Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ xuyên suốt trong các giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, từ khi ra đời Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, dưới sự lãnh đạo của Đảng cho đến nay.
Thứ Hai, 11 tháng 1, 2021
Đấu tranh đẩy lùi thông tin xấu độc
Đối với quân đội, thủ đoạn cơ bản mà các thế lực thù địch sử dụng để chống phá trên internet, MXH là tuyên truyền các nội dung trá hình, bới móc, thổi phồng, xuyên tạcnhững sai lầm, khuyết điểm hoặc lợi dụng những hạn chế, sơ hở trong quản lý để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tán, vai trò của quân đội.
NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, Cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ Tư đang diễn ra mạnh mẽ, sự bùng nổ của mạng Internet, những vấn đề nảy sinh từ mặt trái kinh tế thị trường...; lợi dụng vào môi trường, điều kiện đó, các thế lực thù địch, phản động có những chiêu thức, thủ đoạn mới nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam.
CẢNH GIÁC VỚI TIN GIẢ
Đã như một thói quen. Cứ mỗi khi có sự kiện gì thì bọn phản động, chống phá và các đối tượng thù địch, đối tượng bất mãn lại ra sức tung tin bịa đặt, chống phá, nhất là trong dịp Đại hội Đảng lần này. Chúng liên tục tục tung ra các thông tin bôi nhọ, suy diễn, đồn đoán, nhận định vô căn cứ xung quanh công tác nhân sự của Đảng nhằm gây nhiễu loạn thông tin, chia rẽ nội bộ, phá hoại sự thành công của Đại hội Đảng lần thứ XIII sắp tới.
KIM CHỈ NAM!
Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin: Đảng cầm quyền mà không có lý luận dẫn đường thì cách mạng sẽ không có “phong trào vận động” và đảng sẽ không thể làm nổi “trách nhiệm cách mạng tiền phong”. Từ rất sớm, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rất rõ điều đó. Trong toàn bộ hoạt động của Đảng, Đảng ta luôn luôn đề cao vai trò của lý luận, lấy chủ nghĩa Mác - Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng.
Ngụy biện!
Các thế lực thù địch ra sức truyền bá quan điểm “quân đội trung lập”, nhằm lôi kéo quân đội xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tách LLVT ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; làm cho LLVT bị tha hóa, biến chất về chính trị và bị vô hiệu hóa; làm cho Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân mất chỗ dựa vững chắc để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Những khẩu hiệu đòi hỏi “quân đội chỉ bảo vệ Tổ quốc, không phải phục tùng và bảo vệ đảng cầm quyền”, “trả quân đội về phục vụ nhân dân”… thực chất là để thực hiện ý đồ “phi chính trị hóa quân đội”.
Đấu tranh hành vi xuyên tạc về tình hình Biển Đông
Lâu nay, vấn đề chủ quyền lãnh thổ quốc gia, chủ quyền về biển, đảo được coi là “mảnh đất vàng” để các thế lực thù địch, bất mãn, cơ hội lợi dụng xuyên tạc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Bóc trần, phản bác và kiên trì đấu tranh với những âm mưu kiểu này chính là hành động thiết thực góp phần vào việc bảo vệ chủ quyền hợp pháp, thiêng liêng của đất nước.
Đấu tranh làm thất bại “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội
Bảo vệ độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích hợp pháp của công dân trên mạng xã hội, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động là nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã làm cho thế giới có nhiều biến đổi nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh. Thực tế diễn biến tình hình chính trị thế giới trong những năm qua cho thấy, khi MXH được sử dụng đúng, vì lợi ích chung của xã hội sẽ đem lại nhiều hiệu ứng tích cực. Tuy nhiên, MXH cũng bộc lộ nhiều bất cập, tác động tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt của đời sống xã hội, làm bất ổn về chính trị ở một số quốc gia.
Theo số liệu của Bộ Thông tin và Truyền thông, nước ta có dân số
hơn 96 triệu người, trong đó, 64 triệu người sử dụng Internet (năm 2018), đứng
thứ 18 trên thế giới về tỷ lệ người dân sử dụng Internet. Về MXH, Việt Nam có
55 triệu người dùng đang hoạt động. Ngoài ra, trong số 70 triệu người dân sở
hữu điện thoại đi động, có 55 triệu người thường xuyên truy cập Internet bằng
điện thoại di động. Điều này chứng tỏ, Internet và các MXH là “mỏ vàng” không
chỉ để thu hút khách hàng trong lĩnh vực kinh doanh, quảng cáo và các hoạt động
“lợi nhuận”..., mà còn là mảnh đất “màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng
tuyên truyền, kích động, chống phá công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước
ta.
Thời gian qua, các đối tượng phản động, cơ hội chính trị tăng
cường kích động dư luận, biến bức xúc thành bạo động, khiến đời sống sinh hoạt
xã hội trở nên phức tạp; mặt khác, chúng đang tích cực lợi dụng MXH để hình
thành cái gọi là “truyền thông độc lập”, tách khỏi sự quản lý của Nhà nước;
thực hiện các thủ đoạn tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động tâm lý hoài
nghi với chính quyền, thổi bùng bức xúc trong nhân dân để tạo điều kiện, môi
trường thực hiện “cách mạng màu” như một số nước Đông Âu; đồng thời ủng hộ các
luận điệu dân chủ, nhân quyền, đòi tự do biểu tình, tự do ngôn luận, tự do lập
hội, tự do báo chí, tự do tôn giáo theo quan điểm phương Tây để phục vụ cho
chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong
nội bộ cán bộ đảng viên, các tầng lớp thanh thiếu niên, đặc biệt là những phần
tử công thần, bất mãn, tiêu cực trong xã hội.
Trước thềm đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ XIII, hằng ngày, các tổ chức phản động, thù địch tung lên mạng hàng
trăm tài liệu xuyên tạc về lý luận, vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ, nói xấu cán bộ
lãnh đạo Đảng, Nhà nước với mưu toan chia rẽ khối đại đoàn kết, kích động tâm
lý của một bộ phận nhân dân, một số cán bộ tha hóa biến chất... nhằm lật đổ
chính quyền. Đấu tranh làm thất bại âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình” trên
MXH là “cuộc chiến” cam go, phức tạp cần phải có các giải pháp đồng bộ, phát
huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và cần sự vào cuộc quyết liệt,
thường xuyên, bền bỉ của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng, trong đó,
cần tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau đây:
Kết hợp chặt chẽ giữa công tác tuyên truyền, giáo dục, với công
tác nhân sự nhằm nâng cao ý thức tự giác, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng
viên, công chức, viên chức, người lao động của các cấp ủy đảng, chính quyền và
các tổ chức chính trị xã hội. Quán triệt sâu sắc quan điểm “Con người là trung
tâm của mọi hoạt động xã hội”, “Cán bộ là cái gốc của cách mạng, muôn việc
thành bại đều do cán bộ quyết định”, các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể
phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao ý thức tự giác,
bản lĩnh chính trị để mỗi cá nhân biết cách lựa chọn và tiếp nhận thông tin phù
hợp. Từ đó, kịp thời định hướng, nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội trong đảng
viên, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc quyền quản lý.
Phát huy vai trò quản lý Nhà nước của các cơ quan, các lực lượng
chuyên trách, lực lượng chuyên môn kỹ thuật trong đấu tranh phòng và chống phát
tán thông tin xấu trên MXH. Các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa
phương đối với các trang thông tin điện tử và trang MXH của các sở, ngành, đoàn
thể, địa phương cần triển khai thực hiện có chất lượng Kết luận số 23-KL/TW,
ngày 22-11-2017 của Ban Bí thư Trung ương khóa XII “Tăng cường chỉ đạo, quản
lý, phát huy vai trò của báo chí, xuất bản trong việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ”; nhanh chóng triển khai Quyết định 1278 của Bộ Thông tin và
Truyền thông về thực hiện Đề án “Tăng cường hiệu quả công tác phòng ngừa, chống
vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet” thuộc Chiến lược quốc gia
phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và định hướng đến năm 2030.
Triệt để khai thác thế mạnh của từng loại hình báo chí xuất bản,
đấu tranh có hiệu quả trên báo điện tử và trang MXH; siết chặt quy trình làm
báo không để xảy ra sai sót về chính trị, nhất là những tin, bài liên quan
những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, các sự kiện chính trị của đất nước, của các
địa phương, đơn vị mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để thổi phồng, vu
cáo chống phá. Đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng chủ trương, đường lối, chính
sách; những thành tựu kinh tế-xã hội của đất nước, góp phần cung cấp cái nhìn
toàn diện cho công chúng, phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật, hành
lang pháp lý tạo cơ sở thực hiện có hiệu quả ngăn chặn mọi hành vi vi phạm pháp
luật của các tổ chức, cá nhân khi tham gia các hoạt động trên MXH. Tổ chức học
tập, quán triệt và phổ biến rộng rãi Luật An ninh mạng; Nghị định số
27/2018/NĐ-CP, ngày 1-3-2018 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và
thông tin trên mạng để giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân có thông tin chính
xác, hiểu rõ về văn bản pháp luật này, nhằm tạo sự thống nhất cao trong Đảng và
sự đồng thuận trong xã hội; chỉ rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch,
phản động, phê phán các tổ chức, cá nhân lợi dụng, nhân danh lòng yêu nước để
lôi kéo, kích động người dân vi phạm pháp luật...
Ngoài ra, tăng cường hợp tác quốc tế, ngăn ngừa có hiệu quả mọi hoạt động chống phá của các thế lực phản động và thù địch trên MXH.Hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại cách mạng số. Thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với các nước trên thế giới trong bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên các MXH.
“Diễn biến hòa bình” trên mặt trận truyền thông MXH đã và đang diễn ra hết sức phức tạp. Với bản lĩnh và kinh nghiệm tổ chức lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân, chúng ta tin chắc rằng, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước được củng cố ổn định, an ninh chính trị, trật tự
Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2021
Vạch rõ những hoạt động chống phá Đảng của các thế lực thù địch
Vạch rõ những hoạt động chống phá Đảng của các thế
lực thù địch
Trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIII các thế
lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá bằng nhiều hình thức và thủ đoạn rất
tinh vi, xảo quyệt, chống phá toàn diện trên nhiều phạm vi, lĩnh vực, không chỉ
đơn thuần là vấn đề lý luận mà còn bao hàm cả các vấn đề thực tiễn mới nảy
sinh. Bởi vậy, vạch rõ những hoạt động chống phá Đảng của các thế lực thù địch
hiện nay là việc cấp thiết nhằm nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất
bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng
tư tưởng và tổ chức của Đảng.
Những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch được thể hiện rõ trên
những vấn đề cơ bản sau:
Một là, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch
hiểu rất rõ vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng
Cộng sản Việt Nam. Theo đó, chúng ra sức xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với các luận điệu cho rằng: “Sự sụp đổ của CNXH
ở Liên Xô và Đông Âu là minh chứng cho Chủ nghĩa Mác-Lênin hiện đã lỗi thời,
không còn phù hợp”; việc “Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin
là sai lầm”... Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng rêu rao rằng:
“Chủ nghĩa tư bản là đỉnh cao của sự phát triển của xã hội loài người không có
gì có thể thay thế, chủ nghĩa tư bản đang tự điều chỉnh và hoàn
thiện”, “nếu Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục kiên định với Mác thì đừng
trông chờ gì vào đường lối Đại hội XIII”(!)...
Thứ hai, chúng xuyên tạc, phủ nhận cương lĩnh, đường lối và vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng xuyên tạc, phủ nhận đường lối chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng. Đặc
biệt, sau sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, chúng “lý sự” rằng: “Mọi câu
hỏi của xã hội đều được tìm thấy ở chủ nghĩa tư bản”(!); Đảng Cộng sản Việt Nam
“bảo thủ” với con đường đi lên CNXH là trái quy luật, hoặc “đã phát triển kinh
tế thị trường thì đâu còn là CNXH”(!); Việt Nam hiện nay là “đỏ vỏ, xanh
lòng”(!)...
Thứ ba, chống phá công tác cán bộ của Đảng. Với mưu đồ gây chia rẽ nội
bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức
tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu
tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là “thanh trừng nội bộ”, là “chuẩn bị ghế
nhân sự” cho đại hội Đảng... Không những thế, chúng còn thường xuyên dựng chuyện,
thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây
hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an
ninh, trật tự... hòng hạ bệ uy tín của cán bộ, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng,
sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân, nhất là trước thềm Đại hội
XIII của Đảng.
Thứ tư, chúng phủ nhận thành tựu phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Các thế lực thù địch trắng trợn phủ nhận sạch trơn những thành tựu
to lớn mà Đảng và quân, dân ta đã đạt được trong sự nghiệp giải phóng dân tộc,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội... Mục
đích của chúng là hòng tạo nên bức tranh bi quan về tình hình Việt Nam, gây mất
lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN.
Những hoạt động chống phá trên đều nhằm tác động vào nhận thức, tư tưởng
của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với những người thiếu bản
lĩnh, nhận thức mơ hồ và những kẻ bất mãn vì cho rằng mình không được trọng
dụng, đãi ngộ... từ đó gây hoài nghi, suy giảm niềm tin vào Đảng, chế độ XHCN,
rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trên thực tế, rất khó để tách bạch
giữa âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch. Bởi
chiêu trò của chúng là kết hợp giữa công khai với ngấm ngầm chống phá, thông
qua các phương tiện cả truyền thống và hiện đại, đan xen các cách thức, biện
pháp với nhiều màu sắc, quy mô, cấp độ, lẫn lộn trắng-đen, thật-giả... rất khó
phân biệt, nhận diện. Tuy nhiên, có thể khái quát một số đặc điểm chính trong
chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch như sau:
Thứ nhất, các hoạt động chống phá luôn được các thế lực thù địch chủ động
tiến hành trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ, dưới nhiều hình thức. Triệt để
lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, các thế lực thù địch
lập ra các hội nhóm online, tổ chức livestream, hội thảo trực tuyến, đăng tải
các bài viết... với nội dung xoay quanh chủ trương, chính sách mới của Đảng,
Nhà nước và cố tình vẽ ra các bất cập nảy sinh. Thời điểm tiến hành của chúng
luôn gắn với các sự kiện, ngày lễ, các thời điểm chuẩn bị và tổ chức tiến hành
đại hội đảng, bầu cử, ban hành luật, nghị định... Cách làm phổ biến của chúng
là: Khi các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước (cả với chủ trương ở cấp
cơ sở) mới chỉ ở dạng dự thảo thì chúng đưa ra các “kiến nghị” nhằm hướng lái
dư luận theo ý đồ của chúng; sau khi ban hành thì chúng kích động biểu tình,
phản đối; khi các phần tử vi phạm bị bắt và xử lý theo pháp luật, chúng ra sức
tuyên truyền, xuyên tạc và thông qua một số tổ chức, cá nhân để đòi trả tự do
cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, đồng thời vu khống Việt Nam đàn áp dân chủ,
vi phạm nhân quyền.
Thứ hai, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch diễn ra thường xuyên,
liên tục, không ngại bịa đặt, dựng chuyện. Thực hiện phương châm “nói
nhiều sẽ tin”, các trang mạng, blog cá nhân, các kênh YouTube... liên tục tiến
hành các hoạt động chống phá bằng các bài viết, video clip tuyên truyền xuyên
tạc với tần suất và cường độ ngày càng lớn, gần như liên tục, bất kể ngày, đêm.
Triệt để lợi dụng tâm lý hiếu kỳ của một số người dân, chúng thường xuyên tung
ra những thông tin lập lờ giữa đúng và sai, dựng lên những sự kiện không có
thật, thậm chí bịa đặt trắng trợn, để gây hoài nghi trong nhân dân. Khi các
thông tin chống phá của chúng bị vạch mặt, bóc trần sự thật, chúng lập tức vu
cáo ta “độc đoán”, đàn áp tự do báo chí, che giấu thông tin, hoặc tiếp tục bẻ
lái, kích động dư luận chống đối, đi ngược lại quan điểm, chính sách, quy định
của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng. Hiện nay, nổi lên là việc một số
hội nhóm, tổ chức được sự hỗ trợ của các thế lực, tổ chức phản động nước ngoài,
tiến hành các hoạt động xuất bản ấn phẩm báo chí, tài liệu, băng hình đòi xét
lại các vấn đề lịch sử, một mặt nhằm “rửa tội” cho bè lũ tay sai, bán nước, một
mặt thì dọn đường dư luận để tiếp tục đưa ra luận điệu phủ nhận vai trò to lớn
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như trong
sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước hiện nay.
Thứ ba, hoạt động chống phá của các thế lực thù
địch diễn ra tinh vi, đa dạng, nhiều chiều. Hiện nay, với sự phát triển
mạnh của các mạng xã hội, việc bày tỏ chính kiến với các vấn đề xã hội của nhân
dân càng trở nên dễ dàng. Lợi dụng điều đó, để đánh lừa được quần chúng nhân
dân, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá toàn diện trên
các lĩnh vực của đời sống xã hội với các phương thức, chiêu trò, thủ đoạn ngày
càng tinh vi. Chúng tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông xã hội, các loại
hình văn hóa, nghệ thuật, các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo,
các diễn đàn, nhất là triệt để lợi dụng một số văn nghệ sĩ, trí thức bất mãn,
có quan điểm chính trị lệch lạc để ngấm ngầm cài cắm, tán phát những quan điểm
sai trái, phản động; lợi dụng các hoạt động nhân đạo, từ thiện, tổ chức truyền
đạo, lập đạo trái phép để tuyên truyền, lôi kéo những người thiếu hiểu biết,
nhẹ dạ cả tin, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Bằng mồi
nhử kinh tế, thông qua tổ chức các hoạt động “du lịch”, “thăm thân”, “hội nghị
đầu tư”, “dự án”... chúng “khéo léo” mua chuộc, lôi kéo đội ngũ cán bộ, hoặc
dùng các thủ đoạn ghi âm, ghi hình... để vừa vu khống, nói xấu chế độ, vừa ép
buộc cán bộ của ta, từng bước làm họ sa ngã, rơi vào lối sống thực dụng, hưởng
thụ, từ đó có lời nói, hành vi đối lập với quan điểm của Đảng.
Để góp phần đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu,
thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng với việc chủ động tăng cường
thông tin tích cực, đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả các thông tin xấu độc thì
điểm mấu chốt vẫn là phải đẩy mạnh việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng
và bộ máy công quyền, làm cơ sở tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương
phát triển kinh tế, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... mà Đảng ta đã xác
định. Bên cạnh đó, cần tiếp tục làm tốt công tác thông tin, giáo dục, tuyên
truyền, nâng cao cảnh giác và nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên cùng các tầng
lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và tính
chất nguy hại của nó. Đặc biệt là phải nâng cao chất lượng việc học tập và
nghiên cứu lý luận, không chỉ làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân
thấu suốt, đồng thuận cao với mọi quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, Nhà nước mà còn làm cơ sở tiền đề để các chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước ngày càng đi vào thực tiễn một cách mạnh mẽ, hiệu quả.
Chúng ta cũng cần chú ý phân biệt rõ giữa “quan điểm khác” với “quan điểm
thù địch”. Nếu “quan điểm khác”, tức là không giống quan điểm của Đảng (do Đảng
chưa tính tới, chưa kịp thời cập nhật...) mà không trái với mục tiêu, lý tưởng
của Đảng, có lợi cho đất nước và nhân dân, thì cần nghiên cứu tiếp thu. Còn nếu
“quan điểm khác” nhưng ngược với mục tiêu, lý tưởng, trái với chủ trương, đường
lối của Đảng, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc thì cần phải kiên
quyết lên án và đấu tranh bác bỏ.
Luận điệu đòi Quân đội “đứng ngoài chính trị”
Luận điệu đòi Quân đội “đứng
ngoài chính trị”
Việc các thế lực thù địch, phản động tăng cường chống
phá, đòi “phi chính trị hóa” quân đội là một âm mưu tuy không mới nhưng rất
nguy hiểm và chúng ta phải hết sức cảnh giác.
Gần đây trên các trạng mạng, các thế lực thù địch lại tăng
cường viết bài chống phá Quân đội, chúng rêu rao rằng, bao năm qua Quân đội
Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc
lập tự do của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân, luôn gắn bó mật thiết với
nhân dân và dân tộc, cho nên quân đội “chỉ là của dân tộc, của đất nước” chứ
không cần phải có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Rồi chúng dùng mọi “lý lẽ”
để xuyên tạc lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của
giai cấp công nhân; phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của
Đảng đối với quân đội; phủ nhận tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối, quan
điểm quân sự, quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng ta.
Các thế lực thù địch, phản động ngụy biện rằng, Quân đội Nhân dân Việt Nam
là quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do đó quân đội chỉ cần
trung thành, bảo vệ lợi ích của nhân dân, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Các vấn đề liên quan đến quân sự, quốc phòng phải được nhân dân và Quốc
hội bàn bạc, quyết định chứ không phải Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó, chúng kêu
gọi quân đội từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đứng “trung lập”, “đứng ngoài
chính trị” để bảo vệ nhân dân, bảo vệ đất nước được tốt hơn…
Những luận điệu trên tuy không mới, nhưng vì núp bóng dưới những vỏ bọc mỹ
miều “nghiên cứu”, “bàn luận”, “góp ý”… nên dễ khiến cho người ta lầm tưởng là
khách quan, khoa học, hợp lý. Nguy hiểm hơn, chúng được phát tán trên không
gian mạng, được một số hãng truyền thông phương Tây thiếu thiện chí với Việt
Nam và những kẻ thâm thù với cách mạng, những người nhẹ dạ cả tin, hưởng ứng,
tung hô, cổ xúy, tiếp tay cho kẻ xấu tuyên truyền tư tưởng sai trái, phản động.
Thực chất, những luận điệu trên nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”
của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam với đòn tấn công mũi nhọn là “phi
chính trị hóa” quân đội. Mục đích là nhằm chuyển hướng chính trị của quân đội ta
từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân sang kiểu quân đội tư bản. Nó làm cho quân đội ta không còn là công cụ bạo
lực sắc bén, lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà
nước và Nhân dân; làm cho quân đội mất phương hướng chính trị, tạo điều kiện
cho các thế lực thù địch tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn
lật đổ” xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.
Cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh, quân đội không thể và không bao giờ
đứng ngoài chính trị. Khi nghiên cứu nguồn gốc của chiến tranh và quân đội, các
nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra, quân đội luôn mang bản chất
của giai cấp, của nhà nước. Quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực vũ trang
của một giai cấp, một nhà nước nhất định. Không có quân đội chung chung của mọi
giai cấp hoặc quân đội phi giai cấp. Hệ tư tưởng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu
của quân đội cũng chính là hệ tư tưởng, mục tiêu, lý tưởng của giai cấp, của
đảng-đội tiên phong của giai cấp đã tổ chức ra nó.
Quân đội Nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của
giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam tổ chức ra
để tiến hành sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân-bản chất cách mạng, khoa học
của Đảng nhưng trong đó, tính nhân dân, tính dân tộc cũng được biểu hiện rất
sâu sắc. Vì thế, bất luận trong hoàn cảnh nào, quân đội ta cũng luôn phải đặt
dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Đây là nguyên tắc
bất di bất dịch.
Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô, Đông Âu cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90
thế kỷ XX và gần đây là những bất ổn chính trị kéo dài ở một số nước Trung
Đông, Bắc Phi đã cho thấy bài học đắt giá về xây dựng quân đội, mà ở đó, nguyên
tắc đảng lãnh đạo phải được đặt lên hàng đầu. Điều đó cũng nhắc nhở chúng ta
phải luôn luôn tỉnh táo, cảnh giác với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của
các thế lực thù địch.
Thực tiễn những năm qua cũng chứng minh, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp
về mọi mặt của Ðảng là nhân tố hàng đầu quyết định sự trưởng thành, chiến đấu
và chiến thắng của quân đội ta. Nhờ tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc đảng lãnh
đạo nên quân đội ta mới là một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến
đấu. Từ khi thành lập đến nay, quân đội luôn một lòng, một dạ trung thành với
Ðảng, Nhà nước và Nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ
được giao. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta đã cùng nhân dân đánh thắng
những tên thực dân, đế quốc sừng sỏ nhất, lập nên những kỳ tích vĩ đại nhất
trong lịch sử. “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân
do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”.
Vậy nên, luận điệu cho rằng Quân đội phải “trung lập”, phải “đứng ngoài
chính trị” suy cho cùng chỉ là “khẩu hiệu để các thế lực thù địch chống phá Quân
đội ta” mà thôi./.
ĐỂ CÔNG CHÚNG KHÔNG BỊ "LỆCH CHUẨN"
Trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, văn học-nghệ thuật (VHNT) là mặt trận tiên phong. Với đặc trưng của từng lĩnh vực, việc nhận diện những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong VHNT rất khó khăn, phức tạp.
Khẳng định giá trị vững bền của chủ nghĩa Mác trong thời đại ngày nay, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
Khẳng định giá trị vững bền của chủ nghĩa Mác trong thời đại ngày nay, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
Từ khi chủ nghĩa Mác ra đời được đánh dấu bằng “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” năm 1848 đến nay đã trải qua 173 năm, chúng ta có thể khẳng định, trong toàn bộ lịch sử tư tưởng nhân loại, không một tư tưởng nào, học thuyết nào về lịch sử có thể sánh kịp với chủ nghĩa Mác về phương diện khoa học và cách mạng. Bằng việc phát hiện ra những quy luật khách quan của sự vận động, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất và lịch sử loài người, lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, C.Mác đã chỉ ra cho giai cấp vô sản và nhân loại tiến bộ toàn thế giới con đường và biện pháp hiện thực để tự giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công và xây dựng một chế độ xã hội mới hướng đến sự giải phóng triệt để và phát triển toàn diện con người.
Chủ nghĩa Mác là học thuyết về sự giải phóng và phát triển. Chủ nghĩa ấy hướng đến sự giải phóng triệt để con người khỏi mọi sự nô dịch, áp bức bóc lột, sự hạn chế trong các quan hệ xã hội và hướng đến sự giải phóng triệt để con người. Chủ nghĩa ấy được xây dựng trên cơ sở kế thừa các thành tựu nhận thức khoa học của lịch sử tư tưởng nhân loại vàchỉ ra được những quy luật chi phối toàn bộ sự vận động và phát triển của thế giới vật chất nói chung và lịch sử xã hội nói riêng, chấm dứt mọi sai lầm của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, chủ nghĩa duy vật siêu hình trong giải thích các hiện tượng xã hội và lịch sử. Chủ nghĩa Máccũng đóng góp vô cùng quý giá vào sự phát triển củatriết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa cộng sản khoa học và nhiều khoa học khác, trở thành nền tảng lý luận có ý nghĩa phương pháp luận to lớn trong việc phát triển tư duy và nhận thức của nhân loại. Lần đầu tiên chủ nghĩa ấy cung cấp phương pháp luận khoa học trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Nó góp phần thay đổi căn bản tư duy của nhân loại trong việc thay đổi, cải tạo thế giới, hướng đến việc xây dựng một thế giới của con người, cho con người, vì con người. Ở đó, sự phát triển của mỗi người là tiền đề cho sự phát triển và tự do của tất cả mọi người. Vì vậy, chủ nghĩa ấy, đồng thời bao hàm tính cách mạng. Tính khoa học và cách mạng đã làm nên những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mácvà sức sống mạnh mẽ trong thời đại của chúng ta. Có thể khái quát những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác ở những nội dung sau:
Thứ nhất, phép biện chứng duy vật của triết học Mác là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa trong lịch sử phát triển nhận thức của nhân loại về sự vận động, biến đổi của thế giới vật chất. Như Ph.Ăngghen đã định nghĩa, phép biện chứng duy vật là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Phép biện chứng trình bày một cách có hệ thống, chặt chẽ tính chất biện chứng của thế giới thông qua những nguyên lý, những quy luật và những phạm trù chung nhất của thế giới. Vì vậy, phép biện chứng duy vật vừa là lý luận duy vật biện chứng, vừa là lý luận nhận thức, và là lôgic học của chủ nghĩa Mác. Phép biện chứng duy vật là lý thuyết triết học và đồng thời cũng là phương pháp phổ biến của tư duy, của sự nhận thức khoa học, “nó cung cấp cho loài người và nhất là cho giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại”, đồng thời là phương pháp để cải tạo xã hội.
Thông qua phương pháp luận của phép biện chứng duy vật, C.Mác đã khẳng định: “triết học không hứa hẹn gì cả ngoài chân lý..., triết học không đòi hỏi tin tưởng vào các kết luận của nó, nó đòi hỏi kiểm nghiệm những điều hoài nghi”. Theo đó, triết học duy vật biện chứng của C.Mác luôn nhìn thẳng vào sự thật, hướng về thực tiễn để hướng dẫn, giải quyết những vấn đề cơ bản và bức thiết do thực tiễn, do hiện thực cuộc sống đặt ra. Chính vì thế mà triết học duy vật biện chứng của C.Mác có khả năng tự đổi mới và phát triển, trở thành kim chỉ nam cho hành động, mở đường và hướng dẫn nhân loại tiến bộ tiếp tục tìm kiếm và nhận thức chân lý, chứ không đi tới chân lý tuyệt đích, cuối cùng.
Thông qua phương pháp luận của phép biện chứng duy vật, lần đầu tiên Mác đã gắn triết học với đời sống hiện thực. Triết học không đứng ngoài cuộc sống, mà nó đã góp phần vào cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân lao động, làm cho cuộc đấu tranh giai cấp của nhân dân lao động “không còn mang tính chất biệt phái, ngẫu nhiên” nữa mà là hành động có tổ chức nhằm bảo vệ lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp đông đảo người trong xã hội, điều mà các lý luận khác không làm được.
C.Mác đã từng phê phán những trường phái triết học xa rời thực tiễn đời sống xã hội. Ngay từ khi còn là biên tập viên của Báo Sông Ranh,C.Mác đã chỉ ra rằng, triết học cũng phải theo đuổi những mục đích thực tiễn hiểu theo ý nghĩa cao nhất của chữ đó như bất cứ hoạt động lao động nào khác của con người. C.Mác nói, các nhà triết học không mọc như nấm từ dưới đất lên, họ là sản phẩm của thời đại họ, của nhân dân họ, những nhựa sống tinh tế nhất, quý giá nhất và chưa từng có của nhân dân được chung đúc lại trong những tư tưởng triết học. Cũng như cái tinh thần xây dựng nên đường sắt với bàn tay của người công nhân, xây dựng nên những hệ thống triết học trong đầu óc của nhà triết học. Triết học không lơ lửng ở đâu ngoài thế giới cũng như bộ óc không nằm ngoài con người. C.Mác phản đối quan điểm cho rằng triết học chỉ quan sát hiện thực, và không có quan hệ gì với hoạt động thực tiễn, với sự biến đổi chế độ xã hội. Tháng 9 năm 1843, trong thư gửi A.Rugiơ, C.Mác cũng cho rằng nhiệm vụ của triết học không phải là xây dựng lên một hệ thống, thích dụng “đối với mọi thời đại sau này” mà là phê phán thẳng tay mọi cái đang tồn tại. Trong cuộc đấu tranh chống lại các hệ tư tưởng phản động, C.Mác viết, triết học cũng cần gắn liền với cuộc đấu tranh hiện thực. Đó là cuộc đấu tranh vì lợi ích của nhân dân lao động, trước hết là giai cấp công nhân. Trong Lời nói đầu Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, C.Mác đã trình bày một tư tưởng rất quan trọng về mối liên hệ giữa lý luận cách mạng và thực tiễn cách mạng. Ông cho rằng, lý luận cách mạng phản ánh yêu cầu, địa vị lịch sử và hoạt động đấu tranh của giai cấp cách mạng. Nhưng chỉ bằng lý luận thì không thể xoá bỏ được áp bức, bóc lột, bất công, mà muốn giải phóng toàn nhân loại thì phải gắn lý luận với con đường đấu tranh cách mạng. C.Mác cho rằng, lý luận không chỉ có nhiệm vụ nhận thức ra yêu cầu, địa vị, hoạt động của quần chúng, mà còn phải có khả năng thâm nhập vào quần chúng và trở thành lực lượng vật chất. Tư tưởng này được thể hiện tập trung ở trong luận điểm: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình, và chỉ cần sấm sét của tư tưởng đánh một cách triệt để vào cái mảnh đất nhân dân còn nguyên vẹn ấy là việc giải phóng người Đức thành con người sẽ hoàn thành”. “Đầu não của sự giải phóng ấy là triết học, trái tim của nó là giai cấp vô sản. Triết học không trở thành hiện thực nếu không xoá bỏ giai cấp vô sản; giai cấp vô sản không thể xoá bỏ được bản thân mình nếu không làm cho triết học biến thành hiện thực”.Tư tưởng trên của C.Mác cũng được thể hiện rõ nét nhất trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc trước khi C.Mác viết tác phẩm Hệ tư tưởng Đức. Trong luận đề thứ 11, C.Mác viết: “Các nhà triết học đã giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”. Luận đề đó của C.Mác không chỉ chỉ rõ vai trò của triết học đối với hiện thực mà còn nêu lên một cách vắn tắt và sâu sắc thực chất cuộc cách mạng trong triết học nói chung và phép biện chứng duy vật nói riêng do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện.
Thứ hai, C.Mác là người đầu tiên trong lịch sử triết học của nhân loại phát hiện ra quy luật phát triển của lịch sử loài người. Đúng như Ph.Ăngghen đã nói, “Trên hành tinh của chúng ta, Sáclơ Đácuyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ. Mác đã phát hiện ra quy luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của lịch sử loài người”. Chính quan niệm duy vật về lịch sử này đã chấm dứt sự lộn xộn và tùy tiện vẫn thống trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị.
Khởi đề từ những tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, Sự khốn cùng của triết học, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản... đến tác phẩm Tư bản, C.Mác xuất phát từ phương thức sản xuất để nghiên cứu sự vận động, biến đổi, phát triển và quy luật của lịch sử. Ở đó, phương thức sản xuất được hiểu là sự vận động của lực lượng sản xuất và quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất. Đó còn là sự liên kết các lĩnh vực vào một thể thống nhất, tạo nên tính toàn vẹn và tính cụ thể đặc trưng của một xã hội. C.Mác đã xem xét tính quy luật chung của sự phát triển lực lượng sản xuất, của quan hệ sản xuất và tính đặc thù của chúng trong các xã hội cụ thể. Nội dung này được thể hiện tập trung trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội. Bằng phạm trù hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác đã thực hiện sự phân kỳ lịch sử như tính liên tục của sự thay thế nhau một cách tất yếu, hợp quy luật các giai đoạn phát triển, tạo nên vòng khâu nối tiếp nhau, giữa các nấc thang, các thời đại, cũng như sự kế thừa, chế ước lẫn nhau giữa các dân tộc có trình độ phát triển khác nhau. Trong bức tranh sinh động của tiến trình lịch sử - xã hội nổi lên những khuynh hướng chủ đạo, làm xương sống cho sự biến đổi, sự thay thế cái cũ bằng nhân tố mới, bảo đảm quá trình vận động đi lên của lịch sử. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác đã làm sáng tỏ những dấu hiệu phổ biến cho các nấc thang phát triển của xã hội, cũng như những nét đặc thù cho từng xã hội cụ thể. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội lần đầu tiên cung cấp những tiêu chuẩn thực sự duy vật, khoa học cho việc phân kỳ lịch sử, giúp con người hiểu được lôgic khách quan của quá trình tiến hoá xã hội. Nó vạch ra sự thống nhất của lịch sử trong cái muôn vẻ của các sự kiện ở các nước khác nhau trong các thời kỳ khác nhau, chỉ ra những mối liên hệ để giải thích chứ không chỉ mô tả các sự kiện lịch sử. V.I.Lênin đã đánh giá: “lúc đó, tư tưởng ấy chỉ mới còn là giả thuyết, nhưng là một giả thuyết lần đầu tiên đã tạo ra khả năng có được một thái độ hết sức khoa học đối với những vấn đề lịch sử và xã hội”. C.Mác “đã vạch ra con đường nghiên cứu lịch sử một cách khoa học, coi lịch sử là một quá trình thống nhất và có quy luật, mặc dầu quá trình đó cực kỳ phức tạp và có nhiều mâu thuẫn”. V.I.Lênin khẳng định, C.Mác đã “có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”. Tư tưởng này “tự bản thân nó, cũng đã là một tư tưởng thiên tài rồi”. Bằng việc phát hiện ra những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, C.Mác đã chỉ ra cho giai cấp vô sản và nhân loại tiến bộ toàn thế giới những con đường và biện pháp hiện thực để tự giải phóng khỏi ách áp bức về mặt xã hội và tạo ra những điều kiện, tiền đề cho một cuộc sống thật sự mang tính người trong xã hội cộng sản.
Thứ ba, học thuyết giá trị thặng dư là một trong hai phát kiến vĩ đại của C.Mác. Theo đánh giá của V.I.Lênin, học thuyết giá trị thặng dư là “hòn đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác” và học thuyết kinh tế của C.Mác là “nội dung căn bản của chủ nghĩa Mác’’. Nội dung chính của học thuyết phát biểu rằng, sản xuất và chiếm hữu giá trị thặng dư là hình thức đặc biệt trong chủ nghĩa tư bản về sản xuất và chiếm hữu sản phẩm thặng dư, nghĩa là hình thức cao nhất của sự tha hóa con người đối với hoạt động của mình, đối với sản phẩm từ hoạt động đó, đối với chính mình, đối với người khác. Qua học thuyết giá trị thặng dư C.Mác đã làm rõ cơ sở và quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Theo C.Mác, để đạt được mục đích làm giàu tối đa của mình nhà tư bản đã mua sức lao động của công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất ra sản phẩm, thu về giá trị thặng dư. Nhưng nhà tư bản bao giờ cũng chỉ trả một phần giá trị sức lao động cho người công nhân thông qua hình thức tiền lương và bóc lột giá trị thặng dư do người công nhân sáng tạo ra trong quá trình sản xuất.
Trong xã hội tư bản, mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ cơ bản, sâu sắc nhất, xuyên qua tất cả các quan hệ sản xuất của xã hội đó. Giá trị thặng dư, phần giá trị do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra bị nhà tư bản chiếm đoạt, phản ánh mối quan hệ sản xuất cơ bản nhất đó. Giá trị thặng dư do lao động không công của công nhân làm thuê sáng tạo ra là nguồn gốc làm giàu của giai cấp các nhà tư bản, sản xuất ra giá trị thặng dư là cơ sở tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Từ việc làm rõ phạm trù giá trị thặng dư - cơ sở của sự tồn tại và những bất công trong chủ nghĩa tư bản, C.Mác đi đến kết luận khoa học rằng, sự diệt vong của xã hội tư sản và sự ra đời của chế độ xã hội mới - xã hội XHCN đều là tất yếu như nhau. Và, trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc quá trình phát triển của các quan hệ xã hội, C.Mác đã đi đến nhận thức đúng đắn về vai trò lịch sử vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới với tư cách lực lượng có khả năng cải tạo tận gốc các quan hệ xã hội, thủ tiêu tình trạng người bóc lột người và xây dựng chế độ xã hội mới, tự giải phóng mình và qua đó, giải phóng nhân loại. C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận định rằng, nền công nghiệp hiện đại đã sản sinh, nuôi dưỡng một giai cấp vô sản với những đặc trưng cơ bản: không có tư liệu sản xuất, đối lập với giai cấp tư sản, bị giai cấp tư sản bóc lột ngày càng nặng nề; có tinh thần cách mạng, đoàn kết, có tính tổ chức kỷ luật cao. Bởi vậy, giai cấp vô sản chứ không phải bất kỳ một giai cấp nào khác gánh trên vai mình sứ mệnh cao cả là “người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản” để xây dựng một xã hội mới.
Xã hội mới mà giai cấp vô sản và nhân dân lao động xây dựng là CNXH. CNXH theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, là một xã hội hướng đến sự giải phóng triệt để là phát triển toàn diện con người. Xã hội đó “thoát thai” từ xã hội trước đó; nhiều tiền đề kinh tế - xã hội đã được chuẩn bị một cách tự nhiên trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa. Những điều kiện vật chất cần thiết cho sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản đã ra đời một cách tự phát trong quá trình phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong tập I của Tư bản, C.Mác nói về khuynh hướng lịch sử của chủ nghĩa tư bản và nhân đó nhắc tới quy luật phủ định của phủ định. C.Mác cũng đã nêu ra mâu thuẫn bản chất trong xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội ngày càng cao của lực lượng sản xuất và sự chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất. Mâu thuẫn này sẽ không được giải quyết chừng nào còn chủ nghĩa tư bản. Do vậy, đây chính là tiền đề cho cuộc đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội tất yếu xảy ra và nó mở đầu cho một giai đoạn lịch sử mới. C.Mác viết: Sự độc quyền của tư bản trở thành xiềng xích ràng buộc cái phương thức sản xuất đã thịnh vượng lên cùng với độc quyền và dưới độc quyền đó. Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hoá lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa... Phương thức chiếm hữu tư bản chủ nghĩa do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đẻ ra, và do đó cả chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa nữa đều là sự phủ định đầu tiên đối với chế độ tư hữu cá nhân dựa trên lao động của bản thân. Nhưng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu của một quá trình tự nhiên. Đó là sự phủ định của phủ định. Sự phủ định này không khôi phục lại chế độ tư hữu, mà khôi phục lại chế độ sở hữu cá nhân trên cơ sở những thành tựu của thời đại tư bản chủ nghĩa: trên cơ sở sự hiệp tác và sự chiếm hữu công cộng đối với ruộng đất và những tư liệu sản xuất do chính lao động làm ra. Nói cách khác, chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại trong lòng xã hội tư bản đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản.
Khi nói về tính tất yếu ra đời CNXH, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”. Như vậy, những tiền đề cho sự ra đời của CNXH xuất hiện trong lòng chủ nghĩa tư bản, và sự xuất hiện CNXH là một tất yếu.
V.I.Lênin nhận xét: Mác đặt vấn đề chủ nghĩa cộng sản giống như một nhà tự nhiên học đặt, chẳng hạn, vấn đề tiến hoá của một giống sinh vật mới một khi đã biết nguồn gốc của nó và định được rõ rệt hướng của những biến đổi của nó. Ngày nay... chủ nghĩa xã hội đang hiện ra một cách trực tiếp, trên thực tiễn, trong mỗi biện pháp quan trọng tạo thành một bước tiến trên cơ sở của chủ nghĩa tư bản hiện đại ... Triển vọng của CNXH không chỉ do CNXH hiện thực quy định mà còn do chính quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản chuẩn bị những tiền đề trên nhiều mặt của xã hội hiện đại. Với ý nghĩa đó, Chủ nghĩa cộng sản là hình thức tất yếu và là nguyên tắc kiên quyết của tương lai sắp tới.
V.I.Lênin đã khẳng định: Toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại nêu ra... Chủ nghĩa Mác là học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác. Nó là một học thuyết hoàn bị và chặt chẽ; nó cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thỏa hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, một hành vi nào bảo vệ sự áp bức của tư sản. Khi nói về giá trị, tính khoa học và bản chất cách mạng của học thuyết Mác, V.I.Lênin đã khẳng định rằng, toàn bộ giá trị của học thuyết Mác là ở chỗ, lý luận đó về bản chất là một lý luận có tính chất phê phán và cách mạng. Bất cứ những quan tâm nào về xã hội, lịch sử đều có thể tìm thấy trong học thuyết Mác những cơ sở khoa học cho lời giải đáp.
Lịch sử nhân loại ngày nay đã có nhiều thay đổi lớn lao, nhưng chủ nghĩa Mác vẫn chứng tỏ được sức sống của nó. Bất cứ những quan tâm nào về xã hội, lịch sử đều có thể tìm thấy trong học thuyết Mác những cơ sở khoa học cho lời giải đáp. Ngoài ra, từ chỗ phản ánh khách quan, khoa học quá trình tất yếu của lịch sử nhân loại, chủ nghĩa Mác còn cung cấp những quan điểm, nguyên tắc chung, cơ bản để nhận thức, giải thích chính xác về cơ bản những chế độ xã hội, và con đường để xây dựng xã hội mới - xã hội cộng sản.
Đánh giá một cách rõ ràng và sâu sắc ý nghĩa và giá trị trong những phát kiến khoa học của C.Mác đối với phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và nhân loại tiến bộ, V.I.Lênin đã quả quyết khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa duy vật triết học của Mác là đã chỉ cho giai cấp vô sản con đường phải theo để thoát khỏi chế độ nô lệ về tinh thần, trong đó tất cả các giai cấp bị áp bức đã sống lay lắt từ trước tới nay. Chỉ có học thuyết kinh tế của Mác là đã giải thích được địa vị thực sự của giai cấp vô sản trong toàn bộ chế độ tư bản chủ nghĩa. Sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những người XHCN của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là ở chỗ nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội) với tinh thần cách mạng, và kết hợp không phải một cách ngẫu nhiên, không phải chỉ vì người sáng lập ra học thuyết ấy đã kết hợp trong bản thân mình những phẩm chất của nhà bác học và của nhà cách mạng, mà là kết hợp trong chính bản thân lý luận ấy, một sự kết hợp nội tại và khăng khít.
CÁN BỘ VỚI BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG