Thứ Sáu, 16 tháng 4, 2021

Thể chế chính trị không phải là bản chất tạo ra tham nhũng

Hiện nay có ý kiến sai trái cho rằng, chế độ độc đảng lãnh đạo là căn nguyên tạo ra tham nhũng. Muốn hiểu về vấn đề này chúng ta phải nhìn nhận bản chất của tham nhũng là gì? Karl Marx cũng giống như nhiều nhà triết học phương Tây đã cho rằng, động lực sâu xa thúc đẩy con người hoạt động chính là lợi ích. Mà con người thường có xu hướng muốn tối ưu hóa lợi ích của cá nhân mình, từ đó có thể làm xâm hại đến lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia, dân tộc. Từ đó phải có giải pháp để điều chỉnh lợi ích của cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bản chất của tham ô là lấy của công làm của tư, là gian lận, là tham lam, là trộm cướp”. Như thế, hành vi tham ô, tham nhũng liên quan đến tư cách đạo đức của con người chứ không liên quan đến thể chế chính trị. Bởi vì, dù thể chế chính trị gì, nhưng nếu con người không được giáo dục tốt từ gia đình, nhà trường, xã hội; không có một hệ thống pháp luật tốt để ngăn chặn, răn đe, công tác quản lý nhà nước bị buông lỏng thì tham nhũng sẽ có cơ hội hoành hành. Nhìn rộng ra thế giới, không một quốc gia nào, thuộc chế độ chính trị nào có thể tự hào là miễn nhiễm đối với tham nhũng. Nước Mỹ cũng luôn đau đầu bởi vấn nạn tham nhũng. Theo thống kê của Đại học Illinois, thủ đô Washington D.C và các thành phố lớn, như: Chicago, Los Angeles, Manhattan, Miami có số công chức bị kết tội tham nhũng rất cao. Theo đó, giai đoạn từ năm 1976 tới năm 2016, Chicago có hơn 1.700 công chức bị xử lý, cao nhất tại Mỹ. Los Angeles đứng thứ hai với hơn 1.500 công chức bị xử lý. Manhattan đứng thứ ba với hơn 1.300 công chức. Đứng thứ tư và thứ năm lần lượt là Miami với 1.165 công chức và Washington D.C với gần 1.200 công chức. Nếu so sánh các bang trên bình quân đầu người (số người bị kết tội trong 10.000 dân), Columbia là bang có tình trạng tham nhũng tồi tệ nhất tại Mỹ vì cứ 10.000 dân lại có 17,24 công chức bị kết tội. Như thế, mặc dù Mỹ có rất nhiều đảng phái cạnh tranh với nhau, giám sát nhau, hệ thống pháp luật khá hoàn thiện, nhưng tình trạng tham nhũng vẫn nghiêm trọng. Hay tại châu Âu, nơi đại đa số các quốc gia theo chế độ đa đảng thì theo báo cáo về tham nhũng của Đảng Xanh châu Âu (European Green Party) công bố cuối năm 2018 cho biết một thực trạng tồi tệ, đó là các quốc gia thành viên của EU mất tới 900 tỷ euro (khoảng 1.000 tỷ USD) mỗi năm vì tham nhũng. Trước đó, báo cáo chống tham nhũng của Liên minh châu Âu (EU) năm 2014 cho hay, tham nhũng gây thiệt hại cho nền kinh tế khu vực này khoảng 120 tỷ euro mỗi năm. Như thế, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh, là cuộc chiến mà mọi quốc gia đều phải tiến hành. Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện tốt cuộc đấu tranh PCTN nếu luôn giữ vững quyết tâm cao trong toàn Đảng, toàn dân. Cùng với nâng cao chất lượng công tác giáo dục công dân, hoàn thiện các quy định của Đảng và hệ thống pháp luật, bịt các kẽ hở của luật pháp, thì việc kiên quyết trừng phạt hành vi tham nhũng, tội phạm tham nhũng sẽ làm cho những người thực thi công vụ “không thể tham nhũng, không dám tham nhũng và không muốn tham nhũng”.

Hiệu quả thấy rõ của cuộc đấu tranh

Đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, có cảm nhận việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) ở cấp Trung ương cương quyết hơn, “nóng” hơn, còn các cấp dưới có vẻ như “lạnh” hơn, chủ yếu là thụ động chờ các hành động của trên thì nay, tổ chức đảng ở các địa phương cũng đã chủ động PCTN, tiêu cực trong hệ thống. Điều này cho thấy, công tác PCTN đã lan tỏa, trên đã quyết tâm thì dưới dứt khoát phải chuyển động. Cụ thể như, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa kỷ luật một số cán bộ của huyện Phúc Thọ, trong đó cách chức tất cả chức vụ trong Đảng đối với ông Hoàng Mạnh Phú, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Phúc Thọ do có sai phạm nghiêm trọng trong chỉ đạo, quản lý, để xảy ra vi phạm tại một số dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn huyện trong thời gian ông này là Chủ tịch UBND huyện. 6 tháng đầu năm 2019, các địa phương đã khởi tố 176 vụ án/425 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ (tăng 13,5% về vụ và 32,8% về số bị can so với cùng kỳ năm 2018). Một khí thế chống tham nhũng, tiêu cực đang dâng cao trên khắp cả nước. Theo báo cáo tại phiên họp thứ 16 Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, từ đầu năm 2019 đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 123 tổ chức đảng và 7.923 đảng viên; trong đó có 256 đảng viên bị kỷ luật do có hành vi tham nhũng, cố ý làm trái. Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật đối với 1 tổ chức đảng, 13 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, cả đương chức và đã nghỉ hưu. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, hơn 70 cán bộ, đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị thi hành kỷ luật Đảng và xử lý hình sự. Cơ quan thanh tra, kiểm toán kiến nghị thu hồi, xử lý 61.392 tỷ đồng và 142ha đất; kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính 692 tập thể và nhiều cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xem xét xử lý 46 vụ, 73 đối tượng. Thanh tra Chính phủ tập trung thanh tra, ban hành kết luận thanh tra các dự án, vụ việc theo kế hoạch của Ban chỉ đạo. Thời gian qua, việc kê biên, thu giữ tài sản trong một số vụ án tham nhũng, kinh tế lớn đạt kết quả khá cao. Cụ thể, vụ Giang Kim Đạt thu hồi hơn 300 tỷ đồng; vụ Hứa Thị Phấn hơn 10.000 tỷ đồng; vụ Ngân hàng Đông Á hơn 2.000 tỷ đồng; vụ Phạm Công Danh (giai đoạn I) hơn 6.000 tỷ đồng; vụ AVG hơn 8.500 tỷ đồng… Theo báo cáo tại phiên họp thứ 16 Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, hiện nay, việc tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, ngăn chặn giao dịch, chuyển nhượng tài sản liên quan các vụ án thuộc diện Ban chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo có giá trị tài sản hơn 10.000 tỷ đồng. Sự quyết liệt đấu tranh khiến tham nhũng đang từng bước được đẩy lùi. Theo báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2018 được công bố vào tháng 3 vừa qua thì hiện tượng “tham nhũng vặt” (chi phí "bôi trơn" quy mô nhỏ mà doanh nghiệp phải chi trả để xin cấp các loại giấy phép) trong năm 2018 đã giảm so với thời kỳ trước, với chỉ 54,8% doanh nghiệp phải chi trả chi phí không chính thức, thấp nhất trong 5 năm trở lại đây. Quy mô chi trả chi phí không chính thức có xu hướng giảm, khi chỉ có 7,1% doanh nghiệp cho biết phải chi trả hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không chính thức (năm 2015 là 11,1% doanh nghiệp). Trong các cuộc tiếp xúc cử tri, ý kiến chung của cử tri và nhân dân đều tỏ ý tin tưởng rằng với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự hoàn thiện các quy định của Đảng, của pháp luật (Quy định số 102-QĐ/TW của Bộ Chính trị; Luật PCTN đã được ban hành...) và kiên quyết xử lý sai phạm thì tham nhũng dứt khoát sẽ bị đẩy lùi.

Tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”

Cuộc đấu tranh hay cuộc chiến đấu chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay là cuộc chiến đấu sống còn của toàn Đảng, toàn dân đối với “giặc nội xâm” để củng cố niềm tin trong toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chính vì vậy, cuộc tiễu trừ “giặc nội xâm” đang được thực hiện từng bước chắc chắn, rất quyết liệt và không khoan nhượng. Từ nhiệm kỳ Đại hội Đảng XI đến nay, các vụ án kinh tế lớn, những sai phạm nghiêm trọng liên quan đến những vị “lãnh đạo to”, các “dây lợi ích” mà theo suy nghĩ trước đây thì dường như khó đụng tới, nay đã được đưa ra xét xử nghiêm minh với các mức án nghiêm khắc. Trong đó, Dương Chí Dũng, từng giữ chức Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, từng là Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) bị tuyên án tử hình về tội tham ô, bị yêu cầu bồi thường 110 tỷ đồng. Đặc biệt, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng tới nay, cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực càng thể hiện rõ tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Ngay đầu nhiệm kỳ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước), Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã thể hiện rõ tinh thần này: “Từ nay trở đi, bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật, chúng ta phải xử lý nghiêm, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để lấy lại và củng cố lòng tin và tình thương yêu, quý trọng của nhân dân”. Từ cựu Ủy viên Bộ Chính trị như ông Đinh La Thăng, đến hai cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn, rồi hai cựu Thứ trưởng Bộ Công an là Trần Việt Tân, Bùi Văn Thành đều bị xử lý nghiêm khắc vì tham nhũng, vi phạm pháp luật... Người nhà của một vài đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị cũng đã bị bắt do vi phạm pháp luật. Như thế là cả cấp Ủy viên Bộ Chính trị, bộ trưởng, cán bộ cao cấp của lực lượng vũ trang cũng bị kỷ luật, bị xử tù nếu tham nhũng, vi phạm pháp luật. Không có vị trí an toàn, khu vực an toàn và cũng không còn khái niệm “hạ cánh an toàn”, hàng loạt cán bộ đã nghỉ hưu mà bị phát hiện có sai phạm trong thời gian đương chức vẫn bị đưa ra kỷ luật. Mới nhất là nguyên Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh bị Bộ Chính trị kỷ luật cảnh cáo; nguyên Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Hồng Trường bị kỷ luật cách chức Ủy viên Ban cán sự đảng Bộ Giao thông vận tải (nhiệm kỳ 2011-2016, 2016-2021) về các sai phạm khi còn đương chức... Thậm chí, đảng viên vi phạm đặc biệt nghiêm trọng thì dù đã qua đời vẫn kiểm tra, kết luận và xử lý kỷ luật. Điều này được nêu rõ trong Văn bản số 04-HD/UBKTTW hướng dẫn thực hiện một số điều trong Quy định số 102-QĐ/TW của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Như thế là quy định của Đảng liên quan đến xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm đã nghiêm khắc hơn, mang tính răn đe cao hơn so với các quy định của pháp luật áp dụng cho các công dân. Điều này là hoàn toàn sáng suốt, thể hiện rõ tính tiên phong, tính gương mẫu của Đảng trong mọi vấn đề, trong đó có cả việc xử lý sai phạm.

Di huấn Hồ Chí Minh về "cần kiệm liêm chính, chí công vô tư" .

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn đề cao và thực hiện “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH”[1]; đồng thời, yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần phải thường xuyên rèn luyện những đức tính quý báu đó. Trước khi đi xa, Người căn dặn trong Di chúc: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư"[2]. . TỪ TÁC PHẨM “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” ĐẾN LỜI DẶN "CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH, CHÍ CÔNG VÔ TƯ" TRONG DI CHÚC Nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, nhất là trước tác Người để lại, có thể thấy rằng: Người không chỉ nhấn mạnh “trung với nước, hiếu với dân” là phẩm chất quan trọng nhất; chi phối các phẩm chất đạo đức khác của người cách mạng mà còn khẳng định “cần, kiệm, liêm, chính” là yêu cầu nhất thiết phải có, là “tứ đức” cơ bản làm nên “gốc” của người cách mạng. “Tứ đức” vốn là những khái niệm đạo đức truyền thống phương Đông được Người chọn lọc và tiếp biến với những yêu cầu, nội dung mới, thể hiện trong 23 yêu cầu về “Tư cách một người cách mệnh” (Đường Cách mệnh, 1927), (Đời sống mới, Sửa đổi lối làm việc, 1947); đề cập trong nhiều tác phẩm sau đó và cuối cùng là trong bản Di chúc lịch sử, 1969… Trong tác phẩm Đời sống mới (3/1947), Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải thực hành “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” nhưng đến tác phẩm “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH”, Người đã coi “tứ đức” là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc và luận giải “tứ đức” trong tổng thể của trời, đất, con người và mối quan hệ của mùa - trời; của phương - đất; của đức - người. Giản dị mà khúc chiết, Người khẳng định: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính Thiếu một mùa, thì không thành trời Thiếu một phương, thì không thành đất Thiếu một đức, thì không thành người”[3]. Theo đó, lần lượt trong 4 bài báo đã nêu, Hồ Chí Minh chỉ rõ nội hàm của từng đức trong “tứ đức”, cụ thể như sau: CẦN “là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai”; “cần thì việc gì, dù khó khăn đến mấy, cũng làm được”, bởi “Cần chẳng những có nghĩa hẹp như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai” mà còn “có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải Cần”. Hiểu đúng về Cần nghĩa là luôn chăm chỉ, cố gắng không phải một sớm một chiều mà thường xuyên và liên tục. Hiểu sâu sa hơn thì Cần cũng có nghĩa là làm để nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc lâu dài, để đạt được mục đích đề ra, bởi: “Nếu mỗi người, mỗi ngày làm thêm một tiếng đồng hồ thì: Mỗi tháng sẽ thêm 300 triệu giờ. Mỗi năm thêm lên 3.600 triệu giờ… Cứ tính một giờ làm đáng giá một đồng bạc, thì mỗi năm nước ta đã có thêm được 3.600 triệu đồng. Đưa số tiền đó thêm vào kháng chiến, thì kháng chiến ắt mau thắng lợi, thêm vào kiến quốc, thì kiến quốc ắt mau thành công”[4]. KIỆM “là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi” và không phải là bủn xỉn. Trong đó, Cần phải đi đôi với Kiệm “như hai chân của con người”; vì “KIỆM mà không CẦN thì không tăng thêm, không phát triển”. Tiết kiệm về vật chất phải đi đôi với tiết kiệm về thời giờ, bởi “của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được”[5]. Vì thế, thời giờ cần tiết kiệm và đó cũng là Cần; “tiết kiệm thời giờ của mình, lại phải tiết kiệm thời giờ của người”, cũng giống như “khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm”[6]. Đặc biệt, muốn tiết kiệm tốt thì phải khéo tổ chức, vì “không biết tổ chức thì không biết tiết kiệm” và phải “kiên quyết không xa xỉ”. Từ đó, “một mặt, chúng ta thi đua KIỆM. Một mặt, chúng ta thi đua CẦN” thì cộng lại là “nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công”… LIÊM “là trong sạch, không tham lam” và “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM”[7]. Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM, cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN, vì “có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam”. Tham lam sẽ dẫn đến BẤT LIÊM, cho nên, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân”. Cũng theo Hồ Chí Minh, “trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”1) và “Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì "quan" dù không liêm cũng phải hoá ra LIÊM. Vì vậy dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM”[8]. Vì, “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”, cho nên “cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân. Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”[9]… CHÍNH “nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà. “CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc của CHÍNH. Nhưng một cây cần phải có gốc rễ, lại cần có nhành, lá, hoa quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn”[10]. Tiếp đó, Hồ Chí Minh viết tiếp “trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người THIỆN và người ÁC. Trong xã hội, có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc CHÍNH và việc TÀ. Làm việc Chính là người Thiện. Làm việc Tà là người Ác. Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN. Lười biếng, xa xỉ, tham lam là tà, là ác”[11]… Để là CHÍNH, mỗi người, ĐỐI VỚI MÌNH, phải “chớ tự kiêu, tự đại; luôn luôn cầu tiến bộ; luôn luôn tự kiểm điêmmr, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình. Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình”[12], vì “tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”. ĐỐI VỚI NGƯỜI, “phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ. Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác - Ái”[13]. ĐỐI VỚI VIỆC, “phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà”, “đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm”; “việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm. Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to. Cả 20 triệu đồng bào đều làm như vậy, thì nước ta nhất định mau giàu, dân ta nhất định nhiều hạnh phúc. Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt”[14]. Những điều Hồ Chí Minh viết về “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” hàm chứa yêu cầu và mong mỏi của Người về sự cần thiết phải rèn luyện đạo đức cách mạng nói chung, xây dựng và rèn “tứ đức” nói riêng đối với mỗi người cán bộ, đảng viên. Theo Người, uy tín của Đảng cầm quyền, của mỗi cán bộ, đảng viên và lòng tin của nhân dân gắn liền với sự tu dưỡng và gương mẫu thực hành đạo đức cách mạng, cho nên, nếu mỗi cán bộ, đảng viên chỉ biết nói lời hay, ý đẹp nhưng không gương mẫu thực hành “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” thì cũng không thể hấp dẫn, quy tụ, lãnh đạo được quần chúng nhân dân. Vì thế, thực hành “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” không chỉ là yêu cầu cần thiết trong tu dưỡng đạo đức của mỗi người cách mạng mà còn là biện pháp quan trọng để xây dựng Đảng về đạo đức. Theo Hồ Chí Minh, việc thực hành “tứ đức” sẽ không chỉ giúp người cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, tự rèn mình mà còn tạo ra sức mạnh mềm và sức hấp dẫn của một tổ chức, của cả một dân tộc: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh và tiến bộ”. Không chỉ làm rõ nội hàm của CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH, sau này, trong nhiều tác phẩm khác, Hồ Chí Minh còn khẳng định rõ “tứ đức” đối lập với tham ô, lãng phí, quan liêu, với ý nghĩa: cần, kiệm, liêm, chính như là ánh sáng của đạo đức con người; còn tham ô, lãng phí, quan liêu như là bóng tối của sự suy thoái. CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH có mối quan hệ chặt chẽ với “chí công vô tư” và người cán bộ, đảng viên trong nhận thức và hành động hướng lòng mình đến “chí công vô tư”, tận tâm vì dân, vì nước thì nhất định sẽ thực hiện được CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH. Hơn nữa, thực tế cho thấy rằng, một bộ phận cán bộ, đảng viên - những người “có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”[15], cho nên người cách mạng bên cạnh yêu cầu phải có "tú đức", còn rất cần phải xây dựng đức tính “chí công vô tư”, để mình trở thành người lãnh đạo - người đầy tớ trung thành của nhân dân luôn phụng sự và liêm chính. Tháng 10/1947, khi viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh rằng: Phải đòi hỏi mỗi đảng viên, trước hết là mỗi cán bộ, phải thật thà tự phê bình, tự sửa chữa những khuyết điểm của mình. Đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết. Kiên quyết chống bệnh tự mãn tự túc, tự tư tự lợi, kiêu ngạo, ba hoa. Phải thực hành khẩu hiệu: “Chí công vô tư; cần, kiệm, liêm, chính!". Vì thế, càng không phải ngẫu nhiên, Hồ Chí Minh lại ghi ở trang đầu quyển sổ vàng của trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương là: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”[16]. Đặc biệt, điều mong mỏi, tâm huyết về yêu cầu cần phải có những đức tính quý báu này cũng được Người dặn lại trong Di chúc và coi đó là một trong những nội dung của công tác xây dựng và chỉnh đốn lại Đảng, để mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, để "xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[17].

THỰC HIỆN “CẦN KIÊM LIÊM CHÍNH, CHÍ CÔNG VÔ TƯ” GẮN VỚI HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Hồ Chí Minh là người cộng sản mẫu mực, luôn thống nhất giữa nói và làm. Người không chỉ nêu ra và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng và rèn luyện những phẩm chất “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH”, hướng lòng mình đến “chí công vô tư” để phụng sự Tổ quốc và nhân dân mà Người còn chính là hiện thân của những phẩm chất cao quý đó. Với Người, từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước đến khi trở thành Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng thì cũng vẫn là một Hồ Chí Minh luôn nỗ lực làm việc và chi tiêu thật tiết kiệm; luôn thích các món ăn dân gian như dưa cà, mắm tép, cá kho và thường tránh các nghi thức đón tiếp linh đình, lãng phí; thường mặc bộ kaki, đi dép lốp cao su, dùng túi vải, mũ cát khi đi thăm đồng chí, đồng bào, kể cả khi đi công tác ngoài nước; thường chọn thăm bếp ăn của công nhân, nơi ở của người dân nghèo; không thích ở nhà của Phủ toàn quyền Đông Dương hay dinh thự cao cấp, đủ tiện nghi mà chọn căn phòng vốn là nơi ở của người thợ điện và sau đó là ngôi nhà sàn kiểu đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc thường sinh sống… Hồ Chí Minh luôn “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” từ trong suy nghĩ đến hành động; từ cuộc sống đời thường đến vị thế một nguyên thủ quốc gia và cho đến lúc đi xa. Lựa chọn cuộc sống cần kiệm, giản dị, chan chứa tình yêu thiên nhiên, không màng danh vọng, không ham của cải, chẳng ưa sự xa hoa và những nghi thức sang trọng, Hồ Chí Minh từng nói, người ta ai cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhưng điều quan trọng là phải thiết thực và phù hợp, đúng thời, đúng hoàn cảnh. Người ăn mặc đều giản dị và tiết kiệm và đó là lối sống của Người…và Người đã từng nói với một đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng chân tình rằng: “Này chú! Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy. Đừng bỏ cái phúc ấy đi”[18]… Để góp phần chống nạn đói năm 1945, Người đã kêu gọi đồng bào cả nước nêu cao tinh thần tương thân, tương ái, nhường cơm, sẻ áo: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau, bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói”[19]. Không chỉ gương mẫu nhịn ăn, để dành gạo cho vào hũ gạo cứu đói, Người còn bán chiếc áo lụa đồng bào tặng lấy tiền mua áo ấm tặng cho chiến sỹ trong mùa đông giá rét và đem số tiền tiết kiệm ít ỏi vốn là tiền nhuận bút của mình để mua nước ngọt tặng cho các chiến sỹ trực phòng không trong những ngày hè nóng bức năm 1967. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam hiện lưu giữ một hiện vật đặc biệt (đăng ký 4875-Gi-1026) - Đó chính là thư chuyển số tiền 16.000 đồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng cục Chính trị để mua thêm nước uống cho bộ đội phòng không trực chiến bên mâm pháo, làm nhiệm vụ bảo vệ bầu trời của Tổ quốc. Món quà của Người tuy nhỏ nhưng đã kịp thời động viên tinh thần, tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sỹ phòng không, giúp họ vượt qua mùa hè nóng nực và lập nhiều chiến công xuất sắc, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ… Tấm lòng, tình yêu thương bao la của Hồ Chí Minh với đồng bào, chiến sỹ không chỉ thể hiện sâu sắc những giá trị đạo đức cách mạng mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng và tu dưỡng mà còn thể hiện đậm nét cuộc sống “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” của Người. Những điều Người nói, những việc Người làm và tấm gương đạo đức cách mạng “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” của Người không chỉ được khẳng định trong thực tiễn mà còn mang ý nghĩa, giá trị đạo đức cao đẹp của thời đại, dù thế giới đã đi qua bao thăng trầm, thay đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng những gì Người nói, những việc Người đã làm với tâm hồn thanh cao là biểu hiện sự dung hợp hài hòa những phẩm chất tuyệt vời của một vị lãnh tụ của nhân dân, thuộc về nhân dân trong thời đại mới. Và trong thực tế, rất hiếm người “đạt tới sự thống nhất hài hoà giữa chủ nghĩa nhân đạo và tầm cao chính trị, giữa đức tính giản dị, khiêm tốn và sự hiểu biết sâu rộng, giữa tình cảm ấm áp và nghị lực phi thường đến mức tuyệt vời như Bác Hồ. Được gặp Người, quả thật là một điều sung sướng, vinh dự, một diễm phúc trong đời”[20]. Vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn lớn lao, thực hành “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh là yêu cầu tất yếu mà mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng và thường xuyên rèn luyện để xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đồng thời, đó cũng là một trong những tiêu chuẩn để phân loại, đánh giá quá trình phấn đấu của mỗi người trong công tác và sinh hoạt đời thường. Với ý nghĩa đó, việc triển khai Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05) trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân gắn với rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” những năm qua đã góp phần tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Ngày 12/11/2013, Tổng thống Liên Bang Nga V. Putin đã đến Hà Nội thăm chính thức Việt Nam. Ông đã đến thăm nơi ở của Chủ tịch Hồ Chí Minh và viết trong sổ lưu niệm: "Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ hòa bình tiến bộ và phồn vinh. Nhưng giá trị tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh vẫn là ngọn đuốc, là biểu tượng cho một nền văn hóa tương lai… Và vì thế lịch sử mãi mãi nhắc tới Người như một bậc thánh nhân”. Thực tế cho thấy, tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, trong từng lĩnh vực công tác, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã gắn việc rèn “tứ đức” với nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII); đặc biệt là tự soi mình và nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Từ trong quá trình rèn luyện đạo đức cách mạng gắn với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của mỗi cán bộ, đảng viên tại địa phương, cơ quan, đơn vị đã xuất hiện nhiều tấm gương tập thể và cá nhân điển hình, được biểu dương trên các phương tiện truyền thông... Mỗi con người, mỗi tập thể mẫu mực về rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” đã góp phần xây dựng những giá trị đạo đức tốt đẹp trong xã hội, thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước, lao động sáng tạo, tạo động lực đưa sự nghiệp đổi mới vượt qua mọi khó khăn thách thức, tiếp tục giành được những thành tựu mới. Tuy nhiên bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" sa vào quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè phái, chạy chức chạy quyền, độc đoán, vi phạm kỷ luật,... Trong số đó, có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao vì thiếu rèn luyện đạo đức cách mạng, không thực hành "cần kiệm liêm chính, chí công vô tư" mà phạm tội dẫn đến bị khai trừ khỏi Đảng, truy tố trước pháp luật. Sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của những "con sâu mọt" ấy đã làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, làm suy yếu tổ chức và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng... Vì vậy, tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05 theo chương trình toàn khóa và theo chủ đề hằng năm gắn với thực hiện di huấn của Người trong Di chúc về “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” là một việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân ta; trong đó, cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau: Một là, nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành chức năng về vai trò, ý nghĩa của việc thấm nhầm yêu cầu phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng trong cả hệ thống chính trị; đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục ý thức thực hành “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc. Gắn thực hiện Chỉ thị 05 với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, coi đây là giải pháp đột phá để việc tự soi, tự sửa, tự rèn luyện đạo đức cách mạng nói chung, “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” nói riêng trở thành việc là thường xuyên, liên tục của mỗi cán bộ, đảng viên. Hai là, tiếp tục thực hiện “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và sinh hoạt thường kỳ của chi bộ; trong đó, có những chuyên đề cụ thể về ““cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” với những nội dung thiết thực, để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể. Thông qua đó, xây dựng tác phong, lề lối làm việc “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH”, tận tụy phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tại các cơ quan công quyền phù hợp với đặc điểm, tình hình, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Ba là, nâng cao trách nhiệm và phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng theo nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” trong công việc lẫn đời tư, tại nơi công tác cũng như địa bàn cư trú. Đồng thời, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, Điều lệ Đảng, quy định về những điều đảng viên không được làm và các quy định về nêu gương… Thông qua đó, nâng cao tinh thần, ý thức chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trong mỗi cán bộ, đảng viên và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng, miễn nhiệm, thay thế, buộc từ chức và đưa ra khỏi Đảng đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái, bất liêm, bất chính, tham ô, tham nhũng,v.v.., đã mất uy tín trong Đảng và trong nhân dân. Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để “sửa chữa cán bộ và tổ chức ta”[21] trong giám sát các cơ quan, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên. Tạo cơ chế pháp lý để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền các cấp thực hiện Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, các quy định về nêu gương trong rèn luyện đạo đức cách mạng gắn với yêu cầu phải “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” trong thi hành công vụ, chấp hành chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại cơ quan công tác và địa bàn cư trú mà không sợ bị đe dọa, trả thù, trù úm... Thông qua đó, làm cho việc học tập và làm theo Bác, tự giác rèn luyện “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” trở thành việc làm hằng ngày, tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng, thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng./.

"MŨI TIẾN CÔNG THỨ 6" TRONG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

 

ĐÓ CHÍNH LÀ "MŨI TIẾN CÔNG" BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG

 Một buổi chiều đẹp trời ngày 28-4-1975, sân bay Tân Sơn Nhất rơi vào hoảng loạn vì bị 5 chiếc may bay "phe mình" ném bom. Trong lúc đài sân bay liên tục hốt hoảng la hét "A-37 của không đoàn nào?", thì 5 chiếc máy bay kia đã tiêu diệt xong 24 chiếc đang đỗ, tiêu diệt hàng trăm bính lính VNCH đang ngơ ngác vì không biết chuyện gì xảy ra.Vậy chuyện gì đã xảy ra? 5 chiếc A-37 này chính là hàng "made in USA" ở sân bay Đà Nẵng.

Sau khi giải phóng Đà Nẵng, quân giải phóng ngay lập tức được điều động để học lái máy bay A-37 trong 3 ngày để kịp đánh vào Sài Gòn. Nhưng mà làm sao có thể học trong 3 ngày? Hoàn toàn có thể. Bằng việc thu phục lính VNCH, họ đã có người dạy cách lái. Bảng điều khiển tiếng Anh thì họ ghi đè tiếng Việt lên. Nhưng làm sao họ có thể bay từ Đà Nẵng tới tận Sài Gòn mà không bị phát hiện? Đơn giản, các phi công đã tắt luôn các máy thông tin liên lạc. Mặc dù 5 chiếc không hề liên lạc với nhau, nhưng họ vẫn có thể thực hiện đúng theo chiến thuật mà không có sơ hở nào. Hơn nữa, lúc này Sài Gòn đang loạn như cào cào, dù có phát hiện ra cũng không có thời gian tìm hiểu là phe địch hay phe ta.

Kết quả của trận đánh là gì?

Phi đội không quân đã tiêu diệt được hỏa lực trên không của địch tại Sài Gòn mà không có thương vong nào, giúp các Sư đoàn Bộ binh và xe tăng tiến vào dễ dàng hơn, giúp các mũi tiến công chủ lực đánh thẳng vào Dinh Độc Lập.

                                                                                                                                                    St

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC HÙNG CƯỜNG, PHỒN THỊNH, HẠNH PHÚC

 Ở thời khắc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập để đi tới xã hội cộng sản, đảm bảo tốt đẹp các phương diện xã hội, chính trị, kinh tế và liên kết quốc tế. Trong “đêm trước” của Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh vạch chiều hướng phát triển của nước Việt Nam mới, lập một chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tức là một nhà nước của dân, do dân, vì dân, trong đó hạt ngọc lung linh tỏa sáng là dân là chủ, dân làm chủ. Người dân từ thân phận nô lệ bước lên địa vị công dân, trở thành “ông chủ” của đất nước. Đây là giá trị lớn nhất, quý giá nhất từ thắng lợi của cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục tiêu, động lực của phát triển.

Ngay sau thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945, Hồ Chí Minh khẳng định mục tiêu - triết lý phát triển Việt Nam là Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Đó chính là mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội xuất phát từ thực tiễn Việt Nam. Trong hoàn cảnh một nước thuộc địa, mục tiêu hàng đầu là phải giành cho kỳ được độc lập dân tộc. Nước không độc lập, dân nô lệ sẽ không có gì hết. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của độc lập khi được ăn no, mặc đủ. Vì vậy, phải đi tới tự do, hạnh phúc, tức là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là cơ sở, tiền đề, nền tảng của chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa xã hội là thước đo giá trị sống, tạo động lực tinh thần để nhân dân xả thân bảo vệ thành quả độc lập dân tộc.

Giữa ác liệt, mất mát đau thương do cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ gây ra, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

Hồ Chí Minh là người nuôi dưỡng và truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước. Khi cách mạng vừa thành công, đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Người đã nêu khát vọng đưa dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu bằng nhiệm vụ “trồng người”. Viết Di chúc (5/1965), Người khẳng định: “Còn non, còn nước, còn người / Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”. Di chúc bổ sung năm 1968, suy nghĩ về việc chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi, Hồ Chí Minh viết về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân. Trồng cây thành rừng tốt cho phong cảnh, lợi cho nông nghiệp… Người mong muốn toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng với sự nghiệp cách mạng thế giới. 

Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI cho tới khi đất nước kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, và 100 năm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) thành lập, tình hình thế giới còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; tình hình đất nước còn nhiều đổi thay, nhưng giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh không thay đổi. Những bài học kinh nghiệm quý giá từ tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được kế thừa, vận dụng và phát triển tốt, sẽ là một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất làm cho đất nước Việt Nam trở thành một nước hùng cường, phồn thịnh, hạnh phúc.

MAI NĂM MỚI

BẢN ÁN NGHIÊM KHẮC DÀNH CHO QUÁCH DUY VỀ VIỆC LỢI DỤNG "CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ"

 

Sáng 15/4/2021, TAND quận Tân Phú, TPHCM mở phiên tòa sơ thẩm xét xử bị cáo Quách Duy (sinh năm 1982, trú tại quận Tân Phú, từng là chuyên viên Văn phòng UBND TPHCM), tuyên phạt bị cáo này 4 năm 6 tháng tù về tội "Lợi dụng các quyền dự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" theo quy định tại khoản 2 điều 331 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Theo cáo trạng, năm 2019, qua thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực thông tin - truyền thông và hoạt động kiểm tra thông tin được cung cấp trên mạng Internet, Sở Thông tin và Truyền thông TPHCM phát hiện trên Facebook Quách Duy đã đăng tải một số bài viết có nội dung xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của một số nguyên lãnh đạo Đảng và nhà nước, TPHCM.

Sở Thông tin và Truyền thông TPHCM giám định và kết luận 3 bài viết có nội dung vi phạm Luật An ninh mạng và Nghị định 72/2013 của Chính phủ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Ngày 18-9-2020, Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Tân Phú khám xét chỗ ở, nơi làm việc của ông Quách Duy, trích xuất dữ liệu từ điện thoại di động, máy tính, thu giữ một số tài liệu liên quan.

Cũng theo cáo trạng, khi khám xét, cơ quan điều tra thu giữ một bản chụp gồm 43 trang thể hiện nội dung tin nhắn giữa tài khoản Facebook Quách Duy với tài khoản facebook T.C.H.D, một tập tài liệu gồm 24 trang thể hiện nội dung nhắn tin giữa tài khoản Facebook Duy Quách và tài khoản facebook V.Đ.P. Những tài liệu này cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú đã chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra Công an TPHCM để tiếp tục điều tra theo thẩm quyền. Tại tòa, bị cáo Quách Duy khai nhận các hành vi như cáo trạng đã nêu.

HĐXX đã xem xét các tình tiết tăng nặng như phạm tội nhiều lần, tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, tuyên phạt bị cáo Quách Duy 4 năm 6 tháng tù về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”./.

Cơ đồ đất nước, vinh quang Tổ quốc đời đời thuộc về cộng đồng các dân tộc Việt Nam

 

Đồng bào các dân tộc thiểu số là máu thịt của dân tộc Việt Nam, một bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; các thế lực thù địch dù xảo quyệt đến đâu cũng không thể chia rẽ được khối đại đoàn kết của chúng ta. Bác Hồ khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt… Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.

Thực tế những năm qua, Đảng và Nhà nước đã và đang luôn ưu tiên bố trí nguồn lực để thực hiện hỗ trợ về giáo dục, y tế, phát triển hạ tầng, kinh tế xã hội cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Vì thế, nhìn một cách tổng quát, đời sống vật chất và tinh thần của đồng báo các dân tộc thiểu số chưa bao giờ được khởi sắc như ngày nay.

Với vị trí, vai trò rất quan trọng, do đó các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc để xuyên tạc, chống phá. Gần đây chúng tiếp tục kích động: Đồng bào thiểu số bị đàn áp một cách tàn bạo, người dân tiếp tục bị tước đoạt quyền làm người…nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam.

Không, cộng đồng các dân tộc Việt Nam nguyện đoàn kết một lòng chung tay xây dựng một nước Việt Nam hùng cường.

MAI NĂM MỚI

Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong giai đoạn hiện nay, để tăng cường và không ngừng nâng cao hiệu quả công tác này, cần nhận diện rõ bối cảnh mới, những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, từ đó đề ra định hướng, giải pháp phù hợp.

“Cách mạng màu online” và thủ đoạn dựng hình mẫu ngược!

 Thời gian qua, lợi dụng tình hình bất ổn diễn ra tại Myanmar, các thế lực thù địch, phản động đã đánh võng, bẻ lái thông tin, xuyên tạc bản chất vụ việc để tạo cớ chống phá Việt Nam. Các đối tượng này ra sức kích động, cổ suý, hô hào tiến hành các hoạt động chống phá hòng gây mất ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội trong nước, hiện thực hóa mưu đồ tiến hành bạo loạn lật đổ theo hướng “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”. 

Bộ Y tế cảnh báo nguy cơ dịch Covid-19 quay trở lại

 

Bộ Y tế cảnh báo nguy cơ dịch Covid-19 quay trở lại

Trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng phát mạnh tại các nước láng giềng, Bộ trưởng Y tế cảnh báo nguy cơ xuất hiện dịch tại Việt Nam rất lớn.

Sáng 16/4, Bộ Y tế tổ chức hội nghị trực tuyến tăng cường công tác phòng chống dịch Covid-19 với 63 tỉnh, thành.

Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long cảnh báo, nguy cơ xuất hiện dịch Covid-19 tại Việt Nam là rất lớn trong bối cảnh dịch bùng phát mạnh tại các nước láng giềng và trên thế giới. Trong khi đó, nước ta vẫn thường xuyên tổ chức các chuyến bay giải cứu nên việc kiểm soát dịch trong thời gian tới rất khó khăn.

Hiện nay khu vực nóng nhất là biên giới Tây Nam và các tỉnh Tây Nam Bộ. Do đó, Bộ Y tế sẽ tiếp tục thành lập các đoàn công tác đi đến vùng này để kiểm tra.

Bộ trưởng đề nghị các địa phương, đặc biệt là lực lượng biên phòng giữ thật chặt khu vực biên giới, ngăn chặn các trường hợp xuất nhập cảnh trái phép, đảm bảo cách ly. Đây là những “chìa khóa” quan trọng trong kiểm dịch giai đoạn tới.

“Nếu chúng ta lơ là, buông lỏng để xảy ra ca bệnh nhập cảnh, đặc biệt nhiễm biến chủng Anh, Nam Phi, sau đó lây nhiễm vào cộng đồng thì việc kiểm soát sẽ rất khó khăn”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Vì vậy, Bộ Y tế liên tục nhắc nhở các địa phương không được lơ là, chủ quan, triển khai quyết liệt các biện pháp chống dịch, đặc biệt các tỉnh có biên giới với Campuchia, do khu vực này không có ranh giới, chỉ có các cột mốc, đi lại rất dễ dàng.

Bộ Y tế yêu cầu các địa phương ngay khi phát hiện có người nhập cảnh về cần lập tức báo cho cơ quan chức năng để cách ly ngay đồng thời tăng cường tầm soát cộng đồng tại các khu vực nguy cơ cao, người phục vụ, cơ sở y tế… để nhận biết sớm các ca nhiễm.

Bộ Y tế cũng chỉ đạo các địa phương cập nhật bản đồ an toàn Covid-19 tại tất cả cơ sở y tế, kinh doanh, dịch vụ, trường học. Phòng khám nào không đảm bảo sẽ bị đình chỉ hoạt động.

Đặc biệt, các địa phương phải có kịch bản về xét nghiệm, cách ly diện rộng, điều trị để sẵn sàng kích hoạt ngay khi có dịch.

“Mọi địa phương đều có thể xuất hiện dịch. Chúng ta không thể chắc chắn 100% dịch xảy ra ở đâu nên các tỉnh đều có nguy cơ”, Bộ trưởng lưu ý.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đại dịch trong năm 2021 chưa thể kiểm soát được. Nhiều quốc gia vẫn tiếp tục ghi nhận số ca mắc tăng trở lại sau khi nới lỏng các biện pháp hạn chế, trung bình mỗi ngày thế giới ghi nhận 600.000 - 700.000 ca mắc mới, 1.000 - 2.000 ca tử vong.

Ông Đặng Quang Tấn, Cục trưởng Y tế dự phòng cho biết thêm, một số quốc gia như Thái Lan đang xuất hiện đợt bùng phát dịch mới, từ các ổ dịch ở Bangkok lan ra nhiều tỉnh. Tại Campuchia, dịch cũng hết sức phức tạp với hơn 4.300 ca mắc, đặc biệt trong những tuần gần đây số ca mắc tăng đột biến.

Việt Nam đến nay đã qua 21 ngày không ghi nhận ca mắc Covid-19 ngoài cộng đồng tuy nhiên vẫn ghi nhận nhiều ca mắc là người nhập cảnh.

Ông Tấn cũng lưu ý, vấn đề lưu tâm hiện nay là tâm lý lơ là, chủ quan trong cộng đồng, tình trạng nhập cảnh trái phép, quản lý không tốt người nhập cảnh hợp pháp; kiểm tra giám sát chưa thường xuyên, chưa thực chất…

Việt Nam chưa ghi nhận tình trạng đông máu

Bộ trưởng cho biết, 817.200 liều vắc xin AstraZeneca nhận từ Covax hiện đã được Bộ Y tế phân bổ tới 28 địa phương.

Bộ Y tế yêu cầu tất cả các tỉnh lập kế hoạch tiêm chủng theo đúng tinh thần Nghị quyết 21 và kết thúc tiêm chủng trước ngày 5/5, thay vì ngày 15/5 như dự kiến ban đầu.

“Vắc xin của Covax hết hạn vào ngày 30/5 nên yêu cầu các địa phương phải triển khai thật tốt, thật nhanh, không được phép để bất kỳ liều vắc xin nào phải hủy bỏ vì lý do không tổ chức tiêm chủng. Địa phương nào không tiêm sẽ thu hồi vắc xin, thông báo rộng rãi. Đây cũng là chỉ đạo của Thủ tướng trong cuộc họp hôm qua”, Bộ trưởng nói.

Bộ trưởng Long cũng khẳng định, Việt Nam sẽ tiếp tục tổ chức tiêm chủng theo đúng kế hoạch. Cả nước đã tiêm được gần 75.000 người, song chỉ có 33% có phản ứng thông thường sau tiêm, hầu hết là đau, nóng đỏ, ngứa tại vị trí tiêm, một số trường hợp sốt nhẹ, tuy nhiên đều hết sau 1-2 ngày.

“Tỉ lệ phản ứng sau tiêm tại Việt Nam thấp hơn các nước. Ngay vắc xin 5 trong 1 trong chương trình tiêm chủng mở rộng cũng có tỉ lệ phản ứng trên 50%”, ông Long dẫn chứng.

Đến nay Việt Nam chưa ghi nhận bất kỳ trường hợp nào có huyết khối sau tiêm vắc xin AstraZeneca. Tỉ lệ phản ứng quá mức sau tiêm chỉ ở mức 1%, cả 5 ca đều đã bình phục sau khi được xử trí đúng phác đồ.

Theo Bộ Y tế, lý do khiến tỉ lệ phản ứng sau tiêm tại Việt Nam thấp do luôn quán triệt tiêm đến đâu an toàn đến đó, quy định khám sàng lọc, đối tượng trì hoãn tiêm, chống chỉ định tiêm mở rộng hơn các nước, người tiêm được theo dõi tại chỗ 30 phút và tiếp tục theo dõi sau 24 giờ.

Trong ngày 15/4, Bộ Y tế đã thành lập Ban chỉ đạo an toàn tiêm chủng, tập hợp tất cả giáo sư đầu ngành tất cả lĩnh vực, đặc biệt trong điều trị để hỗ trợ các địa phương xử lý các trường hợp quá mẫn sau tiêm chủng, kể cả ca bệnh có huyết khối.

Các chuyên gia sẽ hội chẩn, hỗ trợ tuyến với hơn 1.500 điểm khám chữa bệnh từ xa trên cả nước.

“Việt Nam đặt tiêu chí an toàn tiêm chủng ở mức độ rất cao và cao hơn yêu cầu. Có nhiều trường hợp phản ứng sau tiêm chưa đến mức nặng nhưng vẫn xử lý như trường hợp nặng. Bộ Y tế đồng ý phương án này, nâng cao hơn một mức so với khuyến cáo chung của quốc tế và WHO”, ông Long nhấn mạnh.

 

Thứ Năm, 15 tháng 4, 2021

CƠ SỞ THỰC TIỄN KHẲNG ĐỊNH ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ LỰC LƯỢNG LÃNH ĐẠO XỨNG ĐÁNG VÀ TIN CẬY CỦA DÂN TỘC VÀ NHÂN DÂN VIỆT NAM

         Thứ nhất, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trong thực tế tiến hành cách mạng và được nhân dân thừa nhận.

Thực tiễn, năm 1946 ở Việt Nam, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn tồn tại hai đảng là Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội. Hai đảng này không đại diện cho lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân, mà bám gót ngoại bang, nên không được nhân dân chấp nhận.

 Có thời kỳ, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ Việt Nam (1944 - 1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (1946 - 1988), nhưng các đảng ấy cũng không được đa số nhân dân giao cho sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng. Các đảng ấy, đều tuân thủ đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân giao phó, ủy thác. Sau đó hai đảng này tuyên bố tự giải thể và chỉ còn lại Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hiển nhiên, là sự lựa chọn và giao phó của lịch sử, của nhân dân và dân tộc Việt Nam, Đảng  không tranh giành vai trò lãnh đạo với bất kỳ đảng phái nào.

Thứ hai, vai trò lãnh đạo lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tế kiểm nghiệm, nhất là vào những bước ngoặt của lịch sử.

Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, đưa cả nước đi lên CNXH. 

Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới đã thu được nhiều thắng lợi: đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới; quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt; đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Tuy nhiên, trong lãnh đạo, Đảng có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm nghiêm trọng. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên. Nhưng, một số kẻ thù địch, cơ hội chính trị lại không thấy hoặc cố tình lờ đi điều ấy, hơn thế, họ còn thổi phồng những khuyết điểm, sai lầm của Đảng và quy kết Đảng không đủ năng lực lãnh đạo trong điều kiện mới của đất nước. Rõ ràng đây là một sự xuyên tạc, vu cáo Đảng ta, nhằm kích động, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm.

Thứ ba, nhân dân Việt Nam đã thừa nhận và ủy quyền Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng.

Quan hệ giữa Đảng và Nhân dân là mối quan hệ bản chất và máu thịt của Đảng ta. Ngay từ khi ra đời Đảng luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, được Nhân dân thương yêu, đùm bọc, che chở và xây dựng. Hơn 90 năm đi theo Đảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận rõ hơn ai hết, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, không có một lực lượng, một tổ chức nào có thể đại diện chân chính cho lợi ích của mình. Vì thế, Nhân dân tin tưởng ủy thác trao quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tế cách mạng Việt Nam cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là ý nguyện của Nhân dân. Vì thế, các tầng lớp nhân dân mong muốn Đảng luôn giữ vững vai trò lãnh đạo, không chia sẻ quyền lực với các lực lượng khác khác trong vai trò cầm quyền của mình. Bởi đó là nguyên tắc đã được được hiến định và là một kết quả tất yếu của lịch sử cách mạng Việt Nam, không thể thay đổi

Thứ tư, ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước và xã hội.

Tuyệt đại đa số Nhân dân mong muốn Đảng tự chỉnh đốn, khắc phục các khuyết điểm, yếu kém để hoàn thành sứ mệnh của mình là lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để xứng đáng với sự tin cậy của Nhân dân, Đảng đã đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, làm tròn trách nhiệm là đội tiên phong, vai trò của Đảng cầm quyền và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã đề ra bốn nhóm giải pháp giải quyết những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, trong đó nhóm giải pháp thứ tư nêu rõ việc phát huy vai trò, trách nhiệm của quần chúng nhân dân trong nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Tóm lại, quan điểm cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước” là quan điểm sai lầm, phản khoa học, phi thực tế. Quan điểm này dựa trên những lập luận mang tính chủ quan, võ đoán, thiếu căn cứ khoa học, bất chấp đạo lý và lẽ phải thông thường, phiến diện và phi lôgic. Thực tiễn cách mạng Việt Nam và những thành quả mà Nhân dân ta đạt được, dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 90 năm qua, đã hoàn toàn bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch đó và chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất có đủ khả năng lãnh đạo đất nước thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân./.


 

Vắc xin đặc trị chống "chạy chức, chạy quyền" .

“Chạy chức, chạy quyền” là một trong những tình trạng bổ nhiệm chức vụ/quyền hạn cho những cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện. Đó có thể là người thân, họ hàng, cùng cánh hẩu, cùng quê, "đệ tử"... được giấu dưới vỏ bọc “đúng quy trình”, “đúng quy định”. Vấn nạn này ngày càng trở nên ung nhọt, phổ biến không chỉ gây nhiều hệ lụy trong công tác cán bộ, gây bức xúc trong dư luận xã hội mà còn làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, đòi hỏi cần phải có vắc xin đặc trị. . LỖ HỔNG, KHIẾM KHUYẾT TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[1], vì “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” và Người cũng nhấn mạnh rằng, “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”[2]. Thấm nhuần những chỉ dẫn của Người, trong 89 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác cán bộ, xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ có đức có tài, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Tuy nhiên, thực tế công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, công tác cán bộ nói riêng (bao gồm lựa chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo...) đã cho thấy, một trong những vấn nạn nhức nhối, nổi cộm hiện nay, được đề cập trong các văn kiện Đại hội của Đảng, trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng chính là “chạy chức, chạy quyền”. Thông qua “chạy”, những kẻ cơ hội, đầu cơ chính trị đã chui sâu, leo cao vào các vị trí chủ chốt trong tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Những năm gần đây, thông tin về việc những quan chức lạm dụng chức vụ/quyền hạn được giao đã kéo bè, kéo cánh, đưa người thân, cánh hẩu vào giữ các vị trí tại các cơ quan công quyền, tạo tiền đề hình thành “nhóm lợi ích” cho thấy, câu chuyện cả nhà làm quan, cả họ làm quan như vưa, như chúa ở mỗi địa phương đã không còn là hiện tượng đơn lẻ. Vấn nạn này xảy ra, trải dài từ Bắc vào Nam: Hà Giang, Mỹ Đức (Hà Nội), An Dương (Hải Phòng), Kim Thành (Hải Dương), Bắc Ninh, Quảng Trạch (Quảng Bình), Hiệp Đức (Quảng Nam), Bình Định, Cần Thơ,v.v.. dẫn đến tình trạng một gia đình, một dòng họ “cát cứ”, “thao túng”, “chi phối” công tác cán bộ nói riêng, quyền lực chính trị, kinh tế của địa phương nói chung, gây bức xúc trong nhân dân. Có thể nói, “chạy chức, chạy quyền” là "điển hình phản cảm" của việc vi phạm các chuẩn mực đạo đức của người cách mạng, đe dọa trật tự kỷ cương, luật pháp, để lại những hệ lụy tiêu cực về kinh tế, chính trị, xã hội nặng nề; làm băng hoại cả nền tảng đạo đức xã hội. Việc “sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi”[3] trong công tác cán bộ là những biểu hiện cụ thể, phản ánh sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của những người “chạy” và cả người được “chạy”. Một mặt, “chạy chức, chạy quyền" là sự tha hóa quyền lực, tạo ra lỗ hổng, khiếm khuyết trong công tác cán bộ, gây mất đoàn kết nội bộ, làm triệt tiêu động lực phấn đấu của những người chính trực, gây tâm tư trong công tác tư tưởng, công tác cán bộ; mặt khác, tạo “hiệu ứng cần chạy, phải chạy” trong từng cơ quan, đơn vị, địa phương để được lên chức ở Trung ương và địa phương. Soi rọi theo 23 điều Hồ Chí Minh yêu cầu về “Tư cách người cách mệnh” (tác phẩm Đường Cách mệnh, năm 1927), có thể thấy, những người tham gia “chạy chức, chạy quyền” và những người giúp cho việc vận hành “chạy chức, chạy quyền” được hanh thông chính là những người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cả tư tưởng và hành động. Đó là những người đã không rèn luyện đạo đức cách mạng theo đúng những gì Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, không làm trọn lời thề đảng viên, không phụng Tổ quốc và nhân dân như khi tuyên thệ. Cụ thể: 1) Họ đã không “tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại. Chịu khó. Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật"[4]. Bởi vì “chạy”, cho nên họ không phải trải qua quá trình rèn luyện đạo đức cách mạng, không phải bền gan phấn đấu, tu dưỡng mà đã được sớm cất nhắc, bổ nhiệm. Bởi vì sớm có được chức vụ/quyền hạn dễ dàng nên họ đã "dương dương tự đắc", tự cao, tự đại, tự mãn với những gì mình đang có, để rồi sa vào cá nhân chủ nghĩa, tiếp tục tạo điều kiện, tiếp tay cho những kẻ “như mình, giống mình” chạy tiếp vào các vị trí khác. 2) Họ đã không “đối người phải: “Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người”[5], vì, chức vụ/quyền hạn hiện có là do được nâng đỡ, cất nhắc bởi “chạy”, nên phần thì họ không đủ năng lực, trình độ đảm đương công việc; phần thì do “mặc chiếc áo quá rộng”, có chức, có quyền quá dễ dàng nên không thể nghiêm cẩn trong công việc, càng không thể “có lòng bày vẽ cho người”. Vì năng lực có hạn, lại lộng quyền, lạm quyền nên trong thực thi công vụ thì quan liêu, tham ô, tham nhũng, vòi vĩnh, gây bức xúc trong xã hội và trong quan hệ ứng xử với đồng nghiệp thì “nịnh trên, nạt dưới”, làm mất lòng tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ, vào công tác cán bộ. 3) Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và cả tổ chức thực hiện, những kẻ do “chạy” được chức, quyền cũng không có tinh thần và phương pháp “làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”[6]. Đó là những người không chỉ coi thường tổ chức, Điều lệ Đảng, pháp luật, công khai vi phạm các nguyên tắc tổ chức, làm suy yếu tổ chức đảng, mất uy tín của tập thể, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ mà còn trở thành nhân tố gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, dẫn đến thao túng bộ máy lãnh đạo, thao túng công tác cán bộ. Với họ, những kẻ cơ hội, chăm lo đầu tư quan hệ để lấy lòng cấp trên, a dua theo bất cứ điều gì cấp trên nói, làm theo chỉ đạo của cấp trên... thì sẽ được cất nhắc, bổ nhiệm; còn những người có năng lực và đạo đức, nhưng liêm chính, không chịu cúi luồn, không cùng phe cánh “sẽ trượt từ vòng quy hoạch”. Tệ nạn này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo rất sớm, trong một số bài viết ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và sau này. Tuy nhiên, ung nhọt này dường như chưa có “kháng sinh” đặc trị. Cùng với thời gian Đảng cầm quyền, vấn nạn này ngày càng “lở loét”, “lan nhanh” dẫn đến tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “là con đẻ” của “chạy chức, chạy quyền” đã mặc nhiên coi “chạy” là con đường tiến thân hiệu quả nhất, để rồi “lan vòi bạch tuộc” của mình, tiếp tục dung dưỡng, bảo kê cho những người có “nhu cầu chạy” đến được với những người “cần phải chạy”, để tạo thành đường dây, phong trào “chạy chức, chạy quyền”. Sự “chạy” này vừa vô tình, vừa hữu ý đã làm cho bệnh cậy quyền, ỷ thế, độc đoán, chuyên quyền, tham lam, địa phương chủ nghĩa, tư túng, kéo bè kéo cánh, nể nang, óc hẹp hòi… trong đội ngũ cán bộ chủ chốt không bị ngăn chặn, kiểm soát kịp thời; làm cho công tác cán bộ trở nên bị động, bị vô hiệu hóa, hình thức; làm cho trong nội bộ thì "im ắng", bên ngoài thì "thậm thà thậm thụt"... Hệ quả của nó là, nạn “chạy chức, chạy quyền” diễn ra trong tất cả các khâu của công tác cán bộ: chạy tuổi, chạy vào quy hoạch, chạy để được bổ nhiệm, chạy để được luân chuyển, v.v.., tạo thành một “làn sóng” khi trầm khi bổng, nhưng rõ nét nhất, sôi động nhất là trước mỗi kỳ đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. “Chạy chức, chạy quyền” không chỉ tạo ra một tiền lệ xấu trong công tác cán bộ, làm cho những người làm việc nghiêm túc, nỗ lực trau dồi về mọi mặt và thành tâm phấn đấu cũng dần tự ti vào năng lực bản thân, rồi “nhìn gương” đó để phát sinh tính láu cá, cơ hội, đầu cơ chính trị... mà còn làm mất uy tín của Đảng, suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, đe dọa sự tồn vong của Đảng cầm quyền và chế độ. Ung nhọt và căn bệnh trầm kha này đã được Đại hội XII của Đảng chỉ ra: “Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp... chưa được ngăn chặn, đẩy lùi”[7], được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trăn trở, nhấn mạnh tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018 của ngành tổ chức xây dựng Đảng ngày 19/1/2018: “Chạy chức, chạy quyền, tệ tham nhũng đã chi phối tới nhiều khâu trong công tác cán bộ, từ lựa chọn đối tượng đưa đi đào tạo, bồi dưỡng, đến quy hoạch, luân chuyển, đánh giá, bổ nhiệm, nên mới “có hiện tượng đề bạt, cất nhắc nhiều người nhà, người thân quen mặc dù không đủ tiêu chuẩn? Vì sao cứ nói bổ nhiệm đúng quy trình nhưng kết quả thực tế bố trí cán bộ lại là sai?”.