Thứ Hai, 5 tháng 10, 2020

Giữ gìn và phát huy giá trị cốt lõi phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”

 

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là sự kết tinh giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đây cũng là sự tiếp nối truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta - truyền thống tôn vinh và ghi nhớ công lao những người đã có công với đất nước và dân tộc.


“Bộ đội Cụ Hồ” là danh hiệu cao quý mà nhân dân ta dành tặng cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Tên gọi ấy thể hiện tình cảm yêu mến đặc biệt và niềm tin sâu sắc của nhân dân đối với Quân đội ta, một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. “Bộ đội Cụ Hồ” là sự kết tinh những giá trị cao đẹp nhất của con người Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam trong những chặng đường đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc và bảo vệ hòa bình, lương tri của nhân loại. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” gồm nhiều yếu tố, trong đó trung với Đảng, hiếu với dân là giá trị cốt lõi, phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp và truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Theo các tư liệu lịch sử, tên gọi “Bộ đội Cụ Hồ” xuất hiện ngay từ những ngày đầu chống thực dân Pháp xâm lược. Khi đó nhiều đơn vị bộ đội được lệnh về chiến khu Việt Bắc để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Bộ đội trú quân trong các bản làng, thôn xóm, cùng ăn, cùng ở với nhân dân, dựa vào dân và hết lòng giúp đỡ nhân dân. Chính trong những năm tháng này đã nảy nở và phát triển những tình cảm và niềm tin yêu của nhân dân với bộ đội. Ở chiến khu Việt Bắc, đồng bào các dân tộc trìu mến gọi các đơn vị vũ trang là “Bộ đội Ông Ké” hay “Bộ đội Ông Cụ”, khi biết “Ông Ké”, “Ông Cụ” là Chủ tịch Hồ Chí Minh, mọi người đã gọi “Bộ đội Ông Ké” là “Bộ đội Cụ Hồ” và cũng từ chiến khu Việt Bắc tên gọi yêu quý ấy lan truyền đi khắp nơi và trở thành quen thuộc đến ngày nay.

Từ khi ra đời  đến nay, Quân đội ta luôn được nhân dân tin yêu, mến phục; các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xây dựng nên phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cao đẹp, xứng đáng với lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Đây là sự khái quát cô đọng, phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta. “Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành niềm tự hào, tài sản tinh thần vô giá, góp phần tạo nên sức mạnh chiến đấu, làm cho Quân đội ta vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách, lập nên những kỳ tích vĩ đại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Nhiệm vụ của Quân đội ta là thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng, chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó thực chất là lý tưởng “trung với Đảng, hiếu với dân”. Lý tưởng này là sự biểu hiện tập trung nhất bản chất, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Đối với cách mạng Việt Nam, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất và đúng đắn. Trung với Đảng không chỉ được thể hiện ở việc kiên định với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng mà còn thể hiện ở tình cảm cách mạng luôn nỗ lực phấn đấu để thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng đó. Đồng thời phải có đủ năng lực và bản lĩnh để thực hiện nhiệm vụ được giao.

Trung với Đảng thì phải hiếu với dân. Bởi vì: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Quân đội ta từ Nhân dân mà ra, là quân đội của dân, do dân, vì dân nên hiếu với dân có nghĩa là Quân đội ta phải luôn sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ Nhân dân. Trong quan hệ với Nhân dân phải thực hiện đúng 12 điều kỷ luật và 10 lời thề danh dự của quân nhân, làm cho quân với dân gắn bó như cá với nước. Đây cũng chính là ngọn nguồn chiến thắng của Quân đội ta mà mỗi cán bộ, chiến sĩ phải tiếp tục kế thừa và phát huy.

Trong chiến tranh, “trung với Đảng, hiếu với dân” thể hiện ở tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để đánh đuổi giặc ngoại xâm. Trong thời bình, lòng trung với Đảng, hiếu với dân thể hiện ở sự giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng, tin tưởng vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân. Đó là sự thống nhất và hòa quyện giữa lý trí và tình cảm, giữa nhận thức và cảm xúc. Không có sự thống nhất và hòa quyện này lòng trung thành với Đảng có thể chỉ dừng lại ở lời nói hoặc khẩu hiệu chung chung mà không biến thành hành động cụ thể, thành lối sống, nếp nghĩ của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, tinh thần này còn thể hiện ở ý thức cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của các thế lực thù địch, bảo vệ môi trường hòa bình của đất nước. Thực hiện những nhiệm vụ này, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn nỗ lực học tập, rèn luyện để sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, không để bị động, bất ngờ.

 Trong công tác dân vận, Quân đội luôn là lực lượng xung kích đi đầu. Đặc biệt ở các khu kinh tế - quốc phòng, quân đội cùng với các lực lượng khác đã khắc phục mọi khó khăn, bám sát nhân dân, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; đã triển khai được nhiều dự án, giúp nhân dân ổn định cuộc sống. Sự giúp đỡ đó không chỉ dừng lại ở vật chất mà quân đội còn tích cực hướng dẫn nhân dân tổ chức đời sống và cách thức sản xuất; cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân, dạy chữ cho con em các dân tộc thiểu số; bảo vệ nhân dân trước những thủ đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân. Những hoạt động này được Quân đội ta thực hiện thường xuyên, đạt hiệu quả cao, qua đó làm cho tinh thần hiếu với dân thật sự được tỏa sáng. Hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ không quản ngại khó khăn, nguy hiểm giúp đỡ nhân dân lúc thiên tai, hoạn nạn được Đảng, Nhà nước và Nhân dân đánh giá cao, là sự tiếp nối truyền thống, bản chất của Quân đội ta những năm qua, là sự gắn bó máu thịt tình quân dân.

Vấn đề quan trọng hàng đầu của quân đội bất kỳ quốc gia nào bao giờ cũng là vấn đề chính trị. Đó thực chất là bản chất giai cấp, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội, quân đội do ai tổ chức, lãnh đạo, chiến đấu vì lợi ích của ai. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định quân đội luôn mang bản chất giai cấp sâu sắc, không có và không bao giờ có quân đội mang bản chất của nhiều giai cấp. V.I.Lênin đã từng nhấn mạnh: “Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính trị trọng hơn quân sự”, “quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”.

Thực tiễn đã chứng minh, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tổn thất to lớn của phong trào cách mạng thế giới. Mặc dù tính chất của thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội không thay đổi, song sự thoái trào này gây nên sự hoài nghi, dao động ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lợi dụng cơ hội này tìm mọi cách xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu của chủ nghĩa xã hội cũng như vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ tìm mọi cách để thay đổi trật tự thế giới theo hướng có lợi cho chủ nghĩa tư bản. Khi đã nhận thất bại trong những cuộc đối đầu lịch sử, chủ nghĩa đế quốc và tay sai vẫn không từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng nước ta. Họ tiếp tục sử dụng chiêu bài “diễn biến hòa bình” với những thủ đoạn và phương thức ngày càng tinh vi. Họ ra sức tuyên truyền tư tưởng phi chính trị hóa quân đội, tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng; cổ xúy tư tưởng tư sản, đòi đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập, đánh tráo các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc, tìm mọi cách xuyên tạc lịch sử, lôi kéo cán bộ, chiến sĩ quân đội chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất, coi nhẹ các giá trị tinh thần. Đây là những chiêu bài của chủ nghĩa đế quốc sử dụng để phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa, làm xuất hiện nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Điều đó đặt ra nhiều khó khăn, thách thức trong việc củng cố và phát huy giá trị “trung với Đảng, hiếu với dân” của Quân đội ta.

Tuy nhiên, chính những luận điệu xuyên tạc trắng trợn của các thế lực thù địch làm cho âm mưu của chúng càng lộ rõ, càng làm tăng tinh thần cảnh giác cách mạng của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta. Nhiệm vụ quan trọng của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, đặc biệt đội ngũ cán bộ chính trị là phải thường xuyên làm tốt công tác giáo dục tư tưởng chính trị, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn giác ngộ sâu sắc giá trị “trung với Đảng, hiếu với dân”. Bởi giữ vững giá trị này là sự thể hiện kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, cũng là giá trị cốt lõi của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là trách nhiệm, lương tâm, danh dự của mọi thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta trước Đảng và Nhân dân. Trong đó “trung với Đảng, hiếu với dân” là giá trị cốt lõi, hạt nhân chi phối các giá trị khác của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Thực hiện tốt nhiệm vụ này là sự thể hiện tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trước những biến động của thời cuộc hiện nay./.


 

ĐỂ MỘT NGƯỜI LÀM QUAN, TRĂM HỌ ĐƯỢC NHỜ

Chúng ta vẫn luôn lên án, đấu tranh với những cán bộ có biểu hiện “quan cách mạng”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vun vén cho gia đình, dòng họ, lợi ích cục bộ địa phương. Thế nhưng, khi trong gia đình, dòng họ, làng, xã có người làm cán bộ thì chúng ta lại luôn đòi hỏi họ phải quan tâm, cất nhắc, sắp xếp việc làm cho người thân quen; ưu ái, tạo điều kiện giúp quê hương phát triển, bất chấp thực tế. Người nào không đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi đó thì bị quy là “quan cách mạng”, xa dân, thậm chí vô ơn.

ĐỂ MỘT NGƯỜI LÀM QUAN, TRĂM HỌ ĐƯỢC NHỜ

Ảnh minh họa: Tuyengiao.vn. 

Thực tế cho thấy, không ít trường hợp cán bộ thiếu bản lĩnh đã gục ngã trước sức ép trên dẫn đến vi phạm nguyên tắc, quy định và có các quyết định thiếu đúng đắn. Thời gian qua, đã có nhiều vụ việc nâng đỡ, bổ nhiệm cán bộ là người thân quen không đúng quy định, quy trình về công tác cán bộ; bổ nhiệm cán bộ không đủ các tiêu chí; tìm cách lách các quy định để bổ nhiệm người thân, người "cánh hẩu"... khiến dư luận bức xúc. Kiểu suy nghĩ "cuốc giật vào lòng" khiến không ít người có chức vụ, quyền hạn đã ra các quyết định, như: Đầu tư xây mới, nâng cấp, cải tạo các công trình, phát triển hạ tầng, khu/cụm công nghiệp... cho quê hương dù chưa cần thiết, không phù hợp thực tế, điều kiện, tiềm năng. Không ít bài học về kiểu đầu tư không phù hợp với quy hoạch phát triển của địa phương dẫn đến các dự án này không phát huy hiệu quả, gây lãng phí nguồn lực đầu tư từ ngân sách, làm mất cơ hội phát triển của địa phương khác.

Câu chuyện này tuy không mới, song nó vẫn tồn tại âm ỉ trong nhiều gia đình, dòng họ, địa phương và tạo nên sức ép vô hình đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đất nước sẽ ra sao nếu cán bộ nào cũng chỉ chăm chăm quan tâm đầu tư xây dựng, phát triển làng, xã, quê hương nơi mình sinh ra, lớn lên? Chúng ta phê phán cán bộ, đảng viên có biểu hiện trục lợi, hành dân nhưng cũng phải phê bình những người "hành quan" với tư tưởng, suy nghĩ "một người làm quan, cả họ được nhờ".

Vì thế, để vượt qua được sức ép này, trước hết đòi hỏi mỗi cán bộ phải luôn giữ vững bản lĩnh, nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, “chí công vô tư”, đặt việc công lên trên, lên trước việc tư; phải biết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Tổ quốc, nhân dân và của Đảng như lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn, nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên. Càng cán bộ cấp cao thì càng cần xóa bỏ “tư duy làng, xã” để quan tâm, chăm lo phát triển chung cho người dân, địa phương, lĩnh vực mình công tác, quản lý. Cùng với đó, chính mỗi người thân trong gia đình, dòng họ, làng xóm của cán bộ cũng phải thay đổi tư duy, cách nghĩ, tạo điều kiện thuận lợi, môi trường trong sạch, lành mạnh để cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ, đóng góp công sức, trí tuệ cho sự nghiệp cách mạng chung của Đảng. Có như thế, một người làm quan thì trăm họ sẽ được nhờ.

Theo QDND

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2020

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THỦ ĐOẠN TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ THẾ HỆ TRẺ HIỆN NAY

 

Trong điều kiện kinh tế - xã hội phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, tuổi trẻ sẽ có rất nhiều điều kiện, cơ hội để phát huy truyền thống anh hùng cách mạng của các thế hệ đi trước, vươn lên khẳng định mình trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện mới cũng đặt ra cho thế hệ trẻ rất nhiều những thách thức, nhất là những tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường nó tác động không nhỏ đến thế hệ thanh, thiếu niên hiện nay. Do vậy các thế lực thù địch và các phần tử xấu của xã hội luôn xem thanh, thiếu niên là đối tượng đặc biệt để chúng thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Vì thế, thế hệ trẻ cần nêu cao cảnh giác, kịp thời nhận diện, vạch trần những thủ đoạn của chúng là nhiệm vụ cấp thiết, thường xuyên và lâu dài của mọi tổ chức, cá nhân và cả hệ thống chính trị.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 làm thay đổi mạnh mẽ phương thức giao tiếp của mọi tầng lớp nhất là đối tượng thanh, thiếu niên. Đây chính là thời cơ để các thế lực thù địch lợi dụng công nghệ truyền thông và mạng xã hội để tác động lên tâm lý hòng lôi kéo thế hệ trẻ. Chúng đăng tải nhiều tài liệu có nội dung độc hại phản động, thông tin lập lờ, suy diễn không đúng bản chất, với dụng ý xấu, như: phủ nhận những thành quả của Đảng, Nhà nước cả trong quá khứ, hiện tại cũng như vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực, tạo ra các diễn đàn trên mạng để nhiều người trẻ truy cập và định hướng bình luận theo hướng tiêu cực, nhằm gieo rắc sự hoài nghi, chán nản, dẫn tới mất phương hướng chính trị. Phát tán những ấn phẩm đồi trụy, bạo lực, cổ súy cho lối sống thực dụng làm tha hóa biến chất của con người, khơi dậy ham muốn bản năng, chạy theo hưởng lạc, không chịu học tập, làm việc và cống hiến. Căn bệnh “nhạt Đảng, khô Đoàn, chán chính trị” đang là hiện trạng có thật của một số ít thanh, thiếu niên. Khi sự ham muốn bản năng trở thành mục đích duy nhất thì tất yếu dẫn đến sao nhãng quá trình học tập và rèn luyện; sự bồng bột, thiếu thực tế, dễ dao động, dễ bị lôi kéo, lối sống đua đòi, dẫn đến một bộ phận giới trẻ coi trọng lối sống vật chất, xem nhẹ giá trị tinh thần. Bàng quang, vô cảm, không đấu tranh với những cái sai và cũng không ủng hộ, bảo vệ những cái đúng; không ít thanh niên chưa thực sự vững tin vào tương lai, vào sự phát triển của đất nước, giảm sút ý chí phấn đấu vươn lên, ngại khó khăn, gian khổ, lệch lạc trong suy nghĩ và hành động; Đối với sinh viên và đội ngũ trí thức, các thế lực thù địch tăng cường móc nối, lôi kéo một số ít du học sinh, nghiên cứu sinh đang học tập, công tác ở nước ngoài để tuyên truyền phản động; tập hợp, bồi dưỡng kiến thức độc hại cho một số thanh niên có xu hướng phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, sử dụng chiêu trò tăng học bổng, hỗ trợ kinh phí từ các NGO, liên kết đào tạo, thẩm thấu những “giá trị” xã hội tư bản một cách tự nhiên, nhưng rất thâm độc, nhằm nuôi dưỡng đội ngũ này với âm mưu làm thay đổi chế độ ở Việt Nam trong tương lai. Họ gieo rắc vào giới trẻ khái niệm “cấp tiến”, “tự do”, “dân chủ” vô tổ chức, bất chấp luật pháp, tung hô những ý kiến “phản biện” ảo tưởng, xa rời thực tiễn. Hậu quả là một số bạn trẻ đã “sập bẫy”, hoài nghi, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng và thành quả xây dựng đất nước; tự đề cao cái tôi cá nhân, lối sống vị kỷ, cá biệt có trường hợp tha hóa biến chất về nhân cách, trở thành công cụ đắc lực cho các thế lực thù địch. Với những thay đổi tinh vi cả về thủ đoạn và sách lược của các thế lực thù địch nhằm “tẩy não” làm chuyển hóa tư tưởng, dẫn tới quá trình “tự diễn biến” ở lớp người đang là rường cột, tương lai của đất nước, nếu thanh niên không được trang bị lý luận, nhận thức đúng để đủ sức “đề kháng” sẽ gây hậu quả khó lường.

Vì vậy phải giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của thanh thiếu niên và công tác thanh thiếu niên trong giai đoạn mới để giúp cho thế hệ trẻ của chúng ta nhận diện được bản chất âm mưu của các thế lực thù địch, tỉnh táo, bản lĩnh, để chúng không lôi kéo, kích động. Thường xuyên coi trọng giáo dục ý thức cách mạng để thanh niên biết nhận diện, đề phòng và tránh xa những cám dỗ vật chất, văn hóa tầm thường. Thế hệ trẻ hiện nay là tương lai của đất nước, đồng thời cũng là đối tượng mà các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng để lôi kéo để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Do vậy mỗi đoàn viên, thanh thiếu niên cần phải xây dựng cho mình tư tưởng vững vàng trước thông tin xấu độc, đồng thời luôn kiên định, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng sự quản lý điều hành cua rNhaf nước; kịp thời phát hiện và tích cực đấu tranh, ngăn ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch với thủ đoạn “Diễn biến hoà bình”, tích cực học tập, rèn luyện để trở thành một công dân tốt, đóng góp trẻ của mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”: Bịa đặt thông tin hòng làm méo mó các vụ án

 Những ngày gần đây, trên internet xuất hiện khá nhiều trang báo mạng với đủ các thể loại (viết, hình, nói) đề cập đến một số vụ án hình sự vừa được các cấp tòa của Việt Nam xét xử. Chưa bàn đến tính chất, nội dung của các bản án, bởi để có được một bản án công minh, đúng người, đúng tội thì phải có một quá trình thực hiện tố tụng, xét xử chặt chẽ, khoa học, theo đúng luật định.

Nhưng cái cách tiếp cận vụ án của một số trang mạng xã hội rõ ràng là “có vấn đề”, bởi dường như họ muốn dẫn dắt dư luận theo cách nghĩ của họ, khiến dư luận nhìn nhận các vụ án một cách méo mó, đầy nghi ngờ. Mục tiêu cuối cùng của nhiều trang mạng là hướng tới xuyên tạc, phủ nhận nền tư pháp của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam.

Cảnh giác với tin giả trên mạng xã hội

 Mặc dù tin giả xuất hiện từ lâu, ở mọi thời kỳ song những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông, nhất là internet và mạng xã hội thì tin giả cũng xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành vấn nạn với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Bởi vậy, nhận diện tin giả, nguyên nhân xuất hiện và tác hại của nó làm cơ sở nâng cao cảnh giác, chủ động phòng, chống tin giả, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội là vấn đề có ý nghĩa quan trọng hiện nay.

Phòng, chống “diễn biến hòa bình": Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên

 Hiện nay, có một số người băn khoăn về nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa thuộc về những thành phần nào, hay nói cách khác là nhiệm vụ đó thuộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nào.

Đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một thủ đoạn thâm hiểm của các thế lực thù địch, nhằm xóa bỏ thành quả cách mạng và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Tuy nhiên, thực tiễn 90 năm qua đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là không thể bác bỏ!

Tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin, một âm mưu thâm độc và phi lý

 Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đẩy mạnh công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái cũng là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vì thế trong điều kiện tình hình phức tạp hiện nay, nhất là thời điểm "nhạy cảm chính trị" khi chúng ta đang tiến hành Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, thì cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp, không chỉ đơn thuần về mặt nhận thức, mà còn mang tính chính trị sâu sắc.

Cảnh giác trước những biểu hiện “tự diễn biến”

 Khi mỗi cán bộ, đảng viên luôn nhận thức rõ mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng vững niềm tin son sắt vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi công cuộc đổi mới, thì dù các thế lực thù địch có tìm mọi mưu ma chước quỷ để thúc đẩy “tự diễn diễn”, “tự chuyển hóa” đến đâu, chúng cũng không thể đạt được ý đồ thâm hiểm làm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã lựa chọn.

Nhận diện âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình dịch chuyển, thay đổi về lập trường chính trị, tư tưởng trong từng cá nhân, đến một mức độ nhất định nào đó sẽ dẫn tới sự thay đổi bản chất của con người và tổ chức. Biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với người cán bộ, đảng viên là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; có sự hoài nghi, lung lay về lập trường, lý tưởng và cuối cùng là sự thay đổi, buông bỏ lập trường giai cấp công nhân, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; nói và làm ngược lại với đường lối, chủ trương, mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Đặc biệt, lợi dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch, phản động đang thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta, cụ thể như sau:

Thứ nhất, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm cho cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trở nên khó khăn, phức tạp hơn.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm thực hiện các âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta; khiến cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng ta càng khó khăn, phức tạp và khó lường hơn. Giờ đây, tiến bộ công nghệ bị các thế lực thù địch lợi dụng biến thành “công cụ” hữu hiệu tuyên truyền xuyên biên giới nhằm xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ hai, dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thủ đoạn chống phá đa dạng, tinh vi, phức tạp và nguy hiểm hơn.

Thông qua không gian mạng, mà trực tiếp là các trang mạng xã hội, các diễn đàn, hệ thống truyền thông đa phương tiện, các thế lực thù địch gieo rắc các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, tấn công trực diện, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phá hủy nền tảng tư tưởng của Đảng, bản chất cách mạng của Đảng và Nhà nước. Với luận điệu xuyên tạc được lặp đi lặp lại nhiều lần, các thế lực thù địch sử dụng công nghệ để tạo ra sự “thu hút” ảo, như số lượng người đọc, người bình luận, người chia sẻ “khủng” để gây chú ý, hoài nghi, hoang mang và dần làm lung lay tư tưởng của một số cán bộ, đảng viên.

Thứ ba, bằng những thủ đoạn chống phá mới, các thế lực thù địch, phản động đã thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Dù muốn hay không, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, trong hàng ngũ của chúng ta có một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bị lôi kéo, mua chuộc, thoái hóa, biến chất. Một số cán bộ, đảng viên sau khi bị tiêm nhiễm thông tin tiêu cực, độc hại đã tỏ ra hoài nghi về con đường cách mạng, có tư tưởng xét lại một số chủ trương của Đảng, như đảng viên làm kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế tư nhân hay vấn đề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,... Họ hoài nghi và cho rằng, đây chính là biểu hiện, là minh chứng về sự dần “đổi màu” của Đảng, của chế độ. Nhiều cán bộ, đảng viên từ lung lay lập trường, lại bị tác động, tấn công dồn dập của kẻ thù trên không gian mạng nên dẫn tới tha hóa, biến chất, biến thành những phần tử cơ hội chính trị, thậm chí phản bội lại lợi ích dân tộc và nhân dân.

Có thể nhận thấy rằng, dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư các thế lực thù địch, phản động đang đẩy mạnh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên với những cách thức và biện pháp mới vừa tinh vi, đa dạng, vừa phức tạp và nguy hiểm hơn trước. Nhưng dù được tiến hành với hình thức và biện pháp nào đi chăng nữa thì mục tiêu, bản chất chống phá của các thế lực thù địch, phản động vẫn không hề thay đổi, từ gieo rắc sự nghi ngờ, lung lay về lý tưởng và cuối cùng là sự thay đổi, buông bỏ lập trường giai cấp công nhân, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, vấn đề đặt ra là phải nhận diện chính xác những tác động, nhất là những tác động tiêu cực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để từ đó, có những biện pháp khắc chế hữu hiệu.

Để thanh niên không bị cuốn theo thông tin sai lệch

 

Để thanh niên không bị cuốn theo thông tin sai lệch

 

Sự bùng nổ mạng xã hội (MXH) tại nước ta những năm gần đây khiến một bộ phận bạn trẻ thiếu kiến thức, chưa vững vàng về lập trường chính trị dễ sa ngã, bị cuốn theo những luồng thông tin xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch, phản động.

Cách đây vài năm, giới truyền thông cũng như người dùng in-tơ-nét ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều khái niệm về “Fake news” (tin giả). Ban đầu, “Tin giả” tại nước ta chỉ là một số địa chỉ trang mạng giới thiệu những phương pháp trị bệnh nan y bằng “siêu năng lực”. Dần dần, trên các trang MXH mà điển hình là Facebook xuất hiện những câu chuyện ly kỳ, hình ảnh thương tâm hay đơn giản là các khuyến mãi “hời” không ngờ từ những nhãn hàng, thương hiệu nổi tiếng. Một số địa chỉ MXH lại sử dụng các ứng dụng “nhảm” nhưng kích thích trí tò mò của người dùng. Sau một thời gian, các địa chỉ này bắt đầu “nhồi” vào tai người dùng những thông tin bịa đặt.

Theo nhiều nghiên cứu khác nhau, Facebook hiện là MXH được sử dụng nhiều nhất tại nước ta. Thống kê gần đây cho thấy, Việt Nam hiện xếp thứ bảy về số lượng người dùng Facebook trên toàn thế giới với 64 triệu tài khoản. Số tuổi trung bình người dùng MXH Việt Nam là từ 18 đến 34 tuổi, trong đó thời gian dành cho việc “lướt” MXH, tìm kiếm thông tin, đọc tin tức lần lượt chiếm 94%, 87% và 65%. Như vậy, có thể thấy rằng, ở nước ta, những người thường xuyên truy cập MXH chính là lực lượng thanh niên, và nhu cầu tìm kiếm thông tin qua MXH của các bạn trẻ là rất cao.

Có rất nhiều bạn trẻ biết cách sử dụng MXH hiệu quả, tự tìm kiếm nguồn tri thức, nâng cao giá trị bản thân và cả khởi nghiệp, làm giàu chính đáng. Nhiều nhóm bạn trẻ sử dụng MXH để gắn kết cộng đồng, sẻ chia những bất hạnh, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, góp phần xây dựng một xã hội giàu lòng nhân ái. MXH còn là môi trường giúp giới trẻ tự tin bày tỏ suy nghĩ, thể hiện trình độ, chứng minh năng lực bản thân trước bạn bè quốc tế trong thời đại hội nhập toàn cầu. Tuy nhiên, qua khảo sát cũng như tìm hiểu thực tế của chúng tôi, một bộ phận không nhỏ thanh niên vẫn “chuộng” tìm kiếm thông tin qua những địa chỉ MXH không chính thống hoặc những luồng thông tin mang tính chất “lá cải”, dẫn đến nhiều hệ lụy. Điển hình như thời gian vừa qua, không ít bạn trẻ đã bị kẻ xấu lợi dụng, kích động, mua chuộc tham gia cả trực tiếp và gián tiếp vào các hành vi tụ tập gây rối trật tự công cộng, cố ý làm hư hỏng tài sản nhà nước. Bên cạnh đó, một số thanh niên dù không tham gia nhưng vẫn hiếu kỳ lại gần theo dõi, quay phim, chụp ảnh, vô tình khiến những kẻ quá khích thêm hung hăng, ngạo ngược. Đến khi bị các lực lượng chức năng tạm giữ, một số bạn trẻ mới nhận ra sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức, hùa theo số đông trên MXH nguy hiểm đến mức nào.

VIỆT NAM LIỆU CÓ ĐÓNG GÓP ÍT?


Trong cuộc họp về cuộc chiến chống coronavirus của Hội đồng Bảo an vừa qua, Đại sứ Mỹ Kelly Craft đã có phát biểu gây tranh cãi rằng “Mỹ đã tài trợ hơn 900 triệu USD cho phản ứng của LHQ - nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác cho đến thời điểm hiện tại”. Theo đó, các quốc gia mà bà kể tên lấy ví dụ là "Niger - 4,6 triệu, Nam Phi - 8,4 triệu, Indonesia - 5 triệu, Việt Nam - 9,5 triệu, Tunisia - 600 nghìn đô la".

Tất nhiên, với một đất nước siêu cường như Mỹ, việc tài trợ 900 triệu USD là việc nhỏ, nhưng với một nước như Việt Nam, vài triệu USD lại là vấn đề khác. Nhưng liệu Việt Nam có đóng góp ít cho cuộc chiến chống dịch Covid 19 của thế giới?

Tôi nghĩ là không. Bởi lẽ, Việt Nam đã cung cấp cho thế giới một mô hình chống dịch hiệu quả, tiết kiệm, không để nền kinh tế rơi vào tình trạng sụp đổ vì dịch bệnh. Mô hình của Việt Nam đã được WTO, và chính Mỹ phải thừa nhận và cử đoàn sang học hỏi kinh nghiệm. Thử hỏi, nếu các nước làm tốt việc phòng chống dịch như Việt Nam, hậu quả của dịch Covid 19 có lớn và lan rộng như bây giờ không?

Trong khi đó, dù Mỹ chi tiền lớn, có cơ sở y tế hiện đại, nhưng Mỹ lại là nước bị đánh giá là thất bại nhất trong đợt chống dịch vừa qua, luôn giữ vị trí hàng đầu về số ca tử vong và số người nhiễm bệnh. Mỹ cho thấy rằng tiền nhiều chưa chắc đã xử lý dịch bệnh một cách hiệu quả.

Đóng góp có nhiều kiểu đóng góp, chứ đâu phải là tiền bạc. Đối với một nạn dịch, tôi nghĩ đóng góp lớn nhất không phải là đã tài trợ bao nhiêu tiền, mà quan trọng nhất chỉ ra cách chống dịch hiệu quả để mọi nước có thể áp dụng. Và Việt Nam là một trong ít nước có được mô hình như thế.
Hải Đăng st

CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN NÊU CAO TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 Cần phải khẳng định rằng, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân. Trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên phong.

Để bảo vệ hiệu quả nền tảng tư tưởng của Đảng, thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán triệt để hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, chủ nghĩa thực dụng tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tiếp tục khẳng định chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là con đường duy nhất đúng, bởi nó vừa thể hiện tính cách mạng triệt để, vừa phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội. Bên cạnh đó, cần có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức trong hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm, tư tưởng và ý đồ thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Phát hiện, xử lý kịp thời những âm mưu phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng từ các thế lực thù địch, vạch mặt những phần tử cơ hội chính trị, ngăn chặn những hành vi xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, ngăn chặn sự chia rẽ mối đoàn kết gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và lực lượng vũ trang. Phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước, cụ thể là của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn những mâu thuẫn nội bộ trong các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ, tạo tâm lý bất bình và các “điểm nóng” về an ninh trật tự trong xã hội. Đồng thời đẩy mạnh việc đấu tranh, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quyết tâm làm trong sạch từ nhận thức đến hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên-đội ngũ vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, để tạo cơ sở nền tảng đấu tranh hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch./.

ĐẤU TRANH CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG NỘI BỘ - BIỆN PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

 Quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi cá nhân, tổ chức thường bắt đầu từ mất niềm tin, mất phương hướng, từ bỏ lý tưởng, mục tiêu cách mạng, tiến tới du nhập tư tưởng, lý luận phi mác-xít, sẵn sàng “trở cờ” phản bội, đưa đất nước đi theo hướng khác, con đường khác phi xã hội chủ nghĩa. Thực tế là nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trong cả nhận thức và hành động của một số người. Nhận thức đó có thể bắt nguồn từ những vấn đề còn chưa tỏ tường về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, kết hợp với sự xuất hiện những thế mạnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại trong quá trình toàn cầu hóa. Những điều đó đã tác động mạnh tới nhận thức của một số người, trong đó có một số văn nghệ sĩ, trí thức, làm cho nhận thức của họ trở nên mông lung, như người “đứng giữa ngã ba đường”.

Vì vậy, để đấu tranh, bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết phải bảo vệ vững chắc nội bộ. Nội bộ đoàn kết, không dao động, không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì thế lực thù địch dù có nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đến mấy cũng khó bề làm lung lạc ý chí, niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì thế, việc đầu tiên là cần có biện pháp đấu tranh, khắc phục thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ phai nhạt lý tưởng mà còn thiếu niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa.

Phòng, chống các biểu hiện “diễn biến hoà bình” trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức

 Nhận thức đúng đắn về nội dung, thủ đoạn thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu của chúng là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của các cơ quan trong hệ thống chính trị hiện nay. Để làm tốt nhiệm vụ này; đẩy lùi nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức cần có giải pháp đồng bộ, toàn diện, trong đó đào tạo, bồi dưỡng là một giải pháp quan trọng. Tuy nhiên, không chỉ cần bồi dưỡng về năng lực mà còn cần nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ. Điều này đòi hỏi đội ngũ giảng viên phải thực sự là những người có bản lĩnh, đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp, không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

LỜI BÁC HỒ DẠY 04/10/1945

 


Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2020

NỮ ĐIỆP VIÊN LÀM TAN XÁC CHIẾN HẠM TRÊN BIỂN SẦM SƠN.

 

Cách đây 70 năm, ngày 27/9/1950 tại vùng biển Sầm Sơn, Thanh Hoá, Điệp báo Nha Công an Trung ương phối hợp với Công an Thanh Hoá đã lập chiến công vang dội, đánh đắm chiến hạm Amiôđanhvin của thực dân Pháp tại biển Sầm Sơn.

Với 30 kg thuốc phát nổ, bà Nguyễn Thị Lợi khiến hơn 200 sĩ quan địch tan xác, cùng với đồ chi viện trên chiến hạm Amyot D'Inville chìm xuống vùng biển Sầm Sơn (Thanh Hóa).

1. Người phụ nữ kiên trung

Sự việc diễn ra vào sáng ngày 27/9/1950, 4 chiến sỹ dân quân xã Quảng Tường (nay là phường Trung Sơn, thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa) chèo thuyền đưa Nguyễn Thị Lợi (bí số A16) trong vai phu nhân của Quốc vụ khanh, đàng hoàng lên tàu Amyot D'Inville.

Lấy lý do sức khỏe, phu nhân Quốc vụ khanh vào phòng nghỉ mang theo 30kg thuốc nổ được đựng trong một chiếc valy. Khoảng 30 phút sau, chiến hạm Amyot D'Inville đã nổ tung.

Hơn 200 sĩ quan địch, cùng với hàng trăm tấn vũ khí, quân trang, quân dụng mà thực dân Pháp dự định chi viện cho quân đội Pháp ở Việt Nam bị chìm xuống đáy biển. Cùng trên chiếc chiến hạm ấy, Nguyễn Thị Lợi đã anh dũng hi sinh, mãi mãi nằm dưới lòng biển.

Nguyễn Thị Lợi (SN 1911) quê ở Châu Phú, Châu Đốc, tỉnh An Giang. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, bà gửi người con gái đầu cho mẹ đẻ ở quê rồi đưa người con trai nhỏ theo chồng ra Bắc. Trên đường đi, bom đạn của kẻ thù đã cướp đi người con trai và chồng bà. Ở trong vùng kháng chiến, bà được mọi người đùm bọc, động viên vượt qua nỗi đau mất chồng, con.

Tại vùng kháng chiến phía tây nam Thanh Hóa, bà Nguyễn Thị Lợi đã gặp Hoàng Đạo (Nguyên Trưởng Ty Công an Thanh Hóa, lúc bấy giờ là Tổ trưởng Tổ Điệp báo A13). Nhận thấy bà Lợi là người phụ nữ bản lĩnh, thông minh, kiên trung, có tố chất của một chiến sĩ điệp báo nên ông Hoàng Đạo đã kết nạp bà vào Tổ Điệp báo do ông phụ trách.

Theo ghi chép, đầu năm 1949, Ty Điệp báo Trung ương chủ động, khéo léo đưa điệp viên thâm nhập vào bộ máy Chính phủ Bảo Đại. Trong vai trò Quốc vụ khanh, đồng chí Hoàng Đạo đã xâm nhập và đứng vững trong bộ máy Chính phủ Bảo Đại.

Để dễ dàng khống chế, địch chủ động đề nghị Quốc vụ khanh Hoàng Đạo đưa phu nhân ra Hà Nội chung sống. Thực dân Pháp cho chiến hạm Amyot D'Inville, một trong những Thông báo hạm lớn nhất của Pháp trong khu vực Thái Bình Dương, đón phu nhân Quốc vụ khanh.

Trước tình hình mới, cấp trên lệnh cho ông Hoàng Đạo kết thúc nhiệm vụ trong hàng ngũ địch để nhận nhiệm vụ khác. Đồng thời, qua phân tích tình hình, ta quyết định đánh bom Amyot D'Inville nhằm tiêu diệt nặng nề sinh lực địch, gây hoang mang, dao động trong giới quân sự, chính trị Pháp, làm phá sản âm mưu chiến tranh của thực dân Pháp.

Điệp báo Hà Nội và Thanh Hóa được giao thực hiện nhiệm vụ quan trọng, nguy hiểm này. Nhân vật cốt yếu đảm bảo cho thắng lợi là người đóng vai phu nhân Quốc vụ khanh. Trước nhiệm vụ vinh quang, bà Nguyễn Thị Lợi đã đề nghị với ông Hoàng Đạo được tham gia trận đánh, xin tình nguyện hy sinh cho Tổ quốc.

Ngày 3/8/1995, Nhà nước ta truy tặng cho nữ điệp viên Nguyễn Thị Lợi danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân.

2. Mộ gió nơi biển khơi

Nơi bà Nguyễn Thị Lợi lên tàu để thực hiện nhiệm vụ hy sinh nay là phường Trung Sơn (thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa). Câu chuyện hy sinh của bà năm ấy vẫn như còn mới nguyên về lòng dũng cảm, tinh thần hy sinh vì Tổ quốc. Thi thể bà đã hòa vào biển khơi, nhưng với nhân dân Sầm Sơn, con đường, ngôi trường mang tên bà như những ngôi mộ gió để truyền lại cho các thế hệ tấm gương của bà.

Để ghi nhớ điểm mốc nơi xuất phát lên đường làm nhiệm vụ của người anh hùng Nguyễn Thị Lợi, năm 2007, chính quyền địa phương đã xây dựng bia tưởng niệm tại bờ biển thuộc phường Trung Sơn, nơi bà Nguyễn Thị Lợi lên thuyền để đến chiến hạm Amyot D'Inville của giặc thực hiện sứ mệnh cao cả vì độc lập tự do của dân tộc./.

Thực hiện chuyển giao thế hệ lãnh đạo vững vàng, chắc chắn, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất cao

 


Phát biểu tại Hội nghị giao ban trực tuyến Ngành Tổ chức xây dựng Đảng 9 tháng đầu năm 2020, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính nhấn mạnh: Những Đảng bộ trực thuộc Trung ương đã hoàn thành việc tổ chức Đại hội khẩn trương chuẩn y nhân sự Ban Chấp hành, Ban Thường vụ khóa mới; thực hiện chuyển giao thế hệ lãnh đạo vững vàng, chắc chắn, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất cao.

Theo ông Phạm Minh Chính, ngành Tổ chức xây dựng Đảng cần thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết Trung ương về công tác tổ chức xây dựng Đảng gắn với việc chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng. Thực hiện nghiêm túc Quy định 205 của Bộ Chính trị để tăng cường siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác cán bộ, góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền, nhất là thực hiện kiểm soát quyền lực trong việc xây dựng phương án nhân sự và bầu cử đại hội. Không lợi dụng quy trình công tác cán bộ để thực hiện ý đồ cá nhân.

Tại đại hội, một số kinh nghiệm được rút ra qua quá trình tổ chức chỉ đạo Đại hội đảng bộ các cấp cho thấy, từng cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu cần đề cao trách nhiệm nêu gương, bảo đảm đúng quy định, thật sự công tâm, trong sáng, dân chủ, khách quan.

Đối với những việc khó, phức tạp, nhạy cảm phải thực hiện nhất quán, giữ vững nguyên tắc, phát huy dân chủ, huy động trí tuệ tập thể và quyết định theo đa số. Không bố trí người nhà, người thân, “cánh hẩu” thiếu tiêu chuẩn, điều kiện hoặc hợp thức hóa quy trình nhân sự để thực hiện ý đồ cá nhân với động cơ, mục đích không trong sáng.

Ngoài ra, công tác chỉ đạo, lãnh đạo việc thẩm định, rà soát hồ sơ cán bộ của các cơ quan tham mưu phải bảo đảm thực hiện “từng bước chắc chắn, từng khâu kỹ lưỡng, từng việc hiệu quả; thực hiện từng nhóm chức danh từ thấp đến cao; làm đến đâu, dứt đến đấy”./.

VIỆT NAM - TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ KHI CHẶN ĐỨNG COVID-19 VẪN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

 

Báo Les Echos của Pháp hôm 29/9 đăng tải bài viết với tựa đề “Covid-19: Ngoại lệ Việt Nam”, trong đó cho rằng với số ca tử vong do mắc Covid-19 ở mức thấp, Việt Nam đang tái khởi động các hoạt động kinh tế và nước này có thể tự hào vì chặn đứng được đại dịch.

Theo tác giả Michel De Grandi, Việt Nam ghi nhận 1.077 ca nhiễm Covid-19 và 35 ca tử vong, đồng thời qua 28 ngày không có ca lây nhiễm mới trong cộng đồng (tính đến ngày 30/9), trong tổng số gần 100 triệu người.

Hình ảnh các nhân viên y tế trên tuyến đầu chống dịch Covid-19

Ngay từ khi những ca nhiễm đầu tiên tại tâm dịch Vũ Hán của Trung Quốc được phát hiện, Chính phủ Việt Nam đã nhanh chóng tăng cường các biện pháp kiểm soát dịch bệnh trên cả nước, trong đó hạn chế đi lại, tạm ngừng các chuyến bay..., đồng thời cách ly những người nhập cảnh.

Do thực hiện các biện pháp hạn chế này, thương mại xuyên biên giới bị ảnh hưởng nặng nề, tuy nhiên Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quý III/2020 của Việt Nam vẫn tăng 2,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo ông Dương Mạnh Hùng - Trưởng phòng Tăng trưởng của Tổng cục Thống kê quốc gia, mục tiêu tăng trưởng 2% cho năm 2020 của Việt Nam hoàn toàn khả thi.

Bài báo cho biết trong 9 tháng qua, xuất khẩu của Việt Nam tăng 4,2% và sản xuất cũng khởi sắc, có thể duy trì nhịp độ của năm trước. Một cuộc khảo sát cho thấy 81% người dân tin rằng nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ được đà tăng trưởng.

Cũng theo Tổng cục Thống kê, Chính phủ Việt Nam dành ưu tiên cho đầu tư công và sẽ tiếp tục trong năm tới. “Chính phủ đang ưu tiên cho đầu tư công và sẽ duy trì trong năm 2021, điều này sẽ thúc đẩy tăng trưởng GDP trong quý cuối cùng của năm nay”, ông Phạm Đình Thủy - Vụ trưởng Vụ Công nghiệp, Tổng cục Thống kê, cho hay.

Bên cạnh đó, chi tiêu hộ gia đình sẽ tái khởi động từ nay đến cuối năm và sẽ kéo dài cho đến Tết Âm lịch, vào ngày 12/2/2021./.

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2020

CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI THU ĐÔNG 70 NĂM TRƯỚC

 

Là cuộc tiến công quy mô lớn đầu tiên chống Pháp xâm lược, chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ra mặt trận chỉ đạo.

Do thất bại trong kế hoạch "đánh nhanh, thắng nhanh", từ năm 1948, thực dân Pháp thay đổi chiến lược, chuyển sang "đánh kéo dài", đẩy mạnh âm mưu "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh".

Đến giữa năm 1949, thực dân Pháp thực hiện kế hoạch Rơve (do tướng G.Revers, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp đề xướng), đẩy mạnh củng cố hành lang Đông - Tây, mở rộng chiếm đóng trung du, đồng bằng Bắc Bộ, củng cố tuyến phòng thủ biên giới Đông Bắc, thực hiện âm mưu khóa chặt biên giới Việt - Trung.

Yêu cầu chiến lược của Việt Nam lúc này là phải phá tan âm mưu phong tỏa biên giới phía Bắc của Pháp, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của cách mạng Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa; mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc.

Thực hiện nhiệm vụ Trung ương giao, ngày 7/7/1950, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở chiến dịch giải phóng vùng biên giới Đông Bắc tại Cao Bằng - Lạng Sơn, lấy mật danh là chiến dịch Lê Hồng Phong II, tiến công phòng tuyến của địch trên đường số 4, tập trung vào Cao Bằng - Thất Khê.

Chiến dịch do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp tổ chức, chỉ huy; đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy; Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng.

Với quyết tâm giành thắng lợi cho chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược quan trọng này, Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp nghiên cứu tình hình, phê chuẩn kế hoạch tác chiến, chỉ đạo các ngành ở Trung ương và địa phương phục vụ tiền tuyến và phối hợp chiến trường trên toàn quốc.

Chiến dịch gồm 4 bước: Đánh Đông Khê; đánh quân chi viện của địch lên Đông Khê; đánh Thất Khê; đánh Cao Bằng. Lúc đó, Hồ Chủ tịch chỉ ra điểm mạnh của thực dân Pháp tại mặt trận Cao Bắc Lạng là gồm nhiều tiểu đoàn Âu Phi, lại có công sự kiên cố. Điểm yếu là đồn bốt đóng theo tuyến đường dài, nếu bị đánh gãy một đoạn thì các vị trí sẽ bị cô lập.

Ngày 9/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ kêu gọi đồng bào Cao Bắc Lạng giúp đỡ bộ đội để giành thắng lợi. Trước ngày diễn ra trận đánh Đông Khê, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 296 và giao nhiệm vụ phải đánh thắng trận mở màn của Chiến dịch Biên giới.

Ảnh tư liệu
Khi trực tiếp chỉ huy chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hơn 60 tuổi. Người đi từ Thái Nguyên lên Cao Bằng, ở lại Sở Chỉ huy chiến dịch một buổi rồi đến ngay một số khu vực để cùng các lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch và lãnh đạo địa phương xem xét tình hình, thống nhất với Bộ Chỉ huy chiến dịch để chỉ đạo tác chiến.

Ngày 16/9/1950, quân đội Việt Nam với lực lượng áp đảo đánh vào cụm cứ điểm Đông Khê, mở màn chiến dịch biên giới. Sáng 18/9, Đông Khê bị thất thủ, quân địch bị dồn vào thế nguy khốn: Thất Khê bị uy hiếp, thị xã Cao Bằng bị cô lập, hệ thống phòng ngự trên đường số 4 lung lay.

Mất Đông Khê, quân Pháp được lệnh rút khỏi Cao Bằng theo đường số 4, quân Pháp ở Thất Khê được lệnh tiến đánh Đông Khê để đón cánh quân từ Cao Bằng rồi cùng rút về xuôi.

Địch rơi vào thế trận đã giăng sẵn của quân đội Việt Nam. Phương châm "đánh điểm, diệt viện" đã phát huy hiệu quả.

Chiến dịch đã diễn ra đúng như dự liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng. Để động viên, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân, ngày 20/9/1950, hai ngày sau thắng lợi của trận mở màn Đông Khê, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi, thăm hỏi bộ đội bị thương.

Khi được tin quân Pháp rút khỏi Cao Bằng và binh đoàn Lơ Pagiơ lên cứu viện bị bộ đội vây chặt ở khu vực Cốc Xá, ngày 6/10/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện động viên chiến sĩ đang tham gia chiến dịch: "Hiện nay tình hình rất có lợi cho ta. Vậy các chiến sĩ phải quyết tâm tiêu diệt địch để giành lấy toàn thắng".

Ngày 7/10/1950, binh đoàn Lơ Pagiơ bị tiêu diệt. Tuy nhiên, sau nhiều ngày chiến đấu liên tục, một số cán bộ, chiến sĩ muốn được nghỉ ngơi một ngày rồi tiếp tục tiến đánh binh đoàn Sáctông ở Cao Bằng về. Nhận rõ cơ hội và thời gian đóng vai trò rất quan trọng, để động viên bộ đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Ta mệt một, địch mệt gấp năm, gấp bảy lần. Lúc này là thời cơ tốt nhất để diệt địch".

Ngày 8/10/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến các chiến sĩ biểu dương tinh thần vượt khó giành thắng lợi trong những ngày qua và khuyên nhủ: "Các chú đã hoàn thành bảy phần mười cuộc thử thách một cách dũng cảm. Các chú cố gắng mà tiêu diệt nốt binh đoàn Sáctông nhé".

Với đường lối chỉ đạo chiến lược cùng sự quan tâm sâu sát của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chiến dịch Biên giới thu được những kết quả tốt đẹp, các chiến sĩ đã không quản mệt nhọc, nhanh chóng cơ động tiếp tục diệt gọn binh đoàn Sáctông, làm nên thắng lợi lớn./.

Sự sụp đổ của Liên Xô gây ra hậu quả nặng nề như thế nào?

 

Dưới thể chế đa đảng, hệ thống Nhà nước yếu ớt và việc thiếu vắng một lý tưởng đoàn kết xã hội, tinh thần dân tộc chủ nghĩa ở các nước cộng hòa cũ thuộc Liên Xô đã không ngừng dâng cao, khuynh hướng ly khai, dân tộc hẹp hòi ngày càng trở nên trầm trọng. Thập niên 1990, hàng loạt các cuộc chiến tranh ly khai nổ ra tại các nước thành viên thuộc Liên Xô cũ, khiến hàng trăm ngàn người thiệt mạng.

Hệ thống y tế miễn phí và rộng khắp của Liên Xô bị hủy. bỏ, hàng loạt bệnh viện công bị tư hữu hóa. Viện phí theo đó tăng chóng mặt, nhiều người dân không có đủ tiền đi chữa bệnh. (điều chưa từng xảy ra dưới thời Liên Xô). Từ năm 1992 trở đi, dân số nước Nga luôn có xu thế giảm. Tuổi thọ bình quân của người Nga năm 1990 là 69,2 tuổi, đến năm 2001 sụt còn 65,3 tuổi. Thậm chí, tuổi thọ bình quân của nam giới ở một số vùng giảm xuống chỉ còn 50 tuổi.

Sự šụp đ.ổ của Liên Xô sau này được Tổng thống Nga Putin gọi là “Thảm họa địa chính trị tồi tệ nhất thế kỷ 20. Đối với nước Nga, nó đã trở thành một bi kịch thực sự. Hàng triệu công dân và những người yêu nước của chúng ta bỗng nhiên thấy họ đang sống bên ngoài lãnh thổ Nga”. Cựu Thủ tướng Nga Evgeny Primakov cho rằng: “Cái giá của sự sụp đổ. Liên Xô là rất khủng khiếp, nền kinh tế Nga ŧổn thất còn nhiều hơn Chiến tranh thế giới thứ hai. Sẽ là điên rồ nếu nói rằng đất nước này được hưởng lợi từ những năm 1990.”

Đảng Cộng sản Liên Xô biến mất, Liên Xô tan rã đã mang lại hậu quả tai hại cho nhân dân Liên Xô. Rất nhiều học giả Nga cũng rút ra kết luận rằng, Liên Xô tan rã làm cho phát triển kinh tế – xã hội tại Nga thụt lùi mấy chục năm.

Cựu Tổng thống Ukraine Leonid Kravchuk, một trong ba nhân vật hàng đầu tham gia ký kết hiệp định giải thể Liên Xô sau này đã nói: “Nếu như năm 1991, tôi biết được đất nước sẽ phát triển đến như cục diện như ngày hôm nay thì khi đó tôi đã nhất quyết chặt đứt cánh tay mình chứ không ký vào Hiệp định đó.

Khảo sát của hai cơ quan điều tra dư luận ở Nga cho thấy: đa số người dân Liên Xô cũng không muốn đất nước Liên Xô tan rã. Cuối năm 2005, kết quả một cuộc điều tra dư luận của hai cơ quan độc lập nổi tiếng ở Nga cho thấy: 76% số người cho rằng Liên Xô có rất nhiều điểm đáng để tự hào; 66% người Nga ngày nay cảm thấy nuối tiếc cho sự sụp đổ của Liên Xô; 72% và 80% số người được hỏi lần lượt cho rằng Gorbachev và Yeltsin đã đẩy đất nước vào con đường sai lầm; chỉ có 1% số người được hỏi mong muốn sống dưới thời Yeltsin, 60% người Nga tin rằng: sự sụp đổ của Liên Xô gây nhiều tác hại nhiều hơn là lợi ích. Trong cơn đại hồng thủy đó, nhiều nước cộng hòa hậu Xô viết đã rơi vào bạo lực sắc tộc sau khi có được độc lập, khiến cả trăm ngàn người thiệt mạng.

Theo cuộc khảo sát của Sputnik. Ở Nga, 64% số người đã trải qua thời kỳ Liên Xô đánh giá rằng chất lượng cuộc sống thời đó cao hơn. Ở Ukraina, đồng ý với tuyên bố này có 60% số người trả lời, còn tỷ lệ cao nhất là ở Armenia (71%) và Azerbaijan (69%). Mneniya tại 9 nước trong số 11 quốc gia thuộc Liên Xô cũ vào năm 2016, phần lớn cư dân trên 35 tuổi (những người đã trải qua cuộc sống dưới thời Liên Xô) cho rằng cuộc sống ở Liên Xô tốt hơn so với thời kỳ sau khi đất nước tan rã./.

 

Bất tuân dân sự - một thủ đoạn nguy hiểm

       Thuật ngữ "bất tuân dân sự" lần đầu tiên xuất hiện trong tập tiểu luận của Henry David Thoreau-nhà văn, nhà tư tưởng người Mỹ-với nhan đề "Dân sự bất hợp tác", vào tháng 5-1849. Nội dung cơ bản của tập tiểu luận bàn về mối quan hệ giữa cá nhân (hoặc thiểu số công dân) với nhà nước. Theo đó, cá nhân (hoặc thiểu số công dân) có thể không tuân thủ, không phục tùng nhà nước; thậm chí, có thể thực hành chống lại luật pháp của nhà nước nếu cảm thấy những điều luật đó không phù hợp với người dân, kể cả là với thiểu số, bằng phương pháp "cách mạng hòa bình".
        Thực chất đây là quan điểm cực đoan, "vô chính phủ" của một kẻ vốn là phạm nhân (H.D. Thoreau viết tập tiểu luận này nhằm biện minh cho việc ông ta phải ngồi tù ở bang Massachusetts vì tội không đóng thuế). Mặc dù ở thời điểm ra đời, tác phẩm của H.D. Thoreau không gây được sự ảnh hưởng nào, nhưng sang thế kỷ 20, tư tưởng về một cuộc "cách mạng hòa bình" của ông được một số nhà hoạt động chính trị lợi dụng phát triển thành phương pháp đấu tranh bất bạo động như phong trào "Satyagraha" của Mahatma Gandhi đấu tranh giành quyền lợi cho người Ấn Độ ở Nam Phi (năm 1914) và giành độc lập cho Ấn Độ từ thực dân Anh (năm 1947); phong trào đấu tranh dân quyền ở Mỹ của Martin Luther King (thập niên 60 thế kỷ 20); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc (chủ nghĩa Apartheid) ở Nam Phi của Nelson Mandela...
       Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc ra đời với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước XHCN. Từ đó, "bất tuân dân sự" từng bước trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược "diễn biến hòa bình". Trong các cuộc "cách mạng ca hát", "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở các nước Đông Âu và Liên Xô vào những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21; "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010... đều có dấu ấn của phong trào "bất tuân dân sự". Gần đây nhất là phong trào biểu tình nhằm lật đổ Chính phủ Bolivar ở Venezuela (từ năm 2017 đến nay); phong trào “cách mạng dù” của sinh viên Hồng Công (năm 2014 và 2019) đều thể hiện rất rõ thủ đoạn "bất tuân dân sự".
       Như vậy, “bất tuân dân sự” khi được sử dụng trong tay chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế đã trở thành một thủ đoạn phản cách mạng nhằm chống phá, lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ chính trị ở những nước tiến bộ, không cùng "quỹ đạo" với chúng.
        Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về "bất tuân dân sự" nhưng thực chất “bất tuân dân sự” là các hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức đối với một số  đạo luật  nhất định nhằm cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của nhà nước; là hình thức phản kháng bất bạo động, gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, luật pháp, thậm chí lật đổ chính quyền; bản chất là hành vi vi phạm pháp luật.
“Bất tuân dân sự" là các hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức đối với một số quy định pháp luật nhất định của nhà nước. Điều này khác hẳn với nguyên tắc phổ biến mà hầu hết các nhà nước pháp quyền trên thế giới đều thực hiện, đó là: Tiểu số phục tùng đa số; lợi ích riêng phải nằm trong lợi ích chung; lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích cộng đồng, xã hội, dân tộc. Vì vậy, "bất tuân dân sự" về cơ bản thể hiện tư tưởng cực đoan, "vô chính phủ", hầu như không được nhà nước pháp quyền nào chấp nhận (ngoại trừ những thế lực muốn lợi dụng nó để chống lại nhà nước pháp quyền).
"Bất tuân dân sự" hình thức phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng, không hợp tác cơ bản là ôn hòa, bất bạo động. Tuy nhiên, không phải tất cả hình thức đều là ôn hòa, bất bạo động. Thậm chí, theo những người chủ trương "bất tuân dân sự", hành động vũ trang của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh hơn có vũ trang thì được coi là bất bạo động. Điều này thể hiện sự mập mờ về tính chất của các hình thức đấu tranh gọi là bất bạo động; hay nói cách khác, ranh giới giữa bất bạo động và bạo động là khá mong manh, có thể chuyển hóa cho nhau rất nhanh chóng. Thực chất, đây là cách ngụy tạo để biện giải, mở đường cho đấu tranh bạo động khi bất bạo động đã tích lũy đủ điều kiện hay "châm ngòi" thành công.

Phát triển bền vững nhưng không để vấn đề môi trường bị lợi dụng


       Có không ít thông tin đã bị kẻ xấu lợi dụng, xuyên tạc, bóp méo, kích động chống phá Đảng, Nhà nước. Vì vậy, dư luận kiến nghị, cần nhận diện rõ sự thật, quan tâm xử lý nghiêm túc những bất cập về môi trường để phát triển bền vững nhưng cũng phải cảnh giác, kịp thời xác minh, làm rõ và xử lý nghiêm những hội, nhóm, trang mạng núp bóng vấn đề môi trường để phá hoại an ninh chính trị, kinh tế, trật tự an toàn xã hội. Báo QĐND xin trích đăng một số ý kiến phản hồi sau bài báo.
       Câu chuyện các nhóm đối tượng lợi dụng vấn đề về môi trường để xuyên tạc làm mất ổn định trong nước đã quá rõ và không còn mới. Bài học cho thấy chúng thường núp bóng dưới cái mác bảo vệ môi trường (BVMT) để xuyên tạc nhiều vụ việc làm phức tạp tình hình. Ví như, các đối tượng làm bản báo cáo đánh giá môi trường ven biển miền Trung gửi đến Quốc hội, trong đó có những thông tin không chính xác, thậm chí còn sử dụng cả hình ảnh cá chết ở Mỹ để kích động. Và đó là những nguyên nhân dẫn đến biểu tình, đập phá… gây mất ổn định.
       Đối với vấn đề phát triển kinh tế và môi trường, chúng ta đã có chủ trương, phát triển kinh tế phải gắn với phát triển văn hóa, xã hội, con người, BVMT một cách tương xứng, hài hòa. Nhưng cũng cần tỉnh táo không để kẻ xấu lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc chống phá. Hiện nay, các dự án kinh tế triển khai đều phải tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, về đầu tư, BVMT, được các bộ, ngành thông qua trước khi Chính phủ quyết định. Do đó, nếu phản biện phải có căn cứ, không nên chụp mũ, làm nản lòng các nhà đầu tư, cản trở sự phát triển chính đáng.
       Chúng ta lại thấy một kịch bản quen thuộc khi trong hai tuần qua có hơn 4.000 trang mạng tán phát các thông tin xuyên tạc, bóp méo sự thật liên quan đến các dự án sinh thái du lịch ở Vĩnh Phúc, Đà Nẵng. Báo QĐND đã có bài viết chỉ rõ, sự việc có bàn tay của các tổ chức phản động. Vì vậy, để ngăn ngừa những “bàn tay đen” núp bóng BVMT, tôi cho rằng, các cơ quan chức năng, trước hết là cơ quan công an cần vào cuộc điều tra, tìm ra các đối tượng liên quan để xử lý nghiêm minh, giữ gìn kỷ cương phép nước.

Quân đội nhân dân Việt Nam mãi xứng đáng là niềm tin của Đảng và nhân dân


      Khi bắt đầu xuất hiện dịch Covid-19, xã hội Việt Nam xuất hiện “tâm trạng phản vệ” và có một bộ phận người dân hoang mang, lo sợ. Cũng vì đó, tình trạng qua lại biên giới, nhất là các đường mòn, lối mở diễn ra rất nhiều. Thực hiện mệnh lệnh “chống dịch như chống giặc” để bảo vệ nhân dân với lực lượng y tế làm nòng cốt, Quân đội ta đã chỉ đạo các đơn vị quân y tích cực tham gia phòng, chống dịch và đặc biệt là chỉ đạo Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tăng cường tuần tra, chốt chặn, kiểm soát chặt chẽ xuất nhập cảnh, nhằm ngăn chặn dịch xâm nhập vào nội địa qua đường biên giới... Theo chủ trương đó, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ BĐBP đã tình nguyện lên đường nhận nhiệm vụ; tham gia ứng trực 24/24 giờ tại các khu vực cửa khẩu, đường mòn, lối mở, bờ sông suối... nơi con người có thể qua lại trên khắp dải biên cương, kết thành “bức tường ngăn dịch” vững chắc, suốt từ đầu năm 2020 đến nay.
        Làm nhiệm vụ tại miền biên viễn ấy, BĐBP không chỉ đối diện với nguy cơ dịch bệnh mà còn đương đầu với rất nhiều khó khăn, thiếu thốn; đối diện cả với những khoảng lặng tình cảm và sự hy sinh cao độ về mặt tinh thần mà chỉ những con người mang trong mình phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mới đủ khả năng chịu đựng và mạnh mẽ vươn lên. Ấy là trong khoảng 300 ngày qua, khi đất nước có những thời điểm thực hiện trạng thái "bình thường mới" (sau hai đợt cao điểm bùng phát dịch), thì 100% cán bộ, chiến sĩ BĐBP trên các tuyến biên giới vẫn bám trụ, căng mình bám chốt làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát. Cũng trong quãng thời gian ấy, gần 20 đồng chí đã không thể nghỉ phép về quê để đưa tiễn người thân đến nơi an nghỉ cuối cùng; hơn 50 đồng chí hoãn cưới vợ, hoãn cưới con; 50 đồng chí không thể ở nhà lúc vợ trở dạ, sinh con;...
        Cũng bắt đầu từ khi xuất hiện dịch Covid-19 ở Việt Nam, hàng loạt đơn vị quân đội đã cơ động lực lượng, dồn dịch nơi ăn ở, nhường hệ thống doanh trại phục vụ công tác cách ly công dân có nguy cơ nhiễm dịch Covid-19. Đồng thời, cán bộ, chiến sĩ ở những đơn vị này lại trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phục vụ, chăm sóc sức khỏe cho người dân. Sau khi hoàn thành thời gian cách ly y tế ở các đơn vị quân đội, rất nhiều công dân đã bày tỏ lòng biết ơn, xúc động và thán phục về sự chịu đựng gian khó, mẫn cán, hết lòng phục vụ nhân dân của bộ đội. Người dân cảm kích, khâm phục, bởi công dân bị cách ly vốn mang nhiều nguy cơ dịch bệnh, nhưng cán bộ, chiến sĩ quân đội vẫn trực tiếp, tận tình phục vụ và hướng dẫn từng người thực hiện các biện pháp y tế theo đúng quy định; trực tiếp an ủi, động viên họ yên tâm cách ly, lạc quan vươn lên trong thời điểm khó khăn nhất. Đặc biệt, khi dịch Covid-19 xuất hiện ở bất cứ nơi đâu, bộ đội hóa học và các lực lượng chức năng đều có mặt sớm nhất, tiến hành phun khử trùng phục vụ dập dịch, bảo vệ người dân...
         Tất cả những chi tiết ấy cho thấy sự hy sinh quên mình của Bộ đội Cụ Hồ. Họ lặng lẽ công tác, thầm lặng cống hiến vô điều kiện để bảo vệ, phục vụ nhân dân. Đó chính là sự kế tục truyền thống của QĐND Việt Nam anh hùng-đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”; minh chứng rõ rành về sự giác ngộ cao độ và tinh thần sẵn sàng xả thân vì nước, vì dân của Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.
         Phẩm chất vì nhân dân phục vụ của Bộ đội Cụ Hồ không chỉ thể hiện, minh chứng sinh động thông qua cuộc chiến phòng, chống dịch Covid-19 mà luôn được hiện hữu trong suốt gần 76 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành; trở thành giá trị truyền thống quý báu của QĐND Việt Nam. Đặc biệt trong 5 năm qua, dưới sự lãnh đạo của QUTƯ, Bộ Quốc phòng, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn hoàn thành tốt sứ mệnh bảo vệ, chăm lo và gắn bó máu thịt với nhân dân; viết thêm những giá trị mới trong hệ chuẩn mực nhân cách của quân nhân cách mạng. Đó là hình ảnh về những sĩ quan QĐND Việt Nam tự tin, trách nhiệm trong đội quân Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, tham gia bảo vệ sự bình yên, hạnh phúc cho nhân loại tiến bộ và thực hiện nghĩa cử quốc tế cao đẹp. Đó là những quân nhân cách mạng giàu trí tuệ, làm chủ khoa học kỹ thuật tân tiến, điều khiển, sử dụng thuần thục phương tiện, vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại canh giữ vùng đất, vùng trời, vùng biển, đảo Tổ quốc, bảo vệ sự bình yên và nền hòa bình bền vững cho nhân dân. Và còn nữa là những đoàn quân đến với vùng sâu, vùng xa, nơi gian khó... để giúp dân xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng. Đặc biệt, khi bất cứ nơi đâu xảy ra thiên tai, địch họa thì ở đó luôn có Bộ đội Cụ Hồ sẵn sàng xả thân bảo vệ tính mạng, tài sản nhân dân. Quân đội luôn là lực lượng có mặt trước tiên, gắn bó mật thiết và là "tấm chắn" bảo vệ nhân dân trước mọi hiểm nguy do thiên tai gây ra... Trong quá trình đó, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, trở thành biểu trưng sáng đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong điều kiện mới.

 Từ nền tảng truyền thống đến một nền công nghiệp văn hóa 

       Năm 1943, từ khi cách mạng Việt Nam còn trong trứng nước, Đảng ta đã có Đề cương Văn hóa với những nguyên tắc có sức sống trường tồn. Đề cương Văn hóa năm 1943 lúc đó tập trung vào nhiệm vụ cách mạng trước mắt là đưa văn hóa Việt Nam ra khỏi ảnh hưởng nô dịch của văn hóa thực dân và phát xít, biến văn hóa Việt Nam từ chỗ bị động và tiêu cực trở thành một nhân tố tinh thần lớn mạnh trong sự nghiệp giải phóng đất nước. Đề cương đã gắn liền nhiệm vụ giải phóng kinh tế, chính trị cho xã hội với nhiệm vụ giải phóng cho con người.
Tháng 11-1946, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức ở Nhà hát Lớn Hà Nội, trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu nhiệm vụ của văn hóa mới là phải lấy hạnh phúc của đồng bào, sự nghiệp đấu tranh của dân tộc làm nội dung phản ánh, đồng thời phải tiếp thu những kinh nghiệm của văn hóa xưa và nay để xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam với 3 tính chất: Dân tộc, khoa học, đại chúng. Người nêu rõ vị trí, ảnh hưởng của văn hóa, nghệ thuật trong việc giáo dục thế hệ trẻ, xây dựng con người Việt Nam yêu nước, độc lập, tự cường, tự chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra luận điểm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Luận điểm này trở thành nguyên tắc chi phối, có ý nghĩa cơ bản, lâu dài, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình phát triển văn hóa Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ nhận thức sâu sắc về một trong những đặc điểm ưu việt của chủ nghĩa xã hội là tính nhân văn, trong sự nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vấn đề xây dựng văn hóa, xây dựng con người. Và đó cũng là cơ sở lý luận-thực tiễn quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH).
        Trong giai đoạn mới của sự nghiệp cách mạng, Đảng ta tiếp tục tiếp thu quan điểm về văn hóa, con người của Hồ Chí Minh, đồng thời sáng tạo, bổ sung một số tiêu chí mới phù hợp yêu cầu phát triển. Đó là “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, “Gắn nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước”. Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã khẳng định, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.
        Trong hơn hai thập kỷ đổi mới chúng ta đã đi qua, văn hóa ngày càng có được sự gắn kết chặt chẽ hơn với các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị và tạo nên những thành tựu về KT-XH, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… của đất nước. Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng: So với yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những thành tựu và tiến bộ mà chúng ta đã đạt được trong lĩnh vực phát triển văn hóa chưa thực sự vững chắc; văn hóa chưa khẳng định được sức mạnh tạo dựng một nền tảng tinh thần xã hội có khả năng miễn nhiễm trước những tác động của mặt trái kinh tế thị trường, trước sự xâm nhập của các luồng văn hóa ngoại lai. Những sản phẩm văn hóa “made in Vietnam” còn thiếu sức cạnh tranh, thậm chí bị lấn át ngay tại thị trường nội địa. Những luồng văn hóa-tư tưởng ngoại lai vẫn tác động tiêu cực đến lối sống của một số lượng không nhỏ người dân Việt, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên. Từ đó, phát sinh ra nhiều hành vi phản văn hóa, ảnh hưởng đáng kể tới công cuộc xây dựng nền tảng tinh thần xã hội.

Công cụ đen trong tay những “lái buôn lương tâm”


          Lâu nay, các đối tượng thù địch thường dựa vào khái niệm “tù nhân lương tâm” để thổi phồng vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam, nhằm thực hiện âm mưu dai dẳng là bôi nhọ, vu cáo và chống phá Nhà nước Việt Nam, làm suy giảm lòng tin của nhân dân Việt Nam vào hệ thống chính trị của nước ta. Ví dụ cụ thể có nhiều, mà gần đây nhất là bản thông cáo báo chí đầy ý đồ do Tổ chức “Bảo vệ người bảo vệ nhân quyền” (Defend the Defenders-DTD) tung ra vào đầu tháng 9 vừa qua.
       Thông cáo báo chí của DTD chắc hẳn sẽ khiến những kẻ thường xuyên lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam rất hả hê. Theo bản thông cáo này, tính đến ngày 30-9-2020, Việt Nam đang giam giữ ít nhất 276 “tù nhân lương tâm” trong các nhà tù hoặc các hình thức giam giữ khác, trong đó có 213 người đã bị kết án, chủ yếu là các tội phạm chính trị và 63 "nhà hoạt động" đang bị giam giữ trong thời gian điều tra hoặc chờ xét xử. Thông cáo cũng khẳng định chắc mẩm rằng, đó là những blogger, luật sư, nhà hoạt động về quyền đất đai, nhà bất đồng chính kiến, người hoạt động nhân quyền và tín đồ của các tôn giáo thiểu số không đăng ký bị bắt giữ và kết án “chỉ vì thực hiện một cách ôn hòa” các quyền được bảo vệ bởi các công ước nhân quyền quốc tế và Hiến pháp Việt Nam, như: Quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do của tôn giáo hoặc niềm tin... Và như để nhân lên niềm tin của người đọc về tính chân thực, công tâm của văn bản này, DTD “bồi” thêm: Danh sách 276 “tù nhân lương tâm” nói trên không bao gồm các cá nhân đã tham gia hoặc ủng hộ bạo lực.
         Càng nực cười hơn khi DTD cho rằng, sau khi bắt giữ hơn 40 "nhà hoạt động" và blogger, kết án khoảng 40 người bất đồng chính kiến vào năm 2019, Việt Nam tiếp tục trấn áp giới bất đồng chính kiến và người hoạt động xã hội để bảo đảm “sự ổn định xã hội” trong khi Đảng Cộng sản Việt Nam đang chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII; và rằng, trong khi các nước khác đang tập trung giải quyết những vấn đề do đại dịch Covid-19 gây ra, Việt Nam dường như lại sử dụng cơ hội này để tăng cường đàn áp đối với giới bất đồng chính kiến-những người không bị cộng đồng quốc tế chỉ trích.

        với quan điểm được nêu ra trong bài viết “Ở Việt Nam không có cái gọi là "tù nhân lương tâm” (đăng trên Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 25-5-2020), trong đó tác giả khẳng định rằng, ở Việt Nam không bao giờ có cái gọi là “tù nhân lương tâm”, mà thực chất đó chỉ là những người vi phạm pháp luật, bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Một trong những dẫn chính điển hình là Cù Huy Hà Vũ, từ một trí thức biến thành đối tượng có tư tưởng và hành động chống đối Nhà nước Việt Nam, tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, đòi lật đổ chế độ, thực hiện đa nguyên, đa đảng, kêu gọi nước ngoài can thiệp...
Chẳng riêng gì ở Việt Nam mà ở mọi quốc gia trên thế giới, rất nhiều cá nhân đã bị bắt giữ, thậm chí bị đem ra xét xử và phạt tù vì những tội danh như làm tổn hại tới an ninh quốc gia, tung tin sai sự thật gây hoang mang trong dư luận, gây nguy hiểm cho người dân... Điểm chung của các vụ việc này là đều được xử lý dựa trên luật pháp hiện hành, trên tinh thần thượng tôn pháp luật mà bất cứ quốc gia nào cũng đã và đang nỗ lực hướng tới.
Vậy nên, “tù nhân lương tâm” thực chất chỉ là một khái niệm hết sức mập mờ được tạo ra nhằm đánh lạc hướng, thậm chí đầu độc dư luận, khiến họ khó có thể phân biệt đâu là những người hoạt động vì nhân quyền đích thực, đâu là những đối tượng sử dụng con bài nhân quyền nhằm mục đích gây rối, phá hoại.
Trên thực tế, trong thông cáo báo chí nói trên, DTD cũng khẳng định rằng, trong số 213 người đã bị kết án ở Việt Nam thì chủ yếu là các tội phạm theo các Điều 79, 87 và 88 của Bộ luật Hình sự 1999 hoặc Điều 109, 117 và 331 tương ứng trong Bộ luật Hình sự 2015. Vậy thì, các nhà soạn thảo thông cáo vô tình sơ hở, hay họ đã trực tiếp thừa nhận rằng, những đối tượng kể trên không hề bị kết án một cách vô căn cứ, mà trái lại, hoàn toàn dựa trên luật pháp?
         Phải thừa nhận rằng, “tù nhân lương tâm” thực sự là một cái mác dễ khơi gợi lòng trắc ẩn trong công chúng. Có lẽ đó cũng là lý do ngày càng có nhiều đối tượng sau khi vi phạm và bị xử lý theo luật pháp Việt Nam, bỗng nhiên được dựng lên như những “tù nhân lương tâm”, tiếp tục trở thành công cụ để các thế lực thù địch vu cáo và bịa đặt về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
        Để biết thực, giả cái gọi là vấn đề “tù nhân lương tâm” ở Việt Nam ra sao, trước hết phải đặt ra vài câu hỏi: Có hay không thứ gọi là “lương tâm” trong Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, đối tượng lợi dụng các quyền tự do dân chủ, kích động nhân dân chống chính quyền, chống chế độ, gây phương hại tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội? Có lương tâm hay không khi hết lần này đến lần khác đăng tải các bài viết trên mạng xã hội, đả kích, xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; bôi nhọ, xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam như đối tượng Nguyễn Quốc Đức Vượng (sinh năm 1991, ở huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng); hoặc chủ mưu, cầm đầu, khởi xướng việc tổ chức lập “nhà nước Mông” tại huyện Mường Nhé (tỉnh Điện Biên), gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ chính trị của Nhà nước Việt Nam như đối tượng Sùng A Sính, Lầu A Lềnh...? Với những người am hiểu luật pháp, mưu cầu cuộc sống ổn định và có ý thức thượng tôn pháp luật, câu trả lời dĩ nhiên là “không”! Chắc chắn là “không”!
        Sứ mệnh đấu tranh với các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước dựa trên chiêu bài nhân quyền nhằm vào Việt Nam chắc chắn còn dài. Để tạo thêm niềm tin của nhân dân vào sứ mệnh ấy, rất cần những cái đầu tỉnh táo để nhận diện và vạch trần sự thật về thứ đang được các trang web, diễn đàn phản động phát ra rả mỗi ngày: “tù nhân lương tâm”.

Không thể vơ đũa cả nắm, phủ nhận sạch trơn

 Lợi dụng việc một số cán bộ quân đội có sai phạm bị xử lý, các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị cố tình tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ nhằm hạ thấp uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhưng ai cũng biết rằng, không thể đánh tráo giữa bản chất và hiện tượng, đừng thấy cây mà không thấy rừng. Bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội và sự thật các vụ việc không cho phép chúng thực hiện được hành vi vơ đũa cả nắm, phủ nhận sạch trơn đó…

Cảnh giác với hiện tượng gieo mầm, nuôi dưỡng đối tượng phản biện xã hội tiêu cực

 Mở rộng dân chủ, tăng cường phản biện tích cực, lắng nghe những ý kiến đóng góp tâm huyết của nhân dân là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.

Hưởng ứng tinh thần ấy, các hoạt động phản biện, phản biện xã hội (PBXH) thời gian qua diễn ra khá sôi động và mang lại những kết quả tích cực. Thế nhưng, một thực tế rất đáng quan tâm là cả trong và ngoài nước xuất hiện một số người lợi dụng PBXH để gây nhiễu thông tin, làm rối tình hình, kích động, hòng tạo ra những mâu thuẫn trong xã hội. Lợi dụng tình hình này, các thế lực thù địch, một số tổ chức phản động đã móc nối, gieo mầm, nuôi dưỡng các đối tượng PBXH để sử dụng làm công cụ chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”

 Không phải tới bây giờ, mà nhiều năm qua, các thế lực thù địch dường như không biết bấu víu vào vấn đề gì hơn là lợi dụng những vấn đề về dân tộc, tôn giáo, nhân quyền… để chống phá sự nghiệp cách mạng của Việt Nam.

Mũi nhọn mà họ tập trung vào là vấn đề nhân quyền với nhiều hình thức tinh vi, thâm độc, xảo trá. Vậy, sự thật những người mà họ gọi là “tù nhân lương tâm” là những ai? Cần khẳng định rằng: Ở Việt Nam không bao giờ có cái gọi là “tù nhân lương tâm” mà thực chất đó chỉ là những người vi phạm pháp luật