TẠI SAO PHẢI XOÁ BỎ
CHẾ ĐỘ TƯ HỮU TƯ BẢN TƯ NHÂN VỀ TƯ LIỆU SẢN
XUẤT
Để bảo vệ cho chế
độ tư bản chủ nghĩa, chế độ dựa trên sự chiếm hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản
xuất, thực chất là chế độ người bóc lột người, giai cấp này bóc lột giai cấp
khác, dân tộc này áp bức dân tộc khác. Các học giả tư sản từ xưa đến nay luôn
đưa ra các quan điểm cho rằng “quyền tư hữu là quyền tự nhiên của con người”. Từ
quan điểm đó, họ tiến thêm một bước là quy chụp cho lý luận chủ nghĩa Mác -
Lênin là vi phạm quyền tự nhiên của con người, chủ nghĩa Mác - Lênin là không
phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử nhân loại. Họ lợi dụng sự sụp đổ chủ
nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu để cho rằng do vi phạm quyền
tự nhiên của con người mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã sụp đổ hoàn toàn.
Trước những luận
điệu phản động, phản khoa học như trên chúng ta cần phải nhìn nhận lại một cách
khách quan, chính xác xem có phải lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về xoá bỏ
chế độ tư hữu có đúng như những quan điểm trên đưa ra không? Đồng thời khẳng định
tính đúng đắn, khoa học trong lý luận của C.Mác về câu trả lời là tại sao phải
xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất.
Trong bản thảo
kinh tế - triết học năm 1844, C,Mác đã chỉ ra và phân tích rất rõ chế độ tư hữu
khiến cho con người bị tha hoá như thế nào? C.Mác đã chỉ ra chế độ tư hữu khiến
cho con người bị tha hoá trên hai phương diện: Một là, sự tha hoá của người
công nhân trong sản phẩm lao động của anh ta; Hai là, sự tha hoá của người công
nhân trong bản thân hành vi sản xuất, trong bản thân hoạt động sản xuất. C. Mác
còn chỉ ra sự tha hoá đó không chỉ đối với người công nhân mà còn đối với cả những
người sở hữu.
Sự tha hoá đối với
người công nhân: Ở phương diện thứ nhất, biểu hiện của sự tha hoá là sản phẩm
do lao động của người công nhân làm ra không những không thuộc về anh ta, mà
còn đối lập với lao động như một thực thể xa lạ, như một lực lượng không phụ
thuộc vào người sản xuất. Người công nhân sản xuất càng nhiều của cải, sức mạnh
và khối lượng sản phẩm của anh ta càng tăng thì anh ta càng nghèo. Người công
nhân càng tạo ra nhiều hàng hoá, anh ta lại trở thành một hàng hoá rẻ mạt. Thế
giới vật phẩm tăng thêm giá trị, thì Thế giới con người càng mất giá trị. Nói
chung, anh ta làm ra càng nhiều vật phẩm thì số vật phẩm anh ta có thể chiếm hữu
được càng ít và anh ta bị chính sản phẩm do mình làm ra thống trị càng mạnh. Ở
phương diện thứ hai, sự tha hoá của công nhân trong sản phẩm của anh ta không
chỉ có ý nghĩa là lao động của anh ta trở thành một vật phẩm, có được sự tồn tại
bên ngoài, mà còn có ý nghĩa là lao động của anh ta tồn tại ở bên ngoài anh ta,
không phụ thuộc vào anh ta, xa lạ với anh ta và lao động ấy trở thành môt lực
lượng độc lập, đối lập với anh ta; có nghĩa là đời sống mà anh ta truyền cho vật
phẩm, chống lại anh ta như một đời sống đối đối địch và xa lạ. Nghĩa là, trong
lao động, đáng ra người công nhân khẳng định mình thì anh ta lại thấy mình “phủ
định” mình, đáng ra người công nhân phải cảm thấy mình “sung sướng”, thì anh ta
lại cảm thấy mình “khổ sở”. Đáng ra người công nhân “phát huy” một cách tự do
nghị lực, thể chất và tinh thần của mình, thì anh ta lại cảm thấy mình đang làm
quyệt quệ thân thể của mình và “phá hoại” tinh thần của mình. Câu hỏi đặt ra là
vì sao vậy? Câu trả lời là: Vì sản phẩm do người công nhân làm ra thuộc hết về
địa chủ và nhà tư bản, còn người công nhân, trong thực tế chỉ nhận được một phần
rất nhỏ, “cái mà không có nó thì tuyệt đối không thể được: chỉ đúng cái cần thiết
để người công nhân tồn tại - không phải như một con người mà như một công nhân
và không phải để người công nhân duy trì loài người, mà duy trì giai cấp nô lệ
- giai cấp công nhân”, bởi họ là những người không sở hữu về tư liệu sản xuất
và tư liệu sinh hoạt xã hội nên phải làm thuê để nhận một khoản tiền công ít ỏi,
không tương xứng với lao động của mình từ những người sở hữu.
Sự tha hoá đối với
những người sở hữu: C.Mác đã chỉ ra sự tha hoá đối với những người sở hữu ở đây
biểu hiện ra là “trạng thái tha hoá”. Trong Bộ tư bản, khi chỉ ra sự tha hoá của
lực lượng tư bản mới ra đời, C.Mác đã trích dẫn sự mô tả của T.J.Dunning về
lòng tham của tư bản như một minh chứng điển hình đó là: “Tư bản sợ tình trạng
không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận quá ít, cũng như giới tự nhiên sợ chân không;
với lợi nhuận thích đáng thì tư bản trở nên can đảm; được bảo đảm 10% lợi nhuận
thì người ta có thể dùng tư bản vào đâu cũng được... được 300% lợi nhuận thì
không có tội ác nào là nó không dám phạm, dù có nguy cơ bị treo cổ”.
Như vậy, tựu trung
lại, chế độ tư hữu khiến cho con người trở nên xa lạ với chính mình và làm biến
mất “tồn tại có tính chất người” của con người. Chế độ tư hữu khiến cho giá trị
con người bị hạ thấp xuống chỉ bằng máy móc, khiến cho người công nhân “cảm thấy
mình chỉ còn là con vật” trong những chức năng con người của anh ta, khiến cho
“cái vốn có của súc vật trở thành chức phận của con người còn cái có tính người
thì biến thành cái vốn có của súc vật”. Do đó, “xoá bỏ chế độ tư hữu”, là cần
thiết và tất yếu. Đây là một giải pháp để giải phóng con người, mà trước hết là
những người công nhân không có sở hữu, khỏi ách thống trị của chế độ tư hữu và
trả lại cho con người một đời sống đích thực thay vì một “đời sống bị tha hoá”.
Song theo quan niệm của C.Mác, sự xoá bỏ
chế độ tư hữu ở đây không phải xoá bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà cụ thể là xoá
bỏ “chế độ sở hữu tư sản” - “biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của phương thức
sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp trên cơ sở những
người này bóc lột những người kia”.
Từ những phân tích
hết sức sâu sắc và chặt chẽ, dựa trên những luận cứ khoa học của C.Mác về chế độ
tư hữu ở trên, chúng ta đã thấy rõ chế độ tư hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản
xuất nó để lại hậu quả to lớn đối với con người, nhất là người công nhân như thế
nào và sự cần thiết phải xoá bỏ chế độ đó ra sao. Điều này đã chứng minh là các
quan điểm của các học giả tư sản nêu ra là hoàn toàn sai trái phản khoa học. Họ
chỉ có một mục đích là cố bảo vệ đến cùng cái chế độ áp bức, bóc lột đã bộc lộ
hết những lỗi thời lạc hậu và xoá nhoà những luận cứ khoa học đã được lý luận
chủ nghĩa Mác – Lênin đưa ra về chế độ tư hữu mà thôi. Vì vậy, để đấu tranh làm
thất bại những âm mưu thâm độc đó chúng ta phải luôn cảnh giác trước hết là phải
nghiên cứu sâu kỹ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin để hiểu đúng những giá trị
cốt lõi, đồng thời làm cơ sở để đấu tranh phản bác lại quan điểm sai trái của
các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng lý luận của giai cấp công nhân./.
Nội dung bài viết rất hay
Trả lờiXóa