Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng điện đàm với Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba

Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Cuba được tổ chức thành công tốt đẹp. Ngày 5/5, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có cuộc điện đàm với đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez (Mi-ghen Đi-át Ca-nên Bê-mu-đết), Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba. Tại cuộc điện đàm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiệt liệt chúc mừng Đảng Cộng sản Cuba đã tổ chức rất thành công Đại hội toàn quốc lần thứ VIII, sự kiện chính trị trọng đại, sự tiếp nối lịch sử của Cách mạng Cuba; nồng nhiệt chúc mừng đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez được Trung ương Đảng Cộng sản Cuba tín nhiệm bầu làm Bí thư thứ nhất. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ sự tin tưởng Đảng Cộng sản Cuba quang vinh do đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez đứng đầu, sẽ tiếp tục lãnh đạo nhân dân Cuba anh em vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thành công các mục tiêu, đường lối do Đại hội VIII đề ra, xây dựng đất nước Cuba xã hội chủ nghĩa phồn vinh và bền vững. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trân trọng chuyển lời thăm hỏi thân thiết tới đồng chí Raul Castro, nguyên Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba; ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp to lớn của đồng chí Raul Castro đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân Cuba cũng như mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Cuba. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn luôn trân trọng và không bao giờ quên tình đoàn kết, sự ủng hộ chí tình, chí nghĩa, cả về tinh thần và vật chất của Cuba dành cho Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong hơn 6 thập kỷ qua. Những tình cảm đặc biệt của Cuba đã, đang và luôn dành cho Việt Nam, được kết tinh trong câu nói bất hủ của Lãnh tụ Fidel Castro: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez chân thành cảm ơn những tình cảm đồng chí anh em thân thiết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam dành cho Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba, cho cá nhân Đồng chí và đồng chí Raul Castro. Đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez khẳng định, việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng điện đàm chúc mừng thành công Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Cuba, chúc mừng cá nhân Đồng chí được bầu làm Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba thể hiện sinh động mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, gắn bó, tin cậy giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam - Cuba. Đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez khẳng định, Ban lãnh đạo mới của Cuba sẽ làm hết sức mình để tiếp tục củng cố, phát triển mối quan hệ Cuba - Việt Nam do lãnh tụ Fidel Castro và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công gây dựng. Đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez thông báo một số nét khái quát về kết quả Đại hội VIII, về những kết quả Cuba đã đạt được trong tiến trình cập nhật hóa mô hình kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa, bất chấp khó khăn do cấm vận và đại dịch COVID-19 gây ra. Chúc mừng những thành tựu Việt Nam đạt được trong thời gian qua, đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ mà Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn dành cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Cuba. Đồng chí tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh do đồng chí Nguyễn Phú Trọng đứng đầu, nhân dân Việt Nam anh em sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII, thực hiện thành công mục tiêu dân giầu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, Việt Nam luôn luôn coi trọng và mong muốn tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam - Cuba; khẳng định lại tình đoàn kết trước sau như một của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đối với sự nghiệp chính nghĩa của Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba; phản đối chính sách bao vây cấm vận, thù địch chống Cuba. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, quan hệ giữa hai Đảng là nền tảng chính trị, đóng vai trò định hướng quan trọng để thúc đẩy quan hệ giữa hai nước. Việt Nam sẵn sàng chia sẻ với Cuba kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công trong quá trình đổi mới của mình. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị trong thời gian tới, hai bên cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ để triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao song phương, đưa quan hệ Việt Nam - Cuba đi vào chiều sâu, thực chất và bền vững. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trân trọng mời đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez và đồng chí Raul Castro sang thăm lại Việt Nam. Về phần mình, đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez trân trọng chuyển lời của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Cuba, mời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm lại Cuba vào thời gian thích hợp./.

Việt Nam thực hiện tốt vấn đề dân chủ


Nhận thức về xây dựng và phát huy dân chủ của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân ngày càng sâu sắc hơn.

Thể chế thực thi các quyền dân chủ của nhân dân từng bước được xác lập và cụ thể hóa trên tất cả các lĩnh vực. Điều 6, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ các hình thức thực hiện dân chủ: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Hiến pháp năm 2013 dành riêng chương II với 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) quy định cụ thể về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Tăng cường và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức và công dân, kiên quyết sử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu ở nhiều cấp ủy đảng, chính quyền đã tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. 

Dân chủ ở Việt Nam được thực hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

 


Về chính trị, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định nguyên tắc tối cao là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân trong tổ chức và hoạt động của mình; động viên toàn dân xây dựng đường lói của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội với các hoạt động của hệ thống chính trị. Mọi người dân có quyền ứng cử, đề cử, bầu cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước; quyền thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Về kinh tế, được thể hiện trong đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên nhiều hình thức sở hữu, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.

Dân giàu là mục tiêu của Nhà nước, của toàn xã hội. Mọi người dân có quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt với các tư liệu sản xuất; tham gia vào các hoạt động quản lý nền kinh tế; tham gia quá trình phân phối và phân phối lại sản phẩm xã hội.

 Về văn hóa - xã hội, mọi người dân có quyền được thưởng thức và sáng tạo các giá trị văn hóa; quyền được học hành, phát triển, tự do đi lại, cư trú, tự do tôn giáo...; quyền được có việc làm, đảm bảo an sinh xã hội...

 Về quốc phòng, an ninh, mọi người dân có quyền được thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; quyền được tham gia các hoạt động đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội và được đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản theo quy định của pháp luật.

Sự thật về cái gọi là liên minh ma quỷ trong vụ giết người rúng động ở Nghệ An



Gần đây, vụ án nổ súng tàn sát hai người tại Nghệ An đã trở thành “miếng bánh” béo bở cho các đối tượng, tổ chức chống phá lợi dụng.


Về bản chất, vụ án trên thuần túy là một vụ án hình sự. Tuy nhiên, lợi dụng tính chất nghiêm trọng của vụ án, thời gian diễn ra nhạy cảm (vào ngày lễ 30/4), nhận được sự quan tâm chú ý của dư luận, các đối tượng, tổ chức chống phá đã triệt để xuyên tạc, lợi dụng nó để công kích chính quyền. Như mới đây, đối tượng Đỗ Ngà đã nhanh chóng múa bút, tô vẽ màu sắc chính trị cho vụ án. Cùng với đó là nhiều bài viết đã được Đỗ Ngà tung ra như “Liên minh đỏ đen, hình ảnh từ nhóm lợi ích Nghệ An”, “Sự mâu thuẫn phơi bày bản chất”… Những bài viết này sau đó đã được các đối tượng, tổ chức chia sẻ, lan tuyền trên mạng xã hội.

Một số chính sách mới của Chính phủ có hiệu lực từ tháng 5/2021

Một số chính sách mới của Chính phủ có hiệu lực từ tháng 5/2021, đó là: Quy định mới về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự; Quy định về xây dựng Khu kinh tế - quốc phòng; Quản lý trong cơ sở giáo dục; Quản lý giống cây trồng lâm nghiệp; Sửa thủ tục cấp số định danh đối với công dân đã đăng ký khai sinh; Xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy… Quy định mới về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Nghị định 21/2021/NĐ-CP ban hành ngày 19/03/2021 quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có hiệu lực từ ngày 15/5/2021. Nghị định này quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bao gồm tài sản bảo đảm; xác lập, thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (biện pháp bảo đảm) và xử lý tài sản. Quy định về xây dựng Khu kinh tế - quốc phòng Có hiệu lực từ ngày 5/5/2021, Nghị định số 22/2021/NĐ-CP ban hành ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định về xây dựng Khu kinh tế - quốc phòng; tổ chức và quản lý hoạt động của Đoàn kinh tế - quốc phòng; cơ chế đầu tư, tài chính và chính sách đối với các đối tượng tham gia xây dựng Khu kinh tế - quốc phòng… Nghị định nêu rõ, nhiệm vụ xây dựng Khu kinh tế - quốc phòng gồm: Xây dựng địa bàn vững mạnh về quốc phòng, an ninh; ổn định phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng thế trận phòng thủ trên các địa bàn chiến lược làm cơ sở vững chắc cho nhân dân, các lực lượng khác tham gia phát triển kinh tế - xã hội trên tuyến biên giới đất liền, biển, vùng biển và hải đảo. Phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu để nhân dân ổn định sản xuất, đảm bảo an sinh xã hội; tổ chức, bố trí sắp xếp các điểm dân cư, định canh, định cư trên địa bàn biên giới, các đảo, quần đảo xa bờ bảo đảm mục tiêu giảm nghèo bền vững và ổn định quốc phòng, an ninh. Xây dựng các mô hình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công và hỗ trợ phát triển sản xuất tạo yếu tố ban đầu cho phát triển kinh tế hàng hóa, dịch vụ; tổ chức dịch vụ cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm (dịch vụ hai đầu); chuyển giao công nghệ sản xuất cho nhân dân; tổ chức sản xuất khai thác hiệu quả đất đai đối với những địa bàn biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn có vai trò quan trọng về quốc phòng, an ninh. Xây dựng cơ sở kinh tế ở những vùng biển, đảo khó khăn làm cầu nối giữa đất liền và đảo, quần đảo; tổ chức các hoạt động dịch vụ trên biển hỗ trợ ngư dân bám biển sản xuất để tăng cường hoạt động dân sự trên các vùng biển, đảo khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và tài phán trên biển… Quản lý trong cơ sở giáo dục Có hiệu lực từ ngày 15/5/2021, Nghị định số 24/2021/NĐ-CP ban hành ngày 23/3/2021 của Chính phủ quy định việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập (cơ sở giáo dục). Nghị định trên quy định về: Quản lý các hoạt động giáo dục; thực hiện quy chế dân chủ trong quản lý các hoạt động giáo dục; trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục và người đứng đầu cơ sở giáo dục trong quản lý các hoạt động giáo dục; bảo đảm việc tham gia của học sinh, gia đình và xã hội trong quản lý các hoạt động giáo dục. Quản lý giống cây trồng lâm nghiệp Nghị định số 27/2021/NĐ-CP ban hành ngày 25/3/2021 của Chính phủ về quản lý giống cây trồng lâm nghiệp có hiệu lực từ ngày 15/05/2021. Nghị định này quy định về quản lý giống cây trồng lâm nghiệp, gồm bảo tồn nguồn gen; nghiên cứu, chọn, tạo, khảo nghiệm giống; nhãn và tên giống cây trồng lâm nghiệp; quản lý chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp; sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu, nhập khẩu giống cây trồng lâm nghiệp. Sửa thủ tục cấp số định danh đối với công dân đã đăng ký khai sinh Có hiệu lực từ ngày 14/05/2021, Nghị định số 37/2021/NĐ-CP ban hành ngày 29/03/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 137/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân, trong đó sửa đổi, bổ sung Điều 15 quy định trình tự, thủ tục cấp số định danh cá nhân đối với công dân đã đăng ký khai sinh. Cụ thể, công dân đã đăng ký khai sinh nhưng chưa được cấp số định danh cá nhân thì cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác lập số định danh cá nhân cho công dân theo thông tin hiện có trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Ngay sau khi xác lập được số định danh cá nhân cho công dân, cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư có văn bản thông báo cho công dân về số định danh cá nhân đã được xác lập và các thông tin của công dân hiện có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trường hợp thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chưa đầy đủ thì trong văn bản thông báo cần yêu cầu công dân bổ sung thông tin cho Công an xã, phường, thị trấn nơi mình đang cư trú để thực hiện cập nhật, chỉnh sửa thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trường hợp công dân đã có số định danh cá nhân mà được xác định lại giới tính hoặc cải chính năm sinh thì cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác lập lại số định danh cá nhân cho công dân sau khi công dân đó đã thực hiện việc đăng ký hộ tịch liên quan đến thông tin về giới tính, năm sinh theo quy định pháp luật về đăng ký hộ tịch. Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư có văn bản thông báo cho công dân về số định danh cá nhân đã được xác lập lại. Cơ quan cấp thẻ Căn cước công dân sử dụng số định danh cá nhân đã được cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác lập cho công dân để cấp thẻ Căn cước công dân theo quy định. Xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy Nghị định 42/2021/NĐ-CP ban hành ngày 31/03/2021 của Chính phủ quy định việc xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy có hiệu lực từ ngày 16/5/2021. Nghị định này quy định vị trí, thẩm quyền quyết định của tổ chức Công an xã, thị trấn chính quy (Công an xã chính quy); lộ trình thực hiện; quan hệ công tác, điều kiện bảo đảm hoạt động của Công an xã chính quy; trách nhiệm của các bộ, ngành; Ủy ban nhân dân các cấp trong xây dựng Công an xã chính quy. Trong đó, việc xây dựng Công an xã chính quy bảo đảm không tăng biên chế của Bộ Công an đến năm 2021, có lộ trình và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Về lộ trình xây dựng Công an xã chính quy, Nghị định nêu rõ: Hoàn thành việc tổ chức Công an xã chính quy ở các xã, thị trấn trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự trước ngày 30/6/2021; các xã, thị trấn còn lại trong toàn quốc hoàn thành việc tổ chức Công an xã chính quy trước ngày 30/6/2022./.

DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM MANG BẢN CHẤT NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 


Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, là quyền tự do bình đẳng của nhân dân trong đời sống xã hội, gắn liền với những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định.

Dân chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ánh những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, một chế độ chính trị - xã hội mà ở đó những quyền cơ bản của con người (tự do, bình đẳng, tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng…) được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc như: quyền lực thuộc về nhân dân, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, thiểu số phục tùng đa số, quyền tự do tư tưởng, ý chí hành động, bầu cử tự do và công bằng… để quy định quyền lợi, trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại.

Bàn đến dân chủ là phải bàn đến bản chất, nội dung, hình thức, mức độ, tính chất của dân chủ; trong đó bản chất của dân chủ là yếu tố quyết định nhất quy định các yếu tố khác. Dân chủ mang bản chất giai cấp, bản chất của dân chủ do bản chất của chế độ xã hội, bản chất của nhà nước, bản chất của hệ thống pháp luật quy định; ngoài ra dân chủ còn phụ thuộc vào truyền thống của dân tộc, phương thức sản xuất, phẩm chất năng lực của đội ngũ công chức nhà nước, ý thức thực hành dân chủ của công dân, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội hiện tại ở mỗi quốc gia.

Sự hình thành và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đó là dân chủ có bản chất tốt dẹp nhất trong toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam và tiến bộ xã hội của nhân loại cho đến nay; đồng thời đó là kết quả của quá trình đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân và toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; được đánh dấu bằng sự kiện lịch sử vĩ đại đó là cách mạng Tháng tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Trải qua hơn 60 năm dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không ngừng được xây dựng, hoàn thiện và đã đạt được những thành tựu to lớn.

Chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mang bản chất của giai cấp công nhân. Chủ thể của quyền lực chính trị ở Việt Nam là đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở Việt Nam mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Ở Việt Nam mọi quyền sở hữu đều dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; mọi tổ chức của hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của giai cấp công nhân; mọi công dân bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ; mọi hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân và lợi dụng dân chủ làm tổn hại lợi ích của nhân dân và Tổ quốc đều phải được phê phán và nghiêm trị. Những tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và vô trách nhiệm, lạm quyền và xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân đều phải được ngăn ngừa và trừng trị. Pháp chế xã hội chủ nghĩa luôn được tăng cường, trách nhiệm công dân luôn được đề cao, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ chế và biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng ngừa, ngăn chặn và sử lý nghiêm những sai phạm làm suy thoái và biến chất quyền lực nhà nước của nhân dân.

Việt Nam thực hiện tốt công tác tôn giáo

 


Công tác tôn giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ chức sắc… hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ.

Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước.

Các tổ chức tôn giáo ở nước ta đã xây dựng được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân tộc theo hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.

Các ngành, các cấp đã chủ động, tích cực thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an  ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch.

Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam mang đậm nét cảm tính, tâm lý.

 


Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, trong đó chủ yếu là nông dân. Từ lối sống mang đậm nét tiểu nông, nên nhiều tín đồ tôn giáo ở Việt Nam tuy khá sùng đạo nhưng lại không hiểu rõ giáo lý, thậm chí ra nhập đạo chỉ do sự lan truyền tâm lý, do sự lôi kéo. Đối với bộ phận khá lớn cư dân Việt nam, tôn giáo thuần tuý là lĩnh vực tình cảm, tâm lý, nó như cái gì bình thường tự nhiên, đây cũng là một nguyên nhân khiến người Việt Nam có thái độ dung hoà, cởi mở khi tiếp nhận các tôn giáo. Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam có nhu cầu cao trong sinh hoạt tôn giáo, nhất là những sinh hoạt tôn giáo mang tính chất lễ hội. Một bộ phận tín đồ của một số tôn giáo vẫn còn mê tín dị đoan, thậm trí cuồng tín dễ bị các phần từ thù địch lôi kéo.

“Năm 2019 là một năm tàn bạo đối với các quyền tự do căn bản ở Việt Nam" - Sự bịa đặt trắng trợn của HRW

Ngày 14-1-2020, HRW đã ra cái gọi là “Báo cáo Thế giới 2020” điểm lại bức tranh nhân quyền của khoảng 100 quốc gia... Phần nói về Việt Nam, báo cáo này viết: “Năm 2019 là một năm tàn bạo đối với các quyền tự do căn bản ở Việt Nam khi chính quyền kết án tù ít nhất 30 nhà hoạt động và bất đồng chính kiến”;... Trước khi đưa ra bản báo cáo này, HRW đã không ít lần đòi trả tự do cho một số đối tượng mà họ khoác lên chiếc áo “nhà dân chủ”; “nhà hoạt động nhân quyền”;... đang thụ án do vi phạm pháp luật Việt Nam.

Các tôn giáo ở Việt Nam hoạt động ôn hòa, hòa quyện mà không hợp nhất.

 


Trong lịch sử các tôn giáo ở Việt Nam có lúc chung sống không thật yên ả, nhưng về cơ bản tôn trọng lẫn nhau, không đối đầu, không có chiến tranh tôn giáo, chỉ có các lực lượng chính trị lợi dụng vấn đề tôn giáo để hòng chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, nhưng chúng đều thất bại. Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có tính dung hợp, đan xen, hòa đồng, dễ chấp nhận sự hiện diện của các vị thần, thánh của các tôn giáo khác. Những người theo tôn giáo khác nhau không xa lánh người mình thờ phụng; có thể sống chung trong một làng, một dòng họ, thậm chí một gia đình.

VIỆT NAM LÀ QUỐC GIA ĐA TÔN GIÁO

 


Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, lực lượng, một điều gì đó và thông thường để chỉ niềm tin tôn giáo.

Tôn giáo thường được hiểu là một trong những hình thức của tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm các yếu tố sau: Hệ thống giáo lý; giáo luật, lễ nghi; các chức sắc, tổ chức giáo hội; vật chất phục vụ cho các hoạt động tôn giáo và các tín đồ.

Mê tín dị đoan là hiện tượng xã hội tiêu cực đã xuất hiện từ lâu và còn tồn tại ở xã hội hiện đại. Trên thực tế mê tín dị đoan thường xen vào các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Xác định hiện tượng này chủ yếu dựa vào biểu hiện và hậu quả tiêu cực của nó.

Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời và phát triển từ hàng ngàn năm nay. Quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia.

Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo trên thế giới.

Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Mỗi dân tộc đều lưu giữ các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng mình. Người Việt có các hình thức dân gian như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh, nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng bào các dân tộc thiểu số với hình thức tín ngưỡng nguyên thủy (còn gọi là tín ngưỡng sơ khai) như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo.

Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin Lành; có tôn giáo sinh ra tại Việt Nam như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có tôn giáo chưa ổn định, đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp.

Ước tính đến nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng ở Việt Nam rất đa dạng, bao gồm: Tín ngưỡng thờ cúng Việt Nam; tín ngưỡng thờ Thành hoàng; tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc; tín ngưỡng thờ Mẫu. Về tôn giáo, ở Việt Nam hiện nay có 43 tổ chức, hệ phái tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, trong đó có 6 tôn giáo lớn, có 2 tôn giáo nội sinh là Phật giáo Hoà hảo và Đạo Cao đài.

Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo nói trên, người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế giới. Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên đó là những khó khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể.

Siêu lây nhiễm tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương cơ sở 2

    Theo tin từ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội, tính đến 12h ngày 6-5, tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương cơ sở 2 đã ghi nhận 42 ca dương tính với vi rút SARS-CoV-2.Trong 42 ca này, có 33 ca tại 14 tỉnh, thành phố: Yên Bái, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Sơn La, Quảng Ninh, Phú Thọ, Nam Định, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Hòa Bình, Hưng Yên, Lạng Sơn; và 9 ca tại Hà Nội, ghi nhận ở 5 quận, huyện, thị xã: Đông Anh, Sóc Sơn, Nam Từ Liêm, Sơn Tây và Ba Đình.

Hà Nội vận động người dân không ra khỏi nhà khi không cần thiết

Trước tình hình dịch COVID-19 đang diễn biến hết sức phức tạp và khó lường, ngày 5/5, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội ban hành Chỉ thị số 11/CT-UBND yêu cầu tăng cường thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới. Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Chu Ngọc Anh yêu cầu toàn bộ hệ thống chính quyền các cấp của thành phố phải xác định nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19 là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, ưu tiên hàng đầu trong thời gian tới, tuyệt đối không lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, phải huy động toàn bộ hệ thống chính quyền các cấp vào cuộc, đảm bảo kiểm soát hiệu quả, không để dịch lây lan ra diện rộng. Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cũng yêu cầu các cấp chính quyền của thành phố tiếp tục thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19, tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, nhanh hơn, hiệu quả hơn, quan tâm tuyên truyền trên loa truyền thanh xã, phường, tuyên truyền lưu động; phát huy vai trò của các tổ COVID-19 cộng đồng... nhằm nâng cao nhận thức và huy động cả hệ thống chính trị, sự tham gia của người dân đối với công tác phòng, chống dịch COVID-19 với phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”. Các địa phương cần tuyên truyền, vận động người dân không ra khỏi nhà khi không cần thiết và thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch: bắt buộc phải khai báo y tế theo quy định; bắt buộc đeo khẩu trang khi ra ngoài; không tập trung đông người tại nơi công cộng, ngoài phạm vi công sở, trường học, bệnh viện; giữ khoảng cách tối thiểu 1m khi tiếp xúc; thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn; khi có dấu hiệu ho, sốt, khó thở hoặc các triệu chứng nghi ngờ mắc COVID-19, phải đến ngay cơ sở y tế để được hướng dẫn, khám, điều trị kịp thời. Nội dung chỉ thị nêu rõ, các địa phương cần có phương án đảm bảo tuyệt đối an toàn phòng, chống dịch cho các cơ sở khám chữa bệnh, đồng thời thực hiện tốt công tác điều trị cho người mắc bệnh, hạn chế thấp nhất người tử vong. Đồng thời thần tốc truy vết đến cùng, lấy mẫu xét nghiệm và cách ly tuyệt đối các trường hợp F1, quản lý nghiêm ngặt các trường hợp F2 theo quy định; tổ chức khoanh vùng theo điều tra dịch tễ, đảm bảo đúng quy mô, mức độ, số lượng đối tượng hẹp nhưng chặt chẽ. Đối với các khu vực đã phong tỏa t hì cần kiểm soát chặt chẽ không cho người dân ra, vào theo đúng tinh thần “nội bất xuất - ngoại bất nhập”. Các hộ gia đình trong khu cách ly phải nghiêm túc thực hiện cách ly giữa nhà với nhà, người dân không được giao lưu. Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Chu Ngọc Anh yêu cầu các địa phương tổ chức xét nghiệm sàng lọc tại các khu vực có nguy cơ cao, trong đó lưu ý các khu vực có nhiều chuyên gia, khu công nghiệp… và các đối tượng có nguy cơ (người từ vùng dịch về, người có các biểu hiện ho, sốt, khó thở…) để đánh giá nguy cơ dịch bệnh và đưa ra các giải pháp phòng, chống kịp thời, hiệu quả. Các đơn vị từ thành phố đến quận, huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn phải rà soát lại các phương án phòng, chống dịch; nâng công suất, năng lực về truy vết, cách ly, xét nghiệm, điều trị… chuẩn bị sẵn sàng trong tình huống dịch bệnh lan rộng. Đối với công tác cách ly, UBND thành phố Hà Nội yêu cầu các địa phương chuẩn bị đủ cơ sở cách ly, nâng công suất cách ly đảm bảo đủ chỗ cách ly trong tình huống dịch bệnh lan rộng. siết chặt quản lý các khu cách ly tập trung, đặc biệt là các khu cách ly tại khách sạn, tuyệt đối không để lây chéo trong khu cách ly tập trung và lây từ khu cách ly ra cộng đồng. Nội dung chỉ thị cũng yêu cầu thực hiện nghiêm túc công tác phòng, chống dịch trong các cơ sở dịch vụ, sản xuất kinh doanh, vận chuyển hành khách và tại các khu chung cư cao tầng, các khu trung tâm dịch vụ, các quán ăn, uống đường phố, trà đá vỉa hè, cà phê vỉa hè, thực hiện việc hiếu, hỷ văn minh, hạn chế tối đa tập trung đông người... Đặc biệt, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội yêu cầu người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức, cơ sở chịu trách nhiệm thực hiện công tác phòng, chống dịch trong cơ quan, đơn vị. Đối với Sở Y tế Hà Nội, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội yêu cầu căn cứ vào đặc điểm, tính chất, cơ chế lây bệnh của chủng virus trên địa bàn thành phố để chỉ đạo phương án khoanh vùng, cách ly, xét nghiệm theo ưu tiên mức độ cấp thiết phù hợp với từng đối tượng, khu vực; hướng dẫn, phối hợp UBND các quận, huyện, thị xã chỉ đạo, kiểm tra, thực hiện kịp thời, có hiệu quả công tác phát hiện, cách ly, khoanh vùng triệt để khi phát hiện ca lây nhiễm, xuất hiện ổ dịch trên địa bàn. Khi phát hiện ca bệnh dương tính khẩn trương bao vây khoanh vùng, khử khuẩn những địa điểm liên quan theo quy định. Đồng thời, tổ chức truy vết “thần tốc”, xác định nhanh nhất những trường hợp liên quan đến tiếp xúc với ca bệnh để tiến hành lấy mẫu xét nghiệm và cách ly y tế theo quy định; cương quyết, dồn mọi nguồn lực, bằng mọi giải pháp xử lý triệt để các ổ dịch phát sinh. Các nhiệm vụ trong phòng, chống dịch COVID-19 cũng được UBND thành phố Hà Nội chỉ rõ đối với các sở, ngành của Hà Nội trên tinh thần chủ động ngăn chặn, kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh, ứng phó kịp thời với tình hình dịch COVID-19 đang diễn biến hết sức phức tạp và khó lường.

Việt Nam thực hiện tốt công tác dân tộc

 


Quyền tự quyết, bình đẳng giữa các dân tộc được đảm bảo

 Các dân tộc luôn được bảo đảm quyền bình đẳng trên các lĩnh vực, quyền bình đẳng về chính trị của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được nâng cao. Trong những năm qua, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số trong các khoá quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với người dân tộc thiểu số của cả nước. Ở địa phương, người dân tộc thiểu số cũng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tham gia hội đồng nhân dân. Nhiều người dân tộc thiểu số đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước.

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện

Với sự quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn dân, hiện nay đã hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc giảm bình quân từ 3% đến 4%/ năm. Bộ mặt vùng dân tộc miền núi, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc thay đổi rõ rệt.

Hệ thống chính trị vùng dân tộc ngày càng vững chắc

Hiện nay, có nhiều cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học. Năng lực, trình độ cán bộ xã, phường ngày càng nâng cao, phát triển đảng người dân tộc được trú trọng. Hoạt động của cấp uỷ, chính quyền, mặt trận và đoàn thể ở nhiều nơi đạt hiệu quả.

Mỗi dân tộc ở Việt Nam đều có sắc thái văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng nhưng thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

 


Cùng với nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc có ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết), phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, kiến trúc, ẩm thực, nghệ thuật dân gian, trang phục riêng... tạo nên một nền văn hóa đa dạng nhưng thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc...Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hóa mỗi dân tộc, càng làm phong phú nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên nếu không có chính sách đúng, không tôn trọng văn hoá của nhau sẽ tạo nên xung đột văn hoá, hoà trộn văn hoá, phai nhạt, mất dần bản sắc văn hoá từng tộc người.

Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới đang hướng vào việc củng cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc. Đồng thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa của các dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển từng dân tộc.

Các dân tộc có dân số và trình độ phát triển kinh tế- xã hội không đều nhau

 


Hiện nay, dân tộc kinh chiếm khoảng 85,3`% dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số còn lại chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số có 6 dân tộc có số dân 1 triệu người trở lên như: Tày, Thái, Mường, Nùng, Mông, Khơ me; 33 dân tộc có dân số từ 10 nghìn người đến 1 triệu người; 14 dân tộc dưới 10 nghìn người, trong đó có một số dân tộc chỉ có mấy trăm người như dân tộc:  Ơ đo, Pu péo, Si la, Brâu, Rơ măm...

Do những nguyên nhân lịch sử, xã hội và hoàn cảnh tự nhiên nên các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế xã hội không đều nhau. Các dân tộc sống ở vùng thấp có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn các dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Hiện nay có một số dân tộc đạt trình độ phát triển tương đối cao như Tày, Thái, Mường, Nùng, Ngái, Sán Dìu... Các dân tộc này biết canh tác ruộng nước, biết sản xuất hàng hoá, cư trú ở vùng thấp, đô thị.  Một số dân tộc có trình độ phát triển thấp như La hủ, Cống, Mảng, Chứt..., do sống bằng canh tác nương rẫy, tự cung, tự túc, cư trú ở vùng cao khó khăn, vùng sâu, vùng xa, quen với cuộc sống du canh, du cư...

Bên cạnh nguyên nhân lịch sử và hoàn cảnh tự nhiên, còn có nguyên nhân chủ yếu là do hậu quả của sự áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến và đất nước phải liên tục đối phó với chiến tranh xâm lược trong nhiều năm. Đây là nguồn gốc của sự không bình đẳng giữa các dân tộc trên thực tế. Giải quyết hậu quả lịch sử này phải có quá trình phấn đấu tích cực, bền bỉ, lâu dài mới làm cho các dân tộc từng bước tiến kịp trình độ chung.

Tỷ lệ người dân Việt Nam hài lòng với các biện pháp của chính phủ trong kiểm soát đại dịch COVID-19 cao nhất thế giới

Việt Nam xếp ở vị trí đầu bảng khi có tới 96% số ý kiến bày tỏ hài lòng với công tác phòng chống đại dịch COVID-19 của chính phủ. Bộ Y tế phát động chiến dịch truyền thông: "Niềm tin chiến thắng", chung tay đẩy lùi dịch bệnh Covid-19 Ngày 5/5, phóng viên TTXVN tại châu Âu dẫn kết quả thăm dò dư luận do Viện nghiên cứu thị trường Latana thực hiện cho biết phần lớn người dân trên khắp thế giới ngày càng ít hài lòng với cách phòng chống dịch COVID-19 của chính phủ nước họ. Khảo sát được thực hiện từ ngày 24/2-14/4 với hơn 50.000 người ở 53 quốc gia và khu vực, chiếm trên 3/4 dân số thế giới. Trong khi mức độ hài lòng của người dân đối với chiến lược xử lý khủng hoảng của chính phủ trong đại dịch COVID-19 ở nhiều nước, khu vực trên thế giới giảm mạnh thì ở Việt Nam, người dân vẫn rất hài lòng với các biện pháp chống dịch của chính phủ và tỷ lệ hài lòng đạt mức cao nhất thế giới. Về cách thức phản ứng của các chính phủ với đại dịch COVID-19, người dân trên thế giới chia rẽ mạnh khi có trung bình 58% số người được hỏi đánh giá chính phủ nước họ phản ứng tốt với đại dịch. Trong danh sách này, Việt Nam xếp ở vị trí đầu bảng khi có tới 96% số ý kiến bày tỏ hài lòng với công tác phòng chống đại dịch COVID-19 của chính phủ. Tiếp đến là Trung Quốc với tỷ lệ hài lòng là 93%. Nhìn chung, các nước châu Á có tỷ lệ hài lòng trung bình cao nhất (75%), tiếp đến là châu Âu (45%) và Mỹ Latinh (42%). Tỷ lệ hài lòng của người dân với cách xử lý dịch của chính quyền Brazil ở mức thấp nhất là 19%. Tại Đức, tỷ lệ này cũng giảm mạnh. Nếu mùa Xuân năm ngoái có tới 71% số ý kiến bày tỏ hài lòng với cách chống dịch của chính phủ thì nay tỷ lệ này đã giảm xuống còn 48%. Nghiên cứu trên đã được nhiều trang báo của Đức đăng tải, trong đó đều nhấn mạnh tỷ lệ hài lòng của người dân với chiến lược của chính phủ trong phòng chống dịch COVID-19 đặc biệt cao ở Việt Nam, trong khi thấp nhất ở khu vực Mỹ Latinh và châu Âu./.

Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán, xen kẽ nhau; các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú trên các địa bàn có giá trị chiến lược

 


Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương đối tập trung. Song nhìn chung các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới. Địa bàn cư trú của người Kinh chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du; còn các dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở các vùng miền núi và vùng cao, một số dân tộc như Khơ me, Hoa, Chăm sống ở đồng bằng. Các dân tộc thiểu số có sự tập trung ở một số vùng, nhưng không cứ trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã và các bản, mường. Hiện nay, hầu như không có một đơn vị hành chính xã, huyện, tỉnh, nào ở vùng dân tộc thiểu số chỉ có một dân tộc cư trú. Nhiều tỉnh có tới trên 20 dân tộc cư trú như Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quan, Lâm Đồng... Phần lớn các huyện có từ 5 dân tộc trở lên cư trú. Nhiều xã, bản, mường có tới 3 đến 4 dân tộc cùng sinh sống.

Việc cư trú đan xen giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc giao lưu phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nhưng cũng rất dễ nảy sinh các vấn đề mất ngôn ngữ, văn hoá, phân hoá giàu nghèo, tranh chấp đất đai, tài nguyên, gia tăng các tệ nạn xã hội, tiềm ẩn xung đột dân tộc. Ngày nay, tình trạng cư trú xen kẽ của các dân tộc chủ yếu dẫn tới sự giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc cũng như sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, càng có thêm điều kiện đoàn kết và hòa hợp giữa các dân tộc anh em.

Các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú ở miền núi, chiếm ¾ diện tích cả nước. Đây là khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn mà trước hết là tiềm lực về tài nguyên rừng và đất rừng. Không những thế, miền núi còn có vai trò đặc biệt quan trọng về môi trường sinh thái đối với cả nước như điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ lớp đất màu trong mùa mưa lũ.

Vị trí chiến lược quan trọng của miền núi đã được thực tế lịch sử khẳng định. Từ xưa đến nay, các thế lực bên ngoài đều sử dụng địa bàn miền núi để xâm lược, xâm nhập, phá hoại sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam.

Rừng núi đã từng là căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ. Trong giai đoạn hiện nay, miền núi - biên giới là thành lũy vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về quốc phòng - an ninh trong bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chống âm mưu xâm nhập, gây bạo loạn, lật đổ, bảo vệ sự nghiệp hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ở vùng biên giới, một số dân tộc có quan hệ đồng tộc với dân tộc của các nước láng giềng, nên khách quan có nhu cầu thăm thân, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ở hai bên biên giới. Bởi vậy chính sách dân tộc của Đảng nhà nước Việt Nam không chỉ vì lợi ích các dân tộc thiểu số mà còn vì lợi ích của cả nước, không chỉ còn là đối nội mà còn là đối ngoại, không chỉ vì kinh tế - xã hội, mà cả về chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia.

Ấm áp quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19

Trong lịch sử quan hệ Việt - Lào, hình tượng “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” đã trở thành một trong những biểu tượng của tình hữu nghị cao đẹp, thủy chung và trong sáng, tượng trưng cho tinh thần sẵn sàng chia sẻ, luôn sát cánh bên nhau trong mọi hoàn cảnh của hai dân tộc Việt Nam và Lào anh em. Sự phối hợp, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau giữa hai dân tộc trong đại dịch COVID-19 suốt hơn một năm qua là một minh chứng rõ nét cho hình tượng đó. Ngày 24/3/2020, hơn 2 tháng sau khi Việt Nam phát hiện ca mắc COVID-19 đầu tiên, Lào cũng ghi nhận những ca bệnh đầu tiên tại nước này. Dù Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề và đang phải căng sức để đối phó với dịch bệnh, nhưng với truyền thống luôn kề vai sát cánh, chia ngọt sẻ bùi với nhau trong mọi hoàn cảnh, 2 ngày sau, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã điện đàm với Thủ tướng Thongloun Sisoulith và công bố hỗ trợ Lào các trang thiết bị, vật tư y tế. Những bộ quần áo bảo hộ, khẩu trang y tế, khẩu trang vải kháng khuẩn, các bộ kit xét nghiệm và hệ thống xét nghiệm Realtime PCR kèm thiết bị phụ trợ…, những thiết bị vô cùng quý giá mà Việt Nam khi đó cũng đang rất thiếu đã được chia sẻ ngay cho Lào không một chút lưỡng lự. Cũng chỉ hai tuần sau khi Lào phát hiện ca nhiễm, Việt Nam đã cử đoàn chuyên gia sang chia sẻ kinh nghiệm và giúp Lào chống dịch. Không chỉ Đảng và Nhà nước, hàng loạt các bộ, ban, ngành, tỉnh trên khắp dải đất hình chữ S dù đang rất khó khăn vẫn chắt chiu để gửi sang Lào hàng trăm nghìn khẩu trang, hàng nghìn bộ kit xét nghiệm và nhiều vật tư y tế để giúp Lào chống dịch. Tuy số lượng vật tư y tế đó chỉ đáp ứng phần nào nhu cầu khi đó của Lào, nhưng đó là những gì tốt nhất mà Chính phủ Việt Nam và người dân có thể thu xếp trong bối cảnh Việt Nam vào thời điểm đó cũng đang rất thiếu trang thiết bị, vật tư y tế để ứng phó với dịch bệnh trong nước. Đánh giá về sự hỗ trợ này, Đại sứ Lào tại Việt Nam, ông Sengphet Houngboungnuang nhấn mạnh dù còn nhiều khó khăn và thiếu thốn, chính phủ, các bộ, ban, ngành và nhân dân Việt Nam vẫn hỗ trợ và cung cấp cho Lào trang thiết bị y tế cơ bản để phòng chống dịch. Sự hỗ trợ này đã không chỉ góp phần quan trọng vào công tác phòng, chống COVID-19 tại Lào, mà một lần nữa còn thể hiện tình cảm hết sức chí tình, chí nghĩa của Đảng, chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với Đảng, chính phủ và nhân dân Lào. Bất cứ khi nào Lào gặp khó khăn, Việt Nam đều có mặt, đồng hành và chia sẻ. Tháng 4/2021, sau một năm không ghi nhận ca nhiễm nào trong cộng đồng, tình hình dịch COVID-19 tại Lào bất ngờ diễn biến phức tạp. Chỉ từ ngày 20/4 đến nay, đã có 15/18 tỉnh, thành của Lào có người mắc bệnh, số ca nhiễm trong làn sóng dịch thứ hai cũng tăng lên nhanh chóng. Tới chiều 5/5, nước này đã ghi nhận tổng cộng 1.072 ca nhiễm, gấp trên 26 lần so với tổng số ca nhiễm tại Lào trong năm 2020. Ngay khi được tin Lào có ca nhiễm đầu tiên trong cộng đồng sau một năm, Việt Nam đã đề nghị giúp đỡ và ngày 4/5, rất nhanh sau khi bạn đưa ra đề nghị hỗ trợ, một chuyến bay đặc biệt chở theo hàng triệu khẩu trang, hàng trăm máy thở, cùng nhiều vật tư y tế và tiền mặt, thể hiện cho tấm lòng của Đảng, Nhà nước và người dân Việt Nam, đã được gửi tới để hỗ trợ Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào đương đầu với đại dịch. Ngoài những vật tư y tế nói trên, theo đề nghị ngày 2/5 của Bộ trưởng Bộ Y tế Lào, trên chuyến bay đặc biệt từ Hà Nội này còn có 35 chuyên gia y tế sang giúp Lào trong công tác phòng chống dịch, thiết lập hệ thống xét nghiệm nhanh và lập bệnh viện dã chiến. Trước đó, ngày 3/5, Bộ Quốc phòng Việt Nam cũng đã gửi cho Lào số trang thiết bị, vật tư y tế trị giá 3 tỷ đồng và cử 4 chuyên gia y tế nhiều kinh nghiệm trong công tác phòng, chống dịch sang giúp lực lượng quân y Lào triển khai các công việc liên quan đến công tác phòng chống dịch COVID-19 như điều trị, xét nghiệm, hồi sức cấp cứu, những chuyên ngành mà nước bạn Lào hiện đang rất cần. Bên cạnh đó, trong những ngày qua, nhiều bộ, ngành, địa phương và tổ chức… của Việt Nam đã có nhiều hình thức giúp đỡ trực tiếp các chính quyền địa phương của Lào hoặc qua Đại sứ quán Lào tại Việt Nam. Trong bối cảnh Việt Nam cũng đang phải đối phó với các ca lây nhiễm mới trong cộng đồng với muôn vàn khó khăn, thách thức, có thể nói Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã, đang làm tất cả mọi điều có thể trong khả năng của mình để hỗ trợ Đảng, Chính phủ và nhân dân Lào đối phó với dịch bệnh. Phát biểu tại lễ tiếp nhận quà tặng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam hỗ trợ Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào ứng phó dịch COVID-19 vào sáng 4/5 tại sân bay Vattay, thủ đô Viêng Chăn, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia Lào về phòng chống COVID-19 Kikeo Khaykhamphithoune đã nhắc lại chuyến bay đặc biệt cũng chở thiết bị và vật tư y tế của Việt Nam sang giúp Lào một năm trước. Phó Thủ tướng Lào nhấn mạnh việc Việt Nam là nước đầu tiên hỗ trợ tài chính, gửi nhân lực, vật lực sang hỗ trợ Lào ứng phó với đợt bùng phát dịch lần này, thể hiện mạnh mẽ tinh thần quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước Lào - Việt Nam, Việt Nam – Lào. Lịch sử quan hệ Việt Nam – Lào đã chứng minh trong những lúc cam go, khó khăn nhất, cán bộ, đảng viên, quân và dân hai nước vẫn luôn sát cánh bên nhau, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng chung và vì nền độc lập tự do của mỗi nước. Trong giai đoạn hòa bình với nhiều thuận lợi, hai dân tộc vẫn kề vai sát cánh, không ngừng vun đắp cho mối quan hệ đoàn kết, thủy chung, son sắt và luôn sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ nhau bất cứ khi nào nước kia cần. Đây là lý do vì sao quan hệ Việt Nam-Lào luôn được coi là đặc biệt, là tài sản chung vô giá của hai Ðảng, hai dân tộc, là quy luật tồn tại và phát triển, nhân tố quan trọng bảo đảm thành công của sự nghiệp cách mạng mỗi nước.

VIỆT NAM LÀ QUỐC GIA DA DÂN TỘC

 


Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa phổ biến nhất:

Thứ nhất, chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hóa có những đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó.

Thứ hai, chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước.

Với ý nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận của quốc gia. Ví dụ: dân tộc Tày, Thái, Mường, Kinh của Việt Nam; dân tộc Choang, Hán của Trung Quốc. Với ý nghĩa thứ hai, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó. Ví dụ: Dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Ấn Độ. Trong chuyên đề này dân tộc được hiểu theo nghĩa thứ nhất.

Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc, dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Tính đến 01/4/2019, dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số cả nước. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thủa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác di cư đến rồi định cư trên lãnh thổ Việt Nam. Dân tộc tại chỗ như dân tộc Việt (còn gọi là dân tộc Kinh ngày nay); dân tộc Việt - Mường (còn gọi là dân tộc Mường ngày nay). Di cư từ Trung Quốc như dân tộc Thái, Hoa, Cao Lan, HMông, Sán Chỉ, Giáy v.v..., dân tộc HMông, Cao Lan, Sán chỉ và Giáy di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trước. Di cư  từ Lào có dân tộc Chăm. Di cư từ Camphuchia có dân tộc Kheme v.v... Thời kỳ hội nhập có một số dân tộc từ các nước khác như: Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mỹ... sang làm việc, sinh sống tại Việt Nam.

Các dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết. Đoàn kết đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và là nền móng để xây dựng một quốc gia dân tộc bền vững xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt nam.

Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, nhiều dân tộc có chung cội nguồn. Nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã có nhiều truyền thuyết như truyện: Quả bầu mẹ giải thích các dân tộc có chung nguồn gốc; truyện: Đôi chim đẻ ra hàng trăm, hàng ngàn trứng nở ra người Kinh, người Mường, người Thái, người Khơ-mú...; truyện của dân tộc Ba-na, Ê-đê kể rằng người Kinh, người Thượng là anh em một nhà; đặc biệt là truyện Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con, một nửa theo cha xuống biển trở thành người Kinh, một nửa theo mẹ lên núi thành các dân tộc thiểu số. Vua Hùng được coi là Tổ tiên chung của cả nước.

Các dân tộc có cùng nguồn gốc lịch sử, có nhiều điểm đương đồng là điều kiện thuận lợi dễ gần gũi, gắn bó với nhau. Song dù cùng hoặc không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác nhau về tâm lý, phong tục, tập quán... thì đều là người trong một nước, con trong một nhà, vận mệnh gắn chặt với nhau, các dân tộc trên đất nước Việt nam luôn kề vai, sát cánh bên nhau, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.

Việt nam ở khu vực địa lý có nhiều thuận lợi, song điều kiện tự nhiên cũng rất khắc nghiệt. Do nắng lắm, mưa nhiều nên hàng năm thường bị hạn hán, lũ lụt. Do yêu cầu tồn tại và phát triển ở một nước nông nghiệp, trồng lúa nước là chính, cư dân ở Việt Nam phải liên kết nhau lại, hợp sức để khai phá đất hoang, chống thú dữ, xây dựng các hệ thống thủy lợi, đê, đập, nhằm đảm bảo phát triển sản xuất. Trải qua nhiều thế kỷ dựng nước và giữ nước, sự gắn bó, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất của đồng bào các dân tộc đã được coi như một tiêu chuẩn đạo đức.

Cùng với lịch sử trinh phục thiên nhiên, nhân dân Việt Nam còn có lịch sử chống giặc ngoại xâm vô cùng oanh liệt. Do Việt Nam ở vào nơi thuận tiện trên trục đường giao thông Bắc - Nam, Đông - Tây của thế giới, có tài nguyên, thiên nhiên phong phú và vị trí địa lý - chính trị có tính chiến lược. Cho nên các thế lực bành trướng, xâm lược luôn nhòm ngó và tìm cách thôn tính Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt nam là lịch sử chống giặc ngoại xâm liên tục và nhiều lần, trong đó có nhiều cuộc đấu tranh chống lại những thế lực hùng mạnh, giàu có và hung bạo nhất thế giới. Chính vì vậy mà cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn sát cánh bên nhau, liên tục đứng lên chống giặc ngoại xâm, đánh thắng quân xâm lược.

Đoàn kết trong lao động và đấu tranh là truyền thống nổi bật nhất của các dân tộc Việt Nam được hun đúc qua mấy ngàn năm lịch sử. Trong sự nghiệp cách mạng do Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, truyền thống đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ, là một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Những thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới rất to lớn và đáng tự hào cho thấy khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam đã được nâng lên tầm cao và chiều sâu mới, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước, làm cho thế và lực của cách mạng Việt Nam ngày càng được tăng cường.


Thái Bình thông báo khẩn tìm người tiếp xúc ca dương tính nCoV

    Ngày 6/5, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh Thái Bình ra thông báo khẩn số tìm người có tiếp xúc với ca bệnh dương tính tại xã Bình Minh, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Những trường hợp này gồm: Tất cả công dân đi trên chuyến xe khách Mạnh Hùng, biển số 17B-012.35 xuất phát từ bến Giáp Bát (Hà Nội) vào khoảng 14h ngày 4/5 về Kiến Xương (tuyến bờ hồ Kiến Xương - Chợ Gốc).

Người đến Trung tâm dịch vụ việc làm Thái Bình ở phường Hoàng Diệu (TP Thái Bình) trong thời gian 8-10h ngày 5/5. Người đến quán nước trà đá ven đường, trước Công ty may Sơn Hà, xã Vũ inh, huyện Kiến Xương vào khoảng 10h đến 11h ngày 5/5. Những người có tiếp xúc gần với bệnh nhân từ ngày 21/4 đến 5/5. Tất cả công dân tiếp xúc cần liên hệ ngay với cơ quan y tế gần nhất để được tư vấn hỗ trợ. 

    Theo CDC Thái Bình, trường hợp ca bệnh nêu trên là ông N.T.A. (34 tuổi, ở thôn Hưng Đạo, xã Bình Minh, huyện Kiến Xương). Ông N.T.A. lên Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương chăm sóc bố ở khoa Nhiễm khuẩn. Người này có lịch trình di chuyển đến các địa điểm như thông báo nêu trên.

    Ngoài ra, tỉnh Thái Bình cũng ghi nhận 4 ca dương tính khác, gồm bà T.T.H. (44 tuổi, ở xã Tam Quang, huyện Vũ Thư), vợ bệnh nhân từng điều trị ở Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương. Trường hợp tiếp theo đáng chú ý là chùm ca bệnh 3 người trong một gia đình ở huyện Thái Thụy. Đó là bà N.T.N. (70 tuổi) và 2 con gái P.T.D. (38 tuổi) và C.T.V. (45 tuổi).

NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Theo lý luận Mác - Lênin, vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền. Vậy thì vấn đề cơ bản của chính quyền là gì? là chính quyền đó thuộc về ai? phục vụ cho ai?


Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Chính quyền đó là của dân, phục vụ lợi ích của dân. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người nói: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người.

Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”[1].

VIỆT NAM RẤT COI TRỌNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO, DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN

 


Dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là những vấn đề phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, tôn giáo. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền đ­­ược giải quyết thành công thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất ổn định xã hội. Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, phát huy dân chủ và bảo đảm nhân quyền, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.

Thực hiện tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam đã được thế giới đánh giá cao, được nhân nhiều nước trên thế giới nghiên cứu, học tập

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG NGÀY CÀNG KHỐC LIỆT

Trong quá trình xây dựng và phát triển, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng luôn chú trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong mọi hoàn cảnh và tình huống, điều đó cho thấy rất rõ quyết tâm và bản lĩnh của Đảng. Những thành quả quan trọng và kinh nghiệm của Đảng trong công tác này đã góp phần quan trọng củng cố niềm tin, tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trên con đường Đảng đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, kiên định đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bằng mọi âm mưu, thủ đoạn, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tăng cường xuất bản, tán phát nhiều loại ấn phẩm, tài liệu như: Các báo cáo, nghị quyết, dự luật của nghị viện, quốc hội một số nước phương Tây; các văn bản pháp lý của một số tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ như: Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW)…; các ấn phẩm xuất bản, như: sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi… của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước; các trang web, các chương trình phát thanh, phát hình bằng tiếng Việt;... Đặc biệt, các đối tượng này đã lập hàng nghìn trang web, blog, các ứng dụng mạng xã hội (facebook, zalo,…); hàng trăm loại báo chí, nhà xuất bản và các đài phát thanh truyền hình có chương trình tiếng Việt, tổ chức nhiều hội thảo, tọa đàm làm việc trực tiếp với các tổ chức, cá nhân phản động trong và ngoài nước… để xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng. Nội dung chính trong các hoạt động tuyên truyền này nhằm phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu đã đạt được trong các cuộc chiến tranh đã qua và trong công cuộc đổi mới, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội; nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ vừa mang tính thường xuyên, vừa mang tính cấp bách cần quyết tâm chính trị cao và sự vào cuộc, chung tay của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Một trong những trọng tâm đấu tranh là trên không gian mạng, tuy diễn ra thầm lặng nhưng ngày càng khốc liệt hơn. Đối phó, đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, xuyên tác trên mạng xã hội là quá trình lâu dài, phức tạp. Bởi vậy, mỗi công dân cần có thái độ khách quan, nhìn nhận trách nhiệm này theo hướng chủ động, tăng cường đối phó, đấu tranh, ngăn chặn để giảm thiểu tác hại, ảnh hưởng tiêu cực chứ không thể tiêu diệt nó một cách triệt để. Chỉ khi nhận thức được như vậy, sẽ có được thái độ và hành vi ứng xử phù hợp trong môi trường thông tin số, thích ứng với nó và có giải pháp căn cơ, bền vững, lâu dài. Để nâng cao “sức đề kháng” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, đặc biệt là trên trọng tâm đấu tranh không gian mạng, một trong những liều “vắc-xin” là phải cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin chính thống để nâng cao nhận thức, tri thức cho thanh niên. Điều này có ý nghĩa quan trọng giúp mỗi cá nhân đủ sức nhận thức, phân biệt đúng - sai, tích cực - tiêu cực, tốt - xấu, từ đó, tạo nên “sức đề kháng”, dần dần hình thành cơ chế “tự miễn dịch” trước những thông tin xấu độc, những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Đây là chìa khóa căn cơ lâu dài để tăng “sức đề kháng” trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Nhận diện và đấu tranh với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch

Thời điểm này, việc tiếp nhận hồ sơ đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp đã hoàn tất. Việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND đều theo đúng quy trình, quy định; có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, diễn ra dân chủ, bình đẳng, đúng trình tự pháp luật. Thực tế cho thấy, chúng ta càng làm tốt, các thế lực thù địch, phản động càng điên cuồng chống phá. Nhưng rõ ràng, những phát tán, rêu rao của những đối tượng “dân chủ mạng” chỉ có thể đánh lừa người nhẹ dạ cả tin, chứ không thể qua mặt được những người dân Việt Nam luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

 
Bởi, trong khi các “nhà dân chủ” ra sức chống đối, xuyên tạc về tình hình Việt Nam thì hơn ai hết, người dân đều thấy rõ sự thật không phải như vậy. Thành công của việc khống chế dịch bệnh Covid-19 là minh chứng khẳng định vai trò lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, quyết liệt, kịp thời của Đảng, Nhà nước, sự cố gắng của cả hệ thống chính trị. Hơn nữa, điều này còn thể hiện sức mạnh đoàn kết, truyền thống yêu nước, tinh thần tương thân tương ái của người Việt Nam, qua đó góp phần củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự quản lý nhà nước và khẳng định tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của chế độ ta, hệ thống chính trị của nước ta. Việc Moody’s (Tổ chức xếp hạng tín nhiệm) mới đây đã nâng triển vọng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam lên mức Tích cực (tăng hai bậc) là chưa từng có tiền lệ trong xếp hạng tín nhiệm của tổ chức này trên toàn cầu kể từ đại dịch Covid-19 . Đây cũng là sự ghi nhận đối với Việt Nam trong điều hành chính sách vĩ mô hiệu quả, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong việc kiểm soát thành công dịch Covid-19, đưa nền kinh tế phục hồi trở lại đạt những thành quả hết sức tích cực. Uy tín của Việt Nam đã được quốc tế công nhận. Thế nhưng, với những “nhà dân chủ”, họ đã làm được những gì ngoài việc ra sức xuyên tạc, bóp méo về tình hình kinh tế của Việt Nam, vì mục đích gì thì ai cũng rõ!
 
Chính vì thế, hơn ai hết, mỗi người dân cần phải sáng suốt nhìn nhận bản chất của những thế lực thù địch, của những đối tượng phản động, nhận diện được mưu đồ của chúng để đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Sự đồng thuận, đồng lòng, ủng hộ của mỗi người dân chính là sức mạnh to lớn để Đảng ta vững vàng chèo lái, dẫn dắt đất nước vượt qua khó khăn. Đất nước ổn định, kinh tế phát triển là điều mà ai cũng mong muốn, chỉ có những kẻ thù địch, phản động mới muốn chia rẽ, chống phá hòng thực hiện mưu đồ đen tối của chúng.
 
Những gì mà chúng ta đang làm, được cả thế giới ghi nhận là câu trả lời đanh thép cho những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật. Nhìn từ bài học của Myanmar, chúng ta cần tỉnh táo trước chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” của các thế lực thù địch lợi dụng chống phá Việt Nam hiện nay. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước cùng với lòng yêu nước, sự đoàn kết đoàn kết toàn dân tộc, chúng ta tin tưởng sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Một bác sĩ trưởng khoa Bệnh viện Quân y 105 dương tính SARS-CoV-2

    Trưa 6-5, Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) Hà Nội cho biết vừa ghi nhận một ca dương tính SARS-CoV-2 mới. Đó là bác sĩ N.V.T. (SN 1978; quê quán ở xã Cẩm Tú, Cẩm Thủy, Thanh Hóa; hộ khẩu thường trú tại Hà Nội). Bác sĩ T. là trưởng một khoa tại Bệnh viện Quân y 105 (thị xã Sơn Tây), đang học tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương cơ sở 2.

Một bác sĩ trưởng khoa Bệnh viện Quân y 105 dương tính SARS-CoV-2 - Ảnh 1.

Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương cơ sở 2 đang có hàng chục ca nhiễm Covid-19

Qua điều tra dịch tễ, lịch trình của BN như sau: 
Ngày 28 đến 29-4: BN trực tại khoa A4, BV 105.
Tối 29-4: BN đi ăn tối tại quán Trâu Kim Sơn cùng mẹ, vợ, 2 con và 5 người ở phường Xuân Khanh.
Ngày 30-4: 10 giờ đến 15 giờ, BN cùng vợ và 2 con đi TP Yên Bái bằng xe riêng. Trong thời gian này, BN chỉ tiếp xúc với mẹ vợ là Đ.T.L. (SN 1960, địa chỉ tại tổ 41, phường Hồng Hà, TP Yên Bái).
Ngày 1-5: Lúc 11 giờ, BN đi ăn trưa tại nhà dì ở địa chỉ 62 Trung Sơn Trầm, Sơn Tây, Hà Nội gồm 6 người, trong đó 2 người đã cách ly tại BV 105. Một người khác đang ở Phúc Diễn, Bắc Từ Liêm, làm việc ở Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga - Hà Nội.
Chiều 1-5: BN tiếp xúc giữ khoảng cách và đeo khẩu trang với 2 người ở huyện Phúc Thọ.
Ngày 2-5: BN về thị trấn Cẩm Thủy, Thanh Hóa đi xe riêng có tiếp xúc với 5 người (BN đã báo cho những người ở Thanh Hóa về kết quả của mình). Sau đó về Sơn Tây, tại nhà có khám điều trị cho 1 người là ông N.V.L. (SN 1962 ở địa chỉ 127 đường 88, phố Vị Thủy, Sơn Tây).
Ngày 3 đến 4-5: BN học và trực tại BV Nhiệt đới cơ sở II, chiều 4-5 về Sơn Tây.
17 giờ ngày 4-5: Rửa xe tại Gara Đức Việt, phố Chùa Thông, Sơn Tây và tiếp xúc với 3 người.
18 giờ ngày 4-5: BN cắt tóc tại nhà vợ chồng anh và tiếp xúc với 2 người.
19 giờ 30 ngày 4-5: Khám cho cháu N.X.A. (sinh năm 2021 ở cụm 2,Thọ Lộc ,Sơn Tây) và có 3 người nhà đi cùng.
Ngày 4-5-2021: BN tự cách ly tại nhà
Ngày 5-5-2021: BN xuống Bệnh viện Nhiệt đới Trung Ương và được lấy mẫu làm xét nghiệm, kết quả dương tính với SARS-CoV-2.
Hiện, lực lượng chức năng đang tiếp tục thực hiện truy vết các trường hợp liên quan đến ca dương tính này để thực hiện cách ly, phòng dịch Covid-19.

Giải quyết vấn đề Biển Đông - rất cần cái nhìn khách quan, tỉnh táo

Thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông xuất hiện những biến động phức tạp, các thế lực thù địch một lần nữa lại lợi dụng vấn đề này để bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, từ đó khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan. Trước hết, phải tái khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và vấn đề Biển Đông nói riêng, lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này. Bởi vậy, dù tình hình trên biển nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới. Ấy vậy mà gần đây, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, dù chưa biết diễn biến ở thực địa "nóng, lạnh" ra sao, một số đối tượng vẫn “cầm đèn chạy trước ô tô”, kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo sự thật... Những luận điệu đó thực chất là chiêu bài kích động hận thù dân tộc, khiến cho tình hình thêm căng thẳng, nhằm thực hiện chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mưu đồ tạo ra một cuộc xung đột quân sự với hậu quả khó lường. Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam và những cuộc chiến tranh trên thế giới đã chứng minh cho hậu quả nghiêm trọng của xung đột vũ trang. Người dân Việt Nam hơn ai hết mong muốn hòa bình, ổn định và phát triển. Do đó, với vấn đề Biển Đông, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng, bất khả kháng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Nhân đây, cũng cần khẳng định lại rằng, bên cạnh việc kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện hòa bình, dựa trên chứng cứ pháp lý, lịch sử và luật pháp quốc tế, lực lượng vũ trang Việt Nam vẫn ngày đêm bám biển, sẵn sàng canh giữ và thực hiện các phương án bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Cũng từ vấn đề Biển Đông, các thế lực thù địch rêu rao rằng Việt Nam đi với nước này chống nước kia. Thực tế có phải như vậy? Nên nhớ rằng, trong xu thế hợp tác và phát triển của thế giới, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, song tuyệt nhiên không có tư tưởng và hành động dựa dẫm, ỷ lại hoặc "lôi bè kéo cánh" để giải quyết bất đồng về chủ quyền lãnh thổ. Chính sách không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, là những quan điểm, chính sách nhất quán, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Bởi vậy, cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia là luận điệu xuyên tạc, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại, hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định. Tiếc rằng, một số người vẫn dễ dàng sập bẫy bởi những quan điểm xuyên tạc kiểu này trên mạng xã hội hoặc trong lúc trà dư tửu hậu. Hậu quả là tâm lý của một bộ phận dư luận trong nước bất an, thậm chí dẫn tới những hành động gây mất ổn định trật tự xã hội, ít nhiều làm tổn hại đến những nỗ lực của Việt Nam và các nước liên quan trong giải quyết vấn đề Biển Đông. Suy cho cùng, vấn đề Biển Đông không phải là việc có thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà cần sự kiên trì, lâu dài. Để góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước rất cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông, về đường lối, chủ trương giải quyết vấn đề này của Đảng và Nhà nước, đồng thời tỉnh táo, cảnh giác, phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc, kích động mà những phần tử xấu đã và đang rắp tâm tạo ra./.

Những chiêu trò chống phá bầu cử

 

Càng gần đến ngày bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp, các thế lực thù địch lại càng điên cuồng ra sức chống phá bằng những chiêu trò bình cũ rượu cũ. Thực chất âm mưu chống phá của các thế lực phản cách mạng trước bầu cử là nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các phần tử này đã xác định bấy lâu nay.
 
Những chiêu trò cũ
 
Lợi dụng sự phát triển của Internet, nhất là mạng xã hội để tuyên truyền, công kích, lôi kéo người dân tham gia các hội, nhóm trá hình trên không gian mạng là chiêu trò không mới của các thế lực thù địch, phản động, phần tử chống đối, cơ hội chính trị trong và ngoài nước. Để thực hiện âm mưu đen tối của mình, các tổ chức phản động như: Việt Tân, Quỹ người Thượng, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, Triều đại Việt… đã tiến hành nhiều phương thức khác nhau, ra rả luận điệu “phản biện xã hội”, đấu tranh vì “dân chủ”, “nhân quyền”, xây dựng “xã hội dân sự”, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ… nhưng thực chất là để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; Chiêu bài không mới nhưng nếu không nhận diện và cảnh giác, kịp thời đấu tranh, nhiều người sẽ trở thành những con mồi ngon của chúng.
 
Thời gian qua, Việt Tân đã cho lập mới hơn 300 tài khoản và nhiều diễn đàn kín, duy trì gần 1.000 tài khoản mạng xã hội, đăng tải, chia sẻ những bài viết, thông tin tiêu cực trong xã hội để thổi phồng, phá hoại tư tưởng. Thực chất âm mưu của chúng là thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập cán bộ, đảng viên, từng bước “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Bên cạnh đó, chúng sử dụng thư điện tử phát tán các tài liệu phản động với tiêu đề: “Hiến pháp Việt Nam năm 2021”, “Giải trình Hiến pháp Việt Nam năm 2021”…, kích động số đối tượng chống đối, cơ hội chính trị trong nước thành lập các hội, nhóm, lôi kéo người dân tham gia chống phá bầu cử, gây phức tạp tình hình an ninh, trật tự. 
 
Một chiêu trò khác mà các tổ chức phản động thường sử dụng trước những cuộc bầu cử là hô hào, cổ vũ phong trào “ứng cử tự do”. Các ứng viên này như thế nào thì ai cũng có thể thấy rõ, toàn những đối tượng coi việc “tự ứng cử” là một trò kiếm cơm mới để hành nghề “dân chủ”. Đối tượng nào có hoạt động chống phá càng quyết liệt thì càng “nổi”, dễ dàng nhận được các “giải thưởng nhân quyền”, kêu gọi sự chống lưng, giúp sức của các tổ chức bên ngoài và kèm theo đó là tiền hỗ trợ cho hoạt động chống đối của các tổ chức này. Có thể thấy rõ bản chất của những “nhà dân chủ” này là khi bị loại thì lấy cớ để xuyên tạc công tác bầu cử, chê bai, công kích thể chế, công kích Đảng, công kích Nhà nước rồi đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Đến đây thì ai cũng biết mục đích cuối cùng của bọn chúng là để tiến hành chống phá về mặt chính trị, hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình”.

"MỤC TIÊU KÉP" VÀ "ĐỐI TƯỢNG KÉP"

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có “mục đích kép”, đó là: 1) Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ nhân dân, bảo vệ sự toàn vẹn, thống nhất của quốc gia dân tộc. 2) Đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch, phản động, chống đối, các phần tử cơ hội, thoái hóa, biến chất. Hai mục đích này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa “xây” và “chống”, thể hiện quy luật tồn tại và phát triển của hệ tư tưởng XHCN. Mục đích bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chỉ đạt đượckhi chúng ta kiên định nền tảng tư tưởng đã xác định, phát triển và vận dụng sáng tạo, thực hiện thành công nền tảng tư tưởng đó trong thực tiễn cách mạng; đồng thời, khi chúng ta thực hiện thành công cuộc đấu tranh phản bác, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta, cũng như âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc lịch sử dân tộc và lịch sử cách mạng, xuyên tạc, bịa đặt tình hình đất nước. Không thể nói rằng công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tách rời, độc lập với cuộc đấu tranh phản bác, phê phán quan điểm sai trái, thù địch. Không thể cho rằng “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, sự hiện diện của quan điểm sai trái, thù địch là “báo động giả” như quan niệm mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác của một số người nào đó. Ngược lại, cũng không thể phiến diện, cực đoan, tả khuynh cho rằng đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch là mục đích tối thượng của cuộc đấu tranh tư tưởng ở nước ta hiện nay. Bản chất, nội dung của cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa là xây dựng chế độ XHCN, trong đó có xây dựng kiến trúc thượng tầng XHCN về mặt hình thái ý thức, là làm cho chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta trở thành nhân tố chi phối, thống trị trong đời sống tinh thần xã hội. Cuộc cách mạng XHCN trong lĩnh vực tư tưởng - văn hóa có mục đích phát triển, sáng tạo, hoàn thiện chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đề ra đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn.Trong quá trình này, việc phủ định, đấu tranh phản bác các quan điểm trái với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật là quy luật phát triển của chính chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối, chính sách, pháp luật.Chính vì vậy, trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, việc xác định các phương hướng, nhiệm vụ, quan điểm, giải pháp cần phải quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo kết hợp giữa “xây”và “chống”, trong “xây” có “chống”, trong “chống”có “xây”, “xây” để “chống”, “chống” để “xây” và “xây” là mục đích cao nhất. Mặt khác, công cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch có “đối tượng kép”. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có đối tượng khác với đấu tranh phê phán, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch chỉ rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, bảo vệ Nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Đây là chỉ dẫn cô đọng về đối tượng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Còn trong cuộc đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch - một phương diện của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - đối tượng đấu tranh, phản bác, phê phán gồm: Chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch trong các nước tư bản chủ nghĩa, giới nghiên cứu lý luận phục vụ chính giới của các nước này; các phần tử phản động chống đối Đảng, chống đối chế độ, người Việt Nam lưu vong ở nước ngoài có hận thù với cách mạng Việt Nam; các phần tử cơ hội, một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất; một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân trong đó có một số nhà văn, nhà báo, trí thức, văn nghệ sĩ có nhận thức sai lệch về chủ nghĩa Mác -Lê nin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tình hình đất nước hiện nay cũng như lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng. Rõ ràng, mỗi đối tượng tác động của hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch có mục đích khác nhau, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay trong nhận thức cũng như trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ “bảo vệ” và “đấu tranh”, có lúc, có nơi,chúng ta chưa phân biệt tường minh các nhóm đối tượng khác nhau, chưa có phương pháp, nhiệm vụ, giải pháp đấu tranh, xử lý khác nhau, phù hợp. Do đó, phương pháp, nhiệm vụ, giải pháp chưa có những đặc thù phù hợp các nhóm đối tượng đặc thù, tương ứng với mục tiêu đặt ra trong các nhóm đối tượng ấy.