốc gia đối tác rất hào hứng với sáng kiến này của Việt Nam. Họ chờ đợi Liên Hợp Quốc và Việt Nam xác định mô hình phù hợp và sẽ sẵn sàng tham gia.

Hiện nay, Cục Gìn giữ Hoà bình Việt Nam có một Trung tâm huấn luyện đào tạo lực lượng trong nước đi làm nhiệm vụ "mũ nồi xanh". Quy mô huấn luyện sẽ lớn hơn nếu Trung tâm được mở rộng ra cấp khu vực và được sự hậu thuẫn của Liên Hợp Quốc, các quốc gia thành viên.

- Tháng 4/2018, đoàn kiểm tra của Liên Hợp Quốc đến khảo sát Cục gìn giữ hoà bình Việt Nam, tìm hiểu lịch trình, giáo án, chương trình huấn luyện, và bày tỏ rằng rất tâm đắc. Họ nói Việt Nam đào tạo lực lượng phù hợp tiêu chí của Liên Hợp Quốc, nâng cao năng lực, kỹ năng mềm để bộ đội xử lý công việc ở từng vị trí như sĩ quan tham mưu, sĩ quan phân tích tình báo, quan sát viên quân sự...

Cục gìn giữ hoà bình Việt Nam cũng có những biện pháp đáp ứng hậu cần tại chỗ, khả năng khắc phục khó khăn, thích ứng địa bàn, có những kế hoạch tác chiến để đảm bảo an ninh an toàn khi thực hiện nhiệm vụ. Ngoài ra, sĩ quan Việt Nam còn có phẩm chất chính trị, kỷ luật rất tốt. Lúc đó, Liên Hợp Quốc đã chọn Cục gìn giữ hòa bình Việt Nam là một trong bốn trung tâm của ASEAN đạt chuẩn quốc tế cho chương trình hợp tác 3 bên giữa Liên Hợp Quốc - Nhật Bản - Việt Nam.

- Sau chuyến khảo sát nói trên của Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã triển khai ba khóa huấn luyện ba bên. Khóa gần đây nhất là tháng 3/2020 khi bắt đầu có đại dịch Covid-19. Nhật Bản là nước tài trợ chương trình đã đánh giá rất cao Việt Nam. Thứ trưởng Ngoại giao Nhật Bản đề nghị tham dự hội nghị khai mạc khóa huấn luyện 1,5 tháng này cùng Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng tại Cục gìn giữ hòa bình Việt Nam. Ba khóa huấn luyện ba bên của Việt Nam rất thành công trong huấn luyện công binh hạng nặng với 29 giảng viên Nhật Bản sang tham dự và triển khai. Phó tổng thư ký Liên hợp quốc Atul Khare đã gửi thư khen kết quả của lớp đào tạo hợp tác ba bên này.

Chúng tôi cũng đào tạo được khóa 25 học viên của 5 quốc gia tại Việt Nam. Đó là những thành công lớn mà các quốc gia trong ASEAN nói riêng và trong lĩnh vực gìn giữ hoà bình nói chung rất ngưỡng mộ. Họ muốn Việt Nam trở thành một trong những trung tâm quốc tế và khu vực về huấn luyện gìn giữ hoà bình.

Để đáp lại nguyện vọng của các quốc gia và cũng phản ánh được thực tế Việt Nam, dù tham gia gìn giữ hoà bình Liên Hợp Quốc muộn nhưng đạt kết quả xuất sắc, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng đã giao nhiệm vụ phải xây dựng Cục gìn giữ hoà bình Việt Nam trở thành trung tâm nâng cao năng lực gìn giữ hoà bình tầm cỡ khu vực và quốc tế.

Những điểm nổi bật trong phiên tòa sơ thẩm vụ án Đồng Tâm

 

Trải qua bốn ngày xét xử, phiên tòa được ghi nhận với những chuyển biến tích cực của các bên tham gia tố tụng. Những chuyển biến đó được thể hiện ở sự điều hành hợp lý, sáng tạo của Hội đồng xét xử; sự ghi nhận, điều chỉnh phù hợp của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân; và trên hết là sự thành khẩn, ăn năn hối cải của các bị cáo tại phiên tòa

Xem xét lời khai bằng hình ảnh Tại phần xét hỏi, Hội đồng xét xử đã cho trình chiếu các clip nêu tóm tắt toàn bộ quá trình tranh chấp đất đai ở Đồng Tâm, Mỹ Đức; hành vi sai phạm của các bị cáo vào rạng sáng 9/1/2020 dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, làm 3 cán bộ, chiến sĩ công an hy sinh. Trong đó có các đoạn clip dẫn chứng lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra.


Điều đáng nói, thông qua những lời khai này đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn trong lời khai của chính các bị cáo tại phiên tòa. Qua đó, nhiều bị cáo đã tự nhận thức sai phạm, thừa nhận hành vi phạm tội và xin được Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.


Chiều 7/9, trình bày tại tòa, bị cáo Bùi Viết Hiểu khai về nguồn gốc đất ở đồng Sênh và bị cáo cho một phần trong đó là đất nông nghiệp. Trước lời khai này, Hội đồng xét xử đã cho trình chiếu clip lời khai của bị cáo Hiểu tại cơ quan điều tra và công bố đơn của bị cáo Hiểu gửi Hội đồng xét xử sáng 7/9, ngay trước khi bắt đầu phiên tòa. Trong đó, bị cáo Hiểu xin được giảm nhẹ tội, đồng thời nêu rõ việc bị cáo đã ký bàn giao đất, nhận đủ tiền bồi thường và thừa nhận đất đồng Sênh là đất quốc phòng. Sau sự đối chiếu này, sáng 8/9, bị cáo Hiểu đã xin lỗi Hội đồng xét xử vì đã khai sai về nguồn gốc đất ở đồng Sênh.

Tiếp đó, bị cáo Hiểu khai, bị cáo tích cực tham gia "Tổ đồng thuận" nhằm mục đích phòng chống tham nhũng tại địa phương. Tuy nhiên, khi Hội đồng xét xử công bố clip lời khai của bị cáo Hiểu tại cơ quan điều tra, trong đó bị cáo lại khai cảm thấy mệt mỏi, muốn xin ra khỏi "Tổ đồng thuận", nhưng Lê Đình Kình cản: "đã trót đâm lao thì phải theo lao" nên bị cáo tiếp tục tham gia cùng nhóm này. Trước mâu thuẫn đó, bị cáo Hiểu đã phải thừa nhận lời khai tại cơ quan điều tra là đúng sự thật.


Tại Tòa, bị cáo Hiểu tiếp tục khai tối 8/1/2020 bị cáo lên nhà Lê Đình Kình ngủ vì lo sợ "xã hội đen" sẽ thuê người bắt cóc, nên tới đó để "lánh nạn". Nhưng lời khai trong clip trình chiếu tại tòa, bị cáo Hiểu lại khai do Lê Đình Công gọi sang nhà Lê Đình Kình ngủ nên bị cáo đi. Trước sự mâu thuẫn này, sáng 8/9, bị cáo Hiểu xin khai lại và thừa nhận sự thật là do Lê Đình Công gọi sang nhà Lê Đình Kình ngủ nên bị cáo Hiểu đi. Bị cáo Hiểu xin lỗi Hội đồng xét xử về những lời khai này và mong cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Trước tòa, bị cáo Lê Đình Chức khai nhận đã thực hiện các hành vi là nguyên nhân trực tiếp khiến 3 cán bộ, chiến sĩ công an hy sinh như: sử dụng tuýp sắt có gắn dao bầu chọc nhiều lần vào lực lượng công an; chỉ đạo Lê Đình Doanh mang chậu xăng lên đổ xuống hố - nơi có 3 cán bộ, chiến sĩ công an rơi xuống. Đồng thời, bị cáo Chức cũng khai nhận bản thân là người nhiều lần đổ xăng xuống hố.
Ngoài lời khai của bị cáo Chức, Hội đồng xét xử đã cho trình chiếu các hình ảnh, clip diễn biến đêm xảy ra vụ án. Bị cáo Chức đã thừa nhận trong đó có hình ảnh của mình sử dụng các loại hung khí chống đối lực lượng công an.
Trong phần tranh tụng, một số luật sư đặt câu hỏi về nguồn gốc các clip trình chiếu tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát cho biết những clip này được lấy từ 2 nguồn: Một nguồn công khai do các cơ quan báo chí, phóng viên phỏng vấn và đã công chiếu trên truyền hình cho nhân dân cả nước đều biết, có giá trị chứng minh nên Cơ quan điều tra đã thu thập; một nguồn khác được thực hiện trong quá trình hỏi cung, ghi lời khai của các bị cáo theo quy định tại Điều 183 – Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, có thể ghi âm, ghi hình song song với ghi lời khai trong các bút lục của hồ sơ.

Những ghi nhận kịp thời của Viện Kiểm sát nhân dân
Trong vụ án này, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã ra cáo trạng truy tố 29 bị cáo, trong đó có 25 bị cáo bị truy tố về tội "Giết người". Đánh giá tổng thể quá trình xét hỏi, đại diện Viện Kiểm sát nhận thấy hành vi của 25 bị cáo này có đủ căn cứ cấu thành tội "Giết người" thông qua việc góp tiền mua lựu đạn, mua xăng, làm bom xăng, làm bùi nhùi tẩm xăng… tấn công lực lượng chức năng. Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố các bị cáo này về tội "Giết người" là có căn cứ pháp luật.

Không bị cáo nào kêu oan Xuyên suốt phiên tòa, trải dài từ phần xét hỏi đến tranh tụng, tất cả các bị cáo đều nhận ra sai phạm, thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật và mong được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, hưởng khoan hồng của pháp luật. Không có bị cáo nào kêu oan, hoặc cho rằng hành vi của mình là không vi phạm pháp luật. Đa số các bị cáo đều bày tỏ sự ăn năn hối hận, xin lỗi gia đình 3 cán bộ, chiến sĩ công an đã hy sinh.
Quá trình tranh tụng, nhiều luật sư bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ vụ án để tiến hành điều tra bổ sung. Đáp lại luận điểm này, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa cho rằng không có cơ sở để trả hồ sơ điều tra bổ sung. Các luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho 3 gia đình bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử không trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Ngay cả một số bị cáo cũng chung mong muốn không trả hồ sơ vụ án, bởi với họ, kéo dài thêm thời gian tố tụng trong vụ án này là làm xấu đi tình trạng của họ.
Bị cáo Bùi Văn Tiến khi nói lời sau cùng đã thừa nhận mặc dù không trực tiếp tham gia thực hiện hành vi sát hại 3 cán bộ, chiến sĩ công an, nhưng bị cáo tự nhận thấy bị cáo cũng có một phần lỗi lầm, mong các gia đình bị hại tha lỗi cho bị cáo và xin được giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo cảm ơn đại diện Viện Kiểm sát nhân dân đã chuyển tội danh cho bị cáo, cảm ơn các luật sư đã tham gia bào chữa cho bị cáo. Bị cáo mong các luật sư bào chữa không yêu cầu trả hồ sơ vụ án nữa, để bị cáo sớm trở về với vợ con, bị cáo có 3 con còn rất nhỏ, bản thân bị cáo có nhiều bệnh nặng.

Nói lời sau cùng tại phiên tòa, các bị cáo bày tỏ mong muốn được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm quay trở về với xã hội, với gia đình và hứa hẹn sẽ không vi phạm pháp luật. Sáu bị cáo đề nghị các luật sư không tiếp tục bào chữa cho mình nữa, mong muốn được dừng vụ án ở đây. Điều đáng nói, trước phiên tòa sơ thẩm, cả 6 bị cáo này và gia đình bị cáo đều chủ động mời luật sư bào chữa.

Sau khi cảm ơn các luật sư đã tham gia bảo vệ cho mình, bị cáo Lê Đình Doanh xin được dừng, không cần các luật sư bào chữa cho bị cáo nữa. Bị cáo Doanh xin được hưởng khoan hồng của Nhà nước, được trở về làm công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo Nguyễn Quốc Tiến khẳng định không mời và cũng không cần luật sư bào chữa cho mình. Bị cáo Bùi Thị Đục thừa nhận đã sai và xin các luật sư dừng bào chữa cho bị cáo, bị cáo hứa sau này sẽ không làm việc gì sai với pháp luật, với Đảng và Nhà nước. Đào Thị Kim, Trần Thị Phượng cảm ơn các luật sư đã bào chữa cho mình, bản thân các bị cáo đã nhận rõ tội lỗi của mình và xin các luật sư không tiếp tục bào chữa cho bị cáo nữa…

Trong một vụ án, để công lý được thực thi đòi hỏi phải có quá trình điều tra, truy tố, xét xử công minh, khách quan, nhưng quan trọng hơn cả là sự thành khẩn của các bị cáo. Tự bản thân mỗi bị cáo cần nhận thức được sai phạm, thành khẩn khai nhận tội và thức tỉnh lương tâm của mình, để từ đó ăn năn hối cải, thực sự mong muốn sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho xã hội.