Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2021

NÂNG CAO CẢNH GIÁC, KỊP THỜI NGĂN CHẶN ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG MẠNG INTERNET KÍCH ĐỘNG PHÁ HOẠI AN NINH TRẬT TỰ XÃ HỘI

 Những năm qua, sự phát triển nhanh chóng của internet, mạng xã hội đã đem lại những lợi ích không thể phủ nhận; từng bước khẳng định vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội, trở thành môi trường cung cấp, chia sẻ, trao đổi, khai thác sử dụng thông tin cho mọi người và đang thâm nhập vào cuộc sống của con người trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, internet, mạng xã hội cũng bộc lộ những mặt trái và hệ lụy của nó đối với sự phát triển của đất nước ta, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lực lượng chống cộng cực đoan ở nước ngoài,… triệt để lợi dụng internet và các trang mạng xã hội để tán phát các tin, bài, videoclip có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước ta với sự gia tăng cả về cấp độ, mật độ, tần suất và lưu lượng tin, bài,… nhằm tuyên truyền, kích động, xuyên tạc, chống phá ta một cách quyết liệt.

Nổi lên một số thủ đoạn mới đáng chú ý là: Thực hiện Live stream trực tiếp để kêu gọi cộng đồng mạng can thiệp vào nội bộ hoặc tham gia bình luận trái chiều trên mạng xã hội. Chúng phát videoclip trực tiếp về một sự việc do chúng dựng lên hoặc “lên sóng” trực tiếp trên mạng xã hội để tạo “diễn đàn” kêu gọi mọi người tham gia bình luận về một vấn đề “nóng” liên quan đến các cuộc biểu tình, khiếu kiện của tổ chức, cá nhân tại các cơ quan công quyền được dư luận xã hội quan tâm. Chủ đề chúng chọn thường là các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi thiết thực, bức xúc của người dân. Qua đó, chúng kêu gọi sự can thiệp của quốc tế và các tổ chức phản động vào Việt Nam, hoặc chúng lồng ghép quan điểm cá nhân, bình luận xuyên tạc, thu hút sự quan tâm của cộng đồng mạng, kêu gọi sự “phụ họa” của các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị tham gia bình luận, chia sẻ, xuyên tạc dựng chuyện Đảng ta đang bất ổn, Nhà nước bị chia rẽ cục bộ, một hình ảnh quân đội yếu đuối, công an tham nhũng, v.v.

Sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng. Chúng lợi dụng việc báo chí chính thống trong nước đưa tin một số vấn đề cụ thể nào đó, có thể bị chậm trễ, để phát tán ồ ạt, trực tiếp những tin, bài xuyên tạc, bóp méo sự thật, thông qua những tiêu đề “giật gân”, “câu khách” về vấn đề dư luận đang quan tâm, nhất là vấn đề liên quan đến nội bộ Đảng, Nhà nước, tham nhũng, tiêu cực dưới các dạng như: thông tin sự việc, đặt câu hỏi, bỏ ngỏ vấn đề để bạn đọc suy ngẫm, với những thông tin trộn lẫn thật giả, gây tâm lý hoang mang, bán tín, bán nghi, v.v.

Làm mới thông tin cũ, bịa đặt thông tin mới để chống phá. Thông tin cũ được lựa chọn để “làm mới” và “thông tin mới được lựa chọn để bịa đặt” thường là những đoạn videoclip hoặc hình ảnh có liên quan đến các vấn đề liên quan đến dân chủ… do chúng tạo dựng nên hoặc các vụ việc đã được xử lý, giải quyết từ lâu nhưng chúng đưa ra “làm mới”; hoặc những thông tin mới, mặc dù đã có kết luận của các cơ quan chức năng nhưng chúng bịa đặt, xuyên tạc, bình luận một chiều. Qua đó, chúng đánh vào tâm lý lo lắng, sợ hãi trong nhân dân qua đó, gây dư luận trái chiều trong xã hội.

Để ngăn chặn, hạn chế tác động tiêu cực của những thủ đoạn trên cần tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước các thông tin xấu độc của các thế lực thù địch. Tập trung tuyên truyền làm rõ thực chất đằng sau luận điệu của các thế lực thù địch; đâu là thủ đoạn mới, tính chất nguy hại của nó là gì? để đấu tranh ngăn chặn, hạn chế tác động tiêu cực đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân cần tiến hành các biện pháp gì, v.v. Qua đó, tạo sức “đề kháng”, khả năng “tự miễn dịch” đối với các tổ chức và cá nhân trước các thông tin xấu độc của các thế lực thù địch; trang bị cho họ những kỹ năng nhận biết và các giải pháp cơ bản để phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn.

Phát huy vai trò của các cơ quan chức năng cung cấp thông tin có định hướng rõ ràng. Các cơ quan tuyên giáo, thông tin truyền thông từ Trung ương đến cơ sở cần phát huy tốt vai trò chủ trì, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể Trung ương, địa phương, các cơ quan thông tấn, báo chí trong cung cấp, định hướng thông tin, bảo đảm thông tin một nguồn, một chiều, nhanh, chính xác, kịp thời; khắc phục “khoảng trống” hoặc sự chậm trễ trong cung cấp thông tin,… làm sao để thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước thường xuyên, kịp thời đến với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, luôn giữ vai trò chủ đạo, “dòng chủ lưu” trong định hướng dư luận xã hội.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, lực lượng trong đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ, phù hợp, phân rõ trách nhiệm cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp; vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp. Đồng thời, có chính sách động viên, khích lệ phù hợp, bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ, công cụ, phương tiện phù hợp để phục vụ nhiệm vụ đấu tranh.

Kết hợp chặt chẽ các nội dung, hình thức, biện pháp tổ chức đấu tranh phù hợp với thực tiễn tình hình. Cần kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh công khai trên báo chí với đấu tranh trực diện trên internet, mạng xã hội; giữa đấu tranh ngăn chặn sự tác động chuyển hóa từ bên ngoài với giữ vững sự ổn định từ bên trong nội bộ; giữa đấu tranh chính trị với sử dụng các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ để ngăn chặn, bóc gỡ, vô hiệu hóa một số trang mạng, blog, Facebook phản động,… nhằm tạo ra một thế trận vững chắc trong tổ chức đấu tranh trên không gian mạng hiện nay.

 

Thắng "giặc Covid-19" - minh chứng rõ tính ưu việt của Nhà nước Việt Nam

 

                Đến thời điểm này, có thể coi cuộc chiến chống “giặc Covid-19” của Việt Nam đã giành được nhiều kết quả quan trọng, là một trong những nước có kết quả tốt nhất trong phòng, chống dịch Covid - 19. Ngay từ đầu, khi Covid-19 tràn qua biên giới, Việt Nam đã nhận biết và đánh giá đúng tác hại không thể lường trước nếu lơ là, mất cảnh giác, coi thường nó và đã xác định ngay chống Covid-19 như chống giặc.

Mà đã coi là giặc tức là phải đánh, phải tiêu diệt chứ không chỉ chống. Vì vậy, ngay từ đầu, cả hệ thống chính trị ở Việt Nam đã vào cuộc với quyết tâm cao nhất. Chiến thuật đánh Covid-19 tuân thủ nguyên tắc của chiến dịch đánh giặc. Các hình thức chiến thuật vận dụng từ đánh nhỏ đến đánh lớn, từ bao vây, phục kích, đánh chặn đến dốc toàn lực lượng đánh một trận tổng lực để quyết giành thắng lợi và tiến tới thắng lợi hoàn toàn!

Nhiều nước trên thế giới đã ca ngợi thành công của Việt Nam, một đất nước tiềm lực kinh tế còn hạn chế nhưng đã không chịu khuất phục "giặc Covid-19", đã chiến đấu kiên cường và giành thắng lợi một cách ngoạn mục. Ngay từ đầu, Việt Nam đã tiến hành cách ly người về từ ngoài biên giới để đánh chặn Covid-19; cách phòng dịch sớm, chủ động phòng ngừa từ xa của Việt Nam là cách ít tốn kém nhất và đem lại kết quả tốt nhất… Chính vì vậy, thành công đáng nể nhất là Việt Nam đã bảo vệ được mạng sống người dân của mình hiệu quả nhất. Cũng từ thành công của Việt Nam, truyền thông nhiều nước, các chính trị gia, nhà kinh tế khẳng định Việt Nam sẽ là một trong số ít nước trên thế giới kinh tế tăng trưởng dương trong năm 2020.

Vậy mà khi thế giới đang hết lời khâm phục Việt Nam thì lại có những giọng điệu lạc lõng, những luận điệu xảo trá của những kẻ bất mãn chế độ, của các thế lực thù địch trong và ngoài nước nhằm xuyên tạc, bôi đen, bóp méo sự thật, muốn phủ nhận sạch trơn thành quả chống "giặc dịch" của chúng ta. Rõ ràng những luận điệu ấy còn nguy hại hơn cả dịch. Trớ trêu thay, trong số những người lên giọng phủ nhận ấy có người lại đang sống trên chính đất nước mình. Những ngày cả đất nước gồng mình chống chọi với "giặc Covid-19", những con người ấy cũng được chứng kiến và thụ hưởng thành quả chống dịch, được cả guồng máy xã hội bảo vệ mạng sống…

Hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, cả hệ thống chính trị từ Trung ương tới địa phương, các tổ chức chính trị, xã hội… đã sát cánh cùng nhau chống "giặc dịch". Trên tuyến đầu, các y sĩ, bác sĩ dốc sức, dốc lòng cứu người bệnh; quân đội, công an trở thành lực lượng nòng cốt giúp đồng bào trong nước, ngoài nước trở về, nhường cơm sẻ áo, nhường nhà, nhường doanh trại cho người cách ly… Trong đại dịch, không chỉ xuất hiện nhiều nhà từ thiện cùng góp công, góp sức, góp tiền của cho cuộc chiến chống dịch mà từ trong nhân dân cũng xuất hiện nhiều tấm gương, tấm lòng hướng về các y sĩ, bác sĩ nơi tuyến đầu chống dịch thật sự xúc động. Người có tiền giúp tiền, người có gạo giúp gạo, có người chỉ mớ rau, củ, quả cũng đem đến giúp đỡ người ở tuyến đầu… Những tấm lòng thơm thảo của đồng bào, đồng chí như tiếp thêm năng lượng cho các y sĩ, bác sĩ đang không quản ngại hy sinh.

Với tinh thần coi sức khỏe và tính mạng của con người là trên hết, trong hiểm nguy của đại dịch, quyết tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ là không để ai bị bỏ lại phía sau, không ai bị bỏ ngoài xã hội. Sự nỗ lực không biết mệt mỏi của ngành y tế, quân đội, công an và các ban, bộ, ngành Trung ương, sự vào cuộc kịp thời của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, cộng đồng doanh nghiệp… làm tăng thêm niềm tin trong nhân dân về thành công của cuộc chiến chống dịch. Chính từ niềm tin ấy, mọi quyết sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ được nhân dân đồng lòng, đồng sức ủng hộ.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ LÀ ĐIỂM TỰA TINH THẦN VỮNG CHẮC, LÀ ÁNH SÁNG SOI ĐƯỜNG CHO TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN TA TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI NGÀY NAY

 

         Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ thiên tài, nhà hoạt động chính trị kiệt xuất, người anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại mà Người còn là một nhà văn hoá lỗi lạc, một danh nhân văn hoá được cả thế giới công nhận và ngưỡng mộ. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm sâu sắc đến sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá mới ở Việt Nam. Mỗi cử chỉ, mỗi lời nói và việc làm của Người trong quan hệ với đồng chí, đồng bào, với bạn bè quốc tế... trên các cương vị khác nhau khi là nhà báo, lúc là nhà văn, nhà thơ, hay trên cương vị Chủ tịch nước, ở Người đều toả ra ánh hào quang văn hoá, đó là kết tinh của những giá trị văn hoá tốt đẹp nhất. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá nói riêng là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.

Mang trong mình truyền thống văn hoá Phương Đông, lại được tiếp thu những tinh hoa  văn hoá của nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt là ánh sáng khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin, với phẩm chất thiên tài, Hồ Chí Minh đưa ra cách hiểu văn hoá rất rộng, rất sâu sắc và khái quát cao, song cũng rất cụ thể và dễ hiểu, dễ đi vào lòng người. Mặc dù đã có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về văn hoá khác nhau, nhưng Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa về văn hoá rất gần với cách hiểu mà 40 năm sau (1982) UNESCO mới nêu lên. Trong mục “Đọc sách” ở phần cuối tập “Nhật ký trong tù” (1942-1943), Người đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Chính văn hoá được hiểu theo nghĩa như vậy mới có thể được đóng vai trò “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội” như Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định.

Quan điểm trên của Hồ Chí Minh đã khái quát được nội dung đầy đủ nhất, rộng nhất, mang đầy đủ nội hàm của phạm trù văn hoá. Theo đó, văn hoá được hiểu là toàn bộ sáng tạo những giá trị vật chất và những giá trị tinh thần của con người trong quá trình tồn tại sinh sống và phát triển. Nguồn gốc và động lực sâu xa của văn hoá chính là nhu cầu của con người, khác với loài vật, nhu cầu của con người (bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần) luôn luôn thay đổi, con người không bao giờ bằng lòng với những cái mà tự nhiên ban tặng và những gì đã có. Chính điều đó, đã  thúc đẩy con người hoạt động và sáng tạo, cải tạo tự nhiên và xã hội, tạo ra không gian và điều kiện sinh tồn cả vật chất lẫn tinh thần phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu cho mình. Đó cũng chính là quá trình sáng tạo văn hoá của con người. Theo nghĩa đó, ở đâu có con người và hoạt động của con người thì ở đó có văn hoá. Văn hoá là sự phát huy và hiện thực hoá các năng lực bản chất của con người. Con người là chủ thể sáng tạo của văn hoá đồng thời văn hoá là phương thức sinh tồn, là môi trường sống của con người. Con người không thể tồn tại và phát triển với tính cách là con người được nếu tách khỏi môi trường văn hoá và thực tế lịch sử phát triển của con người luôn gắn liền với lịch sử phát triển của văn hoá. Tư tưởng đó cho chúng ta thấy rằng tồn tại xã hội bao giờ cũng quyết định ý thức xã hội, yếu tố vật chất quyết định yếu tố tinh thần, theo đúng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin.

Mặt khác, theo quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hoá, thì văn hoá bao gồm hai lĩnh vực cơ bản đó là, văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần. Bên cạnh những sản phẩm tinh thần như: ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật... văn hoá còn bao hàm các sản phẩm vật chất phục vụ cho đời sống con người như các công cụ, các phương tiện đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp...Tuy nhiên, văn hoá vật chất thực ra là vật thể hoá các giá trị tinh thần. Mỗi sản phẩm vật chất đều thể hiện sự tài hoa, lý tưởng thẩm mỹ của con người, của những chủ thể sáng tạo ra chúng.

Như vậy, có thể nói Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm hết sức khoa học và dễ hiểu về văn hoá. Quan niệm đó không những vạch ra những dấu hiệu đặc trưng của văn hoá mà còn bao quát được toàn bộ các hoạt động và các hiện tượng văn hoá trong đời sống con người. Vì vậy, tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn hoá hiện nay vẫn còn nguyên giá trị trong việc nhận thức các hiện tượng văn hoá của đời sống xã hội.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thì tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá vẫn là điểm tựa tinh thần vững chắc, là ánh sáng soi đường cho toàn Đảng, toàn dân ta đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công.

Đấu tranh ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Quân đội hiện nay

 

 Phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI (nhiệm kỳ 2020 - 2025), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng yêu cầu: “tuyệt đối không để những quan điểm sai trái xuất hiện, tồn tại trong Quân đội”. Để yêu cầu đó trở thành hiện thực, phải kiên quyết xóa bỏ mọi nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình thay đổi tư duy, nhận thức về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của người cán bộ, đảng viên. Họ hoài nghi, phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và dần đánh mất các chuẩn mực đạo đức của người cộng sản mà bản thân đã nỗ lực phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện nhiều năm mới có được; dễ dàng chấp nhận tư tưởng tư bản chủ nghĩa, tin vào các luận điểm sai trái, phản động. Tiếp đến, họ không những không chấp hành mà còn thực hiện sai chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thậm chí trở thành phần tử chống đối, sẵn sàng ngả theo các thế lực thù địch khi được chúng ve vãn, tung hô.

Như vậy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có cả nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài, trong đó bên trong mang tính quyết định. Những biểu hiện này có thể xảy ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với mọi cá nhân, tổ chức và trong Quân đội cũng không phải là ngoại lệ. Chính sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên đã ươm mầm cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chỉ chờ có sự tác động đúng lúc từ bên ngoài sẽ nảy chồi, phát triển. Vì vậy, muốn phòng, chống triệt để biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải loại bỏ nguyên nhân bên trong và giảm thiểu sự tác động của nguyên nhân bên ngoài. Chính vì vậy, đòi hỏi phảo tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ để tăng cường “sức đề kháng” cho quân đội, bảo đảm quân đội ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; có ý chí quyết tâm cao, vượt qua gian khổ, hy sinh, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.

CHUNG TAY PHÒNG CHỐNG COVID-19 CHỨ ĐỪNG XUYÊN TẠC

 

               Trong khi cả đất nước nói chung, hệ thống chính quyền và nhân dân những tỉnh đang xảy ra dịch nói riêng đang tích cực, khẩn trương tiến hành các biện pháp phòng chống, khoanh vùng dẹp dịch Covid-19 thì lại xuất hiện một số con người lại “ăn không ngồi rồi” cho rằng chính quyền và người dân chậm chạp trong việc cách ly ổ dịch dẫn đến dịch bệnh lan rộng ra khắp nơi.

Những phát ngôn của những người này mang tính tự phát, không nắm được tình hình tại những địa phương đang diễn ra như thế nào và không hiểu được những nguyên tắc quan trọng công tác phòng chống dịch ra sao. Chính quyền và các lực lượng tham gia chống dịch đang phải căng mình để truy vết những người tiếp xúc với F0, ngăn ngừa dịch bệnh lây lân, đưa những người tiếp xúc gần đi cách ly tập trung...

Những lực lượng tham gia trực tiếp trong phòng chống dịch bệnh như bác sĩ, y tá, Quân đội, Công an phải trực 100%, phải xa gia đình để đảm bảo lực lượng ứng trực và xử lý những tình huống đã và đang xảy ra. Ngoài ra, chính quyền còn bận rộn hỗ trợ những người dân ở những địa phương đang có dịch vì những sản phẩm nông nghiệp đã đến giai đoạn thu hoạch nhưng do bị giãn cách xã hội, bị phong toả nên không thể tiêu thụ sản phẩm. Những hy sinh âm thầm của họ nào ai thấu đâu.

Không thể hiểu được những con người đang suy nghĩ gì nữa. Trong khi chính quyền và các lực lượng đang gồng mình để chống dịch, người dân nơi xảy ra dịch bệnh đang gặp khó khăn, những con người đã không có lời động viên cho đồng bào mình thì hãy đừng tỏ ra hiểu biết, đừng có xuyên tạc, phá hoại cuộc sống của người dân nữa. Dịch COVID-19 lây lan trong cộng đồng, đồng thời trở thành "điểm nóng" về tin giả trên mạng xã hội nhiều ngày nay. Vì vậy, mong rằng mọi người khi tiếp cận những thông tin trên Internet cần phải bình tĩnh và không đăng tải hoặc chia sẻ thông tin không đúng sự thật về tình hình dịch Covid – 19.

LỤC LÂM THẢO KHẤU MÀ ĐÒI BÀN LUẬN VỀ KINH TẾ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI VỚI DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN

Gớm trước đây lúc Fây-búc chưa được hoạt động chính thức ở Việt Nam thì nào là Việt Nam độc tài, mất dân chủ nên sợ này sợ nọ... Khi người ta ban hành Luật An ninh mạng thì kêu là chủ yếu nhằm vào Fây-búc để kiểm soát quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận... nào thì tung hê những nước cho Fây-búc hoạt động là hình mẫu của tự do, dân chủ, nhân quyền lung tùng xèng .

Hehe, đã bảo rồi, tự do và dân chủ đến mấy cũng phải có khuôn khổ, có chừng mực chứ lấy đâu ra cái thứ tự do, dân chủ kiểu thích làm gì thì làm, nói gì thì nói. Ở ngoài đời và trên mạng ảo đều thế, có phỏng? Cho nên lũ mang danh "hoạt động dân chủ" kia trước thì to mồm lắm, đến khi Fây-búc nó khóa mồm anh Trump cái rịp, rồi mới đây nó chặn họng cả nước Úc thì bọn kia không há mồm ra được chữ nào. 

Dân chủ á? Tự do ngôn luận á? đố anh em "hoạt động dân chủ" mà trước đây đòi phải cho Fây-búc hoạt động rồi không kiểm duyệt nội dung ấy, như bọn Lân Thắng, Dũng Vova, Nguyễn Văn Đài... chẳng hạn - hehe, thử nói xem việc Fây-búc nó khóa mõm anh Trump với khóa mõm cả nước Úc là thứ dân chủ kiểu gì. Lêu lêu bọn há miệng mắc quai nhé nhé! 

Mà mấy hôm nay cũng không thấy anh em nào tung hê thiên đường Hoa Kỳ nữa nhể? Hỡi ôi thiên đường tự do, hỡi ôi dân chủ, hỡi ôi giàu có phồn hoa, thịnh vượng... Chỉ mỗi đợt bầu cử tổng thống Mỹ vừa rồi và con COVID19 cộng thêm trận bão tuyết thôi đã phơi bày tất cả rồi đấy. Tất nhiên, tút sau sẽ chém tiếp chuyện đó. Hi hi

Mai Năm Mới (ST)

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2021

Đảng có đứng ngoài cuộc trong cuộc chiến chống COVID-19




Chuyện ít ai lường trước được là trong thời điểm Đại hội Đảng lần thứ XIII diễn ra thì dịch Covid-19 lại bùng phát tại Quảng Ninh và Hải Dương. 


Như chết đuối vớ được cọc, mấy anh chị ba que, "dân chủ cuội" đã  nhanh chóng đăng đàn xuyên tạc về Đại hội Đảng và kích động hòng tạo sự hoang mang trong xã hội. Trang Việt Tân vội đăng bài "một cái tết hoang mang", với luận điệu bịp bợm và dị hợm rằng "Ở bên ngoài nhân dân thì đang hoang mang với tình hình dịch bệnh đang diễn biến nghiêm trọng, có nguy cơ đón một cái tết ‘’nhà ai ở nhà nấy’’, trong khi đó "trong khu vực đầu não Hà Nội đang nhóm họp, vẫn háo hức vì đại hội sắp thành công tốt đẹp, những tiếng vỗ tay rần trời cũng sẽ vang lên khi đảng vẫn vinh quang trên sự lầm than của hàng triệu dân đen đang lo lắng trước một cái tết nước mắt chan cơm". Đọc mấy câu trên mới hiểu, khi sự chống phá lên đến đỉnh điểm, bất chấp đúng sai thì những cái đầu "dân chủ" không có gì là không thể bóp méo và xuyên tạc được. 

30 năm chấm dứt Chiến tranh Vùng Vịnh - Bão táp Sa mạc

 

Ngày 28/2/1991, Chiến tranh Vùng Vịnh với mật danh “Bão táp Sa mạc” do Mỹ và quân đồng minh phát động tại Iraq đã kết thúc. Dù không kéo dài, đây vẫn là cuộc chiến quy mô lớn nhất của Mỹ kể từ Chiến tranh Việt Nam.

Nguyên nhân chiến tranh

Mặc dù cuộc xung đột kéo dài nhiều năm giữa Iran – Iraq đã kết thúc theo lệnh ngừng bắn do LHQ làm trung gian hồi tháng 8/1988, vào giữa thập niên 1990 hai quốc gia này vẫn chưa khởi động đàm phán về một hiệp ước hòa bình lâu dài. Khi các ngoại trưởng gặp gỡ tại Geneva tháng 7 năm đó, triển vọng về hòa bình tại khu vực Trung Đông bỗng dưng trở nên tươi sáng do có vẻ như nhà lãnh đạo Iraq Saddam Hussein đã sẵn sàng chấm dứt cuộc xung đột và trả lại lãnh thổ đã chiếm đóng.

Thế nhưng, hai tuần sau đó, ông Hussein có bài phát biểu buộc tội nước láng giềng Kuwait hút trộm dầu thô từ mỏ dầu Ar-Rumaylah nằm dọc đường biên giới chung. Ông khẳng định Kuwait và Saudi Arabia đã hủy khoản vay nước ngoài 30 tỷ USD của Iraq, đồng thời cáo buộc họ âm mưu giữ giá dầu ở mức thấp nhằm gây khó khăn cho các quốc gia xuất khẩu dầu sang phương Tây.

Theo trang History.com, lý giải cho việc ra lệnh quân đội tấn công Kuwait tháng 8/1990, Tổng thống Iraq tuyên bố Kuwait là một nhà nước do thực dân phương Tây dựng lên bên ngoài bờ biển Iraq. Trên thực tế, Kuwait đã được quốc tế công nhận là một thực thể riêng biệt từ trước khi Iraq được Anh thành lập dưới sự ủy quyền của Hội quốc liên sau Thế chiến thứ nhất.

Sau tuyên bố của ông Saddam Hussein, Iraq bắt đầu tập trung quân đội ở biên giới giáp Kuwait. Nhận thấy tình thế "nước sôi lửa bỏng", Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak lên tiếng kêu gọi đàm phán giữa Iraq và Kuwait nhằm tránh sự can thiệp của Mỹ hay các cường quốc khác ngoài Vùng Vịnh. Thế nhưng, ông Hussein đã cắt đứt đàm phán chỉ sau hai giờ.

Ngày 2/8/1990, Tổng thống Hussein ra lệnh quân đội tấn công nước láng giềng Kuwait. Ông dự tính rằng các nước Arab sẽ ủng hộ quyết định của mình, đồng thời không kêu gọi các lực lượng bên ngoài ngăn chặn cuộc chiến, song nó hóa ra là một phép tính sai lầm. 2/3 trong số 21 thành viên của Liên đoàn Arab liền lên án hành động gây hấn của Baghdad. Quốc vương Saudi Arabia và chính phủ lưu vong của Kuwait đã nhờ cậy Mỹ cùng các nước đồng minh trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) giúp đỡ.

Tên gọi

Cuộc chiến tranh có nhiều tên gọi khác nhau. "Chiến tranh Vùng Vịnh" hay "Chiến tranh vịnh Persic" là những thuật ngữ phổ biến nhất để chỉ cuộc xung đột này ở các nước phương Tây. Ngoài ra, cuộc xung đột cũng được gọi là "Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất", chiến dịch "Lá chắn Sa mạc" (Desert Shield) và "Bão táp Sa mạc" (Desert Storm). Ở Anh, các nhà sử học và chính giới gọi đây là Chiến dịch Granby. Tại Kuwait và đa số các nước Arab gọi cuộc chiến là "Chiến tranh giải phóng Kuwait". Trong khi người Iraq gọi cuộc chiến là Um M'aārak - Cuộc chiến của mọi cuộc chiến.

Mỹ và đồng minh ra tay

Tổng thống Mỹ George H.W. Bush và hàng loạt nước phương Tây ngay lập tức chỉ trích cuộc xâm lăng của Iraq. Chính phủ Anh và Liên Xô cũ cũng vậy. Đáng lưu ý, Kuwait chính là đối tác xuất khẩu dầu mỏ lớn của Mỹ.

Ngày 3/8/1990, LHQ yêu cầu Iraq lập tức rút quân. Ba ngày sau, Quốc vương Fahd gặp Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Richard Cheney để nhờ hỗ trợ. Ngày 8/8, Chính phủ Iraq chính thức sáp nhập Kuwait, gọi quốc gia này là “tỉnh thứ 19” của Iraq. Cũng hôm đó, phi đội tiêm kích đầu tiên của Không quân Mỹ hạ cánh xuống Saudi Arab nhằm gây dựng lực lượng cho chiến dịch chống Iraq. Những chiếc chiến đấu cơ này được hộ tống bởi binh sĩ NATO, Ai Cập và một vài nước Arab khác, nhằm tạo ra một liên quân đối phó với nguy cơ Iraq tấn công Saudi Arabia.

Tại Kuwait, Iraq tăng lực lượng chiếm đóng lên khoảng 300.000 binh sĩ. Trong nỗ lực để lôi kéo sự ủng hộ từ thế giới Hồi giáo, nhà lãnh đạo Hussein tuyên bố một cuộc thánh chiến chống lại liên quân. Ông chủ động liên kết đồng minh với người Palestine bằng lời đề nghị sơ tán Kuwait đổi lại việc Israel rút khỏi các vùng lãnh thổ chiếm đóng. Khi những nỗ lực trên đều thất bại, Hussein vội vàng ký kết một thỏa thuận hòa bình với Iran cũng như huy động toàn lực quân đội.

Nhiều tuần trôi qua, các bên đều hiểu rõ rằng Tổng thống Hussein không hề có ý định từ bỏ. Ngày 29/11/1990, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ) ban hành Nghị quyết 678 cho Tổng thống Iraq thời hạn 6 tuần lễ trước khi liên quân do Mỹ dẫn đầu được phép sử dụng mọi phương tiện cần thiết để đẩy quân đội Iraq khỏi Kuwait. Hạn chót để Baghdad hành động là ngày 15/1/1991.

Vào tháng 1 năm đó, quân số các lực lượng sẵn sàng giáp đấu với Iraq vào khoảng 750.000 lính, trong đó có 540.000 lính Mỹ cùng binh sĩ 38 nước gồm Anh, Pháp, Đức, Liên Xô, Nhật Bản, Ai Cập, Saudi Arabia và các quốc gia Arab khác…

Sau cùng, nhà lãnh đạo Hussein từ chối nhượng bộ. Chiến tranh Vùng Vịnh leo thang ngày 17/1/1991 bằng một cuộc không kích khổng lồ, được biết đến dưới tên gọi Chiến dịch Bão táp Sa mạc.

Sa mạc nổi bão

Nửa đêm 17/1/1991 ở Iraq cũng là lúc yêu cầu của LHQ hết hạn. Lầu Năm Góc chuẩn bị khởi động chiến dịch tấn công buộc Iraq phải rút khỏi nước láng giềng giàu dầu mỏ sau 5 tháng chiếm đóng.

Vào lúc 16h30 giờ bờ Đông nước Mỹ, những chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên xuất kích từ các hàng không mẫu hạm của Mỹ và Anh ở ngoài khơi Vịnh Ba Tư lao vào không phận Iraq và oanh tạc các mục tiêu.


Và sau 17 giờ bay, 7 “pháo đài bay” B-52, cất cánh từ căn cứ không quân Barkdale ở Los Angeles, đã đáp xuống Trung Đông vào ngày 16/1, mang theo tên lửa hành trình dẫn đường bằng định vị vệ tinh đã dội bom các trụ sở chỉ huy, nhà máy điện, cơ sở hậu cần và trạm điện thoại của Iraq.

Suốt đêm đó, các máy bay của liên minh quân sự do Mỹ dẫn đầu đã ném bom rải thảm các mục tiêu ở trong và xung quanh Baghdad, trong đó có nhà máy vũ khí cùng các mỏ dầu. Cùng lúc đó, thế giới theo dõi sự kiện trên qua truyền hình vệ tinh trực tiếp. Vào lúc 19h00, chiến dịch mang mật danh Bão táp Sa mạc chính thức được công bố tại Nhà Trắng.

Tướng Mỹ Norman Schwarzkopf đã chỉ huy liên quân gồm lực lượng của 40 quốc gia. Chiến dịch này là dịp phương Tây phô diễn thế mạnh về công nghệ quân sự hiện đại bao gồm máy bay ném bom tàng hình, tên lửa hành trình, bom thông minh dẫn đường chính xác và thiết bị ném bom tầm nhiệt ban đêm.

Trong 6 tuần tiếp theo, liên quân mở cuộc không chiến quy mô khổng lồ nhắm vào các cơ sở hạ tầng dân sự và quân sự trọng yếu của Iraq, trong khi chỉ phải đối mặt với sự kháng cự yếu ớt từ lực lượng phòng không của quốc gia Trung Đông này. Máy bay chiến đấu Mỹ cùng liên quân đã xuất kích trên 18.000 lần, triển khai trên 116.000 trận không chiến và thả 88.500 tấn bom. Các lực lượng mặt đất của Iraq kháng cự rất yếu ớt và rơi vào tình trạng bất lực vào thời điểm đó.

Biện pháp trả đũa đáng quan tâm nhất của nhà lãnh đạo Hussein là tấn công bằng tên lửa SCUD nhằm vào Israel và Saudi Arabia. Ông Hussein hy vọng rằng các cuộc tấn công tên lửa sẽ kích động Israel tham gia vào vụ xung đột, do đó phân tán sự ủng hộ của thế giới Arab vào chiến dịch của Mỹ. Tuy nhiên, theo yêu cầu của Mỹ, Israel vẫn đứng ngoài cuộc chiến.

Bão táp Sa mạc cũng là lần đầu tiên hệ thống tên lửa MIM-104C Patriot của Mỹ được đưa vào thực chiến, nhằm đánh chặn tên lửa SCUD do Iraq phóng vào Israel. Sự kiện này chứng kiến sự “ra mắt” của các loại vũ khí tàng hình, tên lửa dẫn đường chính xác và hỗ trợ không gian trên chiến trường. Ngoài ra, Chiến tranh Vùng Vịnh cũng ghi dấu ấn với các khái niệm tấn công mới, chẳng hạn như “chiến tranh song song” và “chiến tranh dựa trên hiệu ứng”.

Vào ngày 24/2, liên quân triển khai cuộc tấn công quy mô lớn trên bộ với mật danh “Thanh kiếm Sa mạc”. Các lực lượng vũ trang được trang bị nghèo nàn của Iraq nhanh chóng bị áp đảo. Kuwait được giải phóng trong vòng chưa đầy 100 tiếng đồng hồ. Phần lớn các lực lượng của Iraq đã đầu hàng, tháo chạy hoặc bị tiêu diệt. Ngày 27/2, đài phát thanh của Baghdad tuyên bố Iraq sẽ tuân theo nghị quyết của LHQ.

Ngày 28/2, Tổng thống Bush tuyên bố ngừng bắn, kết thúc chiến dịch tấn công của liên quân. Theo các điều khoản hòa bình mà ông Hussein chấp nhận sau đó, Iraq sẽ công nhận chủ quyền của Kuwait và loại bỏ tất cả các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt (bao gồm vũ khí hạt nhân, sinh học và hóa học).

Theo tờ USA Today, Chiến tranh Vùng Vịnh là một trong những cuộc chiến tốn kém nhất Mỹ từng tham gia. Trong thời gian 7 tháng, Washington đã tiêu 116,6 tỷ USD và tổn thất 383 binh sĩ. Ước tính có khoảng 8.000 đến 10.000 lính Iraq đã thiệt mạng, tương đương 1/2 lực lượng trên bộ, gấp nhiều lần so với con số trên 300 người của lực lượng liên quân.

Mặc dù Chiến tranh Vùng Vịnh được công nhận là chiến thắng quan trọng của liên quân nhưng Kuwait và Iraq đã phải gánh chịu những thiệt hại to lớn về người và của.

Hậu quả của Chiến tranh Vùng Vịnh

Ý định ban đầu của lãnh đạo các nước liên minh là thực hiện một cuộc chiến tranh “có giới hạn” với chi phí tối thiểu nhưng trên thực tế hậu quả của cuộc chiến tác động kéo dài trong nhiều năm, cả ở khu vực Vịnh Ba Tư và trên toàn thế giới.

Ngay sau chiến tranh, lực lượng của Tổng thống Hussein theo đuổi cách tiếp cận cứng rắn đối với các cuộc nổi dậy của người Kurd ở phía Bắc và người Shi’ite ở phía Nam của Iraq. Liên minh do Mỹ đứng đầu đã không ủng hộ các cuộc nổi dậy tại Iraq vì sợ rằng nhà nước Iraq sẽ bị giải thể nếu các lực lượng này thành công.

Sau cuộc chiến này, Iraq ngày càng đơn độc hơn trong khu vực.

Trong những năm sau đó, máy bay của Mỹ và Anh tiếp tục tuần tra bầu trời Iraq, đồng thời áp đặt khu vực cấm bay tại đây, trong khi chính quyền Baghdad tìm mọi cách để từ chối thực thi các điều khoản hòa bình, đặc biệt cuộc thanh sát vũ khí của LHQ. Điều này làm tái hiện chính sách thù địch vào năm 1998, sau đó Iraq kiên quyết từ chối tiếp nhận các thanh sát viên vũ khí. Ngoài ra, lực lượng Iraq thường xuyên đụng độ với các máy bay của Mỹ và Anh trong khu vực cấm bay.

Năm 2002, Tổng thống George W. Bush (Bush con) đã bảo trợ cho một nghị quyết của LHQ kêu gọi Iraq cho phép các thanh sát viên vũ khí quay trở lại nước này. Các thanh sát viên của LHQ đã đến Iraq vào tháng 11 năm đó. Trong khi các nước thành viên Hội đồng Bảo an vẫn còn bất đồng về mức độ tuân thủ của Iraq với việc thanh sát thì Mỹ và Anh đã bắt đầu tập trung lực lượng ở biên giới Iraq. Vào ngày 17/3/2003, Tổng thống Bush (không có sự chấp thuận của LHQ) đã đưa ra một tối hậu thư yêu cầu Saddam Hussein từ chức và rời khỏi Iraq trong vòng 48 giờ, cũng như đe dọa tiến hành chiến tranh. Tổng thống Hussein từ chối và cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ hai, thường được gọi là Chiến tranh Iraq, nổ ra 3 ngày sau đó.

Vào ngày 20/3/2003, cuộc chiến tranh thứ hai giữa Iraq và liên minh do Mỹ dẫn đầu lại nổ ra, mục tiêu lần này của Mỹ là hạ bệ Tổng thống Saddam Hussein khỏi quyền lực với cái cớ tìm và phá hủy vũ khí giết người hàng loạt của Iraq. Nhà lãnh đạo Iraq bị một đơn vị quân đội Mỹ bắt vào ngày 13/12/2003 và bị hành quyết vào ngày 30/12/2006. Sau này, không có bất kỳ vũ khí hủy diệt hàng loạt nào được tìm thấy tại Iraq. Mỹ đã không chính thức rút khỏi quốc gia Trung Đông này cho đến tận tháng 12/2011.

Di sản của Chiến tranh Vùng Vịnh

Chiến dịch Bão táp Sa mạc không chỉ quan trọng về quy mô mà còn về thời điểm. Cuộc chiến này nổ ra vào giai đoạn cuối của Chiến tranh Lạnh, tình trạng căng thẳng quốc tế đã lắng xuống, khiến nhiều quốc gia phương Tây xem xét lại chi tiêu quân sự của họ.

Cũng có một mối lo ngại sâu sắc rằng thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh tạo cơ hội để thiết lập - theo lời Tổng thống George H. W. Bush trích dẫn của ông Winston Churchill - một “trật tự thế giới mới” và Chiến tranh Vùng Vịnh chính là tiền đề cho cách tiếp cận tương lai của cộng đồng quốc tế.

Đối với Tổng thống Bush và Thủ tướng Anh Margaret Thatcher, trật tự mới bao gồm sự không khoan nhượng đối với hành vi xâm lược quân sự và tăng cường sự gắn kết quốc tế, luật pháp quốc tế và các thể chế tự do, bao gồm cả LHQ. Khi làm như vậy, họ sẽ tìm cách thiết lập các phản ứng toàn diện và quyết định đối với các cuộc khủng hoảng quốc tế, về mặt ngoại giao và quân sự.

Quyết định dừng tấn công Baghdad sau 42 ngày dựa trên các mục tiêu của “trật tự thế giới mới” của các thể chế tự do cũng như tuân thủ điều lệ của LHQ. Thủ tướng Anh John Major đã viết trong hồi ký của mình: “Nếu các quốc gia đã tham chiến trên cơ sở luật pháp quốc tế mà lại tự mình phá vỡ luật đó thì tương lai của trật tự thế giới sẽ có gì ngoài hỗn loạn?”.

12 năm sau, phần lớn nỗ lực nhằm tạo ra một cách tiếp cận quốc tế gắn kết và tôn trọng luật pháp cùng thể chế quốc tế, đã bị cuộc chiến năm 2003 ở Iraq làm sụp đổ. Đặc biệt, việc tiến hành các chiến dịch quân sự mà không nhận được sự hỗ trợ của khu vực và LHQ đã gây tranh cãi lớn, đồng thời gây tổn hại nghiêm trọng đến uy tín của Mỹ và Anh.

Trong bối cảnh cộng đồng quốc tế tiếp tục đối mặt với một mối đe dọa mới tại khu vực Trung Đông là tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS), cơ hội để hàn gắn vết thương Chiến tranh Iraq năm 2003 đã có. Mối đe dọa chung do IS gây ra một lần nữa đem đến cơ hội cho cộng đồng quốc tế đoàn kết và tạo ra một trật tự thế giới mới, dựa trên các liên minh hợp pháp, hoạt động thông qua LHQ và với các đối tác khu vực./.

THẲNG THẮN TỰ PHÊ BÌNH VÀ THẬT THÀ PHÊ BÌNH TỨC LÀ ĐOÀN KẾT

 

“Thẳng thắn tự phê bình và thật thà phê bình tức là đoàn kết mà đấu tranh và do đấu tranh đó đã đi đến đoàn kết hơn trước”.


Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích ở bài nói chuyện trong buổi bế mạc Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ II, ngày 28 tháng 2 năm 1957. Đầu năm 1957, miền Bắc hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội được hơn 2 năm, công tác văn nghệ cũng đã có bước phát triển mới và thành tựu mới, đến dự với Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ 2 Bác đã phát biểu: “Thẳng thắn tự phê bình và thật thà phê bình tức là đoàn kết mà đấu tranh và do đấu tranh đó đã đi đến đoàn kết hơn trước”.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ khẳng định tầm quan trọng của tự phê bình, phê bình, của đấu tranh đối với đoàn kết, thống nhất trong mỗi tổ chức, mỗi người nói chung, đội ngũ cán bộ, nghệ sĩ nói riêng phải luôn đề cao ý thức phê bình, ý thức đấu tranh để xây dựng, củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong mỗi cơ quan, đơn vị, ngành mình. Đồng thời, phải nhận thức sâu sắc đấu tranh, phê bình và tự phê bình chính là quy luật, động lực của sự phát triển. Đấu tranh, phê bình phải thật thà, trung thực, không lợi dụng phê bình để trù dập lẫn nhau. Đấu tranh, phê bình để đi đến thống nhất, đoàn kết hơn, cùng nhau phát triển, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá để vững bước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, lời dạy “Thẳng thắn tự phê bình và thật thà phê bình tức là đoàn kết mà đấu tranh và do đấu tranh đó đã đi đến đoàn kết hơn trước" vẫn giữ nguyên giá trị, không những là tư tưởng chỉ đạo mà còn là yêu cầu đòi hỏi các tổ chức đảng, đoàn thể cách mạng phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất như giữ gìn con ngươi của mắt mình, phải tích cực đấu tranh, tự phê bình và phê bình, tự phê bình và phê bình có tình thân ái, phải đúng người, đúng việc, phải thật thà trung thực để đi đến đoàn kết và phát triển ngày càng tốt hơn.

Trong quân đội, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần quán triệt và thực hiện nghiêm lời dạy của Bác; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; chấp hành nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình để đi đến đoàn kết, thống nhất trong từng đơn vị chính là hiện thực hoá lời dạy của Bác; tránh lợi dụng đấu tranh, phê bình và tự phê bình để chia rẽ đoàn kết nội bộ, trù dập lẫn nhau, làm ảnh hưởng đến uy tín, nhân phẩm của đồng chí, đồng đội./.

Không thể xuyên tạc công tác nhân sự vì nỗi ám ảnh "vùng miền"




Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã kết thúc được gần một tháng, nhưng đâu đó trên mạng xã hội vẫn có/còn những người bị ảm ảnh bởi câu chuyện “vùng miền” trong công tác nhân sự. Cũng giống như một số người khác, trong bài viết “Đại hội 13 đảng CSVN và trọng tội kỳ thị Nam-Bắc” của mình đăng trên Danlambao ngày 23/2/2021, luật sư Đào Tăng Dực (ĐTD) lại xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng và bôi nhọ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khi cho rằng: “Trình độ lý luận của Ông Nguyễn Phú Trọng là một vấn đề rất có thể tranh cãi”, “Tâm tư của TBT Nguyễn Phú Trọng đã phản ảnh một tâm trạng vô cùng nguy hiểm và mang tính hủy diệt cho dân tộc. Đó là tâm trạng kỳ thị Nam Bắc, tiềm tàng không phải riêng trong cá thể của TBT Nguyễn Phú Trọng mà trong toàn đảng CSVN”…

Khuyên Việt Nam cần "nêu cao chủ nghĩa thực dụng", Ngô Ngọc Trai chỉ là tên ngáo đá chính trị




Trên trang BBC, Ngô Ngọc Trai (NNT) vừa đăng tải bài viết: “Để phát triển nhanh Việt Nam cần nêu cao Chủ nghĩa Thực dụng?”. Không biết vì trình độ ngôn ngữ hay về tư tưởng, NNT đã dùng dấu hỏi chấm (?), sau tiêu đề bài báo…Điều này có thể hiểu là NNT nghi ngờ đối với chính suy nghĩ của mình .

Các thê lực thù địch không thể bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”

  Với những hoạt động xuyên tạc, hòng bôi nhọ hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ, thời gian gần đây các thế lực thù địch, chống phá cố tình lấy cớ một số sự vụ, sự việc vi phạm đơn lẻ để thổi phồng và quy chụp rằng: Quân đội nhân dân Việt Nam đang dần bị biến chất, không còn kiên định mục tiêu tối thượng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Thực chất, các chiêu trò nêu trên không nằm ngoài mưu đồ cố tình bóp méo, hạ bệ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ và bản chất tốt đẹp của QĐND Việt Nam. Đây cũng chính là một chiêu trò “tung hỏa mù”, hướng vào chống phá Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Thế nhưng, sự vụng về khi ngụy biện, cộng với chiêu thức chống phá cũ kỹ sẽ không khó để chúng ta nhận diện, lật tẩy thông qua việc nêu lên một vài ví dụ về đời sống thường nhật và hoạt động quân sự của bộ đội, để “ánh sáng sự thật” sẽ tự thân đẩy lùi “bóng tối bịa đặt xấu xa” theo đúng quy luật khách quan.

Trong thời gian vừa qua, các đợt dịch Covid-19 bùng phát, thực hiện mệnh lệnh “chống dịch như chống giặc” để bảo vệ nhân dân với lực lượng y tế làm nòng cốt, Quân đội ta đã chỉ đạo các đơn vị quân y tích cực tham gia phòng, chống dịch và đặc biệt là chỉ đạo Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng tăng cường tuần tra, chốt chặn, kiểm soát chặt chẽ xuất nhập cảnh, nhằm ngăn chặn dịch xâm nhập vào nội địa qua đường biên giới... Theo chủ trương đó, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng đã tình nguyện lên đường nhận nhiệm vụ; tham gia ứng trực 24/24 giờ tại các khu vực cửa khẩu, đường mòn, lối mở, bờ sông suối... nơi con người có thể qua lại trên khắp dải biên cương, kết thành “bức tường ngăn dịch” vững chắc, suốt từ đầu năm 2020 đến nay.

Cũng bắt đầu từ khi xuất hiện dịch Covid-19 ở Việt Nam, hàng loạt đơn vị quân đội đã cơ động lực lượng, dồn dịch nơi ăn ở, nhường hệ thống doanh trại phục vụ công tác cách ly công dân có nguy cơ nhiễm dịch Covid-19. Đồng thời, cán bộ, chiến sĩ ở những đơn vị này lại trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phục vụ, chăm sóc sức khỏe cho người dân. Sau khi hoàn thành thời gian cách ly y tế ở các đơn vị quân đội, rất nhiều công dân đã bày tỏ lòng biết ơn, xúc động và thán phục về sự chịu đựng gian khó, mẫn cán, hết lòng phục vụ nhân dân của bộ đội. Người dân cảm kích, khâm phục, bởi công dân bị cách ly vốn mang nhiều nguy cơ dịch bệnh, nhưng cán bộ, chiến sĩ quân đội vẫn trực tiếp, tận tình phục vụ và hướng dẫn từng người thực hiện các biện pháp y tế theo đúng quy định; trực tiếp an ủi, động viên họ yên tâm cách ly, lạc quan vươn lên trong thời điểm khó khăn nhất. Đặc biệt, khi dịch Covid-19 xuất hiện ở bất cứ nơi đâu, bộ đội hóa học và các lực lượng chức năng đều có mặt sớm nhất, tiến hành phun khử trùng phục vụ dập dịch, bảo vệ người dân...

Tất cả những chi tiết ấy cho thấy sự hy sinh quên mình của Bộ đội Cụ Hồ. Họ lặng lẽ công tác, thầm lặng cống hiến vô điều kiện để bảo vệ, phục vụ nhân dân. Đó chính là sự kế tục truyền thống của QĐND Việt Nam anh hùng-đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”; minh chứng rõ rành về sự giác ngộ cao độ và tinh thần sẵn sàng xả thân vì nước, vì dân của Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Quốc hội Việt Nam luôn được Nhân dân tin tưởng

 Trong thời gian chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp, các thế lực thù địch và những kẻ thiếu thiện chí tập trung chống phá, xuyên tạc về hoạt động của Quốc hội ta. Nhưng thực tế lại không phải như vậy, kể từ khi ra đời tới nay, Quốc hội ta đã hoàn thành xuất sắc vai trò, sứ mệnh của mình đối với đất nước, với dân tộc. Trong những năm gần đây, hoạt động của Quốc hội ngày càng đổi mới, ngày càng thể hiện rõ tính dân chủ và hiệu quả ngày càng được nâng cao. Tất cả các vấn đề lớn thuộc mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế-xã hội, văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,... của đất nước đều được Quốc hội thảo luận và quyết nghị. Với tính chất Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN, vì vậy, tất cả chủ trương, đường lối của Đảng muốn đi vào đời sống, để toàn dân nghiêm túc thực hiện thì đều phải được thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật.

Trong thời gian vừa qua, các hoạt động của Quốc hội cho thấy, không khí dân chủ, cởi mở, vai trò của các đại biểu Quốc hội càng được thể hiện rõ trong các phiên chất vấn và trả lời chất vấn. Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước. Các nội dung bàn về kinh tế-xã hội, và đặc biệt là các phiên chất vấn trong những kỳ họp của Quốc hội ngày càng sôi nổi, được phát thanh-truyền hình trực tiếp, thu hút sự quan tâm theo dõi, đánh giá, góp ý của cử tri và nhân dân cả nước. Việc tranh luận được khuyến khích khiến vấn đề chất vấn được làm rõ ràng hơn, nhất là các mặt hạn chế, trách nhiệm cán bộ và nêu rõ giải pháp

 

Các chương trình giám sát của Quốc hội cũng thể hiện rõ hiệu quả. Cùng với những nội dung giám sát thường xuyên như về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước... thời gian qua, Quốc hội đã chọn những vấn đề “nóng” nhất, được cử tri và nhân dân quan tâm nhất để tiến hành giám sát tối cao. Ví dụ, tại Kỳ họp thứ chín vừa qua, Quốc hội đã thực hiện giám sát chuyên đề: “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em” khi trong xã hội xuất hiện những vụ xâm hại trẻ em gây bức xúc dư luận. 

          Thực tế đó là minh chứng bác bỏ đanh thép đối với những luận điệu của những đối tượng có âm mưu đen tối, cố tình xuyên tạc rằng “Quốc hội không có vai trò thực chất, chỉ quyết nghị theo chỉ đạo của Đảng, chỉ mang tính hình thức, người dân thì quay lưng, ngoảnh mặt với hoạt động của Quốc hội”. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn vì lợi ích của nhân dân! Điều đó không chỉ đúng về mặt lý luận, mà luôn được chứng minh rõ ràng trong thực tế, không ai có thể phủ nhận./. 

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2021

Việt Nam thăng hạng quyền lực mềm toàn cầu




Theo Báo cáo chỉ số quyền lực mềm toàn cầu (Brand Finance Global Soft Power Index Report) năm 2021, Việt Nam là quốc gia duy nhất trong khối ASEAN được nâng hạng trong bảng xếp hạng quyền lực mềm toàn cầu.

66 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam - hành trình vẻ vang và tự hào

 

Cách đây 66 năm, ngày 27/2/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Hội nghị cán bộ y tế và ngày 27/2 trở thành Ngày Thầy thuốc Việt Nam. 66 năm qua, Ngành Y tế Việt Nam không chỉ nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe của Nhân dân mà còn có đóng góp ngày càng tích cực vào sự phát triển của y học thế giới.

Suốt chặng đường phấn đấu trưởng thành cùng đất nước, Ngành Y tế đã có bước phát triển toàn diện, mạnh mẽ. Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là điểm sáng thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Mạng lưới y tế dự phòng, cơ sở khám chữa bệnh, sản xuất và cung ứng dược phẩm, bảo hiểm y tế, năng lực chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ đều có bước phát triển.

Năm 1945, Bộ Y tế của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập. Thành lập chưa được bao lâu, Ngành Y tế cách mạng đã cùng cả nước theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp. Mặc dù nhiệm vụ chủ yếu trong thời kỳ này là phục vụ chiến đấu, phải tập trung toàn bộ nguồn nhân tài, vật lực phục vụ cho tiền tuyến, nhưng trong muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, Ngành Y tế đã vẫn duy trì và không ngừng phát triển, đảm bảo phục vụ tốt chăm sóc thương bệnh binh và phòng, chống dịch bệnh. Thành tựu quan trọng của Ngành Y tế trong thời kỳ này là sản xuất được các loại vắc xin phòng bệnh tả, bệnh đậu mùa, thương hàn để tiêm chủng cho Nhân dân; bào chế và sản xuất được các thuốc thông thường bằng nguyên liệu tại chỗ. Năm 1950, lần đầu tiên Việt Nam sản xuất được kháng sinh peniciline.

Trong những năm sau ngày giải phóng miền Bắc, Ngành Y tế đã tập trung xây dựng và phát triển y tế ở khu vực nông thôn, làm cho bộ mặt nông thôn miền Bắc thay đổi rõ rệt: các công trình vệ sinh được xây dựng, sức khoẻ của Nhân dân không ngừng được nâng lên. Năm 1961, lần đầu tiên Việt Nam sản xuất được vắc xin sabin phòng bệnh bại liệt và vắc xin BCG phòng bệnh đậu mùa.

Khi đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh ác liệt phá hoại miền Bắc, Ngành Y tế một lần nữa lại hoạt động trong tình trạng thời chiến. Song song với việc tăng cường cán bộ cho cơ sở, bảo đảm việc chăm sóc sức khoẻ cho Nhân dân miền Bắc, Ngành không ngừng chi viện cho miền Nam. Nhiều sinh viên y khoa mới ra trường đã xung phong vượt Trường Sơn vào phục vụ ở các chiến trường Trị Thiên, Khu V, Tây Nguyên, Khu VI, Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ và Sài Gòn-Gia Định. Hàng trăm nghìn tấn thuốc chữa bệnh, dụng cụ y tế đã được vận chuyển vào miền Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh, góp phần giải phòng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau ngày đất nước thống nhất, Ngành Y tế đã có những bước phát triển vượt bậc và đạt được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Nhân dân.

Đến nay, Việt Nam đã thanh toán được bệnh bại liệt, khống chế được bệnh uốn ván sơ sinh, ho gà, bạch hầu… Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân đã giảm từ 30,1% năm 2000 xuống còn 14,1% năm 2015 và năm 2016 tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi là 13,8%. Tỷ suất chết mẹ giảm xuống còn 58,3 trên 100.000 trẻ đẻ sống năm 2015; Tỷ suất chết trẻ em dưới một tuổi giảm khá nhanh, xuống còn 14,73 phần nghìn; Tỷ suất chết trẻ em dưới năm tuổi giảm xuống 22,12 phần nghìn, đưa Việt Nam thành một trong năm nước đang phát triển có mức tử vong bà mẹ, trẻ em giảm nhanh nhất trên thế giới. Tuổi thọ bình quân của người dân tăng lên, đạt 73,4 tuổi.

Trong hơn 30 năm thực hiện công tác phòng, chống dịch, Việt Nam hiện đã xây dựng được năng lực giám sát, phát hiện, chẩn đoán xác định dịch bệnh và ứng phó giải quyết dịch bệnh một cách nhanh chóng, hiệu quả. Năng lực phòng, chống dịch bệnh nguy hiểm và mới nổi được nâng cao. Công tác tổ chức thu dung, điều trị cho người bệnh đạt hiệu quả rõ rệt. Công tác chuẩn bị, sẵn sàng ứng phó với các dịch bệnh nguy hiểm cũng được tích cực chủ động.

Kết quả là nhiều dịch bệnh nguy hiểm đã được khống chế, đẩy lùi và thanh toán, cụ thể như thanh toán bệnh đậu mùa vào năm 1978, thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000, loại trừ uốn ván sơ sinh vào năm 2005, từ năm 2002 không có bệnh dịch hạch; một số bệnh dịch đã giúp giảm số người nhiễm hàng trăm đến hàng nghìn lần so với những năm trước khi có Chương trình tiêm chủng mở rộng như bạch hầu, ho gà, sởi... Nhiều bệnh dịch lưu hành khác có nguy cơ bùng phát thành dịch lớn, như: sốt xuất huyết, viêm não virus, lao, thương hàn, tả đã được khống chế; không gây thành các dịch lớn, hạn chế tỷ lệ mắc và tử vong.

Không chỉ khống chế các dịch bệnh trong nước, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên khống chế thành công dịch SARS, cúm A/H5N1, cúm A/H1N1; ngăn chặn thành công không để một số dịch bệnh nguy hiểm mới nổi xâm nhập như cúm A/H7N9, Ebola, MERS-CoV...

Việt Nam cũng triển khai được năng lực giám sát xét nghiệm rất tốt. Tất cả bệnh truyền nhiễm mới nổi đến nay, Việt Nam đều có khả năng xét nghiệm và phát hiện, từ MERS-CoV, Ebola, hay cúm A/H7N9 và cả COVID-19… Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm hoạt động hiệu quả từ giám sát cộng đồng, giám sát tại cửa khẩu, tại phòng xét nghiệm; giám sát tại vùng bất thường liên quan đến yếu tố dịch tễ đều được báo cáo, sàng lọc.

Trong những năm qua, mạng lưới y tế cơ sở ở Việt Nam đã được củng cố, phát triển. Việt Nam được quốc tế đánh giá là một trong số ít quốc gia có mạng lưới y tế hoàn chỉnh, tổ chức rộng khắp tới tận thôn, bản và đang là mô hình mà nhiều nước trên thế giới quan tâm, học hỏi, làm theo.

Hiện nay, cả nước có hơn 700 trung tâm y tế huyện, quận, thị xã; hơn 11.100 trạm y tế xã, phường, thị trấn, trong đó có hơn 60% số trạm y tế đã đạt Tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2010- 2020; 100% số xã có trạm y tế hoặc có phòng khám đa khoa khu vực liên xã; 87,5% số trạm y tế xã có bác sĩ làm việc (bao gồm cả bác sĩ làm việc lâu dài và bác sĩ tuyến trên luân phiên về làm việc hai, ba ngày trong tuần); 96% số trạm y tế xã có nữ hộ sinh/y sĩ sản nhi và hơn 95% số thôn bản có nhân viên y tế thôn, bản hoặc cô đỡ thôn, bản…

Mạng lưới khám, chữa bệnh từ Trung ương đến các xã với hơn 1.400 bệnh viện, 180.000 giường bệnh, hằng năm khám và điều trị ngoại trú cho 120.000 lượt người bệnh, điều trị cho hơn 10 triệu lượt người, thực hiện hàng triệu thủ thuật, khoảng 2 triệu ca phẫu thuật phức tạp hàng năm.

Việt Nam được công nhận là một trong số ít quốc gia làm chủ được công nghệ sản xuất vắc xin, tự nghiên cứu sản xuất vắc xin, như vắc xin cúm mùa 3 type được sản xuất và đủ điều kiện thương mại hóa; ứng dụng công nghệ sinh học vào sàng lọc và chẩn đoán phát hiện nhanh, chính xác các tác nhân gây dịch, như: sởi, sốt xuất huyết, tay chân miệng, là cơ sở để không xảy ra dịch trên quy mô lớn như các năm trước đây.

Việt Nam cũng tiếp tục làm chủ, hoàn thiện đưa nhiều kỹ thuật y học đạt tầm thế giới, thực hiện chuyển giao nhiều kỹ thuật tiên tiến trong chẩn đoán và điều trị như phẫu thuật nội soi, can thiệp tim mạch, chẩn đoán hình ảnh, hỗ trợ sinh sản, điều trị ung thư máu, nhồi máu cơ tim, bệnh lý xương-khớp, bỏng, phẫu thuật tạo hình; ứng dụng tế bào gốc trong điều trị bệnh về máu. Cho đến nay, hệ thống y tế nước ta đã có 15 cơ sở ghép được tim, thận, gan, ghép giác mạc, ghép tế bào gốc tạo máu.

Tháng 10/2019, hai ca ghép phổi thành công đã đánh dấu kỳ tích mới trong ngành ghép tạng Việt Nam, kể từ sau khi Việt Nam chinh phục được kỹ thuật ghép khó nhất thế giới này trong năm 2018. Cùng với đó, ngoài các kỹ thuật thường quy về ghép tim, ghép gan, ghép thận, ghép tủy, giác mạc, Việt Nam cũng tiếp tục khẳng định làm chủ công nghệ ghép đa tạng - một kỹ thuật khó của y học thế giới, như thực hiện ghép hai phổi đồng thì với mổ tim hở sửa chữa bệnh tim bẩm sinh (sửa tim-ghép phối), và ghép đa tạng gan, thận đồng thì cho người bệnh bị suy cả gan và thận, tránh các nguy cơ của hai cuộc mổ liên tiếp.

Trong lĩnh vực sản khoa, kỹ thuật can thiệp bào thai là kỹ thuật cao nhất, hiện đại nhất trong y học bào thai hiện nay. Năm 2019, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội là bệnh viện công lập đầu tiên đã triển khai thành công kỹ thuật này, can thiệp thành công cho gần 20 sản phụ có thai đôi và mắc bệnh lý truyền máu song thai. Em bé đầu tiên được can thiệp bào thai do mắc hội chứng truyền máu song thai đã được sinh khỏe mạnh vào ngày 14/12. Kỹ thuật can thiệp bào thai có thể can thiệp được ở hầu hết các cơ quan của bào thai, thậm chí cả não, tim, màng phổi… được đánh giá là nhân văn, tăng cơ hội cứu sống cho các bào thai bệnh lý.

Trong xu thế của cuộc cách mạng 4.0 và công nghệ y khoa thế giới, Ngành Y tế Việt Nam đã chuẩn bị và triển khai một số hoạt động ứng dụng và phát triển y tế thông minh, góp phần hiện đại hóa các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Các nhà quản lý cũng kỳ vọng đưa Việt Nam trở thành nền "công nghiệp y tế" theo đề án "thu hút người nước ngoài, người Việt Nam sống ở nước ngoài và người Việt Nam thu nhập cao khám, chữa bệnh chất lượng cao ở Việt Nam giai đoạn 2020-2030"./.

VƯỢT MỌI THỬ THÁCH ĐỂ BẢO VỆ SỨC KHỎE NGƯỜI DÂN

 

Năm 2021, ngành y tế lại tiếp tục không tổ chức kỷ niệm Ngày Thầy thuốc Việt Nam do dịch bệnh diễn biến phức tạp tại 13 tỉnh, thành phố trên cả nước.Thế nhưng, trong lòng mỗi người dân Việt Nam, hơn một năm qua, hình ảnh những cán bộ, nhân viên y tế ở tuyến đầu chống dịch hay ở từng vị trí công tác luôn được kính trọng, tôn vinh. Họ không chỉ nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe nhân dân mà còn tích cực đóng góp cho sự phát triển của y học nước nhà.

 Năm 2020 có nhiều khó khăn, thách thức, nhất là sự ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhưng cán bộ, nhân viên ngành y tế đã luôn nỗ lực vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thành công “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch Covid-19, vừa phát triển kinh tế-xã hội. Nhiều tấm gương là bác sĩ, y tá, điều dưỡng viên, nhân viên y tế đã làm việc tận tụy, trách nhiệm, không ngại hiểm nguy, vất vả, xung phong đến tuyến đầu chống dịch. Đây là những hành động đẹp, đầy tính nhân văn lan tỏa trong xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Mặc dù đầy khó khăn, vất vả đối với những cán bộ, nhân viên y tế, nhưng tác động của đại dịch như một phép thử để ngành y tìm mọi cách thích ứng, nỗ lực bứt phá. Trong công tác khám, chữa bệnh, ngành y tế đã có những bước chuyển biến rất căn bản; chất lượng khám, chữa bệnh ngày một nâng lên. Hệ thống khám, chữa bệnh từ xa ra đời đã giúp người dân ở tuyến cơ sở được tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng cao. Thực tế chứng minh, tại thời điểm dịch Covid-19 đang hoành hành thì nền tảng khám, chữa bệnh từ xa đã thực sự phát huy hiệu quả. Người dân vẫn được khám, chữa bệnh kịp thời mà vẫn bảo đảm yêu cầu giãn cách xã hội, đặc biệt đối với bệnh nhân cao tuổi, khó khăn trong việc di chuyển, bệnh nhân ở vùng sâu, vùng xa trên khắp cả nước. Theo ước tính, khi triển khai hệ thống khám, chữa bệnh từ xa, xã hội và ngành y tế có thể tiết kiệm được hàng chục nghìn tỷ đồng mỗi năm về chi phí đi lại, khám, chữa bệnh. Ngành y tế đã hết sức nỗ lực cho một tiến trình đổi mới toàn diện để phục vụ người dân được tốt hơn. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó công nghệ thông tin sẽ giúp tiến trình thay đổi của ngành được hiện thực hóa. Trong công tác y tế dự phòng cũng đã có những đổi mới mạnh mẽ với sự ra đời của Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) các tỉnh, thành phố. Năm 2020 và những tháng đầu năm 2021, một lần nữa ngành y tế đã thể hiện được bản lĩnh, trí tuệ cũng như tinh thần quyết tâm cùng với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong cuộc chiến với đại dịch Covid-19.

Hơn một năm qua, mỗi người dân Việt Nam đều đã quá quen thuộc với hình ảnh các bác sĩ, y tá mặc đồ bảo hộ luôn thay phiên túc trực và làm việc. Dù đối mặt với nguy hiểm rình rập, họ vẫn âm thầm phục vụ vì trách nhiệm và cao hơn hết là y đức hướng tới bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Dịch bệnh luôn có những biến đổi bất ngờ, ai cũng có thể vô tình trở thành nạn nhân, nhưng đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế Việt Nam vẫn không chùn bước mà còn cố gắng nhiều hơn nữa, động viên nhau làm việc và phụng sự, đem tới sự an tâm cho người dân. Những nỗ lực của họ phần nào đạt được thành công bước đầu trong kiểm soát dịch bệnh và điều trị các ca nhiễm Covid-19 của Việt Nam thời gian qua. Chính vì vậy, ngành y tế Việt Nam đã được Tổ chức Y tế thế giới ghi nhận năng lực và khen ngợi. Bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam nhấn mạnh: “Việt Nam ứng phó thành công đại dịch Covid-19 là một câu chuyện truyền cảm hứng”, trong đó, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và gắn kết xã hội là chìa khóa thành công.


Trong ngày truyền thống thiêng liêng và cao quý của ngành y tế, rất nhiều cán bộ, y sĩ, bác sĩ vẫn đang lặng lẽ, âm thầm miệt mài không ngại gian khổ, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để bảo vệ sức khỏe và sự bình an của người dân... Những giọt mồ hôi, nước mắt của cán bộ, nhân viên y tế, những đêm thức trắng ở các điểm dịch, bên giường bệnh luôn được nhân dân ghi nhận. “Sự hy sinh của các đồng chí là sự tiếp nối truyền thống quý báu của bao thế hệ đã dày công vun đắp và cũng là tấm gương sáng để các thế hệ nối tiếp học hỏi, noi theo, đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã nhắn nhủ: “Lương y phải như từ mẫu-Thầy thuốc như mẹ hiền”./.

Tự hào và biết ơn những chiến sỹ áo trắng nơi tuyến đầu

 

Trong cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm, người chiến sỹ áo trắng xông pha vào trận chiến cứu các chiến sỹ trên chiến trường, họ đã chịu bao gian khổ hiểm nguy. Trong cuộc chiến phòng, chống dịch COVID-19 cũng vậy họ đi đầu xông pha, họ ra trận để  chống dịch, giành lấy sự sống cho bệnh nhân .


Mỗi bệnh nhân được chữa khỏi đó là niềm hạnh phúc của người thầy thuốc.  Không quản ngại hiểm nguy, nhiều người chấp nhận hy sinh những nhu cầu cá nhân suốt nhiều tháng  để tập chung tinh thần sức lực  cùng đồng nghiệp cứu chữa bệnh nhân nhiễm bệnh, họ còn phải trả giá khi nhiễm bệnh do lây chéo từ bệnh nhân, nhưng họ luôn lạc quan để  truyền hơi ấm và lòng tin cho bệnh nhân,  cho nhân dân cả nước với một niềm tin mãnh liệt.

Những câu thơ của một nữ điều dưỡng gửi cho con chia sẻ cho hay "dẫu cho cuộc chiến có kéo dài đến đâu, dẫu cho có thể phải hy sinh mạng sống, thì các y, bác sỹ vẫn chiến đấu đến cùng, không bao giờ gục ngã" khiến cho mỗi chúng ta đều cảm thấy xúc động tự hào .

Tự hào và biết ơn những chiến sỹ áo trắng nơi tuyến đầu. Để đáp lại những hy sinh thầm lặng đó, mỗi người dân chúng ta hãy nâng cao ý thức, mọi người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người để an toàn cho toàn xã hội. Chúng ta hãy xiết chặt tay nhau để ngăn chặn và đẩy lùi dịch bệnh, tôi tin rằng Việt Nam sẽ Chiến thắng./.

Bàn luận về khẩu hiệu "lấy lại đất tổ, không làm khổ dân" của bọn phản đông


Trải qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã giành được những thành tựu vô cùng to lớn, mang ý nghĩa lịch sử; uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế đang tăng cao hơn bao giờ hết; tuyệt đại đa số nhân dân đều tin tưởng tuyệt đối vào chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được giữ vững và tăng cường. Thế nhưng các thế lực thù địch vẫn cố tình xuyên tạc, tìm đủ mọi chiêu trò, thủ đoạn chống phá quyết liệt hòng làm thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam. 

Phải nhận diện đúng bản chất, ý đồ của các thế lực thù địch

 Đảng đã phải nhiều lần chống lại sự xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch nhằm vào Cương lĩnh, đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng trong các thời kỳ từ những năm 1930 đến nay.

Không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin

 Gần đây, âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng của các thế lực thù địch ngày càng xảo quyệt và nguy hiểm. Những quan điểm sai trái mà các thế lực thù địch đã tung ra đều có chung bản chất và mục đích, nhưng hình thức thể hiện ngày càng thay đổi đa dạng.

NẤP BÓNG NHỮNG KẺ TRUYỀN BÁ TRI THỨC

 Sử dụng mạng xã hội để chia sẻ kiến thức với cộng đồng hoặc biểu đạt quan điểm, phản biện những hiện tượng xã hội, con người mà cá nhân thấy cần có ý kiến, đang là một trong những cách thức thể hiện được nhiều người ở Việt Nam và trên thế giới chọn lựa, nhất là đối với giới trẻ.

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2021

ĐẢNG VỮNG MẠNH DÂN TỘC TRƯỜNG TỒN

 


Nhìn lại suốt chặng đường lịch sử hơn 90 năm qua của Đảng, chúng ta thấy rõ một điều dân tin hay mất niềm tin vào Đảng đều bắt đầu từ những việc làm cụ thể.

Sinh thời, Chủ tich Hồ Chí Minh đã nói giản dị rằng: "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ Cộng sản mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". Trong Đại hội thi đua yêu nước cuối năm 2020, có rất nhiều những tấm gương đi đầu nơi gian khó, thậm chí sẵn sàng hy sinh cả tính mạng. Câu chuyện cảm động về những cán bộ, chiến sĩ đi cứu hộ, cứu nạn, câu nói của Thiếu tướng Nguyễn Văn Man trước khi gặp nạn, khiến mọi người không cầm được nước mắt: "Nhân dân đang trông đợi, đang cần chúng ta, thì bất luận có hy sinh cũng phải đến". Mùa xuân đang vẫy gọi chúng ta, những bước chân tiên phong với tâm thế của người nắm chắc thời cơ và vận hội. Vận hội mới đến từ khát vọng cháy bỏng và niềm tin son sắt, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Sự nghiệp đổi mới đất nước ví như một công trình tập thể, được thiết kế, xây dựng từ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự sáng tạo của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng vững mạnh, dân tộc trường tồn, lịch sử đã khắc ghi, đã ngời sáng chân lý ấy./.

PHÁT HUY TINH THẦN TỰ PHÊ BÌNH TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG

 


 

Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

Bác đòi hỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn đề cao ý thức tự phê bình, phải chủ động, tự giác kiểm thảo, tự nhận trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ, gắn trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm tập thể. Người nói: "Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên hằng ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng". Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về thực hành tự phê bình và phê bình. Mọi suy nghĩ và hành động của Người, trong đó có việc tự phê bình và phê bình đều xuất phát từ mục tiêu giản dị: Tất cả vì con người và vì hạnh phúc của mọi người. Trong cải cách ruộng đất, Đảng, Chính phủ đã mắc những sai lầm, Chủ tịch Hồ Chí Minh với cương vị là người đứng đầu Đảng, Chính phủ tự giác nhận khuyết điểm, sai lầm và đã được quốc dân, đồng bào tha thứ.

Trong quá trình công tác, có những cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng mắc phải sai lầm, khuyết điểm. Điều quan trọng là khi mắc phải sai lầm, khuyết điểm, cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải nêu cao ý thức tự giác, tự kiểm điểm nhận rõ sai lầm, chủ động sửa chữa, khắc phục. Công khai, xin lỗi, sửa chữa, khắc phục khuyết điểm trước quốc dân, đồng bào, qua đó để quần chúng nhân dân thêm tin, thêm yêu Đảng, nâng cao uy tín, vị thế của Đảng./.