Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng điện đàm với Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba
Việt Nam thực hiện tốt vấn đề dân chủ
Nhận thức về xây dựng và phát huy dân chủ
của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân ngày càng sâu sắc hơn.
Thể chế thực thi các quyền dân chủ của
nhân dân từng bước được xác lập và cụ thể hóa trên tất cả các lĩnh vực. Điều 6,
Hiến pháp năm 2013 quy định
rõ các hình thức thực hiện dân chủ: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng
hình thức dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng
nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Hiến pháp năm 2013 dành riêng chương II
với 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) quy định cụ thể về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân.
Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Tăng cường và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức và công dân, kiên quyết sử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu ở nhiều cấp ủy đảng, chính quyền đã tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Dân chủ ở Việt Nam được thực hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
Về chính trị, Đảng
và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định nguyên tắc tối cao là tất cả quyền lực
thuộc về nhân dân trong tổ chức và hoạt động của mình; động viên toàn dân xây
dựng đường lói của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội với các hoạt động của
hệ thống chính trị. Mọi người dân có quyền ứng cử, đề cử, bầu cử vào các cơ quan
quyền lực Nhà nước; quyền thực hiện đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước.
Về kinh tế, được thể hiện trong đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa; cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức
tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên nhiều hình thức sở hữu, trong đó
sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.
Dân
giàu là mục tiêu của Nhà nước, của toàn xã hội. Mọi người dân có quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt với các tư liệu sản xuất; tham gia vào các hoạt động quản lý nền
kinh tế; tham gia quá trình
phân phối và phân phối lại sản phẩm xã hội.
Về văn hóa - xã hội, mọi người dân
có quyền được thưởng thức và sáng tạo các giá trị văn hóa; quyền được học hành, phát triển, tự do đi lại, cư trú, tự do tôn giáo...;
quyền được có việc làm, đảm bảo an
sinh xã hội...
Về quốc phòng, an ninh, mọi người
dân có quyền được thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; quyền được tham gia các hoạt động đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội và
được đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản theo quy định của pháp luật.
Sự thật về cái gọi là liên minh ma quỷ trong vụ giết người rúng động ở Nghệ An
Gần đây, vụ án nổ súng tàn sát hai người tại Nghệ An đã trở thành “miếng bánh” béo bở cho các đối tượng, tổ chức chống phá lợi dụng.
Về bản chất, vụ án trên thuần túy là một vụ án hình sự. Tuy nhiên, lợi dụng tính chất nghiêm trọng của vụ án, thời gian diễn ra nhạy cảm (vào ngày lễ 30/4), nhận được sự quan tâm chú ý của dư luận, các đối tượng, tổ chức chống phá đã triệt để xuyên tạc, lợi dụng nó để công kích chính quyền. Như mới đây, đối tượng Đỗ Ngà đã nhanh chóng múa bút, tô vẽ màu sắc chính trị cho vụ án. Cùng với đó là nhiều bài viết đã được Đỗ Ngà tung ra như “Liên minh đỏ đen, hình ảnh từ nhóm lợi ích Nghệ An”, “Sự mâu thuẫn phơi bày bản chất”… Những bài viết này sau đó đã được các đối tượng, tổ chức chia sẻ, lan tuyền trên mạng xã hội.
Một số chính sách mới của Chính phủ có hiệu lực từ tháng 5/2021
DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM MANG BẢN CHẤT NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Dân
chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, là quyền tự do bình đẳng của nhân dân trong
đời sống xã hội, gắn liền với những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định.
Dân
chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ánh những quyền cơ bản của
con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, một chế độ
chính trị - xã hội mà ở đó những quyền cơ bản của con người (tự do, bình đẳng,
tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng…) được pháp luật thừa nhận và bảo vệ;
đồng thời những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc như: quyền lực
thuộc về nhân dân, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, thiểu số phục tùng
đa số, quyền tự do tư tưởng, ý chí hành động, bầu cử tự do và công bằng… để quy
định quyền lợi, trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược
lại.
Bàn
đến dân chủ là phải bàn đến bản chất, nội dung, hình thức, mức độ, tính chất
của dân chủ; trong đó bản chất của dân chủ là yếu tố quyết định nhất quy định
các yếu tố khác. Dân chủ mang bản chất giai cấp, bản chất của dân chủ do bản
chất của chế độ xã hội, bản chất của nhà nước, bản chất của hệ thống pháp luật
quy định; ngoài ra dân chủ còn phụ thuộc vào truyền thống của dân tộc, phương
thức sản xuất, phẩm chất năng lực của đội ngũ công chức nhà nước, ý thức thực
hành dân chủ của công dân, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội hiện
tại ở mỗi quốc gia.
Sự
hình thành và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự ra đời của
chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đó là dân chủ có bản chất tốt dẹp nhất
trong toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam và tiến bộ xã hội của
nhân loại cho đến nay; đồng thời đó là kết quả của quá trình đấu tranh kiên
cường, bất khuất của nhân dân và toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam; được đánh dấu bằng sự kiện lịch sử vĩ đại đó là cách
mạng Tháng tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Trải qua hơn
60 năm dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không ngừng được xây dựng, hoàn
thiện và đã đạt được những thành tựu to lớn.
Chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa,
mang bản chất của giai cấp công nhân. Chủ thể của quyền lực chính trị ở Việt
Nam là đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở Việt
Nam mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Ở Việt Nam mọi quyền sở hữu đều dựa
trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; mọi tổ chức của hệ thống chính trị
đều được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của giai cấp
công nhân; mọi công dân bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ; mọi hành
vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân và lợi dụng dân chủ làm tổn hại lợi ích
của nhân dân và Tổ quốc đều phải được phê phán và nghiêm trị. Những tệ quan
liêu, tham nhũng, lãng phí và vô trách nhiệm, lạm quyền và xâm phạm quyền làm
chủ của nhân dân đều phải được ngăn ngừa và trừng trị. Pháp chế xã hội chủ
nghĩa luôn được tăng cường, trách nhiệm công dân luôn được đề cao, tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện các cơ chế và biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng
ngừa, ngăn chặn và sử lý nghiêm những sai phạm làm suy thoái và biến chất quyền
lực nhà nước của nhân dân.
Việt Nam thực hiện tốt công tác tôn giáo
Công tác tôn
giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ chức sắc… hưởng ứng và tham
gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
đạt được nhiều tiến bộ.
Đồng bào các tôn
giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
thời kỳ đổi mới đất nước.
Các tổ chức tôn
giáo ở nước ta đã xây dựng được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt
động gắn bó với dân tộc theo hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước
công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi
mới đất nước.
Các ngành, các
cấp đã chủ động, tích cực thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và
Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo,
đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch.
Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam mang đậm nét cảm tính, tâm lý.
Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao
động, trong đó chủ yếu là nông dân. Từ lối sống mang đậm nét tiểu nông, nên
nhiều tín đồ tôn giáo ở Việt Nam tuy khá sùng đạo nhưng lại không hiểu rõ giáo
lý, thậm chí ra nhập đạo chỉ do sự lan truyền tâm lý, do sự lôi kéo. Đối với bộ
phận khá lớn cư dân Việt nam, tôn giáo thuần tuý là lĩnh vực tình cảm, tâm lý,
nó như cái gì bình thường tự nhiên, đây cũng là một nguyên nhân khiến người
Việt Nam có thái độ dung hoà, cởi mở khi tiếp nhận các tôn giáo. Tín đồ các tôn
giáo ở Việt Nam có nhu cầu cao trong sinh hoạt tôn giáo, nhất là những sinh
hoạt tôn giáo mang tính chất lễ hội. Một bộ phận tín đồ của một số tôn giáo vẫn
còn mê tín dị đoan, thậm trí cuồng tín dễ bị các phần từ thù địch lôi kéo.
“Năm 2019 là một năm tàn bạo đối với các quyền tự do căn bản ở Việt Nam" - Sự bịa đặt trắng trợn của HRW
Ngày 14-1-2020, HRW đã ra cái gọi là “Báo cáo Thế giới 2020” điểm lại bức tranh nhân quyền của khoảng 100 quốc gia... Phần nói về Việt Nam, báo cáo này viết: “Năm 2019 là một năm tàn bạo đối với các quyền tự do căn bản ở Việt Nam khi chính quyền kết án tù ít nhất 30 nhà hoạt động và bất đồng chính kiến”;... Trước khi đưa ra bản báo cáo này, HRW đã không ít lần đòi trả tự do cho một số đối tượng mà họ khoác lên chiếc áo “nhà dân chủ”; “nhà hoạt động nhân quyền”;... đang thụ án do vi phạm pháp luật Việt Nam.
Các tôn giáo ở Việt Nam hoạt động ôn hòa, hòa quyện mà không hợp nhất.
Trong lịch sử các tôn giáo ở Việt Nam có
lúc chung sống không thật yên ả, nhưng về cơ bản tôn trọng lẫn nhau, không đối
đầu, không có chiến tranh tôn giáo, chỉ có các lực lượng chính trị lợi dụng vấn
đề tôn giáo để hòng chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, nhưng chúng
đều thất bại. Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có tính dung hợp, đan xen, hòa
đồng, dễ chấp nhận sự hiện diện của các vị thần, thánh của các tôn giáo khác.
Những người theo tôn giáo khác nhau không xa lánh người mình thờ phụng; có thể
sống chung trong một làng, một dòng họ, thậm chí một gia đình.
VIỆT NAM LÀ QUỐC GIA ĐA TÔN GIÁO
Tín ngưỡng là
niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, lực lượng, một điều
gì đó và thông thường để chỉ niềm tin tôn giáo.
Tôn giáo thường
được hiểu là một trong những hình thức của tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm các yếu
tố sau: Hệ thống giáo lý; giáo luật, lễ nghi; các chức sắc, tổ chức giáo hội;
vật chất phục vụ cho các hoạt động tôn giáo và các tín đồ.
Mê tín dị đoan
là hiện tượng xã hội tiêu cực đã xuất hiện từ lâu và còn tồn tại ở xã hội hiện
đại. Trên thực tế mê tín dị đoan thường xen vào các hoạt động tín ngưỡng, tôn
giáo. Xác định hiện tượng này chủ yếu dựa vào biểu hiện và hậu quả tiêu cực của
nó.
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời
và phát triển từ hàng ngàn năm nay. Quá trình tồn tại và phát triển của tôn
giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý,
đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia.
Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín
ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt
Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi
rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo trên thế giới.
Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân
tộc. Mỗi dân tộc đều lưu giữ các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng mình.
Người Việt có các hình thức dân gian như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành
hoàng, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh,
nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng bào các dân tộc thiểu
số với hình thức tín ngưỡng nguyên thủy (còn gọi là tín ngưỡng sơ khai) như Tô
tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo.
Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc
từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ
phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin Lành; có tôn giáo sinh ra tại Việt Nam như
Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo
luật, lễ nghi và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có tôn
giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có tôn giáo chưa ổn định, đang trong
quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp.
Ước tính đến nay ở Việt Nam có khoảng 95%
dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng ở Việt Nam rất đa dạng, bao
gồm: Tín ngưỡng thờ cúng Việt Nam; tín ngưỡng thờ Thành hoàng; tín ngưỡng thờ
anh hùng dân tộc; tín ngưỡng thờ Mẫu. Về tôn giáo, ở Việt Nam hiện nay
có 43 tổ chức, hệ phái tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, trong đó có 6 tôn giáo lớn,
có 2 tôn giáo nội sinh là Phật giáo Hoà hảo và Đạo Cao đài.
Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng,
tôn giáo nói trên, người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế
giới. Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo đã góp
phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên đó là những
khó khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo
nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể.
Siêu lây nhiễm tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương cơ sở 2
Theo tin từ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội, tính đến 12h ngày 6-5, tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương cơ sở 2 đã ghi nhận 42 ca dương tính với vi rút SARS-CoV-2.Trong 42 ca này, có 33 ca tại 14 tỉnh, thành phố: Yên Bái, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Sơn La, Quảng Ninh, Phú Thọ, Nam Định, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Hòa Bình, Hưng Yên, Lạng Sơn; và 9 ca tại Hà Nội, ghi nhận ở 5 quận, huyện, thị xã: Đông Anh, Sóc Sơn, Nam Từ Liêm, Sơn Tây và Ba Đình.
Hà Nội vận động người dân không ra khỏi nhà khi không cần thiết
Việt Nam thực hiện tốt công tác dân tộc
Quyền tự quyết, bình đẳng giữa các dân tộc
được đảm bảo
Các
dân tộc luôn được bảo đảm quyền bình đẳng trên các lĩnh vực, quyền bình đẳng về
chính trị của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được nâng cao. Trong những
năm qua, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số trong các khoá quốc hội
luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với người dân tộc thiểu số của cả nước. Ở địa
phương, người dân tộc thiểu số cũng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tham gia hội đồng
nhân dân. Nhiều người dân tộc thiểu số đã và đang giữ những chức vụ quan trọng
trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước.
Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ngày
càng được cải thiện
Với sự quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước, cả
hệ thống chính trị và toàn dân, hiện nay đã hạn chế gia tăng khoảng cách giàu
nghèo, chênh lệch phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo
trong vùng dân tộc giảm bình quân từ 3% đến 4%/ năm. Bộ mặt vùng dân tộc miền
núi, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc thay đổi rõ rệt.
Hệ thống chính trị vùng dân tộc ngày càng
vững chắc
Hiện nay, có nhiều cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học. Năng
lực, trình độ cán bộ xã, phường ngày càng nâng cao, phát triển đảng người dân
tộc được trú trọng. Hoạt động
của cấp uỷ, chính quyền, mặt trận và đoàn thể ở nhiều nơi đạt hiệu quả.
Mỗi dân tộc ở Việt Nam đều có sắc thái văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng nhưng thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Cùng với nền
văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc có ngôn ngữ (tiếng nói,
chữ viết), phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, kiến trúc, ẩm thực, nghệ
thuật dân gian, trang phục riêng... tạo nên một nền văn hóa đa dạng nhưng thống
nhất trong nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc...Sự phát
triển rực rỡ bản sắc văn hóa mỗi dân tộc, càng làm phong phú nền văn hóa của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên nếu không có chính sách đúng, không
tôn trọng văn hoá của nhau sẽ tạo nên xung đột văn hoá, hoà trộn văn hoá, phai
nhạt, mất dần bản sắc văn hoá từng tộc người.
Sự nghiệp xây
dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới đang hướng vào việc củng
cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân
tộc. Đồng thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa của
các dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát
triển từng dân tộc.
Các dân tộc có dân số và trình độ phát triển kinh tế- xã hội không đều nhau
Hiện nay, dân tộc kinh chiếm khoảng 85,3`%
dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số còn lại chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước.
Các dân tộc thiểu số có 6 dân tộc có số dân 1 triệu người trở lên như: Tày,
Thái, Mường, Nùng, Mông, Khơ me; 33 dân tộc có dân số từ 10 nghìn người đến 1
triệu người; 14 dân tộc dưới 10 nghìn người, trong đó có một số dân tộc chỉ có
mấy trăm người như dân tộc: Ơ đo, Pu
péo, Si la, Brâu, Rơ măm...
Do những nguyên nhân lịch sử, xã hội và
hoàn cảnh tự nhiên nên các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế xã
hội không đều nhau. Các dân tộc sống ở vùng thấp có trình độ phát triển kinh tế
- xã hội cao hơn các dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Hiện
nay có một số dân tộc đạt trình độ phát triển tương đối cao như Tày, Thái,
Mường, Nùng, Ngái, Sán Dìu... Các dân tộc này biết canh tác ruộng nước, biết
sản xuất hàng hoá, cư trú ở vùng thấp, đô thị.
Một số dân tộc có trình độ phát triển thấp như La hủ, Cống, Mảng, Chứt...,
do sống bằng canh tác nương rẫy, tự cung, tự túc, cư trú ở vùng cao khó khăn,
vùng sâu, vùng xa, quen với cuộc sống du canh, du cư...
Bên cạnh nguyên nhân lịch sử và hoàn cảnh
tự nhiên, còn có nguyên nhân chủ yếu là do hậu quả của sự áp bức, bóc lột của
chế độ thực dân, phong kiến và đất nước phải liên tục đối phó với chiến tranh
xâm lược trong nhiều năm. Đây là nguồn gốc của sự không bình đẳng giữa các dân
tộc trên thực tế. Giải quyết hậu quả lịch sử này phải có quá trình phấn đấu
tích cực, bền bỉ, lâu dài mới làm cho các dân tộc từng bước tiến kịp trình độ
chung.
Tỷ lệ người dân Việt Nam hài lòng với các biện pháp của chính phủ trong kiểm soát đại dịch COVID-19 cao nhất thế giới
Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán, xen kẽ nhau; các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú trên các địa bàn có giá trị chiến lược
Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú
tương đối tập trung. Song nhìn chung các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau,
không có lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới. Địa bàn cư trú của
người Kinh chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du; còn các dân tộc ít người
cư trú chủ yếu ở các vùng miền núi và vùng cao, một số dân tộc như Khơ me, Hoa,
Chăm sống ở đồng bằng. Các dân tộc thiểu số có sự tập trung ở một số vùng,
nhưng không cứ trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc
khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã và các bản, mường. Hiện nay, hầu như
không có một đơn vị hành chính xã, huyện, tỉnh, nào ở vùng dân tộc thiểu số chỉ
có một dân tộc cư trú. Nhiều tỉnh có tới trên 20 dân tộc cư trú như Lai Châu,
Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quan, Lâm Đồng... Phần lớn các huyện có từ 5
dân tộc trở lên cư trú. Nhiều xã, bản, mường có tới 3 đến 4 dân tộc cùng sinh
sống.
Việc cư trú đan xen giữa các dân tộc, tạo
điều kiện để các dân tộc giao lưu phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc
phòng - an ninh, nhưng cũng rất dễ nảy sinh các vấn đề mất ngôn ngữ, văn hoá,
phân hoá giàu nghèo, tranh chấp đất đai, tài nguyên, gia tăng các tệ nạn xã
hội, tiềm ẩn xung đột dân tộc. Ngày nay, tình trạng cư trú xen kẽ của các dân
tộc chủ yếu dẫn tới sự giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc cũng
như sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, càng có thêm điều kiện đoàn kết và hòa hợp giữa
các dân tộc anh em.
Các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú ở miền
núi, chiếm ¾ diện tích cả nước. Đây là khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế
to lớn mà trước hết là tiềm lực về tài nguyên rừng và đất rừng. Không những
thế, miền núi còn có vai trò đặc biệt quan trọng về môi trường sinh thái đối
với cả nước như điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ lớp đất màu
trong mùa mưa lũ.
Vị trí chiến lược quan trọng của miền núi
đã được thực tế lịch sử khẳng định. Từ xưa đến nay, các thế lực bên ngoài đều
sử dụng địa bàn miền núi để xâm lược, xâm nhập, phá hoại sự nghiệp dựng nước và
giữ nước của nhân dân Việt Nam.
Rừng núi đã từng là căn cứ địa cách mạng
trong kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ. Trong giai đoạn hiện nay, miền núi -
biên giới là thành lũy vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về quốc
phòng - an ninh trong bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chống âm mưu xâm
nhập, gây bạo loạn, lật đổ, bảo vệ sự nghiệp hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã
hội.
Ở vùng biên giới, một số dân tộc có quan
hệ đồng tộc với dân tộc của các nước láng giềng, nên khách quan có nhu cầu thăm
thân, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ở hai bên biên giới.
Bởi vậy chính sách dân tộc của Đảng nhà nước Việt Nam không chỉ vì lợi ích các
dân tộc thiểu số mà còn vì lợi ích của cả nước, không chỉ còn là đối nội mà còn
là đối ngoại, không chỉ vì kinh tế - xã hội, mà cả về chính trị, quốc phòng, an
ninh quốc gia.
Ấm áp quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19
VIỆT NAM LÀ QUỐC GIA DA DÂN TỘC
Dân
tộc được hiểu theo hai nghĩa phổ biến nhất:
Thứ
nhất, chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung
sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hóa có những đặc thù; xuất hiện sau
bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ
tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó.
Thứ
hai, chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ
quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất
của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn
hóa và truyền thống đấu tranh chung suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và
giữ nước.
Với
ý nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận của quốc gia. Ví dụ: dân tộc Tày,
Thái, Mường, Kinh của Việt Nam; dân tộc Choang, Hán của Trung Quốc. Với ý nghĩa
thứ hai, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó. Ví dụ: Dân tộc Việt Nam,
dân tộc Trung Hoa, dân tộc Ấn Độ. Trong chuyên đề này dân tộc được hiểu theo
nghĩa thứ nhất.
Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc,
dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Tính đến
01/4/2019, dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân
số cả nước. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển
trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thủa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác di cư
đến rồi định cư trên lãnh thổ Việt Nam. Dân tộc tại chỗ như dân tộc Việt (còn
gọi là dân tộc Kinh ngày nay); dân tộc Việt -
Mường (còn gọi là dân tộc Mường ngày nay). Di cư từ Trung Quốc như dân tộc
Thái, Hoa, Cao Lan, HMông, Sán Chỉ, Giáy v.v..., dân tộc HMông, Cao Lan, Sán
chỉ và Giáy di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trước. Di cư từ Lào có dân tộc Chăm. Di cư từ Camphuchia
có dân tộc Kheme v.v... Thời kỳ hội nhập có một số dân tộc từ các nước khác
như: Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mỹ... sang làm
việc, sinh sống tại Việt Nam.
Các dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết.
Đoàn kết đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và là nền móng để
xây dựng một quốc gia dân tộc bền vững xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử của dân
tộc Việt nam.
Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, nhiều
dân tộc có chung cội nguồn. Nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã có nhiều
truyền thuyết như truyện: Quả bầu mẹ giải thích các dân tộc có chung nguồn gốc;
truyện: Đôi chim đẻ ra hàng trăm, hàng ngàn trứng nở ra người Kinh, người
Mường, người Thái, người Khơ-mú...; truyện của dân tộc Ba-na, Ê-đê kể rằng
người Kinh, người Thượng là anh em một nhà; đặc biệt là truyện Lạc Long Quân
lấy bà Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con, một nửa theo cha
xuống biển trở thành người Kinh, một nửa theo mẹ lên núi thành các dân tộc
thiểu số. Vua Hùng được coi là Tổ tiên chung của cả nước.
Các dân tộc có cùng nguồn gốc lịch sử, có
nhiều điểm đương đồng là điều kiện thuận lợi dễ gần gũi, gắn bó với nhau. Song
dù cùng hoặc không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác nhau về tâm lý, phong
tục, tập quán... thì đều là người trong một nước, con trong một nhà, vận mệnh
gắn chặt với nhau, các dân tộc trên đất nước Việt nam luôn kề vai, sát cánh bên
nhau, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.
Việt nam ở khu vực địa lý có nhiều thuận
lợi, song điều kiện tự nhiên cũng rất khắc nghiệt. Do nắng lắm, mưa nhiều nên
hàng năm thường bị hạn hán, lũ lụt. Do yêu cầu tồn tại và phát triển ở một nước
nông nghiệp, trồng lúa nước là chính, cư dân ở Việt Nam phải liên kết nhau lại,
hợp sức để khai phá đất hoang, chống thú dữ, xây dựng các hệ thống thủy lợi,
đê, đập, nhằm đảm bảo phát triển sản xuất. Trải qua nhiều thế kỷ dựng nước và
giữ nước, sự gắn bó, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất của đồng bào các dân
tộc đã được coi như một tiêu chuẩn đạo đức.
Cùng với lịch sử trinh phục thiên nhiên,
nhân dân Việt Nam còn có lịch sử chống giặc ngoại xâm vô cùng oanh liệt. Do
Việt Nam ở vào nơi thuận tiện trên trục đường giao thông Bắc - Nam, Đông - Tây
của thế giới, có tài nguyên, thiên nhiên phong phú và vị trí địa lý - chính trị
có tính chiến lược. Cho nên các thế lực bành trướng, xâm lược luôn nhòm ngó và
tìm cách thôn tính Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt nam là lịch sử
chống giặc ngoại xâm liên tục và nhiều lần, trong đó có nhiều cuộc đấu tranh
chống lại những thế lực hùng mạnh, giàu có và hung bạo nhất thế giới. Chính vì vậy
mà cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn sát cánh bên nhau, liên tục đứng lên
chống giặc ngoại xâm, đánh thắng quân xâm lược.
Đoàn kết trong lao động và đấu tranh là
truyền thống nổi bật nhất của các dân tộc Việt Nam được hun đúc qua mấy ngàn
năm lịch sử. Trong sự nghiệp cách mạng do Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo,
truyền thống đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ, là một trong những nhân tố
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Những thành tựu đạt được trong quá trình
đổi mới rất to lớn và đáng tự hào cho thấy khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở
Việt Nam đã được nâng lên tầm cao và chiều sâu mới, là động lực to lớn thúc đẩy
sự phát triển của đất nước, làm cho thế và lực của cách mạng Việt Nam ngày càng
được tăng cường.
Thái Bình thông báo khẩn tìm người tiếp xúc ca dương tính nCoV
Ngày 6/5, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh Thái Bình ra thông báo khẩn số tìm người có tiếp xúc với ca bệnh dương tính tại xã Bình Minh, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Những trường hợp này gồm: Tất cả công dân đi trên chuyến xe khách Mạnh Hùng, biển số 17B-012.35 xuất phát từ bến Giáp Bát (Hà Nội) vào khoảng 14h ngày 4/5 về Kiến Xương (tuyến bờ hồ Kiến Xương - Chợ Gốc).
Người đến Trung tâm dịch vụ việc làm Thái Bình ở phường Hoàng Diệu (TP Thái Bình) trong thời gian 8-10h ngày 5/5. Người đến quán nước trà đá ven đường, trước Công ty may Sơn Hà, xã Vũ inh, huyện Kiến Xương vào khoảng 10h đến 11h ngày 5/5. Những người có tiếp xúc gần với bệnh nhân từ ngày 21/4 đến 5/5. Tất cả công dân tiếp xúc cần liên hệ ngay với cơ quan y tế gần nhất để được tư vấn hỗ trợ.
Theo CDC Thái Bình, trường hợp ca bệnh nêu trên là ông N.T.A. (34 tuổi, ở thôn Hưng Đạo, xã Bình Minh, huyện Kiến Xương). Ông N.T.A. lên Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương chăm sóc bố ở khoa Nhiễm khuẩn. Người này có lịch trình di chuyển đến các địa điểm như thông báo nêu trên.
Ngoài ra, tỉnh Thái Bình cũng ghi nhận 4 ca dương tính khác, gồm bà T.T.H. (44 tuổi, ở xã Tam Quang, huyện Vũ Thư), vợ bệnh nhân từng điều trị ở Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương. Trường hợp tiếp theo đáng chú ý là chùm ca bệnh 3 người trong một gia đình ở huyện Thái Thụy. Đó là bà N.T.N. (70 tuổi) và 2 con gái P.T.D. (38 tuổi) và C.T.V. (45 tuổi).
NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Theo lý luận Mác - Lênin, vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền. Vậy thì vấn đề cơ bản của chính quyền là gì? là chính quyền đó thuộc về ai? phục vụ cho ai?
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Chính
quyền đó là của dân, phục vụ lợi ích của dân. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người nói: “Chúng ta đã
hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi
thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người.
Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”[1].
VIỆT NAM RẤT COI TRỌNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO, DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN
Dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là những vấn
đề phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết
các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, tôn giáo. Lịch sử
thế giới cho thấy, khi nào vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền được
giải quyết thành công thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải
quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất ổn định xã hội. Nhà nước Việt Nam
thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, phát huy dân
chủ và bảo đảm nhân quyền, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.
Thực hiện tốt vấn đề dân tộc, tôn
giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam đã được thế giới đánh giá cao, được nhân
nhiều nước trên thế giới nghiên cứu, học tập
ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG NGÀY CÀNG KHỐC LIỆT
Nhận diện và đấu tranh với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch
Thời điểm này, việc tiếp nhận hồ sơ đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp đã hoàn tất. Việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND đều theo đúng quy trình, quy định; có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, diễn ra dân chủ, bình đẳng, đúng trình tự pháp luật. Thực tế cho thấy, chúng ta càng làm tốt, các thế lực thù địch, phản động càng điên cuồng chống phá. Nhưng rõ ràng, những phát tán, rêu rao của những đối tượng “dân chủ mạng” chỉ có thể đánh lừa người nhẹ dạ cả tin, chứ không thể qua mặt được những người dân Việt Nam luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.
Một bác sĩ trưởng khoa Bệnh viện Quân y 105 dương tính SARS-CoV-2
Trưa 6-5, Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) Hà Nội cho biết vừa ghi nhận một ca dương tính SARS-CoV-2 mới. Đó là bác sĩ N.V.T. (SN 1978; quê quán ở xã Cẩm Tú, Cẩm Thủy, Thanh Hóa; hộ khẩu thường trú tại Hà Nội). Bác sĩ T. là trưởng một khoa tại Bệnh viện Quân y 105 (thị xã Sơn Tây), đang học tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương cơ sở 2.
Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương cơ sở 2 đang có hàng chục ca nhiễm Covid-19
Ngày 28 đến 29-4: BN trực tại khoa A4, BV 105.
Tối 29-4: BN đi ăn tối tại quán Trâu Kim Sơn cùng mẹ, vợ, 2 con và 5 người ở phường Xuân Khanh.
Ngày 30-4: 10 giờ đến 15 giờ, BN cùng vợ và 2 con đi TP Yên Bái bằng xe riêng. Trong thời gian này, BN chỉ tiếp xúc với mẹ vợ là Đ.T.L. (SN 1960, địa chỉ tại tổ 41, phường Hồng Hà, TP Yên Bái).
Ngày 1-5: Lúc 11 giờ, BN đi ăn trưa tại nhà dì ở địa chỉ 62 Trung Sơn Trầm, Sơn Tây, Hà Nội gồm 6 người, trong đó 2 người đã cách ly tại BV 105. Một người khác đang ở Phúc Diễn, Bắc Từ Liêm, làm việc ở Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga - Hà Nội.
Chiều 1-5: BN tiếp xúc giữ khoảng cách và đeo khẩu trang với 2 người ở huyện Phúc Thọ.
Ngày 2-5: BN về thị trấn Cẩm Thủy, Thanh Hóa đi xe riêng có tiếp xúc với 5 người (BN đã báo cho những người ở Thanh Hóa về kết quả của mình). Sau đó về Sơn Tây, tại nhà có khám điều trị cho 1 người là ông N.V.L. (SN 1962 ở địa chỉ 127 đường 88, phố Vị Thủy, Sơn Tây).
Ngày 3 đến 4-5: BN học và trực tại BV Nhiệt đới cơ sở II, chiều 4-5 về Sơn Tây.
17 giờ ngày 4-5: Rửa xe tại Gara Đức Việt, phố Chùa Thông, Sơn Tây và tiếp xúc với 3 người.
18 giờ ngày 4-5: BN cắt tóc tại nhà vợ chồng anh và tiếp xúc với 2 người.
19 giờ 30 ngày 4-5: Khám cho cháu N.X.A. (sinh năm 2021 ở cụm 2,Thọ Lộc ,Sơn Tây) và có 3 người nhà đi cùng.
Ngày 4-5-2021: BN tự cách ly tại nhà
Ngày 5-5-2021: BN xuống Bệnh viện Nhiệt đới Trung Ương và được lấy mẫu làm xét nghiệm, kết quả dương tính với SARS-CoV-2.
Hiện, lực lượng chức năng đang tiếp tục thực hiện truy vết các trường hợp liên quan đến ca dương tính này để thực hiện cách ly, phòng dịch Covid-19.
Giải quyết vấn đề Biển Đông - rất cần cái nhìn khách quan, tỉnh táo
Những chiêu trò chống phá bầu cử
Càng gần đến ngày bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp, các thế lực thù địch lại càng điên cuồng ra sức chống phá bằng những chiêu trò bình cũ rượu cũ. Thực chất âm mưu chống phá của các thế lực phản cách mạng trước bầu cử là nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các phần tử này đã xác định bấy lâu nay. Những chiêu trò cũ Lợi dụng sự phát triển của Internet, nhất là mạng xã hội để tuyên truyền, công kích, lôi kéo người dân tham gia các hội, nhóm trá hình trên không gian mạng là chiêu trò không mới của các thế lực thù địch, phản động, phần tử chống đối, cơ hội chính trị trong và ngoài nước. Để thực hiện âm mưu đen tối của mình, các tổ chức phản động như: Việt Tân, Quỹ người Thượng, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, Triều đại Việt… đã tiến hành nhiều phương thức khác nhau, ra rả luận điệu “phản biện xã hội”, đấu tranh vì “dân chủ”, “nhân quyền”, xây dựng “xã hội dân sự”, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ… nhưng thực chất là để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; Chiêu bài không mới nhưng nếu không nhận diện và cảnh giác, kịp thời đấu tranh, nhiều người sẽ trở thành những con mồi ngon của chúng. Thời gian qua, Việt Tân đã cho lập mới hơn 300 tài khoản và nhiều diễn đàn kín, duy trì gần 1.000 tài khoản mạng xã hội, đăng tải, chia sẻ những bài viết, thông tin tiêu cực trong xã hội để thổi phồng, phá hoại tư tưởng. Thực chất âm mưu của chúng là thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập cán bộ, đảng viên, từng bước “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Bên cạnh đó, chúng sử dụng thư điện tử phát tán các tài liệu phản động với tiêu đề: “Hiến pháp Việt Nam năm 2021”, “Giải trình Hiến pháp Việt Nam năm 2021”…, kích động số đối tượng chống đối, cơ hội chính trị trong nước thành lập các hội, nhóm, lôi kéo người dân tham gia chống phá bầu cử, gây phức tạp tình hình an ninh, trật tự. Một chiêu trò khác mà các tổ chức phản động thường sử dụng trước những cuộc bầu cử là hô hào, cổ vũ phong trào “ứng cử tự do”. Các ứng viên này như thế nào thì ai cũng có thể thấy rõ, toàn những đối tượng coi việc “tự ứng cử” là một trò kiếm cơm mới để hành nghề “dân chủ”. Đối tượng nào có hoạt động chống phá càng quyết liệt thì càng “nổi”, dễ dàng nhận được các “giải thưởng nhân quyền”, kêu gọi sự chống lưng, giúp sức của các tổ chức bên ngoài và kèm theo đó là tiền hỗ trợ cho hoạt động chống đối của các tổ chức này. Có thể thấy rõ bản chất của những “nhà dân chủ” này là khi bị loại thì lấy cớ để xuyên tạc công tác bầu cử, chê bai, công kích thể chế, công kích Đảng, công kích Nhà nước rồi đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Đến đây thì ai cũng biết mục đích cuối cùng của bọn chúng là để tiến hành chống phá về mặt chính trị, hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình”. |

