Thứ Năm, 14 tháng 10, 2021

Văn hóa - nguồn lực, động lực nội sinh phát triển bền vững đất nước

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, nguồn lực, động lực nội sinh to lớn của đất nước, có vai trò điều tiết sự vận động của xã hội. Xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước là quan điểm xuyên suốt, nhất quán trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần quan trọng vào việc hiện thực hóa mục tiêu, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

 “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”

Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người; được con người tạo ra và phát triển trong mối quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Văn hóa là một nguồn lực to lớn, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của mỗi con người, tổ chức, rộng hơn là của quốc gia - dân tộc. Vì vậy, Đảng và Nhà nước rất coi trọng vai trò của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. 

Trước đây, một số nhà lãnh đạo và học giả cho rằng, chỉ cần tăng trưởng kinh tế là có sự phát triển. Đây là quan niệm phát triển nhanh bằng cách hy sinh các giá trị văn hóa và bỏ qua các mục tiêu xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn thế giới và Việt Nam cho thấy, các quốc gia đi theo xu thế này đạt được một số thành tựu về kinh tế nhưng đã phải hứng chịu những hậu quả xã hội, sự xuống cấp về đạo đức và văn hóa. Từ đó, lại ảnh hưởng tiêu cực tới sự tăng trưởng, mất ổn định xã hội tăng lên và cuối cùng là sự phá sản của các kế hoạch phát triển kinh tế, đất nước rơi vào tình trạng suy thoái.

Lịch sử phát triển của thế giới cho thấy, quốc gia nào chú trọng các giá trị văn hóa của dân tộc thì sẽ xây dựng được mô hình phát triển bền vững; trong đó, có không ít quốc gia đã phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống để thúc đẩy sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững, mà Nhật Bản là ví dụ điển hình.

Trong nhiều thập niên qua, ở Nhật Bản, văn hóa đã thực sự trở thành một “sức mạnh mềm” thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị, xã hội và tạo dựng được uy tín, hình ảnh tốt đẹp trong lòng bạn bè quốc tế. Nước này xác định, sự phát triển kinh tế dựa trên nền tảng kỹ thuật phương Tây cộng với văn hóa truyền thống đã hình thành nên một mô hình phát triển xã hội điển hình, đó là thành công của quốc gia này. Các giá trị văn hóa, đặc biệt là văn hóa truyền thống, như trọng gia đình, tính trung thực, bình đẳng, trách nhiệm, tinh thần võ sĩ đạo,... là nhân tố quan trọng cho sự thành công của Nhật Bản, tạo nên sự hài hòa giữa vật chất và tinh thần trong mỗi công dân. Nền văn hóa đó thấm đẫm trong con người Nhật Bản và ngày càng được phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa của đất nước này. Bên cạnh đó, văn hóa còn là nền tảng tạo nên triết lý kinh doanh cho các doanh nghiệp Nhật Bản, giúp họ biết tổ chức sản xuất, kinh doanh năng động và độc đáo, khẳng định được vị thế trên thị trường thế giới.

Đối với Việt Nam, văn hóa có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong cách mạng, kháng chiến và phát triển kinh tế - xã hội. Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 xác định, văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa), có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đảng không chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa; đồng thời, Đề cương đề ra 3 nguyên tắc của nền văn hóa Việt Nam mới là: dân tộc hóa; khoa học hóa; đại chúng hóa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất đặc biệt đề cao vai trò của văn hóa trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, bồi đắp nền tảng tinh thần cho xã hội. Theo Người, văn hóa chính là biểu hiện của sự hiểu biết, tài năng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, tâm hồn,... của con người và của mỗi cộng đồng, dân tộc trong mối quan hệ với xã hội và tự nhiên. Đặc biệt, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (tháng 11-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra luận điểm: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Luận điểm này cho thấy phạm vi rộng lớn, tầm ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trở thành nguyên tắc quan trọng, có ý nghĩa cơ bản, lâu dài và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển văn hóa Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Khi đất nước thống nhất hoàn toàn và nhất là từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, những luận điểm về phát triển văn hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đất nước được Đảng ta cụ thể hóa và triển khai mạnh mẽ hơn trong thực tiễn. Đó là Nghị quyết số 05 của Bộ Chính trị khóa VI, “Về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VII, “Về một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt”; đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, và gần đây là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI đều xác định, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển; gắn văn hóa với sự phát triển kinh tế - xã hội, với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; với chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp,... Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII nhấn mạnh: “Chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI xác định: “Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”.

Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng như hiện nay, thì những luận điểm nêu trên là rất đúng đắn và kịp thời; đã nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa trong mối quan hệ với sự phát triển kinh tế - xã hội; là cơ sở để khắc phục những quan điểm sai lầm đã từng tồn tại trong tư duy của không ít người khi cho rằng, phát triển kinh tế là quan trọng nhất, phát triển văn hóa chỉ là phụ, là sự “ăn theo” kinh tế. Đặc biệt, các luận điểm đó mang ý nghĩa thực tiễn rất cao khi coi văn hóa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Bởi, lịch sử cho thấy, sự phát triển của đất nước về mọi mặt, kể cả kinh tế, chính trị và con người, xét đến cùng, nếu muốn đi thật xa, nếu muốn ngày càng trở nên bền vững hơn thì đều phải nằm trong quỹ đạo của văn hóa và phải có văn hóa dẫn đường, như luận điểm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra năm 1946.

Hiện nay, so với những thành tựu đạt được trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,... thành tựu trong lĩnh vực văn hóa là chưa tương xứng; chưa đủ để tác động có hiệu quả tới xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về văn hóa chậm đổi mới, có lúc, có nơi còn bị xem nhẹ. Đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng và còn dàn trải. Chưa nắm bắt kịp thời những vấn đề mới về văn hóa để đầu tư đúng hướng và có hiệu quả. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp chưa được quan tâm đúng mức. Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, bất cập nêu trên là do một số tàn dư văn hóa cũ, lạc hậu; ảnh hưởng mặt trái của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; nhận thức và việc cụ thể hóa chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước về văn hóa ở một số địa phương, lĩnh vực chưa theo kịp yêu cầu phát triển; điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam còn không ít khó khăn, do đó đầu tư cho phát triển văn hóa còn hạn chế.

Để văn hóa trở thành nguồn lực, động lực nội sinh phát triển bền vững đất nước

Mục tiêu, định hướng

Thế giới đang bước vào kỷ nguyên của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây là cơ hội lịch sử để Việt Nam vươn lên, thực hiện khát vọng đứng vào hàng ngũ các quốc gia phát triển vào năm 2045, dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để thực hiện được khát vọng đó, Việt Nam cần xây dựng mô hình phát triển phù hợp, mà trong đó, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chính, còn văn hóa và con người chính là nguồn lực nội sinh để phát triển.

Bên cạnh các cơ hội thì cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tạo ra những thách thức đối với sự phát triển đất nước nói chung, phát triển văn hóa nói riêng. Thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp ấy đã mở ra nhiều cơ hội mới cho quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, đồng thời cũng gây ra nguy cơ phai nhạt về bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc. Cùng với đó là việc sử dụng văn hóa như một “sức mạnh mềm” của các nước lớn để thể hiện vai trò, thực hiện tham vọng về lợi ích, mục đích chính trị.

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và phát triển nền văn hóa nước nhà, đặc biệt là con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, phục vụ phát triển bền vững đất nước trở nên quan trọng và cấp bách hơn bao giờ hết. Phải thấm nhuần mục tiêu và quan điểm coi văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là nguồn lực, động lực nội sinh bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp; phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; chú ý đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế.

Đại hội XIII của Đảng bên cạnh việc khẳng định những kết quả quan trọng đạt được trên lĩnh vực văn hóa trong nhiệm kỳ Đại hội XII và 35 năm đổi mới đất nước cũng thẳng thắn chỉ ra hạn chế, khuyết điểm: Văn hóa chưa được quan tâm tương xứng với kinh tế và chính trị, chưa thực sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước. Từ đó, Đại hội XIII đã đề ra định hướng: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”(1).

Xây dựng, phát triển văn hóa, con người hướng đến chân - thiện - mỹ, có tinh thần nhân văn, có đời sống tâm hồn phong phú tất nhiên sẽ không chỉ ứng xử tốt đẹp với nhau mà còn ứng xử có văn hóa với thiên nhiên. Khi con người biết yêu thiên nhiên, tôn trọng thiên nhiên thì sẽ có ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên, phát triển bền vững, vì thế, phải có cái gốc từ văn hóa.

Một số nhiệm vụ chủ yếu

Thứ nhất, đổi mới phương thức bảo tồn và phát triển văn hóa. Trước sự phát triển của công nghệ, sự du nhập của các sản phẩm văn hóa ở bên ngoài vào trong nước, con người Việt Nam nói chung, thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay đang đứng trước “mê hồn trận” sản phẩm văn hóa, trong đó có nhiều sản phẩm tốt, có giá trị, làm phong phú thêm cho đời sống; bên cạnh đó, cũng có không ít sản phẩm đội lốt văn hóa, không có giá trị bồi bổ tinh thần, thậm chí làm méo mó các giá trị đích thực và định hướng sai lạc trong lựa chọn các giá trị văn hóa của giới trẻ. Những sản phẩm văn hóa “dễ tiêu dùng, ít giá trị” này đã dễ dàng thu hút sự quan tâm của các bạn trẻ, khiến nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, như lòng yêu nước, tính tự lực tự cường, ham học hỏi,... đứng trước nguy cơ bị phai mờ. Đồng thời, phương thức phát triển và bảo tồn văn hóa truyền thống lâu nay vẫn chưa thực sự được đổi mới, khiến những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc không được phát huy. Trước thực trạng đó, việc phát triển văn hóa cần tiếp tục được đổi mới, hiệu quả hơn, đi vào cuộc sống hơn; trong đó, đặc biệt chú trọng đến việc phát triển các giá trị văn hóa Việt Nam, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên. Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam(2). Có như vậy, văn hóa mới được bảo tồn, mới thực sự trở thành nền tảng tinh thần của một xã hội lành mạnh, giàu tính nhân văn, Việt Nam mới phát triển.

Thứ hai, phát triển công nghiệp văn hóa trở thành động lực mới của nền kinh tế. Bên cạnh việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, việc phát triển ngành công nghiệp văn hóa trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế, phát huy được “sức mạnh mềm” cũng là một nội dung quan trọng. Cha đẻ của ngành quản trị hiện đại Pi-tơ Đrắc-cơ (Peter Drucker) từng tiên đoán, công nghiệp văn hóa sẽ là yếu tố đặc biệt quan trọng góp phần quyết định thành bại của mỗi quốc gia trong thế kỷ XXI. Dự đoán trên thể hiện vai trò quan trọng của công nghiệp văn hóa trong phát triển kinh tế của đất nước. Thực tiễn cũng cho thấy, nhiều quốc gia đã phát triển công nghiệp văn hóa thành công, trở thành một động lực mới của nền kinh tế như trường hợp của Hàn Quốc, Nhật Bản,...

Ở Hàn Quốc, việc phát triển công nghiệp văn hóa thu được những thành công rất ấn tượng. Đóng góp của lĩnh vực công nghiệp văn hóa ở Hàn Quốc cho GDP chiếm hơn 6% và có xu huớng tiếp tục tăng. Bên cạnh đóng góp trực tiếp, công nghiệp văn hóa còn tạo hiệu quả lan tỏa đối với các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Nghiên cứu định lượng cho thấy, nếu kim ngạch xuất khẩu sản phẩm văn hóa Hàn Quốc tăng 100 USD, thì kim ngạch xuất khẩu hàng tiêu dùng của Hàn Quốc tăng 412 USD. Bên cạnh các giá trị kinh tế, việc phát triển công nghiệp văn hóa còn giúp phát triển đất nước trên các phương diện khác, nhất là truyền bá văn hóa và tăng cường sức mạnh mềm của đất nước; qua đó, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Ở Việt Nam, phát triển công nghiệp văn hóa đã sớm được đề cập tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI và tiếp tục được đề cập tại Đại hội XII của Đảng về nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa. Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Tuy nhiên, công nghiệp văn hóa vẫn đang còn rất hạn chế. Để phát triển lĩnh vực này một cách có hiệu quả, Đại hội XIII của Đảng xác định, phải “khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”(3).

Thứ ba, bảo tồn, khai thác và phát huy nguồn tài nguyên văn hóa. Việt Nam đang trên đà phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, và luôn xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, là nguồn lực nội sinh, là “ngọn đuốc soi đường” cho sự phát triển của đất nước. Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới, nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa, bảo tồn và phát huy. Phát triển toàn diện con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Tuy vậy, nhìn một cách tổng thể, văn hóa chưa được quan tâm tương xứng với kinh tế và chính trị, chưa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam bị mai một. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng. Môi trường văn hóa đứng trước nhiều thách thức, chịu tác động mạnh của yếu tố ngoại lai, đe dọa đến thuần phong mỹ tục,... Do vậy, để văn hóa, con người thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực của sự phát triển bền vững đất nước, trước hết phải bảo tồn được  lực văn hóa và khai thác đúng tầm giá trị của nguồn tài nguyên vô giá này.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, cần bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam: tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Đẩy mạnh giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ... Tăng cường đầu tư, khai thác và phát huy tối đa các nguồn lực văn hóa đi đôi với đổi mới nội dung, phương thức quản lý, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả(4).

Cần lưu ý, văn hóa là tài nguyên quốc gia, nhưng tài nguyên không phải trong trạng thái ngủ yên mà phải được đánh thức, tạo ra giá trị cho đời sống. Sự đánh thức nguồn tài nguyên văn hóa trong thời hiện đại chính là xây dựng được nền công nghiệp văn hóa để khai thác có hiệu quả.

Phát huy các giá trị của nguồn tài nguyên văn hóa dân tộc để phát triển đất nước bền vững không chỉ là sự quyết tâm và hành động của cả hệ thống chính trị, mà còn là sự nhận thức và chung tay của toàn dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước./.

 


VẤN ĐỀ AN NINH CON NGƯỜI TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ: “Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương…” trong đó, nội dung bảo đảm an ninh con người là một nội dung mới được Đảng xác định trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.


An ninh con người là trạng thái người dân được sống ổn định, an toàn, không bị đe dọa bởi các nguy cơ xâm hại. Bảo vệ an ninh con người là bảo đảm và thực thi đầy đủ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp 2013 quy định; bảo đảm cho mọi người dân được sống ấm no, tự do, hạnh phúc trong môi trường xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, lành mạnh. Để bảo đảm an ninh con người, Nhà nước phải tạo ra được môi trường chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa... lành mạnh và phát triển. Môi trường đó phải bảo vệ con người tránh khỏi sự xâm lăng từ bên ngoài và các tiêu cực bên trong như đói nghèo, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, tội phạm, tệ nạn xã hội, sự mất an toàn trong cuộc sống… Đây chính là mục tiêu quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta đang nỗ lực để đạt được. Đảng ta luôn xác định, nhân tố con người, an ninh con người là trung tâm của mọi hoạt động, bảo vệ an ninh con người vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội và xây dựng, phát triển đất nước.


 Như vậy, một lần nữa Đảng ta tiếp tục khẳng định, mọi chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, mục đích cuối cùng cũng là vì lợi ích của nhân dân, tất cả vì sự phát triển tiến bộ của con người, vì hạnh phúc của nhân dân. Đây cũng là bản chất tốt đẹp, thấm đẫm tinh thần nhân văn, nhân đạo của Đảng ta. Vì vậy, mỗi người dân cần hiểu và nắm chắc chủ trương, đường lối của Đảng, tích cực trong học tập, lao động và công tác góp phần đưa Nghị quyết của Đảng đi vào thực tiễn cuộc sống, và nhanh chóng được hiện thực hóa. Góp phần đập tan âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước.

KHƠI DẬY KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

 


   Trong bối cảnh mới, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”, Đại hội XIII của Đảng đã xác định mục tiêu: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây là khát vọng chính đáng, vì lợi ích của toàn dân, có cơ sở từ những điều kiện và cơ hội “chín muồi”.


   Ngay từ khi ra đời cũng như trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã khơi dậy và phát huy mạnh mẽ khát vọng dân tộc độc lập, Tổ quốc thống nhất, nhân dân tự do, hạnh phúc, đưa đất nước phát triển “sánh vai với các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


   Trong bối cảnh mới, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”, Đại hội XIII của Đảng đã xác định mục tiêu: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây là khát vọng chính đáng, vì lợi ích của toàn dân, có cơ sở từ những điều kiện và cơ hội “chín muồi”. Tuy nhiên, song song với những thuận lợi, thời cơ, chúng ta vẫn đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức cả ở trong nước và trên thế giới. Chính vì vậy, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phải đổi mới mạnh mẽ tư duy để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong thời kỳ mới, trong đó có các trọng tâm đột phá sau:


   Thứ nhất, phát huy tối đa nguồn lực con người.


   Đảng nêu rõ: “Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”. 


   Việc phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế chỉ thực sự thành công khi chúng ta tạo được môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất. Đồng thời, trong phát huy tối đa nguồn lực con người, phải thực sự lấy nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; khơi dậy và phát huy tốt các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo, quyền làm chủ của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. 


   Quan tâm đến nguồn lực con người cũng đồng nghĩa coi con người là trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Vì thế, phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; chú trọng hơn nữa đến tính kịp thời, chính xác, thuyết phục của công tác tư tưởng, định hướng dư luận xã hội; quan tâm đúng mức, đồng bộ công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, một số vấn đề mới, khó, phức tạp cần phải được giải đáp kịp thời, sáng tỏ và khoa học...


   Thứ hai, phát triển kinh tế - xã hội bền vững.


   Đảng xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường…khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực; tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Theo đó, trước hết, cần phải hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; làm cho kinh tế - xã hội phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước. 


   Đồng thời, cần quan tâm hơn nữa đến việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng theo hướng tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo, năng lượng mới, tiết kiệm, hiệu quả. Cải thiện chất lượng môi trường, nhất là môi trường sống; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo môi trường đầu tư kinh doanh thực sự thông thoáng, minh bạch; tạo sự đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển; nâng cao năng lực và trình độ công nghệ.


   Đổi mới đồng bộ, phù hợp giữa kinh tế với chính trị, văn hóa, xã hội; giữa kinh tế với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân, đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đất nước trong tình hình mới. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, bảo đảm thống nhất giữa Đảng và Nhà nước; phát huy mạnh mẽ vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc các cấp và nhân dân. Xây dựng, vậnhành hệ thống pháp luật đồng bộ, nghiêm minh.


   Thứ ba, phát huy cơ chế lựa chọn, đào tạo cán bộ, thu hút, trọng dụng nhân tài.


   Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Muốn có “hiền tài” thì Đảng phải huấn luyện, đào tạo cán bộ để họ thực sự trở thành“nguyên khí của quốc gia”. Đảng đã xác định: “có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài; khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”. Muốn thực hiện tốt vấn đề này, Đảng cần cụ thể hóa hơn nữa chủ trương về công tác cán bộ trong thời kỳ mới. Việc thể chế hóa công tác cán bộ cần thống nhất giữa quy định của Đảng với pháp luật Nhà nước.


   Thứ tư, phát huy đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa.


   Mục tiêu tối thượng trong quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng ta hiện naylà bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác và cùng có lợi. Quan điểm này vừa nhằm thực hiện tầm nhìn và định hướng phát triển của đất nước, đồng thời thể hiện và khẳng định Việt Nam không theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, vị kỷ.


   Trong bối cảnh mới, đoàn kết quốc tế sẽ giúp cho chúng ta giải quyết hiệu quả nhiều vấn đề đặt ra trong các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đặc biệt là hóa giải, biến những nguy cơ “đối đầu” thành “đối tác”. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 phức tạp hiện nay, bên cạnh tinh thần đoàn kết dân tộc được khơi dậy và phát huy cao độcả ở trong nước và đồng bào ta ở nước ngoài, tình đoàn kết quốc tế với sự giúp đỡ chí tình của nhiều quốc gia đã và đang thể hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng ta. Qua đó nhân lên quyết tâm và niềm tin chiến thắng đại dịch của đất nước, góp phần xứng đáng vào sự nỗ lực chung của toàn nhân loại “vì một thế giới an toàn, lành mạnh, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng”.


   Việc “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam” cũng chính là thể hiện nhất quán quan điểm Việt Nam luôn là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; vì mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.


   Để phát huy đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa nhằm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần triển khai mạnh mẽ, tích cực ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; song phương và đa phương; toàn diện về chủ thể, địa bàn, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, thông tin đối ngoại và người Việt Nam ở nước ngoài. 


   Đồng thời, phải “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”. Đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế cần phải không ngừng nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực chuyên nghiệp, hiện đại, đổi mới sáng tạo, chủ động thích ứng trước chuyển biến của tình hình, không để bị động, bất ngờ.


   Thứ năm, quyết tâm khắc phục một số hạn chế, yếu kém. 


   Trước hết, khắc phục những hệ lụy nảy sinh trong quá trình giao lưu, tiếp nhận, tiếp biến với những trào lưu văn hóa nước ngoài, thậm chí là những mưu đồ “xâm lăng văn hóa” “đồng hóa văn hóa”. Một mặt, chúng ta “tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Mặt khác, phải chủ động chống lại những ý đồ, mưu toan lợi dụng giao lưu văn hóa để tác động vào đường lối, pháp luật, chính sách, hệ thống các quan điểm đạo đức, tâm lý xã hội; phá vỡ thuần phong mỹ tục của dân tộc ta; tạo nguy cơ đẩy văn hóa đạo đức truyền thống lùi về phía sau để chiếm đoạt lợi ích kinh tế.


   Văn hoá được coi là “thẻ căn cước” khi tham gia vào quá trình hội nhập, mất đi “tấm thẻ” này không chỉ là đánh mất quyền lợi trong “cuộc chơi”, mà còn là đánh mất chính mình. Vì thế, để “hội nhập mà không hoà tan”, Đảng ta yêu cầu “phải khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực, mặt trái của toàn cầu hóa về văn hóa”; “kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động ảng hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục. Đồng thời, chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân đặc biệt là thanh thiếu niên đối với các sản phẩm văn hóa ngoại lai độc hại”. 


   Hai là, khắc phục một số hạn chế trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó có những nội dung như, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng Đảng ở không ít nơi chưa nghiêm; thiếu tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình; công tác quản lý, rèn luyện đảng viên chưa chặt chẽ; việc đánh giá, xếp loại tổ chức đảng và đảng viên chưa thực chất... 


   Để “tiếp lửa” cho việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong bối cảnh mới, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được thực hiện thực sự kiên quyết, thực sự chất lượng, thực sự hiệu quả từ trên xuống dưới. Theo đó, cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước cần phải đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả hơn nữa; quyết liệt hơn trong ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; “tăng cường đấu tranh chống các quan điểm phản đạo đức, phi đạo đức”...


   Ba là, khắc phục những hạn chế, yếu kếm về kinh tế - xã hội, trong đó có những hạn chế, yếu kém kéo dài, như: “Hoàn thiện thể chế; đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm, chưa tạo được chuyển biến căn bản về mô hình tăng trưởng; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao”...


   Cần khẩn trương khắc phục tình trạng phát triển thiếu bền vững như: vì chạy theo lợi nhuận và lợi ích trước mắt mà tàn phá môi trường - khai thác tài nguyên, khoáng sản “bằng mọi giá”; yếu kém trong ngành công nghiệp và dịch vụ môi trường, tái chế chất thải, xử lý rác thải; nhập khẩu công nghệ lạc hậu, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên vật liệu không đạt chuẩn về môi trường. 


   Khắc phục tình trạng kỷ cương, phép nước bị xem nhẹ, xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, nghiêm minh, chế tài xử lý không đủ sức răn đe, đặc biệt là trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí./.


Báo QĐND

XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

 

          Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, là hiện thân của trí tuệ, danh dự, đạo đức và văn minh của dân tộc. Vì vậy, sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam phụ thuộc vào việc nâng tầm lãnh đạo của Đảng về trí tuệ, nâng cao đạo đức cách mạng của Đảng. Trí tuệ và đạo đức của Đảng là sự kết tinh trí tuệ, đạo đức của dân tộc và tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, mà cốt lõi là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh của đất nước, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác.

          Những kết quả về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có tác động to lớn đến phát triển văn hóa và con người. Nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa, con người đối với phát triển bền vững đất nước trong các tổ chức Đảng và tổ chức chính trị xã hội, các cơ quan nhà nước, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn. Văn hóa trong chính trị và văn hóa trong kinh tế bước đầu được coi trọng và phát huy hiệu quả tích cực. Công tác xây dựng Đảng về đạo đức, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý chủ chốt các cấp đã góp phần thúc đẩy xây dựng văn hóa đạo đức, lối sống lành mạnh trong Đảng và ngoài xã hội.Tuy nhiên, trong thời gian qua, “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý văn hóa còn nhiều lúng túng, chậm trễ trong việc thể chế hóa quan điểm chủ trương của Đảng về văn hóa. Đầu tư cho văn hóa chưa đúng mức, còn dàn trải, hiệu quả chưa cao. Chưa có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi sự xuống cấp nghiêm trọng về một số mặt văn hóa, đạo đức, lối sống, gây bức xúc xã hội. “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp”; “Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng XHCN; phát triển văn hóa, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường”. Thực trạng này đòi hỏiđể xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam trong thời gian tới, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; xây dựng môi trường văn hóa đạo đức lành mạnh trong xã hội; kiên quyết, kiên trì ngăn chặn và đẩy lùi các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “ tự chuyển hóa” trong Đảng và ngoài xã hội.

          Đại hội XIII của Đảng xác định xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý và tập trung xây dựng Đảng về đạo đức với nhiều nhiệm vụ, giải pháp mới. Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng. Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và danh dự, trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong Đảng và ngoài xã hội. “Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội”. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người lãnh đạo, cần phải phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân; quán triệt sâu sắc quan điểm:“Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển”, lấy “dân là gốc”, tạo điều kiện để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Thực hiện nghiêm túc việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người tiêu biểu và kết tinh nhất trí tuệ và đạo đức cách mạng của Đảng và của dân tộc ta. Đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn Đảng toàn diện gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành dân chủ sâu rộng gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội; kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức.

          Đại hội XIII của Đảng đã xác định những quan điểm, chủ trương rất mới, sâu sắc và toàn diện, đột phá về phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực; xác định ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục đào tạo; đẩy mạnh và thúc đẩy, đa dạng hóa các loại hình và hoạt động nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam... Đây là đường hướng quan trọng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước đi lên, lập nên những thành tựu mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời đại mới.

 

 

PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN VÀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC, LÀ ĐỘNG LỰC CHO PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

 

          Đại hội XIII của Đảng xác định, phát triển nhanh và bền vững đất nước dựa chủ yếu vào việc phát huy tối đa nhân tố con người; lấy con người là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước. Vì vậy, “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại” là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.

          Coi trọng giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa dân tộc. Thường xuyên chăm lo giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc của con người Việt Nam. Xây dựng, hoàn thiện các giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời đại mới phát triển toàn diện về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế...

          Đại hội XIII với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, lần đầu tiên đã nêu yêu cầu: “Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam”Phải chăng đó là tâm lý tiểu nông, là tính ỷ lại, dựa dẫm, tính đố kỵ, thiếu kỹ năng hợp tác, thiếu ý thực tôn trọng pháp luật... Các mặt hạn chế của con người Việt Nam cần phải được nhận biết, được phê bình, tự phê bình nghiêm khắc, cần phải được sửa chữa, khắc phục để cho dân giàu, nước mạnh.

          Phát triển mạnh mẽ nền văn hóa và con người Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, chúng ta đứng trước yêu cầu cấp thiết là phải bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là các giá trị văn hóa truyền thống và cách mạng; đấu tranh chống các khuynh hướng đồng hóa, nô dịch về văn hóa. Đồng thời, coi trọng việc tiếp thu tinh hoa văn hóa, khoa học, giáo dục của nhân loại để xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam tiến kịp, tiến cùng thời đại. Quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, mà cốt lõi là làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, cũng chính là quá trình xây dựng con người, phát huy tối đa nhân tố con người, thực hiện chiến lược con người - khâu trung tâm của sự nghiệp xây dựng nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hóa và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa, phát triển bền vững đất nước. Văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, trở thành sức mạnh nội sinh, động lực đột phá cho phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

          Đại hội XIII của Đảng xác định: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển”. Cần thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, phúc lợi văn hóa, an ninh văn hóa, an ninh con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân. Tǎng đầu tư của nhà nước và xã hội cho phát triển sự nghiệp vǎn hóa; đổi mới cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Hoàn thiện và bổ sung các cơ chế chính sách để đẩy mạnh xã hội hóa văn hóa đúng định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế.

 

 

GIÁ TRỊ CỐT LÕI MANG TÍNH XUYÊN THỜI ĐẠI

CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

Lịch sử xã hội loài người đã diễn ra hàng trăm cuộc cách mạng, dù ở mức độ khác nhau, mỗi cuộc cách mạng đều có ý nghĩa nhất định đến xã hội loài người. Tuy nhiên, chỉ có Cách mạng Tháng Mười Nga là có ý nghĩa sâu sắc, để lại những giá trị to lớn mang tính xuyên thời đại với cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH và sự phát triển của xã hội loài người. Cách mạng Tháng Mười đã trở thành biểu tượng, niềm tin và cổ vũ hàng triệu triệu con người thuộc các giai cấp, tầng lớp, dân tộc bị áp bức, nô dịch vùng lên đấu tranh để tự giải phóng mình.

Cách mạng Tháng Mười không chỉ đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Nga mà còn làm “đảo lộn” Thế giới, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn Thế giới. Cách mạng Tháng Mười đã khắc phục triệt để tính hạn chế nửa vời của các cuộc cách mạng đã diễn ra trong quá khứ, vì nó thủ tiêu mọi hình thức bóc lột chứ không phải đem hình thức bóc lột này thay thế cho hình thức bóc lột khác. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự xuất hiện của Nhà nước Xô viết ở Liên Xô đã minh chứng cho sự phát triển hợp quy luật của CNXH, CNCS, sự lỗi thời, lạc hậu của CNTB. Trước Cách mạng Tháng Mười, CNTB, CNĐQ là một hệ thống hoàn chỉnh, sau Cách mạng Tháng Mười một mắt xích quan trọng của CNĐQ đã bị chặt đứt, một mảng lớn của CNTB bị phá vỡ, nó không còn là một hệ thống duy nhất bao trùm Thế giới, từ đây khủng hoảng và tổng khủng hoảng bắt đầu diễn ra trong CNTB trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự...

 Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã đưa CNXH khoa học từ lý luận thành hiện thực, đã chứng minh sự lớn mạnh và vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Nga và giai cấp công nhân Thế giới là giai cấp lãnh đạo, giai cấp cầm quyền thông qua đội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản. Từ vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân mà cuộc cách mạng này đầu tiên trong lịch sử nhân loại, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và các dân tộc bị áp bức đã được giải phóng thoát khỏi ách áp bức bóc lột của tư bản, phong kiến, đưa họ từ thân phận nô lên lên địa vị làm chủ bản thân, làm chủ xã hội. Cách mạng Tháng Mười đã chứng minh cho việc nắm, chớp và tận dụng thời cơ cách mạng để giành thắng lợi thông qua việc phát động khởi nghĩa vũ trang đúng thời điểm quan trọng và thuận lợi nhất. Cách mạng Tháng Mười còn cho thấy chỉ có thông qua liêm minh công - nông - trí và các lực lượng khác trong xã hội thì với tạo ra sức mạnh vượt trội để chiến thắng giai cấp tư sản thông qua việc giai cấp công nhân Nga đã liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và binh lính dưới chế độ Nga Hoàng để tiến hành khởi nghĩa giành thắng lợi. Cách mạng Tháng Mười cũng cho thấy, trước kẻ thù phản động thì chỉ có bạo lực cách mạng, tinh thần cách mạng triệt để, tiến công không ngừng thì mới giành được thắng lợi triệt để thông qua việc Đảng Cộng sản đã lãnh đạo nhân dân đập tan âm mưu chống phá của bọn phản động trong nước và bao vây của 14 nước đế quốc nhằm tiêu diệt chính quyền non trẻ, thủ tiêu thành quả cách mạng. Cách mạng Tháng Mười còn minh chứng cho tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân thông qua việc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã đấu tranh cương quyết để bảo vệ Nhà nước Xô viết đầu tiên ở Liên Xô.

Cách mạng Tháng Mười còn mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa trên toàn Thế giới, đi theo Cách mạng Tháng Mười, các cao trào giải phóng dân tộc nổ ra mạnh mẽ, các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên Thế giới đã vùng lên đấu tranh tự giải phóng mình để xác lập nền cộng hòa, xây dựng chế độ xã hội mới do nhân dân lao động làm chủ. Dưới sức công phá của dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa thực dân, đế quốc thiết lập trong suốt 5 thế kỷ (từ năm 1492) đã hoàn toàn sụp đổ trong vòng chưa đầy 5 thập kỷ. Khi đánh giá về ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”[1].

Sau Cách mạng Tháng Mười, hàng loạt các đảng cộng sản đã ra đời, các đảng đã vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình để lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi điển hình như: Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam... Sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai được sự giúp đỡ của Liên Xô, hệ thống XHCN trên Thế giới đã hình thành với sự ra đời của một loạt nhà nước chuyên chính vô sản ở khắp các châu lục. Chủ nghĩa xã hội phát triển mạnh mẽ đã trở thành “trụ cột”, “thành trì” của hòa bình và là “nhân tố quyết định” chiều hướng phát triển của lịch sử Thế giới. Hệ thống XHCN do Liên Xô làm trụ cột là một lực lượng cách mạng to lớn có tác dụng ngăn chặn các âm mưu, thủ đoạn của bọn đế quốc đối với các dân tộc. Thành tựu đạt được của các nước XHCN đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, tiến bộ xã hội trong các nước tư bản và động viên nhân dân các nước thuộc địa đứng lên đấu tranh để giành quyền tự chủ cho dân tộc mình. Trong những năm 60 thế kỷ XX, trên Thế giới có khoảng 100 quốc gia giành được độc lập dân tộc với những mức độ khác nhau. Nhiều nước trong số đó đã lựa chọn con đường đi lên CNXH.

Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, CNXH hiện thực đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi bộ mặt Thế giới hiện đại, góp phần quan trọng bảo vệ hòa bình Thế giới, là động lực cho phong trào giải phóng dân tộc, giải phóng con người, mở ra chân trời mới tươi sáng cho nhân loại. Song, do những sai lầm, khuyết điểm kéo dài trong đường lối phát triển kinh tế, đường lối đối nội và đối ngoại, cũng như công tác xây dựng Đảng, cùng với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, từ những năm 90 thế kỷ XX đến nay CNXH Thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ. Đây là một tổn thất vô cùng nghiêm trọng cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Đứng trước những khó khăn đó của CNXH hiện thực và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, những người cộng sản chân chính, các đảng cộng sản đang nắm quyền ở các nước XHCN còn lại đã nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá, phân tích những căn nguyên để kịp thời rút ra những bài học kinh nghiệm cho đường hướng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ CNXH của mình. Đồng thời nhận thức và vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn của đất nước mình cũng như xu thế của thời đại, tiến hành cải cách, đổi mới một cách khoa học, triệt để nên đã thu được những thành tựu hết sức to lớn. Kết quả là đã đưa các nước này tránh được vết xe đổ của Liên Xô và Đông Âu, thoát khỏi cuộc khủng hoảng và vươn lên ngày càng mạnh mẽ điển hình như: Trung Quốc, Việt Nam...

Một thế kỷ đã trôi qua với biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử, nhưng Cách mạng Tháng Mười vẫn là một trong những sự kiện trọng đại nhất của lịch sử Thế giới hiện đại, để lại những giá trị to lớn cho công cuộc xây dựng CNXH./.



 

TẠI SAO PHẢI XOÁ BỎ

CHẾ ĐỘ TƯ HỮU TƯ BẢN TƯ NHÂN VỀ TƯ LIỆU SẢN XUẤT

Để bảo vệ cho chế độ tư bản chủ nghĩa, chế độ dựa trên sự chiếm hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất, thực chất là chế độ người bóc lột người, giai cấp này bóc lột giai cấp khác, dân tộc này áp bức dân tộc khác. Các học giả tư sản từ xưa đến nay luôn đưa ra các quan điểm cho rằng “quyền tư hữu là quyền tự nhiên của con người”. Từ quan điểm đó, họ tiến thêm một bước là quy chụp cho lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin là vi phạm quyền tự nhiên của con người, chủ nghĩa Mác - Lênin là không phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử nhân loại. Họ lợi dụng sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu để cho rằng do vi phạm quyền tự nhiên của con người mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã sụp đổ hoàn toàn.

Trước những luận điệu phản động, phản khoa học như trên chúng ta cần phải nhìn nhận lại một cách khách quan, chính xác xem có phải lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về xoá bỏ chế độ tư hữu có đúng như những quan điểm trên đưa ra không? Đồng thời khẳng định tính đúng đắn, khoa học trong lý luận của C.Mác về câu trả lời là tại sao phải xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất.

Trong bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, C,Mác đã chỉ ra và phân tích rất rõ chế độ tư hữu khiến cho con người bị tha hoá như thế nào? C.Mác đã chỉ ra chế độ tư hữu khiến cho con người bị tha hoá trên hai phương diện: Một là, sự tha hoá của người công nhân trong sản phẩm lao động của anh ta; Hai là, sự tha hoá của người công nhân trong bản thân hành vi sản xuất, trong bản thân hoạt động sản xuất. C. Mác còn chỉ ra sự tha hoá đó không chỉ đối với người công nhân mà còn đối với cả những người sở hữu.

Sự tha hoá đối với người công nhân: Ở phương diện thứ nhất, biểu hiện của sự tha hoá là sản phẩm do lao động của người công nhân làm ra không những không thuộc về anh ta, mà còn đối lập với lao động như một thực thể xa lạ, như một lực lượng không phụ thuộc vào người sản xuất. Người công nhân sản xuất càng nhiều của cải, sức mạnh và khối lượng sản phẩm của anh ta càng tăng thì anh ta càng nghèo. Người công nhân càng tạo ra nhiều hàng hoá, anh ta lại trở thành một hàng hoá rẻ mạt. Thế giới vật phẩm tăng thêm giá trị, thì Thế giới con người càng mất giá trị. Nói chung, anh ta làm ra càng nhiều vật phẩm thì số vật phẩm anh ta có thể chiếm hữu được càng ít và anh ta bị chính sản phẩm do mình làm ra thống trị càng mạnh. Ở phương diện thứ hai, sự tha hoá của công nhân trong sản phẩm của anh ta không chỉ có ý nghĩa là lao động của anh ta trở thành một vật phẩm, có được sự tồn tại bên ngoài, mà còn có ý nghĩa là lao động của anh ta tồn tại ở bên ngoài anh ta, không phụ thuộc vào anh ta, xa lạ với anh ta và lao động ấy trở thành môt lực lượng độc lập, đối lập với anh ta; có nghĩa là đời sống mà anh ta truyền cho vật phẩm, chống lại anh ta như một đời sống đối đối địch và xa lạ. Nghĩa là, trong lao động, đáng ra người công nhân khẳng định mình thì anh ta lại thấy mình “phủ định” mình, đáng ra người công nhân phải cảm thấy mình “sung sướng”, thì anh ta lại cảm thấy mình “khổ sở”. Đáng ra người công nhân “phát huy” một cách tự do nghị lực, thể chất và tinh thần của mình, thì anh ta lại cảm thấy mình đang làm quyệt quệ thân thể của mình và “phá hoại” tinh thần của mình. Câu hỏi đặt ra là vì sao vậy? Câu trả lời là: Vì sản phẩm do người công nhân làm ra thuộc hết về địa chủ và nhà tư bản, còn người công nhân, trong thực tế chỉ nhận được một phần rất nhỏ, “cái mà không có nó thì tuyệt đối không thể được: chỉ đúng cái cần thiết để người công nhân tồn tại - không phải như một con người mà như một công nhân và không phải để người công nhân duy trì loài người, mà duy trì giai cấp nô lệ - giai cấp công nhân”, bởi họ là những người không sở hữu về tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt xã hội nên phải làm thuê để nhận một khoản tiền công ít ỏi, không tương xứng với lao động của mình từ những người sở hữu.

Sự tha hoá đối với những người sở hữu: C.Mác đã chỉ ra sự tha hoá đối với những người sở hữu ở đây biểu hiện ra là “trạng thái tha hoá”. Trong Bộ tư bản, khi chỉ ra sự tha hoá của lực lượng tư bản mới ra đời, C.Mác đã trích dẫn sự mô tả của T.J.Dunning về lòng tham của tư bản như một minh chứng điển hình đó là: “Tư bản sợ tình trạng không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận quá ít, cũng như giới tự nhiên sợ chân không; với lợi nhuận thích đáng thì tư bản trở nên can đảm; được bảo đảm 10% lợi nhuận thì người ta có thể dùng tư bản vào đâu cũng được... được 300% lợi nhuận thì không có tội ác nào là nó không dám phạm, dù có nguy cơ bị treo cổ”.

Như vậy, tựu trung lại, chế độ tư hữu khiến cho con người trở nên xa lạ với chính mình và làm biến mất “tồn tại có tính chất người” của con người. Chế độ tư hữu khiến cho giá trị con người bị hạ thấp xuống chỉ bằng máy móc, khiến cho người công nhân “cảm thấy mình chỉ còn là con vật” trong những chức năng con người của anh ta, khiến cho “cái vốn có của súc vật trở thành chức phận của con người còn cái có tính người thì biến thành cái vốn có của súc vật”. Do đó, “xoá bỏ chế độ tư hữu”, là cần thiết và tất yếu. Đây là một giải pháp để giải phóng con người, mà trước hết là những người công nhân không có sở hữu, khỏi ách thống trị của chế độ tư hữu và trả lại cho con người một đời sống đích thực thay vì một “đời sống bị tha hoá”.  Song theo quan niệm của C.Mác, sự xoá bỏ chế độ tư hữu ở đây không phải xoá bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà cụ thể là xoá bỏ “chế độ sở hữu tư sản” - “biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp trên cơ sở những người này bóc lột những người kia”.

Từ những phân tích hết sức sâu sắc và chặt chẽ, dựa trên những luận cứ khoa học của C.Mác về chế độ tư hữu ở trên, chúng ta đã thấy rõ chế độ tư hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất nó để lại hậu quả to lớn đối với con người, nhất là người công nhân như thế nào và sự cần thiết phải xoá bỏ chế độ đó ra sao. Điều này đã chứng minh là các quan điểm của các học giả tư sản nêu ra là hoàn toàn sai trái phản khoa học. Họ chỉ có một mục đích là cố bảo vệ đến cùng cái chế độ áp bức, bóc lột đã bộc lộ hết những lỗi thời lạc hậu và xoá nhoà những luận cứ khoa học đã được lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin đưa ra về chế độ tư hữu mà thôi. Vì vậy, để đấu tranh làm thất bại những âm mưu thâm độc đó chúng ta phải luôn cảnh giác trước hết là phải nghiên cứu sâu kỹ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin để hiểu đúng những giá trị cốt lõi, đồng thời làm cơ sở để đấu tranh phản bác lại quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng lý luận của giai cấp công nhân./.

 

 

SỰ SUY THOÁI CỦA TRUYỀN THÔNG, BÁO CHÍ LIÊN XÔ LÀ BÀI HỌC NHÃN TIỀN..

 


Tại các cơ quan truyền thông, báo chí, tuyên truyền lớn của Liên Xô, từ 1986 đến 1988, một loạt cán bộ chủ chốt được thay thế bởi những người có tư tưởng ủng hộ phương Tây, mặt trận báo chí của Đảng Cộng sản Liên Xô dần bị "đánh chiếm". 


Từ đó, báo chí Liên Xô liên tục gây khuynh đảo dư luận khi ngấm ngầm (rồi sau đó công khai) viết bài chỉ trích lịch sử cách mạng, trong khi lại tán dương chủ nghĩa tư bản phương Tây. Ảnh hưởng từ báo chí, tư tưởng Đảng viên và nhân dân Liên Xô trở nên dao động dữ dội, ngày càng có nhiều người bi quan về đất nước trong khi lại ảo tưởng về phương Tây .


Năm 1994, nhà văn Yuri Boldarev khi nhìn lại tình cảnh của thời kỳ này đã nói: “Trong sáu năm, báo chí Liên Xô đã thực hiện được mục tiêu mà quân đội Đức Quốc xã với hàng triệu quân tinh nhuệ nhất cũng không thể thực hiện được khi xâm lược nước ta, đó là đánh đổ Nhà nước Liên Xô. Quân đội Đức có thiết bị kỹ thuật hàng đầu nhưng thiếu một thứ, đó là hàng triệu ấn phẩm mang vi khuẩn hủy diệt tư tưởng của nhân dân Liên Xô”


Hiện nay chúng ta đã và đang làm rất tốt công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng nhưng trên trận địa tư tưởng văn hóa trong thời gian qua đã có những biểu hiện chuyển hóa tư tưởng chệch hướng nghiêm trọng cần phải được quan tâm để nhận diện và chấn chỉnh kịp thời!

ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LƠI DỤNG VỀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Thời gian qua trên một số trang mạng xã hội lại xuất hiện các diễn đàn tập hợp nhiều phần tử bất mãn, cho rằng: “Đảng, Nhà nước Việt Nam không coi trọng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo”; hoặc cố tình xuyên tạc đường lối, chủ trương, quan điểm đấu tranh giữ vững chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc thông qua những “thuyết âm mưu” nhuốm màu kích động như: "Việt Nam lôi bè kéo cánh, đi với nước này, chống nước kia; và rằng, không đánh nhau thì mất biển, mất đảo... ". Chúng quy chụp lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước ta "phản ứng chậm" hoặc "né tránh, không dám đối đầu, đang tâm để chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị đe dọa”. Mưu đồ của những luận điệu này dễ khiến nhân dân mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển.

Đảng, Nhà nước cũng đã nhận định; Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực trong giai đoạn hiện nay, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Xong bên cạnh đó việc cạnh tranh giữa các nước lớn, xung đột, tranh chấp chủ quyền biển, đảo vẫn xảy ra ở nhiều nơi, trong đó có khu vực Biển Đông. Những điểm bất đồng giữa các quốc gia, dân tộc đều có xu hướng giải quyết trên nền tảng hòa bình, đối thoại, cùng nhau tìm giải pháp chung và trên nền tảng nguyên tắc nhất định của luật pháp quốc tế, không thể manh động, hồ đồ như một số người đã nghĩ.

Đặc biệt, trong bối cảnh Trung Quốc gần đây có các hành động vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Đảng, Nhà nước ta luôn giữ được chủ trương: "Giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), nhằm tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của các bên, tiến tới xây dựng Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hợp tác và phát triển". Đảm bảo sự linh hoạt, mềm dẻo và giữ vững chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Bằng những chiến lược khôn khéo, mềm dẻo chúng ta luôn kiên trì đấu tranh trên các mặt trận, với mọi cấp độ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các quốc gia trên thế giới, thẳng thắn đấu tranh kiên quyết, trao công hàm, tiếp xúc đại diện, lên tiếng phản đối Trung Quốc, yêu cầu tôn trọng chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Đồng thời, duy trì thường xuyên lực lượng chuyên trách, sử dụng biện pháp đấu tranh “hòa bình” không để xảy ra xung đột vũ trang. Bên cạnh đó, thường xuyên thông tin kịp thời tình hình diễn biến đến nhân dân, quản lý chặt chẽ tình hình an ninh trật tự và làm tốt công tác định hướng tư tưởng cho nhân dân. Trước tình hình căng thẳng trên Biển Đông, thông qua đường lối đúng đắn, chúng ta vẫn bảo đảm và bảo vệ được lợi ích quốc gia dân tộc. Điều này cho thấy, chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết những bất đồng trên Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại.

Chủ quyền quốc gia, dân tộc là điều thiêng liêng nhất của mỗi người dân Việt Nam; nhưng để giữ vững chủ quyền biên giới, biển, đảo; chúng ta không thể manh động giải quyết, mà phải có chiến lược cơ bản và lâu dài; đòi hỏi phải tỉnh táo, khôn khéo để không bị mắc mưu kẻ sấu. Vì vậy, đây là những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhằm gây chia rẽ nội bộ Đảng, bôi nhọ uy tín của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta mà thôi. Chính vì vậy, đấu tranh, phản bác lại các luận điệu xuyên tạc tình hình Biển Đông của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Mỗi người dân yêu nước cần tỉnh táo, bình tĩnh, kiên quyết, kiên trì, nhận thức rõ và kiên quyết đấu tranh làm thất bại các luận điệu xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch để có hành động đúng đắn, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta giữ vững chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc./.

LÊ TRẦN NGỌC SƠN LÀ AI?

 Trên mạng xã hội xuất hiện lá đơn được cho là của 1 thầy giáo xin nghỉ việc vì “công tác trong ngành giáo dục nhưng có nhiều điều phi giáo dục, tởm nhất là vấn nạn dối trá”.

 

Đơn đề nghị được cho là của ông Lê Trần Ngọc Sơn, Giáo viên Tiếng Anh, Trường Tiểu học An Lợi, Long Thành, Đồng Nai đề nghị cho thôi việc từ ngày 01/11/2021.


Lý do nêu trong đơn là “công tác trong ngành giáo dục nhưng có nhiều điều phi giáo dục, tởm nhất là vấn nạn dối trá, tôi cảm thấy mình không phù hợp nên nghỉ”.


Tuy nhiên, lật lại “tiểu sử” và các phát ngôn của “thầy giáo” Lê Trần Ngọc Sơn thì có lẽ “thầy giáo” này nên được giải quyết cho thôi việc sớm hơn nếu không có thể làm hỏng cả một thế hệ học sinh. 


Đôi nét về vị “thầy giáo” này: 


Lê Trần Ngọc Sơn có bố là cựu quân nhân nguỵ quyền VNCH, vào đúng ngày 30/4 - kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ông này công khai viết bài gọi ngày kỷ niệm là “tháng tư đen”, kể về “cuộc đời binh nghiệp” của bố ông này. 


Lê Trần Ngọc Sơn sử dụng mạng xã hội, kết bạn, theo dõi các tài khoản phản động, chia sẻ thông tin từ các báo đài phản động như RFA, Việt Tân. Sơn từng đăng bài công khai đòi tự do cho đối tượng phản động Trần Huỳnh Duy Thức bị Toà án Việt Nam kết án. 


Lê Trần Ngọc Sơn từng bị Công an huyện Long Thành (Đồng Nai) và Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông mời lên làm việc vì đưa tin sai sự thật liên quan đến công tác tiêm chủng vaccine covid-19 phòng chống dịch. 


Lê Trần Ngọc Sơn từng viết bài xúc phạm Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, đưa tin sai sự thật về cuộc biểu tình tại Cuba. Đưa các thông tin sai sự thật, mang tính kích động người dân phản đối các biện pháp chống dịch, phục hồi kinh tế của nhà nước. 


Là một giáo viên có nhiều năm đứng lớp, nhưng lá đơn xin nghỉ việc của y trong đó nêu lý do xin nghỉ với nội dung rất phản cảm, không đúng với tác phong, tư cách của nhà giáo, không đúng theo quy định của pháp luật.


Việc cho Lê Trần Ngọc Sơn nghỉ là cần thiết để bảo vệ môi trường giáo dục trong sạch, không bị vấy bẩn, ô nhiễm bởi tư tưởng phản động của y. 

NẾU KHÔNG VÌ QUỐC GIA, DÂN TỘC VÀ ĐỒNG BÀO MÌNH THÌ XIN ĐỪNG XUYÊN TẠC BÔI NHỌ ĐẤT NƯỚC

 Đợt dịch lần thứ tư bùng phát, với những biến chủng mới với tốc độ lây lan rất nhanh, vô cùng nguy hiểm và diễn biến hết sức phức tạp; chính vì vậy, công tác phòng, chống dịch của ta gặp không ít khó khăn. Xong với những chủ trương đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc quyết liệt của Nhà nước, Chính phủ, chính quyền các địa phương, của cả hệ thống chính trị và sự nỗ lực, đoàn kết chung tay phòng, chống đại dịch của toàn dân đã giành được những kết quả đáng kể, tình hình dịch bệnh trong mấy ngày qua, nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam đã cơ bản được kiểm soát. Điều đó chứng tỏ chúng ta đã đi đúng hướng và có hiệu quả; những thành quả đó đã được nhân dân cả nước và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Vậy mà, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm gây nhiễu loạn thông tin, phủ nhận kết quả phòng, chống dịch ở nước ta. Đặc biệt, trước diễn biến phức tạp của đợt dịch bùng phát lần thứ tư, các đối tượng phản động đã tung ra những thông tin bịa đặt, các luận điệu xuyên tạc, vu cáo trắng trợn nỗ lực phòng, chống Covid-19 ở Việt Nam. Phủ nhận mọi nỗ lực và thành quả chống dịch bằng các luận điệu như: “Đừng ngộ nhận về hình mẫu chống dịch Covid-19 của Việt Nam”; “Việt Nam chậm trễ, bị động; Đảng, Nhà nước thiếu trách nhiệm trong việc bảo đảm vaccine Covid-19”. Thậm chí chúng còn cho rằng “Việt Nam đưa ra các biện pháp cách ly y tế hay phong tỏa khu vực dân cư có người nhiễm Covid-19, hạn chế tụ tập đông người là vi phạm nghiêm trọng tự do của mỗi người”. Chúng lập luận rằng “Mọi người được tự do cư trú” nhưng người nhiễm Covid-19 và cả những người tiếp xúc gần đều bị đưa đi cách ly ở các khu vực do Nhà nước quy định, như vậy thì người dân không được tự do lựa chọn nơi cư trú theo mong muốn của bản thân, làm cho nhân dân có những suy nghĩ, nhận thức sai lệch về “Tự do”, kích động cổ súy các phần tử bất mãm chống phá Đảng, chống phá chính quyền trong công tác phòng, chống dịch.

Trắng trợn hơn, chúng còn xuyên tạc rằng Việt Nam “Giấu thông tin về dịch bệnh, số người thực tế nhiễm và tử vong do Covid-19 cao hơn nhiều so với con số được báo, đài công bố”. Chúng lại tuyên truyền cho rằng, Chính phủ các nước tư bản tung các gói cứu trợ cho người dân, hỗ trợ phòng, chống dịch cho quốc tế và các hình thức hỗ trợ khác để phòng, chống dịch bệnh; còn Chính phủ, Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam kêu gọi vận động hỗ trợ, quyên góp ủng hộ quỹ vaccine phòng, chống dịch Covid-19. Từ đó, so sánh và xuyên tạc rằng Chính phủ Việt Nam yếu kém chỉ biết "xin tiền" nhân dân… Đây là những luận điệu xuyên tạc với mục đích công kích, phủ nhận nỗ lực chống dịch của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, nhằm gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong dư luận xã hội, tạo sự hoài nghi về công tác phòng, chống dịch nhằm gây bất ổn chính trị - xã hội trong nước mà thôi.

Là người dân Việt Nam ai cũng hiểu rằng; chúng ta vừa mới đi qua các cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù, nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, chúng ta mới thoát ra khỏi nước nghèo; kinh tế mới hồi phục và đang trên đà phát triển; chúng ta lại phải đương đầu với một kẻ thù vô hình “Covid - 19” cuộc chiến chưa từng có tiền lệ, những khó khăn, những bỡ ngỡ lúc ban đầu cũng là điều dễ hiểu. Ở đây, chúng ta cần sự đồng cảm, đồng lòng cùng chia sẻ với Chính phủ và đồng bào để phòng, chống đại dịch; chúng ta không cần những kẻ chỉ biết ngồi lê phán xét, ăn theo, nói leo, với cách nhìn soi mói, so sánh thiển cận mà một số kẻ thường làm, thực sự những kẻ này không phải vì nước vì dân, mà chỉ vì những mục đích thấp hèn của chúng mà thôi. Vì vậy, chúng ta cần phải kiên quyết đấu tranh, phản bác làm thất bại những luận điệu xuyên tác phản động đó./.

THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG - VĂN HÓA

Sau khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp, Đảng đã củng cố được niềm tin với quần chúng nhân dân, uy tín của Đảng ngày càng được nhân dân tin tưởng; vị thế của đất nước trên trường quốc tế ngày càng cao. Vì vậy, các thế lực thù địch ngày càng điên cuồng ra sức chống phá Đảng, Nhà nước với nhiều âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Do đó, chúng ta phải nhận rõ bộ mặt thật của thủ đoạn thâm độc này để có các biện pháp phòng, chống hiệu quả, điều này rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Các thế lực phản động, thù địch tiếp tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa ở nước ta, nhằm phá hoại nn tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lợi dụng sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch đã tấn công quyết liệt vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta đó là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đả kích đường lối cách mạng của Đảng, lái cách mạng Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chúng kích động, lôi kéo những phần tử bất mãn trong nội bộ Đảng, nội bộ Nhà nước ta để làm nòng cốt chuyển hóa từ bên trong, kích động tâm lý hoài nghi dẫn đến phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hộiThực tế đã có một bộ phận nhân dân trong đó có một số cán bộ, đảng viên đã dao động, giảm sút lòng tin đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như con đường mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Một số kẻ cơ hội xét lại đã tung ra những bài viết xuyên tạc, vu khống, đòi bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Những việc làm ấy đã gây hoang mang, hoài nghi cho không ít người thiếu bản lĩnh, thiếu niềm tin đối với Đảng và chế độ. Bằng cách đó, chúng đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến” từ bên trong lòng xã hội; Trước hết là “tự diễn biến” về nhận thức, tư tưởng, văn hóa ở nước ta.

Ngoài ra, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn ra sức vu khống, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo, dân tộc; chính sách đối với văn nghệ sĩ. Âm mưu của chúng là tạo ra những lực lượng chống đối ngầm trong nội bộ nhân dân ta. Nếu không được vạch trần, ngăn chặn, nó có khả năng làm rối loạn xã hội, tạo cơ hội cho “diễn biến hòa bình phát triển ngày một lan rộng.

Chiến lược “diễn biến hòa bình còn tác động xấu đến đạo đức, lối sống của nhân dân ta, đó là sùng ngoại, coi thường giá trị văn hóa của dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân, ích kỉ, ham muốn làm giàu không chính đáng, ham muốn quyền lực cực đoan… đã và đang phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Khuynh hướng này hết sức nguy hiểm, có sức phá hoại mạnh, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta và về lâu dài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Chính vì vậy, chúng ta cần nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với Việt Nam. Đây là yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách và là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay./.

NHỮNG KẺ PHẢN ĐỘNG, THÙ ĐỊCH LẠI XUYÊN TÁC VỀ CÔNG TÁC THAM GIA CHỐNG DỊCH CỦA QUÂN ĐỘI

 Quân đội Nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, không sợ hy sinh, gian khổ. Vì vậy, tình đoàn kết quân dân được ví như cá với nước. Với chức năng nhiệm vụ của mình vừa là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Cũng chính vì lẽ đó mà quân đội không những chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ trọng tâm chính trị là huấn luyện, chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc; mà còn sẵn sàng giúp đỡ nhân dân khi nhân dân gặp phải thiên tai, thảm họa. Hình ảnh quân đội gặt lúa giúp dân trong bão lũ, sơ tán người dân đến các điểm an toàn trong mưa bão, tìm kiếm người dân gặp nạn, mất tích; đó là những hình ảnh quen thuộc ở Việt Nam quê hương ta. Vì vậy, việc quân đội tham gia phòng chống dịch Covid-19 ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam lần này cũng chính là sự tiếp nối của tinh thần đoàn kết gắn bó giữa quân với dân một ý chí.

Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam đã trải qua mấy tháng oằn mình chống dịch, cho đến nay tình hình dịch bệnh đã cơ bản được kiểm soát. Tất cả các cơ quan của hệ thống chính trị cho tới mỗi người dân đều đã phải đối diện với những khó khăn chồng chất. Các lực lượng tuyến đầu đã gần như kiệt sức. Việc thực hiện giãn cách dài ngày nhưng chưa mang lại hiệu quả như mong muốn đã làm cho một bộ phận người dân rơi vào khủng hoảng tâm lý trầm trọng. Hình ảnh từng đoàn người ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận đã tự phát di chuyển hàng trăm km bằng xe máy, xe đạp, thậm chí có người còn đi bộ về quê với bao gian nan vất vả; những hình ảnh đó đã lột tả hết sự khốc liệt của dịch bệnh và tâm lý hoang mang, sợ hãi của người sống trong tâm dịch. Vì vậy, mệnh lệnh sống còn trong lúc này là phải quyết tâm khống chế, nhanh chóng đẩy lùi dịch bệnh. Đó không chỉ là quyết tâm và mục tiêu cao nhất của Thành phố và các tỉnh, thành đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh; đây còn là quyết tâm của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương.

Do đó, quyết định đưa lực lượng quân đội để cùng phối hợp với các địa phương tham gia chống dịch ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phí Nam nhằm nâng cao hơn nữa việc quản lý giãn cách xã hội, khống chế dịch bệnh, ngăn ngừa những yếu tố bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là vô cùng sáng suốt, đúng đắn và cần thiết trong bối cảnh lúc bấy giờ.

Trên thực tế, chỉ những quân nhân được giao nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, điều tiết giao thông, bảo đảm trật tự an toàn xã hội mới được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ. Còn lại những quân nhân khác, thực hiện các nhiệm vụ như khám, chữa bệnh, tham gia vận chuyển, cung ứng hàng hóa tới người dân; phụ trách việc hỏa táng, nhang khói và vận chuyển tro cốt nạn nhân mất vì Covid-19 thì không cần mang công cụ hỗ trợ. Những quân nhân được trang bị những công cụ hỗ trợ là những người đang thực hiện nhiệm vụ đặc biệt đó là Mệnh lệnh chống “giặc” Covid-19. Chẳng lẽ lại bắt họ phải ôm hoa, rau tươi hay trái cây? thử hỏi mấy ông “dân chủ cuội” vậy họ phải cần mang theo thứ gì?

Từ những thông tin của các cơ quan truyền thông cho thấy, chỉ mới trải qua một vài ngày với sự vào cuộc của quân đội cùng với việc siết chặt các biện pháp giãn cách, việc tuân thủ các quy định về phòng, chống dịch, nhất là việc người dân viện lý do để ra đường đã giảm hẳn. Không những vậy, hình ảnh những chiến sĩ quân đội, công an, dân phòng cùng các lực lượng khác xuất hiện ở những con hẻm phân phát lương thực, thực phẩm đến tận nhà cho người dân đã giúp cho mọi người cảm thấy an tâm hơn. Sự vào cuộc và có mặt của quân đội, trước hết là một điểm tựa vững chắc về tinh thần rất to lớn đối với người dân. Không như những gì mà các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo và cho rằng; quân đội không cần thiết phải vào cuộc, quân đội khống chế làm mất quyền tự do dân chủ…vv. Cái “dân chủ cuội” mà các thế lực phản động thường rêu rao, đòi hỏi này hoàn toàn không hợp với ý Đảng lòng dân, nhất là trong bối cảnh lúc bấy giờ.

Sự vào cuộc của quân đội lần này được xem là trận đánh then chốt quyết định. Đã xác định là trận then chốt quyết định bao giờ cũng được chuẩn bị công phu, bài bản, chính xác đến từng chi tiết với kế hoạch tác chiến hoàn hảo và phải chắc thắng, không cho phép thất bại. Với truyền thống gắn bó mật thiết với nhân dân, hy sinh phấn đấu vì nhân dân, sự có mặt của quân đội sẽ góp phần nâng cao tính kỷ luật trong chống dịch, người dân sẽ tuân thủ và chấp hành tốt hơn. Bằng kinh nghiệm dày dặn của mình, chắc chắn lực lượng quân đội sẽ cùng các lực lượng khác bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, điều tiết và cung cấp lương thực, thực phẩm để người dân yên tâm chống dịch, để Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam sớm khống chế dịch bệnh, đưa cuộc sống trở lại trạng thái bình thường mới, mà thực tiễn đã chứng minh chúng ta đã chiến thắng dịch bệnh, chỉ một vài tuần tới các tỉnh, thành phía Nam cùng cả nước tiếp tục công cuộc phát triển kinh tế, kiến thiết xây dựng đất nước.

Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, chúng ta cần nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; để đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc sự thật về sự vào cuộc của quân đội trong phòng, chống dịch Covid-19 hiện nay; những hành vi đó cần được vạch trần, lên án và kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái đó của bọn chúng./.