Thứ Năm, 6 tháng 1, 2022

BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 

BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng được xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các cấp, các ngành. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần phải tăng cường hơn nữa bảo vệ an toàn, an ninh mạng các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia; phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Không gian mạng và bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng

Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có khái niệm thống nhất về không gian mạng. Quan điểm của Mỹ đề cập trong Chỉ thị số 54 về An ninh quốc gia và Chỉ thị số 23, năm 2008, về An ninh nội địa của Tổng thống Mỹ cho rằng, không gian mạng là mạng lưới kết nối các cơ sở hạ tầng bao gồm internet, các mạng viễn thông, các hệ thống máy tính, các hệ thống xử lý và điều khiển trong ngành công nghiệp trọng yếu; không gian mạng được dùng để mô tả một môi trường ảo, trong đó diễn ra việc trao đổi thông tin và tương tác giữa con người với nhau, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Bộ Quốc phòng Nhật Bản xác định không gian mạng là không gian ảo, bao gồm cả internet, trong đó thông tin được trao đổi bằng công nghệ thông tin và viễn thông; không gian mạng là “trường”, trong đó các hoạt động tình báo, tấn công và phòng thủ được tiến hành như “trường” trên bộ, trên biển, trên không và trong không gian(1).

Trung Quốc coi không gian mạng là chiến trường thứ năm và là mặt trận tình báo mới. Trong phát biểu tại hội nghị thành lập Tiểu tổ Lãnh đạo an ninh mạng và thông tin hóa Trung ương ở Bắc Kinh, ngày 27-2-2014, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình cho rằng, internet và an ninh thông tin đã trở thành thách thức mới đối với Trung Quốc vì cả hai đều gắn liền với an ninh quốc gia và ổn định xã hội(2).

Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12-6-2018 khẳng định, không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Không gian mạng quốc gia là không gian mạng do Chính phủ xác lập, quản lý và kiểm soát(3). Trên không gian mạng, Việt Nam có hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Hệ thống này gồm hệ thống thông tin quân sự, an ninh, ngoại giao, cơ yếu; hệ thống thông tin lưu trữ, xử lý thông tin thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ lưu giữ, bảo quản hiện vật, tài liệu có giá trị đặc biệt quan trọng; hệ thống thông tin phục vụ bảo quản vật liệu, chất đặc biệt nguy hiểm đối với con người, môi trường sinh thái; hệ thống thông tin phục vụ bảo quản, chế tạo, quản lý cơ sở vật chất đặc biệt quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia; hệ thống thông tin quan trọng phục vụ hoạt động của cơ quan, tổ chức ở Trung ương; hệ thống thông tin quốc gia thuộc lĩnh vực năng lượng, tài chính, ngân hàng, viễn thông, giao thông vận tải, tài nguyên và môi trường, hóa chất, y tế, văn hóa, báo chí; hệ thống điều khiển và giám sát tự động tại công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia(4).

Từ khái niệm bảo vệ an ninh quốc gia được đề cập trong Luật An ninh quốc gia Việt Nam năm 2004 có thể hiểu, bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Thực tế cho thấy, không gian mạng quốc gia Việt Nam chứa đựng những yếu tố hết sức quan trọng, nếu bị xâm hại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích, an ninh quốc gia. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước vẫn không từ bỏ âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam. Chúng luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và không gian mạng vào các hoạt động chống phá với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm. Trong bối cảnh đó, yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng đặt ra trong tình hình hiện nay là hết sức cấp thiết. Chính vì vậy, Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 5-9-2019, của Bộ Chính trị, về “Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia” xác định, cần phải tăng cường bảo vệ an toàn, an ninh mạng các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia và các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng; khắc phục điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, nguy cơ mất an toàn, an ninh mạng, an ninh thông tin.

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng được xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Do đó, để triển khai công tác này, phải phát huy được sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đồng thời, xác định đây là cuộc đấu tranh của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là nhiệm vụ trọng yếu của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó, lực lượng công an giữ vai trò nòng cốt, lực lượng an ninh mạng và cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao có trách nhiệm trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng. Đây là quan điểm, tư tưởng cơ bản, xuyên suốt của Đảng, quyết định thắng lợi cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Các nguyên tắc cần quán triệt trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng bao gồm: Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc; lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng làm nòng cốt. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên không gian mạng; bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hóa, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia trên không gian mạng; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia trên không gian mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được hình thành dựa trên nền tảng của công nghệ số cùng với việc sử dụng phổ biến in-tơ-nét. Đặc trưng quan trọng của cuộc cách mạng này là sự phát triển hệ thống liên kết thế giới thực và ảo trên cơ sở internet kết nối vạn vật (Internet of Things - IoT) và internet kết nối các hệ thống (Internet of Systems - IoS). Trong bối cảnh diễn ra cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trên không gian mạng xuất hiện những nguy cơ, hoạt động tác động mạnh mẽ đến an ninh quốc gia của tất cả các nước, trong đó có Việt Nam. Ở các nước trên thế giới, nhất là các nước có nền khoa học - công nghệ phát triển, như Mỹ, Nga, Trung Quốc..., đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Cụ thể là:

Một là, chiến tranh mạng. Có thể nói, chiến tranh mạng là một hình thái chiến tranh mới, vượt ra khỏi khuôn khổ khái niệm về chiến tranh quân sự truyền thống. Đây là cuộc chiến tranh bất đối xứng, chỉ một lực lượng rất nhỏ cũng có thể gây thiệt hại lớn cho đối phương. Chiến tranh mạng không sử dụng khí tài quân sự truyền thống mà sử dụng lực lượng tinh nhuệ để lập trình, chế tạo, sản xuất và nhân bản hàng loạt vũ khí mạng, như mã độc, hệ thống công cụ tấn công mạng, hệ thống công cụ tình báo mạng. Mặc dù được tiến hành trên không gian mạng nhưng hậu quả do chiến tranh mạng gây ra có thể vượt ra ngoài phạm vi không gian ảo và có sức tàn phá lớn, thậm chí vượt xa chiến tranh quân sự truyền thống. Tháng 4-2007, hàng loạt trang thông tin điện tử (website) các cơ quan chính phủ, nhà cung cấp dịch vụ internet và ngân hàng của E-xtô-ni-a bị tấn công liên tục. Hậu quả là hầu hết các website tại E-xtô-ni-a bị tê liệt trong khoảng 3 tuần, gây ra nhiều thiệt hại cho nước này. Năm 2009, hàng loạt website của chính phủ Mỹ và Hàn Quốc cũng bị tấn công, trong đó nhiều website quan trọng của Mỹ và Hàn Quốc phải tạm ngừng hoạt động.

Hai là, gián điệp mạng. Gián điệp mạng ra đời cùng với sự xuất hiện của không gian mạng với sự kết nối của mạng máy tính, internet và sự phát triển của công nghệ thông tin. Gián điệp mạng có thể gây ra những tổn thất khôn lường về nhiều mặt, thậm chí làm ảnh hưởng đến nhiều quốc gia thông qua hoạt động tấn công vào hệ thống máy tính của các cơ quan chính quyền, tập đoàn kinh tế, hệ thống ngân hàng hoặc hệ thống thông tin của các cảng sân bay hàng không quốc tế,... để đánh cắp dữ liệu số, thông tin bí mật hoặc tấn công mã độc, chiếm quyền kiểm soát, điều khiển hệ thống thông tin... Từ năm 2006 đến năm 2017, WikiLeaks cho công bố hàng loạt tài liệu mật, trong đó có nhiều tài liệu mật của Mỹ và một số nước, bao gồm cả các tài liệu phản ánh hoạt động giám sát các thiết bị di động của Cơ quan tình báo Trung ương Mỹ (CIA). Năm 2013, E. Xnâu-đân (Edward Snowden) tiết lộ thông tin mật về chương trình do thám toàn cầu do tình báo Mỹ và Anh thực hiện, gồm cả các hoạt động giám sát điện thoại của một số nhà lãnh đạo trên thế giới, như Tổng thống Nga D. Mét-vê-đép (Dmitry Medvedev), Thủ tướng Đức An-giê-la Méc-ken (Angela Merkel)... Năm 2016, 11,5 triệu tài liệu mật cũng đã được công khai cho báo chí trong vụ “Hồ sơ Panama”...

Ba là, khủng bố mạng. Thời gian qua, các đối tượng khủng bố quốc tế; các thế lực thù địch; các tổ chức tin tặc, điển hình như Tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS), tổ chức tin tặc do “nhóm hacker ẩn danh” Anonymous sáng lập và chỉ đạo, luôn tìm cách lợi dụng không gian mạng, công nghệ thông tin hoặc phương tiện điện tử để thực hiện các hành vi khủng bố, tài trợ khủng bố. Hoạt động khủng bố mạng gồm tấn công mạng nhằm mục đích khủng bố; tấn công khủng bố trên mạng; sử dụng không gian mạng để đe dọa khủng bố. Năm 2015, nhóm hacker người Tuy-ni-di Al-Fallaga có quan hệ chặt chẽ với mạng lưới thánh chiến toàn cầu đã tiến hành chiến dịch “Op Electronic Badr” tấn công các trang tin điện tử của ngân hàng Hapoalim, Mossad và nhiều website khác của Chính phủ I-xra-en, sau đó đăng tải các tài liệu thu được lên Facebook. Thời gian qua, tổ chức khủng bố IS cũng liên kết chặt chẽ với các nhóm tin tặc, như Cyber Caliphate, IS Hacking Division, ISIS Cyber Army và một số nhóm tin tặc khác ủng hộ IS tiến hành các vụ tấn công mạng nhằm vào mục tiêu của các nước mà chúng cho là thù địch.

Bốn là, tội phạm mạng. Bên cạnh những loại tội phạm, như khủng bố, gián điệp trên không gian mạng, còn xuất hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác, như xâm nhập bất hợp pháp, lấy cắp, sửa đổi, phá hoại dữ liệu, dùng dữ liệu đó vào mục đích xâm phạm an ninh quốc gia, chiếm đoạt tài sản, phát tán thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư. Thủ đoạn của chúng là sử dụng kỹ thuật tấn công chủ động, tấn công thụ động; tấn công lợi dụng lỗ hổng bảo mật, để xâm nhập bất hợp pháp...; trong đó thủ đoạn phổ biến là lừa người sử dụng để cài backdoor, trojan. Với ưu thế miễn phí, tiện lợi, các dịch vụ mạng như Skype, Yahoo, Facebook, Viber, Zalo,... được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và Việt Nam. Tội phạm mạng đã lợi dụng các dịch vụ này để cài mã độc, phần mềm gián điệp vào các thiết bị di động, máy tính kết nối internet nhằm kiểm soát, lấy cắp nội dung thông tin, dữ liệu cuộc gọi, gây ra nhiều thiệt hại cho người dùng, trong đó có các cá nhân, cơ quan chính quyền các nước. Ví dụ, như vụ “hacker của thế kỷ 21” A. Gôn-da-lét (Albert Gonzalez) đánh cắp dữ liệu của hơn 170 triệu thẻ tín dụng trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2007, gây chấn động dư luận Mỹ và thế giới do mức độ hậu quả thiệt hại nặng nề mà nó gây ra. Hay vụ Mỹ và Anh bắt giữ 48 người ở Mỹ liên quan đến vụ tấn công được biết đến với loại trojan mang tên Zeus mà họ dùng để trộm cắp hơn 70 triệu USD từ các ngân hàng trên khắp thế giới.

Việt Nam hiện cũng đang đối mặt với không ít các nguy cơ, thách thức đe dọa đến an ninh quốc gia trên không gian mạng. Cụ thể là:

Thứ nhất, chiến lược “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng.

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng, nhằm thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá Việt Nam. Chúng chủ yếu sử dụng mạng xã hội, phổ biến là Facebook, Youtube để tuyên truyền, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, từng bước triển khai thực hiện mục tiêu thay đổi chế độ chính trị nước ta. Năm 2020, Bộ Công an đã phát hiện hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu, trong đó có 31 trang mạng, blog, 55 kênh Youtube, 49 trang fanpage, 765 tài khoản facebook, 149 hội nhóm chống đối cực đoan, đăng tải hơn 800.000 bài viết, video, clip có nội dung xấu, độc hại. Trong các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền, phá hoại, phổ biến các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Thứ hai, hoạt động gián điệp mạng và các loại tội phạm công nghệ cao.

Không gian mạng đã và đang trở thành môi trường để các thế lực thù địch tiến hành các hoạt động gián điệp nhằm vào Việt Nam. Thời gian qua, cơ quan đặc biệt nước ngoài đã tiến hành tuyển lựa công dân Việt Nam qua không gian mạng, có những trường hợp đã được các cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện, bóc gỡ. Bên cạnh đó, các cơ quan đặc biệt nước ngoài còn triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động xâm nhập gián điệp, thu thập tin tình báo chống Việt Nam. Các hoạt động này được tiến hành thông qua các mã độc, phần mềm gián điệp được cài sẵn trong các phần mềm, ứng dụng, các thiết bị số làm quà tặng, bán ra thị trường hoặc có thể cài đặt từ xa thông qua in-tơ-nét. Theo Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT), hằng năm có hàng triệu mã độc tấn công các máy tính của Việt Nam, với hàng nghìn virus máy tính mới xuất hiện và hàng trăm website của các cơ quan, doanh nghiệp bị tấn công, xâm nhập.

Trên thực tế, không gian mạng còn là nơi tội phạm công nghệ cao tiến hành các hoạt động gây nhiều thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức. Phổ biến là các hoạt động giả danh các cơ quan thực thi pháp luật tiến hành các hoạt động lừa đảo qua mạng; lừa đảo qua phương thức kinh doanh đa cấp qua mạng (sử dụng các khoản lợi nhuận lớn làm “mồi nhử”, lôi kéo số lượng lớn người dân đầu tư vào các dự án “ảo”, sau đó đánh sập hệ thống để chiếm đoạt tài sản); giả mạo website của các ngân hàng để lừa người truy cập, yêu cầu cung cấp thông tin giao dịch trực tuyến, sau đó chiếm đoạt quyền sử dụng tài khoản ngân hàng, chiếm đoạt tài sản; chiếm quyền điều khiển tài khoản mạng xã hội, sau đó lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người thân, bạn bè; tổ chức đánh bạc trên mạng với tổng số tiền lên đến hàng nghìn tỷ đồng; tiến hành các hoạt động “tín dụng đen” trên mạng, “giang hồ mạng”. Hoạt động trên của các đối tượng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Thứ ba, nguy cơ chiến tranh mạng.

Thế giới đã và đang đối mặt với nguy cơ chiến tranh mạng, đó là nguy cơ hiện hữu và trong một thế giới vạn vật kết nối internet, Việt Nam không nằm ngoài vòng xoáy đó. Chính vì vậy, Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25-10-2013, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” khẳng định, nguy cơ xảy ra khủng bố, chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin ngày càng gia tăng. Mục tiêu tấn công của kẻ địch trong trường hợp xảy ra chiến tranh mạng đối với Việt Nam là hệ thống hạ tầng truyền dẫn vật lý (cáp truyền dẫn quốc tế, trục truyền dẫn nội bộ quốc gia); các hạ tầng dịch vụ lõi (router, thiết bị mạng... ); các hệ thống cơ sở dữ liệu, mạng máy tính nội bộ; hệ thống điều khiển tự động hóa của các cơ sở quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh, như nhà máy lọc dầu, nhà máy thủy điện, nhiệt điện, giàn khoan, sân bay, hải cảng. Năm 2016 đã xảy ra hàng loạt hoạt động tấn công mạng nhằm vào hệ thống quản lý thông tin của các sân bay quốc tế lớn của Việt Nam, như sân bay quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Phú Quốc. Rõ ràng, nếu để xảy ra chiến tranh mạng sẽ dẫn đến những hậu quả nặng nề về nhiều mặt cho đất nước.

Thứ tư, tình trạng mất an ninh, an toàn thông tin mạng đe dọa tới an ninh quốc gia.

Việt Nam đang phụ thuộc vào thiết bị hạ tầng và hệ thống công nghệ mạng lõi do các công ty nước ngoài cung cấp và luôn thường trực nguy cơ bị nước ngoài kiểm soát, giám sát. Phần lớn hạ tầng công nghệ phần cứng của Việt Nam, từ các hạ tầng lõi cho đến các thiết bị cá nhân đều nhập từ nước ngoài, nhiều nhất là từ Trung Quốc và Mỹ. Các hãng bảo mật và cơ quan chức năng nhiều nước, trong đó có Việt Nam đã chứng minh và cảnh báo về các mã độc, “cửa hậu” được cài sẵn trong các thiết bị trước khi xuất xưởng, cho phép đối phương có thể truy cập, kiểm soát từ xa. Bên cạnh đó, nhiều trang thiết bị mạng sử dụng trong nước, gồm cả các trang thiết bị của các cơ quan, tổ chức nhà nước có xuất xứ nước ngoài. Ngoài ra, tình trạng thiếu nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, nhất là về an ninh, an toàn mạng cũng dẫn đến nguy cơ khó kiểm soát được các vấn đề an ninh, an toàn mạng. Đáng chú ý, nhận thức của một số cấp lãnh đạo, quản lý, ý thức và kỹ năng về an ninh, an toàn mạng của người sử dụng tại Việt Nam còn hạn chế, trong đó có cả cán bộ thuộc các bộ phận cơ mật, thiết yếu, nắm quyền quản trị các hệ thống quan trọng, liên quan đến nhiều bí mật nhà nước.

Thực tế cho thấy, Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển internet nhanh trong khu vực, nhưng tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém về an ninh, an toàn mạng. Hiện nay, khoảng 70% dân số Việt Nam sử dụng internet, 66% sử dụng mạng xã hội; 100% số cơ quan nhà nước có cổng thông tin điện tử, sử dụng mạng nội bộ LAN, Extranet, internet; sử dụng các kênh liên lạc trên không gian mạng để giao dịch. Theo các tổ chức an ninh mạng Kaspersky và Symantec, Việt Nam là quốc gia đứng đầu thế giới về nguy cơ bị nhiễm mã độc, phần mềm độc hại (qua USB, thẻ nhớ) với gần 70% người dùng máy tính có nguy cơ bị lây nhiễm cao; đứng thứ ba về số lượng người dùng di động bị mã độc tấn công nhiều nhất thế giới; đứng thứ 4 trên thế giới về nguy cơ bị nhiễm độc khi sử dụng in-tơ-nét. Hệ quả là năm 2020 có tới hơn 73% số vụ lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra trên không gian mạng, tăng khoảng 3% so với năm 2019.

Một số vấn đề đặt ra trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(5). Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật để chống phá Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó, để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, cần làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là các cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

Trên thực tế, không gian mạng đã, đang và sẽ là môi trường để các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng vào các hoạt động chống Đảng, Nhà nước ta. Hoạt động thường xuyên, phổ biến của chúng trên không gian mạng là tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Trong khi đó, số lượng người dân Việt Nam được tiếp cận, sử dụng in-tơ-nét ngày càng nhiều, kiến thức, kỹ năng về tự bảo vệ bản thân trên không gian mạng của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng số lượng người dân tiếp cận với các thông tin tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch ngày một lớn, dễ bị các đối tượng lôi kéo, tiêm nhiễm các quan điểm sai trái, thù địch. Để mỗi người dân có thể “miễn dịch” với các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của kẻ địch và cao hơn có thể trở thành chiến sĩ kiên trung, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta cần tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác, để mỗi người dân có thể nhận thức rõ âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng của các đối tượng.

Hai là, làm tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Thời gian qua, xuất hiện ngày càng nhiều các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng, từ hoạt động của các đối tượng tình báo, gián điệp, phản động, cho tới các loại đối tượng tội phạm khác, nhất là tội phạm công nghệ cao. Do đó, yêu cầu làm tốt công tác phòng, ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng ngày càng trở nên cấp thiết. Cần làm tốt công tác quản lý, giám sát không gian mạng để phòng ngừa và phát hiện sớm các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Đầu tư xây dựng đội ngũ, lực lượng nòng cốt chuyên trách, tinh nhuệ, tinh thông nghiệp vụ, đủ khả năng đấu tranh với các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Ba là, phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra.

Mặc dù chưa xảy ra chiến tranh mạng, tuy nhiên, thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều hoạt động tấn công mạng nguy hiểm, gây ra những thiệt hại lớn cho Việt Nam. Do đó, yêu cầu phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra là hết sức cần thiết. Để đối phó với nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, chúng ta phải triển khai ngay các giải pháp tổng thể, đồng bộ bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, khẩn trương nghiên cứu và có giải pháp hiệu quả phòng, chống chiến tranh mạng, chiến tranh điện tử, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh thông tin. Tăng cường quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng, bảo vệ vững chắc các cơ sở hạ tầng quân sự, mục tiêu trọng yếu; có chiến lược phát triển nhân lực chuyên ngành công nghệ thông tin trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an ninh mạng, tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên không gian mạng, sẵn sàng ứng chiến khi có chiến tranh mạng xảy ra.

Bốn là, tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng.

Để bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng, trước hết cần chú trọng công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ động phòng ngừa những sơ hở, thiếu sót, không để các thế lực thù địch, phản động và các loại đối tượng lợi dụng xâm phạm hệ thống thông tin, thu thập, chiếm đoạt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ gây phương hại đến an ninh quốc gia, lợi ích của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuân thủ các quy định của Luật An toàn thông tin mạng năm 2015. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật nhà nước, quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi làm mất an ninh, an toàn thông tin; lộ, lọt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ hoặc lợi dụng bí mật nhà nước, thông tin nội bộ để thực hiện các hành vi trái pháp luật.

Năm là, xây dựng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, đủ về số lượng, đồng thời nghiên cứu, nắm bắt, tiến tới chủ động về công nghệ, trang thiết bị và dịch vụ mạng.

Việt Nam có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng làm việc trong các cơ quan nhà nước còn hạn chế, trong đó, không ít người giỏi, có năng lực chuyên môn tốt đã chuyển ra ngoài khu vực Nhà nước làm việc. Đáng chú ý là, số lượng người có chuyên môn sâu về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu, đặc biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng. Do đó, trong thời gian tới, cần có chiến lược đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ cả về số lượng và bảo đảm về chất lượng, có thể đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác nghiên cứu, hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ, tự chủ sản xuất các trang thiết bị, tiến tới có thể tự chủ trong sử dụng, cao hơn là trong sản xuất các trang thiết bị và ứng dụng dịch vụ mạng./.

TÂM SỰ ... ĐẦU NĂM !

 

TÂM SỰ ... ĐẦU NĂM !

Vậy là năm 2021 đầy sóng gió đã qua đi, năm 2022 với nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức đang chờ đón toàn thể nhân loại nói chung và nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam nói riêng.

Trong ngổn ngang vui buồn lẫn lộn vẫn nổi bật lên Một Niềm Vui đậm chất Niềm Tin : Đó là tiếng kèn xung trận: Chủ động tấn công vào những Quan điểm, những phát ngôn sai trái xuyên tạc của các thế lực thù địch và của những kẻ đang thực hiện âm mưu DBHB, đã được Trưởng ban TGTW nói trong bài phát biểu của ông trong Hội nghị Tổng kết cuối năm của ngành Tuyên giáo .

Có nhiều bạn cũng vui mừng như tôi, nhưng còn có chút băn khoăn: Súng lệnh đã nổ rồi, nhưng hình như mục tiêu chưa được chỉ dẫn rõ ràng ?

Băn khoăn của các bạn cũng là băn khoăn của tôi, vì chúng ta đang và rất mong muốn Đảng Chỉ thằng mặt, thẳng tên những phát ngôn, những biểu hiện , những quan điểm sai trái, để người dân nhận diện Chích xác Mục tiêu đấu tranh, mục tiêu phản biện?

Băn khoăn đó là chính đáng, là rất có tinh thần trách nhiệm trong công cuộc bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, trước âm mưu của các thế lực thù địch và bọn âm mưu diễn biến hòa bình .!

Nhưng thực ra, Đảng đã chỉ mục tiêu cho chúng ta từ rất lâu. Đó chính là 27 biểu hiện của sự suy thoái.

Trong đó là:

-9 biểu hiện về suy thoái tư tưởng chính trị.

- 9 biểu hiện về sự suy thoái của đạo đức lối sống.

- 9 biểu hiện của tự diễn biến tự chuyển hóa.

Và mới đây là: 19 điều Đảng viên không được làm đã được sửa đổi bổ sung, và đã được ban hành .

Đó chính là những hướng dẫn rất chi tiết , rất cụ thể , rất rõ ràng , để người dân chúng ta nhận diện một cách chính xác , đúng đắn các mục tiêu cần phản biện , cần đấu tranh , cần lên án và cả cần loại bỏ .

Nói một cách ví von thì phong trào chống diễn biến hòa bình của chúng ta đã được trang bị vũ khí , đã có điểm tựa , đã có cả hành lang bảo vệ?

Thì còn ngại ngần gì nữa. Phải không các bạn, các đồng chí?

Muốn bảo vệ nền tảng quan điểm của Đảng & Bác Hồ, uốn bảo vệ truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc, muốn bảo vệ được sự trung thực của lịch sử, chúng ta phải mạnh dạn, phải cương quyết, phải chính xác & đúng đắn và cùng nhau lên tiếng để phản biện, đấu tranh với những cá nhân những ổ nhóm đang lợi dụng chức quyền địa vị, dù đã nghỉ hưu hay còn đang tại chức nhưng đã có những phát ngôn những bài viết có tư tưởng xuyên tạc bóp méo lịch sử của dân tộc, làm vấy bẩn lên thuần phong lên truyền thống tốt đẹp của dân tộc./.

Chủ nghĩa xã hội: Một tất yếu của lịch sử thế giới

 

Chủ nghĩa xã hội: Một tất yếu của lịch sử thế giới

Vào một đêm lạnh giá cuối năm 1991, Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) chấm dứt sự tồn tại. Các thế lực tư bản và phản động hý hửng vội vàng có thể kết liễu chủ nghĩa xã hội bằng “chiến thắng không cần chiến tranh”(1) để chủ nghĩa tư bản trở thành “điểm đến cuối cùng của lịch sử”(2)… Sự thật thì hoàn toàn khác hẳn!

Chủ nghĩa xã hội vẫn thể hiện sức mạnh và sức sống ngay trong những bước vận động quanh co của lịch sử. Nhìn lại 30 năm sự biến ở Liên Xô (1991-2021), một lần nữa khẳng định điều này có ý nghĩa tư tưởng - lý luận và chính trị - thực tiễn rất thiết thực.

1. Ước mơ về một xã hội phồn vinh, hạnh phúc, không còn bóc lột, áp bức, bất công đã sớm xuất hiện ngay từ buổi mình minh của lịch sử nhân loại, nhất là từ khi xã hội loài người phân chia thành giai cấp. Kế thừa và phát triển tinh hoa tư tưởng và lý luận của nhân loại vào bối cảnh thế kỷ XIX, C.Mác - Ph.Ăngghen đã tiếp tục phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội, đem lại cho lý luận hàng trăm năm tuổi này bản chất khoa học bằng cách chỉ rõ con đường, lực lượng, phương pháp, chiến lược của cách mạng vô sản và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ngay từ khi Tuyên ngôn Đảng Cộng sản được xuất bản lần đầu tiên đầu năm 1848, trình bày một cách hệ thống những nội dung cơ bản của học thuyết sau này mang tên C.Mác vĩ đại trên cả ba bình diện triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, nhiều đại diện của giai cấp tư sản đã hốt hoảng la ó: Đây là bóng ma ám ảnh châu Âu ! Họ có lý do để hốt hoảng, vì lý luận của Mác đã thức tỉnh mọi người về các quy luật vận động tất yếu của lịch sử và về cách thức lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa để xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp hơn, từng bước đưa con người từ “vương quốc của tất yếu” đến “vương quốc của tự do”.

Hơn 20 năm sau Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, vô sản Pháp đã lãnh đạo quần chúng cách mạng lật đổ chính quyền tư sản và thiết lập Công xã như chính quyền của công nhân tại Thủ đô Paris, Kinh đô Ánh sáng của toàn châu Âu ngày ấy. Công xã đã phá tan huyền thoại về sức mạnh “bất khả chiến bại” của chính quyền tư sản, thậm chí đã buộc cả chính quyền tư sản Pháp cùng đội quân xâm lược của đế chế Đức phải bỏ Paris tháo chạy về Versailles. Tồn tại và hoạt động trong 72 ngày, Công xã Paris là biểu tượng cao đẹp của vô sản “chọc thẳng lên Trời”, khiến các thế lực tư bản không chỉ hoảng hốt với “bóng ma” cộng sản, mà thật sự hoảng loạn với hiện thân của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ngay giữa sào huyệt của chủ nghĩa tư bản cuối thế kỷ XIX.

Như vậy là, lý luận chủ nghĩa xã hội không hề là “bóng ma” do ai đó tung ra hoặc một sức mạnh huyền bí nào tạo thành, mà là tư tưởng của toàn nhân loại, đúc kết những ước mơ, khát vọng cao đẹp của xã hội loài người và được C.Mác - Ph.Ăngghen phát triển thành khoa học của sự nghiệp giải phóng.

2. Đến đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã có gần 3 thế kỷ hình thành và phát triển, tính từ cách mạng tư sản Anh năm 1640. Cùng với chế độ tư bản chủ nghĩa ở chính quốc, chủ nghĩa tư bản còn có hệ thống thuộc địa rộng lớn toàn cầu, tạo thành sức mạnh tưởng như không gì phá vỡ nổi! Diễn biến của lịch sử lại rất khác! Năm 1917, dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích do Người đứng đầu, Cách mạng Xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga giành thắng lợi, lật đổ chính quyền Sa hoàng - tư sản, thiết lập chính quyền của các Xô viết công - nông - binh và khẳng định mục tiêu, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là những ngày tháng làm “rung chuyển thế giới”, đúng như nhà báo Mỹ John Reed trực tiếp chứng kiến và mô tả (3). Thành công của Cách mạng tháng Mười và sự ra đời của nước Nga xã hội chủ nghĩa đã chấm dứt gần 3 thế kỷ chế độ tư bản chủ nghĩa độc tôn trên bản đồ chính trị thế giới; đã biến chủ nghĩa xã hội từ lý luận khoa học trở thành hiện thực sinh động; đã khai sinh ra một hình thái kinh tế - xã hội mới trong lịch sử nhân loại có thiên chức phủ định biện chứng hình thái tư bản chủ nghĩa. Ý nghĩa to lớn và nhiều mặt như vậy của sự kiện đã làm cho tất thảy các thế lực tư bản đế quốc tức nghẹn mà nhiều thập kỷ sau đó vẫn không thể “nuốt trôi”!

Trong tâm thế bị rung chuyển như vậy, các thế lực tư bản đế quốc và phản động ra sức tuyên truyền về Cách mạng tháng Mười và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước Nga, sau này là toàn Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết như một sản phẩm duy ý chí của lãnh tụ Lênin…! Thực tế cho thấy, không vĩ nhân nào có thể tự tạo ra được cuộc cách mạng đưa quốc gia dân tộc và cả thế giới bước vào trang sử mới như Cách mạng tháng Mười, nếu không có nhu cầu khách quan từ chính lịch sử. Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra là để đáp ứng kịp thời và hữu hiệu yêu cầu của mục tiêu phát triển khi thế giới bước vào thế kỷ XX.

Ngay sau khi ra đời, nước Nga Xô viết đã phải đương đầu với cuộc bao vây, tấn công của các lực lượng đế quốc quốc tế. Cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa đã kiên cường trụ vững; đồng thời, năng động triển khai chính sách kinh tế mới trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Theo con đường tháng Mười và nước Nga Xô viết, hàng chục quốc gia và nước cộng hòa đã thống nhất thành lập Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) năm 1922, khẳng định rất sáng tỏ đây là lựa chọn của hơn 200 triệu nhân dân các dân tộc toàn Liên bang có diện tích trên 22 triệu km2, một vùng lãnh thổ thật sự rộng lớn xuyên từ châu Á sang châu Âu. Liên bang Xô viết đạt nhiều thành tựu phát triển kinh tế - xã hội rất ấn tượng, nêu ra một hình mẫu về hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc; về văn minh và tiến bộ xã hội; về giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng lao động và giải phóng con người.

Với bản chất hiếu chiến đặc trưng, các thế lực tư bản đế quốc và phát xít một lần nữa thực hiện dã tâm tiêu diệt chủ nghĩa xã hội bằng cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945). Trước thử thách mang tính sống còn, nhân dân Xô viết đã tổ chức cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, vượt qua đói rét khắc nghiệt và lửa đạn của cả phe “Trục” hung hãn, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và truy quét phát xít đến tận sào huyệt Berlin. Động lực gì đã thôi thúc hàng trăm triệu Hồng quân và nhân dân Xô viết cảm tử viết nên bản hùng ca vĩ đại ? Đó là động lực từ một chế độ xã hội ưu việt, thể hiện sự lựa chọn của lịch sử và phản ánh tất yếu vận động của thế giới ở thế kỷ XX.

3. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, chế độ xã hội chủ nghĩa được xây dựng ở hàng loạt quốc gia châu Âu (CHDC Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary, Bungary, Rumani, Anbani…), châu Á (Trung Quốc, Việt Nam, Mông Cổ, Triều Tiên, Lào) và khu vực Mỹ Latinh (Cuba), tạo thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Bên cạnh đó, có hàng chục quốc gia khác định danh xã hội chủ nghĩa trong quốc hiệu của mình và nhiều quốc gia Á - Phi - Mỹ Latinh tuyên bố định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên bản đồ thế giới nửa sau thế kỷ XX, màu đỏ tượng trưng cho phong trào xã hội chủ nghĩa chiếm tỷ lệ gần như tương đương với màu trắng tượng trưng cho các nước tư bản chủ nghĩa. Có ai tự ý vẽ được bản đồ như vậy, nếu không có cơ sở từ hiện thực như hiện thân của tất yếu lịch sử thế giới?

Chỉ tính riêng các quốc gia trong hệ thống xã hội chủ nghĩa có cùng mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, đã có thời chiếm gần 1/3 diện tích, 1/4 dân số và 40% sản lượng công nghiệp toàn thế giới. Với người lao động ở vị trí làm chủ xã hội, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đạt nhiều thành tựu vĩ đại; đã phát triển kinh tế rất mạnh mẽ, vượt qua chủ nghĩa tư bản về tốc độ tăng trưởng trong nhiều thập kỷ, công nghiệp hóa thành công, nhanh chóng xóa bỏ tình trạng nghèo nàn ở nhiều quốc gia, trở thành một lực lượng kinh tế - vật chất hùng hậu trên thế giới. Phát triển xã hội với nhiều ưu việt về văn hóa, giáo dục, y tế, nhà ở, thể thao, bình đẳng giới, phúc lợi xã hội và quyền của nhân dân lao động nói chung. Phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ với tốc độ và thành tựu bước ngoặt, dẫn đầu thế giới trên nhiều lĩnh vực, điển hình là khoa học vũ trụ, kỹ thuật quân sự... Thực hành nền đối ngoại hòa bình, hợp tác và phát triển, gắn hòa bình với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, quyền tự quyết, bình đẳng trong sinh hoạt quốc tế; tạo ra một kiểu quan hệ quốc tế mới giữa các quốc gia dân tộc; giương cao ngọn cờ chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chỉ một chế độ xã hội là sản phẩm đích thực của thời đại lịch sử mới có thể đạt nhiều thành tựu rực rỡ và đem lại cuộc sống hòa bình, thịnh vượng, hạnh phúc cho hàng tỷ con người, như chủ nghĩa xã hội hiện thực đã thực hiện trên thực tế!

4. Trong những năm tháng chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng nặng nề, những đầu óc tư bản đế quốc và phản động trên thế giới đều chỉ biết hình dung ra viễn cảnh toàn bộ các quốc gia xã hội chủ nghĩa lần lượt sụp đổ như các quân bài đôminô (4)! Một lần nữa, lịch sử lại phải dạy cho họ một bài học cần thiết: Thông qua cải cách, đổi mới, chủ nghĩa xã hội vượt qua khủng hoảng và phát triển rất đặc sắc trong bối cảnh mới của thời đại.

Cải cách chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc (từ năm 1978), đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986) và các quá trình tương tự ở các nước xã hội chủ nghĩa khác được triển khai với các nguyên tắc đúng đắn; vừa toàn diện, đồng bộ vừa có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, giải pháp phù hợp; vừa kiên định và sáng tạo, kế thừa và phát triển, gắn lý luận với thực tiễn, gắn quốc gia với thế giới. Nhờ vậy, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới và cường quốc lớn nhất đang trỗi dậy; Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; Cuba hiên ngang trước bao vây cấm vận, kiên định xây dựng quốc gia xã hội chủ nghĩa độc lập, có chủ quyền, dân chủ, thịnh vượng và bền vững; các nước xã hội chủ nghĩa khác đều có nhiều thành công trong xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội. Đây thật sự là một quá trình cải cách, đổi mới thành công cả về tư duy lý luận, nhận thức, tầm nhìn và thực tiễn, chủ trương, chính sách, khẳng định xung lực của chủ nghĩa xã hội trước mọi sóng cồn, gió cả của thời cuộc.

Không chỉ thể hiện sức sống ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội còn hiện diện trong các phong trào đấu tranh nhân dân rộng lớn trên toàn thế giới đang phê phán, bác bỏ mô hình tự do mới tư bản chủ nghĩa và năng động đưa ra các phương án thay thế vì một thế giới khác tốt đẹp hơn (Alternatives to neoliberalism for an other better world). Quen thuộc nhất là các phong trào trong khuôn khổ Diễn đàn Xã hội thế giới, Diễn đàn Sao Paulo, Diễn đàn chống chủ nghĩa đế quốc, Hội thảo Vì một thế giới cân bằng, Hội thảo Xã hội mới và các đảng chính trị…, được tổ chức thường niên tại Mỹ Latinh, quy tụ đông đảo công dân và các tổ chức dân sự toàn thế giới, trong đó có rất nhiều cá nhân và tổ chức đến từ các nước tư bản phát triển. Nói theo ngôn từ của C.Mác, đây chính là “những ô cửa sổ nhỏ” trong xã hội tư bản để nhìn về xã hội cộng sản tương lai!

Đặc biệt, chủ nghĩa xã hội đang được thực hiện với mô hình và con đường mới ở Venezuela và một số quốc gia Mỹ Latinh khác trong hơn hai thập kỷ vừa qua kiên định chiến đấu vì mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI. Từ mục tiêu chống đế quốc, vì độc lập, chủ quyền quốc gia và dân chủ, công bằng xã hội, Venezuela đã đến với mục tiêu chủ nghĩa xã hội. Giành chính quyền bằng lá phiếu dân chủ, Venezuela đã giữ chính quyền bằng cả sức mạnh chính trị, kinh tế và quân sự. Phát triển kinh tế thị trường, nhưng Venezuela nhất quán với mục tiêu đảm bảo cho người lao động có trường học, bệnh viện, nhà ở và phúc lợi xã hội. Trong khuôn khổ nền chính trị đa đảng, Venezuela xây dựng, củng cố vai trò cầm quyền của Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Venezuela (PSUV). Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với tư tưởng Simón Bilívar và các tư tưởng cách mạng khác của Mỹ Latinh thành nền tảng tư tưởng của Đảng cầm quyền và công cuộc cách mạng. Với tư cách là một tất yếu lịch sử, chủ nghĩa xã hội tiếp tục có những con đường mới trong thế giới hiện nay.

Từ hiện thực phong phú không thể bác bỏ, có đầy đủ cơ sở để khẳng định quá trình ra đời, phát triển của chủ nghĩa xã hội cả về lý luận và thực tiễn đều phản ánh một tất yếu của lịch sử thế giới. Chủ nghĩa xã hội đã kết thúc thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra thời đại cách mạng vô sản, thời đại cùng tồn tại giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, thời đại giải phóng dân tộc lật đổ hệ thống thuộc địa, thời đại đấu tranh nhân dân rộng lớn phê phán mô hình tự do tư bản chủ nghĩa, thời đại cải cách và đổi mới chủ nghĩa xã hội. Càng ngày, phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới càng có nhiều chương trình, hình thức, bước đi sáng tạo, đem lại sức sống mới cho lý luận và thực tiễn xã hội chủ nghĩa. Đó chính là biện chứng lịch sử không thể đảo ngược trong thời đại ngày nay!

Bôi đen hiện thực, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bôi đen hiện thực, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân 

Trước tình hình thiên tai, bão lụt xảy ra tại các tỉnh miền Trung, Đảng, Nhà nước, Công an, Quân đội, các đoàn thể chính trị - xã hội, các nhà hảo tâm đang tận dụng từng thời khắc để chung tay, giúp đỡ, hướng về miền Trung ruột thịt. Tất cả đang tranh thủ từng giờ, từng phút để cứu trợ đồng bào. Tuy nhiên, lợi dụng tình hình này, nhiều đối tượng chống đối, cơ hội chính trị đã tuyên truyền, chia sẻ bài viết, video bịa đặt, cóp nhặt hoặc tự dựng lên để xuyên tạc tình hình, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Điều này thêm gây khó khăn cho chính đồng bào các tỉnh miền Trung và công tác phòng, chống lũ lụt, khắc phục thiên tai của Đảng, Nhà nước ta. Đây là những luận điệu, hành vi với ý đồ gây nhiễu loạn thông tin rất đáng lên án và cần phải hết sức cảnh giác.

Thủ đoạn của các đối tượng là:

- Lợi dụng tình hình lũ lụt đang diễn ra đã có hành vi chia sẻ bài viết mang tính cóp nhặt những hình ảnh lấy từ những nguồn thông tin không chính xác trên mạng và đổ lỗi cho đồng bào miền Trung. Họ cho rằng, đồng bào miền Trung đã quay lưng một cách đáng trách với những việc làm từ thiện của nhân dân cả nước (vứt quần áo, bánh chưng cứu trợ...). Bên cạnh đó, các đối tượng còn vu cáo cho người dân vùng lũ khi cho rằng đồng bào nơi đây đã có những hành vi cướp đồ cứu trợ, mất trật tự, tranh giành, cãi cọ nhau.

Mục đích của việc này là để tạo nên sự kì thị, vẽ nên bức tranh rất xấu về hình ảnh người dân vùng lũ, nhằm khoét sâu vào tâm lý, tư tưởng, thái độ và cách nhìn nhận của những người đã và đang có ý định làm từ thiện sẽ suy nghĩ lại, thậm chí dừng hành động cứu trợ của mình.

Đây thực chất là thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây khó khăn, cản trở cho công tác khắc phục hậu quả thiên tai mà các lực lượng chức năng, những nhà hảo tâm đang hướng về miền Trung ruột thịt. Trong khi chính nhân dân vùng lũ đang gặp rất nhiều khó khăn.

- Có một số đối tượng đã xây dựng những tiểu phẩm, đoạn video ngắn bày tỏ quan điểm phản đối, lên án chính quyền, có ý kiến đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước khi thiên tai xảy ra. Những video này sau khi chia sẻ, đăng tải đã thu hút khá nhiều sự quan tâm, chú ý của cộng đồng mạng. Đáng chú ý là những video sau khi được sự cổ súy của một số người, hùa vào lên án, đả kích chế độ, miệt thị, hoài nghi các cơ quan chức năng trong việc thực hiện công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực tài nguyên, môi trường, công tác cứu trợ đồng bào.

Mục đích của những video này nhằm tác động trực tiếp vào tư tưởng, tâm lý tò mò, đổ lỗi cho chính quyền và một bộ phận người dân. Thông qua việc kích động, phá hoại tư tưởng, gây chia rẽ này, các đối tượng ý đồ tập hợp một bộ phận quần chúng nhân dân thiếu hiểu biết, nhận thức sai lệch để hình thành những lực lượng chống Đảng, Nhà nước sau này.

- Các trung tâm tuyên truyền phá hoại tư tưởng, chống đối Việt Nam có lịch sử hình thành từ lâu. Đứng đằng sau những trung tâm này là cả một bộ phận chuyên trách, có "kinh nghiệm" thông qua các cá nhân, những đối tượng chống đối, có “quan điểm chính trị khác biệt” trong nước thu thập tin tức nhằm mục đích bôi nhọ, hạ bệ Việt Nam trên không gian mạng và diễn đàn quốc tế. Đặc biệt những nội dung thông tin tuyên truyền vô căn cứ, cắt gọt, thêu dệt đó sẽ tác động trực tiếp đến những người thiếu thông tin. Một trong những đối tượng mà các trung tâm này hướng đến thấy rõ nhất chính là cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại.

Lợi dụng đợt lũ lụt lịch sử miền Trung vừa mới diễn ra, các trang, trung tâm phá hoại tư tưởng chuyên nghiệp này cũng ngay lập tức không bỏ qua cơ hội để thực hiện hoạt động chống phá của mình. Chúng đã dẫn dắt các phát biểu được cho là của những người có học thức trong nước với các chức danh như phó giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ hay một cụm từ mà các trung tâm này hay sử dụng là “chuyên gia trong nước” hay “chuyên gia chuyên nghiên cứu về Việt Nam” để dẫn dắt dư luận, tạo độ tin cậy cho những thông tin mà chúng đưa ra.

Mục đích của chúng, ngoài chống phá Đảng, Nhà nước thì còn nhằm cung cấp những thông tin thiếu chính xác, tiêu cực về tình hình trong nước đối với cộng đồng người dân nói chung và cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại nói riêng. Đây là những đối tượng có sự quan tâm nhất định đối với diễn biến tình hình trong nước.

Từ phân tích trên, chúng ta thấy được âm mưu ẩn đằng sau những hoạt động mà các cá nhân, tổ chức chống phá đã thực hiện. Mục tiêu của chúng là nhằm gây khó khăn, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, muốn hướng đến mục tiêu chính trị nhằm chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước, với chính quyền cơ sở. Đặc biệt là người dân vùng lũ, những người thân của họ đang phải chịu những mất mát không gì bù đắp được.

Câu hỏi đặt ra là tại sao chúng lại phải làm như vậy? Đây là câu hỏi ít người để ý hoặc có xuất hiện nhưng lại chưa kịp trả lời mà thay vào đó đã bị những luận điệu kích động làm nhiễu thông tin. Bên cạnh ý thức, thái độ với Đảng, Nhà nước thì đằng sau đó là lợi ích, là vật chất, tiền bạc, là những gì lợi lộc mà các đối tượng nhận được từ các tổ chức, đối tượng và thế lực chống đối bên ngoài. Đây như một hình thức "trả công" cho những kẻ tay sai vốn dĩ từ lâu đã làm thuê bằng hoạt động chống phá Việt Nam. Vì lợi ích vật chất, vì động cơ cá nhân mà chúng không từ bất cứ một sự kiện nào diễn ra trong xã hội, kể cả lũ lụt đau thương đang diễn ra tại miền Trung để kích động chống phá. Nói tóm lại, ngoài mục đích, ý đồ chống phá thì đây còn là một cơ hội “kiếm ăn” đối với những kẻ đi ngược lại với lợi ich quốc gia, dân tộc.

NẾU NGHĨ RẰNG CHI PHÍ CỦA VIỆC HỌC QUÁ CAO, HÃY THỬ CÁI GIÁ CỦA VIỆC NGU DỐT ĐI!

 

Bạn cho rằng việc học là vô dụng, là cực khổ và không đem lại lợi ích gì, lại tốn kém tiền của, chi bằng lấy tiền đó chơi game, nghỉ dưỡng và đi du lịch có phải tốt hơn không. Bạn càng suy nghĩ lệch lạc, từ đó sống buông thả và lười biếng thì ngày sau cái giá phải trả cho sự ngu dốt của bạn là rất đắt.
1. Bạn phải thừa nhận rằng hai từ "bất tài" có sức sát thương rất lớn
Cha mẹ nào cũng muốn con cái học hành tới nơi tới chốn, dù biết học hành rất vất vả nhưng sau này con cái họ sẽ được sung sướng. Học cao, hiểu rộng, công việc tốt, thu nhập cao... là những điều cha mẹ nghĩ sẽ khiến đứa trẻ hạnh phúc, vậy điều gì thực sự quyết định hạnh phúc của một người?
Bạn sẽ thấy rằng hạnh phúc phải liên quan chặt chẽ đến hai chỉ số - phẩm giá và tự do. Phẩm giá là quyền của một người được coi trọng và tôn trọng vì lợi ích riêng của họ, và được đối xử một cách có đạo đức. Nó không thể tách rời với đức hạnh và địa vị xã hội của người đó. Thật là vô ích khi có đức hạnh nhưng lại không được trọng dụng. Bạn ở tầng lớp nào thì đó sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến sự tôn trọng của người khác dành cho bạn. Tự do thì sao? Mọi người có ý chí tự do, nhưng sự tự do mà xã hội này mang lại cho bạn bị hạn chế. Sự giàu có và địa vị quyết định mức độ tự do của bạn. Đây là những gì chúng ta phải thừa nhận.
Bạn thường đọc báo trên mạng và biết có những người trẻ tuổi đối mặt với sự bất mãn và những người "nhìn thấy sự nghiệp và cuộc sống đã chết ở tuổi hai mươi", họ phải đối mặt với đôi mắt lạnh lùng của xã hội và đối mặt với hai từ "bất tài" từ miệng đời.
2. Có kiến thức chưa chắc thay đổi số phận, nhưng không có kiến thức thì không thay đổi được số phận
Càng thờ ơ, bạn càng kiếm được nhiều lời bào chữa cho chính mình.
Không ít người nghĩ rằng mình nghèo ít cơ hội vào trường tốt, còn con cái của những gia đình trung lưu hay khá giả họ có thể vào các trường quốc tế, hoặc đến các thành phố lớn như Hà Nội hay TP.Hồ Chí Minh để tiếp tục học tập. Không biết bao nhiêu người bắt đầu tức giận với thực tế, đổ lỗi cho số phận rằng tôi không sinh ra trong gia đình giàu có nếu không tôi sẽ được vào các trường quốc tế, du học thì tôi sẽ có nhiều cơ hội hơn trong tương lai.
Rất nhiều câu "Nếu như" thốt ra từ họ và họ dùng những suy nghĩ này để ngụy biện cho sự lười biếng của bản thân. Nhưng họ nào biết mình bị những điều kiện vật chất làm cho mờ mắt, họ không thể nhìn thấy rằng có nhiều học sinh nghèo khó đạt được học bổng vào các trường danh tiếng bằng sự nỗ lực của bản thân. Bên cạnh đó nhiều người khác vẫn đấu tranh và nỗ lực mặc cho thất bại có thể quật ngã họ. Họ không thể nhìn thấy tương lai nhưng vẫn nỗ lực học tập vì họ tin rằng tri thức giúp họ thành công.
Có câu nói: Có kiến thức chưa chắc thay đổi số phận, nhưng không có kiến thức thì không thay đổi được số phận. Miễn là bạn vẫn đang làm việc chăm chỉ, có những khả năng và sở trường, chạy đua với thời gian, vượt qua khó khăn và thành công.
3. Cùng làm một việc, người có học và người 'thiếu học' luôn gặt hái được những kết quả khác biệt
Không học hành, bạn không thể nhìn rõ sự việc, không hiểu được thế giới xung quuanh diễn biến và tiến bộ tới đâu.
Trước đây, tin tức về sinh viên tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh là Trần Sinh và Lục Bộ Hiên bán thịt lợn không biết đã nói bao nhiêu lần. Nhiều người nghĩ, học Đại học Bắc Kinh danh tiếng làm gì rồi về bán thịt lợn? Tôi học hết tiểu học cũng làm được chứ không cần đến đại học. Nhưng điều họ không biết là sinh viên Đại học Bắc Kinh "bán thịt lợn" đã chứng minh khả năng thực sự của mình: Hai người họ thực sự có thể bán 12 con lợn mỗi ngày. Sau đó Trần Sinh và Lục Bộ Hiên đã thành lập một cửa hàng bán thịt. Sau đó, họ đã mở hàng trăm chuỗi cửa hàng, và thu về hàng tỷ tệ.
Bạn cho rằng hai sinh viên của Đại học Bắc Kinh học nhiều cuối cùng cũng đi bán thịt lợn như người nông dân bình thường. Nhưng bạn không biết rằng nhờ học tập, họ đã tích lũy nhiều kiến thức và khả năng để mở một doanh nghiệp, nền tảng tốt hơn, ngay cả khi công ty chỉ bán thịt lợn.
Cái gọi là vô dụng, cái gọi là sinh viên tốt nghiệp trường ưu tú không làm được việc lớn, trên thực tế, là một trong những ví dụ rất cực đoan. Còn đối với người không biết gì, thích bàn ra hoặc khinh rẻ ước mơ của người khác, tự bảo vệ mình bằng một chi tiết rất nhỏ, hay so sánh người khác và đầu cơ ác ý với người khác.
4. Lợi ích của việc học không đến ngay đâu nhưng nó chắc chắn sẽ đến
Đừng coi việc học quá thực dụng.
Vậy mục đích của việc dạy và học tập là gì? Có phải cho điểm cao để lên lớp, để vào trường chuyên lớp chọn hay vào đại học? Không, việc học không phải như thế.
Việc học không phải chỉ để có được tấm bằng đại học mà nó còn mở ra một thế giới thuận buồm xuôi gió. Việc học là để biến bạn thành một con người có kiến thức để hiểu và suy nghĩ về mọi chuyện. Đó là để bạn có một tâm lí vững vàng trước những thăng trầm của cuộc sống. Trong tương lai, bạn có thể gặp khó khăn, bị kẹt trong những năm dài và đen tối, việc học sẽ giúp bạn suy nghĩ, phán đoán và tìm cách thoát ra mà không đổ lỗi cho hoàn cành. Việc học là để có thể nói chuyện với vợ hoặc chồng tương lai của bạn không chỉ để thảo luận về vấn đề cơm áo gạo tiền mà còn để nói về giáo dục con cái như thế nào cho tốt. Khi đối mặt với áp lực công việc, những chuyện vặt vãnh của gia đình, bạn sẽ có cách giải quyết tốt nhất cho cả đôi bên mà những điều đó bạn được học ở trường.
Khi bạn học tập, bạn sẽ thấy sự kì diệu của thế giới mà bạn chưa bao giờ để ý. Đó là những điều thực tế nằm ngoài chiếc điện thoại di động. Bạn sẽ thấy rằng kiến thức của nhân loại là bao la vô tận còn kiến thức của bản thân chỉ như hạt muối bỏ bể.
Những chiếc bình tinh tế rồi cũng có ngày tan vỡ, và vẻ đẹp ngoại hình rồi cũng sẽ tàn phai theo thời gian. Chỉ những cuốn sách bạn đã đọc và những kiến thức bạn đã học sẽ dần dần tích lũy trong đầu và trở thành tài sản riêng của bạn.
Nỗ lực rất mệt mỏi, việc dạy học rất mệt mỏi, và bản thân người học cũng vậy. Nhưng tất cả điều này đều có giá của nó. Đừng sợ mệt mỏi, đừng sợ tốn thời gian, tiền bạc, đừng sợ rắc rối. Quan trọng hơn, đừng thử chi phí cho sự ngu dốt, bạn sẽ rất đau khổ.

VÌ SAO ĐÔNG ĐẢO PHẬT TỬ ĐẾN NÚI DINH- BÀ RỊA VŨNG TÀU?


Điều gì đã làm nên sự kì diệu kết nối tâm hồn của nhiều thế hệ người Việt Nam ở khắp mọi nơi, thôi thúc họ tìm về đây tắm mình trong không khí của buổi lễ?
Xuyên suốt nhiều năm trở lại đây, Thiền tôn Phật Quang – ngôi Chùa đơn sơ tại núi Dinh, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã trở thành địa điểm có sức thu hút lớn đối với đồng bào phật tử, nhân sĩ tri thức, các văn nghệ sĩ, sinh viên học sinh khắp các tỉnh thành ở mọi miền đất nước.
Cứ mỗi năm, khi đến các dịp lễ Tết, lễ Phật đản, Vu lan, lễ thành đạo… thì người người, nhà nhà lại nô nức, hân hoan câu hội về đây, có dịp lên đến trên 30.000 người - một số lượng khổng lồ so với các dịp lễ hội ở Việt Nam. Vậy tại sao nơi đây lại có một sức hút lớn đến như vậy? Điều gì đã làm nên sự kì diệu kết nối tâm hồn của nhiều thế hệ người Việt Nam ở khắp mọi nơi, thôi thúc họ tìm về đây tắm mình trong không khí của buổi lễ?
Thiền tôn Phật Quang nằm khép mình giữa núi rừng hùng vĩ và thơ mộng với dòng suối nhỏ nhỏ chảy vắt ngang, không khí trong lành, thoáng mát. Bất cứ ai lần đầu đến với Thiền tôn Phật Quang đều cảm thấy bất ngờ trước cách bài trí đơn sơ, giản dị của mọi thứ nơi đây. Không có những công trình kiến trúc cầu kì, trau chuốt, không có chánh điện hoành tráng và rộng lớn, không có nhiều tượng Phật bài trí khắp nơi trong khuôn viên Chùa… Chủ yếu diện tích đất được nhà chùa quy hoạch để làm sân hoạt động sinh hoạt và cũng là chỗ ngủ cho quý phật tử thập phương. Tuy đơn sơ nhưng tất cả đều được xây dựng, sắp xếp kiên cố, vững chải và chu đáo để mọi người yên tâm, thoải mái khi nghỉ ngơi, sinh hoạt.
Chánh điện của Thiền tôn Phật Quang thật giản dị với duy nhất tượng đức Phật Bổn Sư Thích Ca trên đài cao. Vầng hào quang tỏa sáng, đôi mắt khép nhẹ, Người ngồi bất động trong tư thế tọa Thiền nhưng có điều gì đó làm bất cứ ai khi vừa đặt chân vào ngôi chánh điện cũng nghe lòng mình lay động sâu xa. Bức tượng toát ra thần thái thật sống động. Ai bước vào không gian linh thiêng này cũng đều cảm nhận Đức Phật đang ngồi đó với lòng từ bi như ánh trăng thanh khiết, dịu dàng đang chiếu soi vào cuộc đời, vào tâm hồn mình.
Một điểm hiếm có tại ngôi chùa này là nghi thức tổ chức thuần Việt và có tính giáo dục cao. Không khó để nhận ra rằng chùa Phật Quang chính là nơi tiên phong trong việc đổi mới, thay đổi nghi lễ, cách thức tụng niệm trong đạo Phật để phù hợp, hòa nhập với thời đại nhưng không làm mất đi giá trị thiêng liêng của bài kinh.
Ai đã từng hình dung rằng khi vào chùa ta chỉ bắt gặp các câu kinh tiếng kệ khó hiểu, cao siêu của những Bản Kinh Cổ, thì sẽ hoàn toàn bất ngờ và thay đổi quan điểm về việc tụng kinh, lễ Phật khi đặt chân đến các buổi lễ hội tại Thiền Tôn Phật Quang. Trong ngôi chánh điện, những bài kinh Bát Chánh Đạo, Vô Ngã Tướng… với các giáo lý vĩ đại mà đức Phật đã thuyết giảng hơn 2500 năm trước đã được tái hiện qua từng câu kinh được Việt hóa thật rõ ràng, chân thật với tất cả mọi người, từ các phật tử thuần thành cho đến những người lần đầu biết đến đạo Phật; từ cụ già cho đến thanh niên; từ những người trí thức, sinh viên học sinh cho đến những người lao động chân chất. Các bài kinh thuần Việt, thấm đượm đạo lý và mang tính giáo dục cao do Thượng tọa Thích Chân Quang – trụ trì Thiền tôn Phật Quang biên soạn đã nhanh chóng chạm đến trái tim của mỗi con người khi đến đây. Hầu như không ai trong buổi lễ hội, kể cả người có tâm hồn chai cứng nhất, khó có thể phủ nhận được sự xúc động sâu sắc trước đạo lý Phật dạy khi đã một lần được tham dự nghi thức tụng kinh, lễ Phật nơi đây.
Với số lượng người tham dự mỗi buổi lễ lên tới hàng chục ngàn người thì ắt hẳn việc giữ gìn trật tự sẽ gặp nhiều trở ngại. Thế nhưng thực tế đã hoàn toàn chứng minh điều ngược lại, xuyên suốt buổi lễ là hình ảnh nề nếp, kỉ cương, vui vẻ lành mạnh với một ý thức rất cao - điều rất hiếm thấy tại các buổi lễ hội ở nước ta. Trong những thời nghe Pháp, không gian cực kì yên lặng và trang nghiêm, không có một tiếng động nhỏ, bởi ngoài việc ý thức được rõ ràng tầm quan trọng của các bài Giáo Pháp quý giá, mọi người còn được hướng dẫn một cách tận tình từ những chi tiết nhỏ nhất như tắt chuông điện thoại để giữ gìn sự im lặng, thanh tịnh cho buổi lễ. Tình trạng mất trật tự vừa xuất hiện ở đâu thì sẽ được nhanh chóng được khắc phục bởi Đội Bảo Vệ và các tình nguyện viên một cách nhẹ nhàng, chu đáo.
Cũng như việc giữ gìn trật tự, nề nếp, vấn đề giữ gìn vệ sinh cũng làm cho người tham dự thật bất ngờ. Rất hiếm tìm thấy một cọng rác nhỏ bị vứt lung tung xuyên suốt buổi lễ hội dù nơi đây câu hội một số lượng người khổng lồ đến như vậy - một điều khó tin ở nước ta, khi mà ý thức về việc giữ gìn vệ sinh môi trường, về việc vứt rác bừa bãi nơi công cộng là vấn đề luôn làm đau đầu các nhà quản lý.
Không cần đến một biện pháp trừng phạt khắt khe để xây dựng nên một đất nước sạch sẽ hàng đầu thế giới như Singapore, tại Thiền Tôn Phật Quang, ý thức xuất phát từ đạo đức của mỗi cá nhân mới là điều được đề cao nhất. Đạo đức của một người đệ tử Phật luôn nhắc nhở họ rằng: Mảnh rác dù nhỏ lọt vào mắt mình thì điều đó trở thành trách nhiệm của bản thân. Chính những nền tảng đạo đức căn bản đó đã giúp nơi đây sạch sẽ, văn minh đến mức khó tin. Chính vì thế mà kể cả những người vừa chân ướt chân ráo đến Chùa, chưa hiểu về Phật pháp cũng nhanh chóng hòa vào quỹ đạo ý thức này. Đến cả những chiếc ly uống nước đều được các tình nguyện viên tráng qua một chậu nước sạch sau khi phục vụ cho từng người, để giữ gìn vệ sinh cho người uống lúc sau.
Hay một đặc điểm ở nơi đây làm phật tử, du khách thập phương cực kì yêu mến, hài lòng và thoải mái là những khu nhà vệ sinh tuy đơn giản, không cầu kì, không lót gạch men nhưng lại vô cùng sạch sẽ. Đó chính là một trong những yếu tố góp phần giữ chân mọi người xuyên suốt buổi lễ hội kéo dài liên tục mấy ngày đêm.
Xuyên suốt lễ hội, hình ảnh của hàng nghìn em sinh viên, học sinh từ khắp mọi miền đất nước đổ về ngôi Chùa giữa núi rừng xa xăm này để phục vụ công quả, phụ giúp buổi lễ luôn làm người ta ngạc nhiên, thích thú. Lần đầu tiên đặt chân đến Thiền Tôn Phật Quang vào dịp lễ, ai cũng phải choáng ngợp bởi số lượng người trẻ đông đúc đến như vậy. Khâu tổ chức rất công phu và có kế hoạch bài bản, chu đáo, các em được phân vào các Ban, mỗi Ban có nhóm trưởng điều hành các thành viên, nhìn chung rất chặt chẽ và linh hoạt.
Những em trong ban tri khách hướng dẫn khách đến tham dự một cách “ân cần, vui vẻ, luôn luôn tươi trẻ” và nhiệt tình. Các em ban trà nước thì phục vụ mọi lúc với đủ loại thức uống, từ nước lọc, trà đá đến chanh dây, cà phê… Không bao giờ tình trạng thiếu nước uống xảy ra, mọi người đến đây không những được thưởng thức thức uống ngon lành, trong sạch mà còn được tặng kèm những nụ cười thân ái, chan hòa. Ngoài ra, ăn uống thì đầy đủ một ngày ba bữa, không sót một buổi nào, các em Hành Đường năng động, nhịp nhàng bưng những hộp cơm, những khay thức ăn thơm ngon đến cho từng người, từng người một, đảm bảo không một ai trong khuôn viên chùa sót phần; tất cả đều phải được ăn no, ăn ngon, thoải mái như tại nhà.
Cường độ làm việc vất vả là thế, tập trung cao độ là thế, nhưng không vì vậy mà các em tình nguyện viên đánh mất những nụ cười và tình thương chân thật khi chuyền cho từng người xung quanh một ly nước, một hộp cơm, một cuốn Kinh, một chiếc chăn. Khi mọi người đã yên giấc trong đêm khuya yên tĩnh, các em vẫn lặng lẽ vác trên vai những bao mền đi khắp khuôn viên chùa để kiểm tra thật kĩ xung quanh còn có ai chưa được nhận mền hay không, có ai thiếu thốn, cần gì không… Đẹp làm sao khi hình ảnh các em nhẹ nhàng đi đắp chăn cho mọi người với lòng trân trọng trong từng cử chỉ.
Chúng tôi thấy rằng, những bài học đạo đức của đức Phật không còn là những câu giáo điều xa lạ với cuộc sống này mà đã được hợp lý hóa vào thực tế tại chùa Phật Quang, mà minh chứng rõ ràng nhất là các em tình nguyện viên nghiêm túc nhưng rất thân thiện và dễ thương nơi đây. Sự chăm sóc tận tình của các làm cho mọi người đều ấm lòng trong cái se lạnh của những ngày cuối năm.
Chương trình lễ hội tại Thiền tôn Phật Quang được tổ chức hết sức chuyên nghiệp với sân khấu rộng lớn, với âm thanh, ánh sáng và những thiết bị điện tử, máy quay phim, máy chiếu… vô cùng hiện đại đặt ở nhiều góc trong khuôn viên chùa để đảm bảo tất cả mọi người đều được lắng nghe và thấy rõ chương trình diễn ra dù đứng ở bất cứ đâu.
Bản tổng kết cuối năm của các đạo tràng và chúng thanh niên của chùa Phật Quang rất phong phú và lôi cuốn. Nào là báo cáo các hoạt động từ thiện, phật sự, tu tập có kèm hình ảnh được trình chiếu Powerpoint, rồi các mẫu chuyện ngắn cảm động...
Thượng Tọa Thích Huệ Vinh - trụ trì chùa Quan Thế Âm (Non Nước, Đà Nẵng) đã không giấu được niềm xúc động sau khi tham dự buổi đại lễ Phật thành đạo 2016: “Thầy rất tâm đắc việc Thượng tọa Thích Chân Quang đã dạy cho các đệ tử của mình nắm chắc những tâm hạnh căn bản: Lòng tôn kính Phật tuyệt đối; làm phước, tin sâu nhân quả, làm việc với tinh thần phụng sự và đặc biệt làm nhưng không chấp công, luôn luôn hướng về vô ngã. Mong ước của Thầy là sẽ học tập Thiền tôn Phật Quang từ cách làm việc, báo cáo của các đạo tràng cho đến phương thức tổ chức lễ hội”. (Thầy Huệ Vinh đã phát biểu trong buổi lễ tổng kết, tất niên của 19 đạo tràng tương tế tại Chùa Quan Thế Âm ngày 22/1/2016)
Thêm vào đó, nơi đây thật sự thu hút giới trẻ khi những tiết mục võ thuật Phật Quang Quyền điêu luyện, những bài tập khí công bổ ích được giới thiệu rộng rãi, phổ biến để nâng cao sức khỏe tinh thần và thể chất cho tất cả mọi người. Những tiết mục văn nghệ được dàn dựng công phu càng tạo thêm nét cuốn hút cho nơi đây – nơi mà âm nhạc đã thực sự chuyển tải đạo lý, nâng bước tâm hồn, làm cho con người gắn bó, gần gũi với nhau, lòng yêu Tổ Quốc, yêu nhân loại được vun bồi rồi trở nên dạt dào, tha thiết hơn.
Hoạt động trọng tâm làm nên giá trị cốt lõi của một lễ hội trong đạo Phật chính là thời thuyết pháp. Đón nhận thời pháp, ai nấy đều lắng lòng khi Thầy trụ trì Thiền tôn Phật Quang giảng những bài Pháp quý giá, thắp lên trong lòng họ các phẩm chất đạo đức đẹp đẽ, những ước mơ cao cả mà không một vật chất nào của thế gian có thể mang lại được. Đâu đó, những nụ cười ý vị, vài cái nhìn suy tư, ray rức hay vài giọt nước mắt ấm nóng của thính chúng đều là minh chứng cho sức lay động tâm hồn kì diệu của những dòng pháp âm Thầy đã truyền trao.
Vào đại lễ Phật thành đạo, hàng chục nghìn con người đến đây lại được tọa Thiền để hồi tưởng lại giây phút đức Phật thành đạo hơn 2500 năm trước.
“Cúi đầu đảnh lễ trăng mơ
Soi nghiêng rừng vắng lững lờ sương khuya
Bóng người ẩn sĩ say sưa
Chìm trong thiền định nghìn xưa nguyện thề”
Vào thời khắc này, không khó để bắt gặp những giọt nước mắt cứ tuôn rơi trong những con người đang ngồi đó lặng yên. Sự xúc động, kính ngưỡng đang trào dâng trong lòng họ có lẽ không một ngôn từ nào trên thế gian có thể diễn tả được.
Suy nghĩ về lễ hội như một nơi để vui chơi, để thỏa mãn sự tò mò, hiếu kì của con người hoàn toàn không xuất hiện tại nơi đây. Lễ hội tại chùa Phật Quang với các chương trình giao lưu, văn nghệ múa hát nhưng lại chứa đựng những thông điệp đạo đức, nhân văn mang tính giáo dục cao, những giá trị sống thấm đượm tình người. Đỉnh cao của buổi lễ, điều mà Thiền tôn Phật Quang luôn mong muốn chính là sự tu tập, sự lắng tâm trong thiền định - cái gốc cốt tủy của đạo Phật mà con người đã quên lãng hàng bao lâu nay. Và hôm nay, trong thế kỉ 21 - thế kỉ của tâm linh, khi những nhà khoa học, tri thức hiện đại khắp nơi trên thế giới đang tìm đến thiền định, tìm một phương pháp nhiếp tâm đúng đắn thì tại chùa Phật Quang, tất cả mọi người được đón đầu nền văn minh của nhân loại đó là được nhiếp tâm trong thiền định, để mai này ta không bị tụt hậu so với thế giới.
Tuy đã trở lại cuộc sống đời thường, nhưng dư âm như mãi còn đó trong tâm hồn của những ai khi nhớ về Thiền Tôn Phật Quang. Tại sao nơi đây có thể mang lại cho họ một cảm xúc yên bình thanh thản đến thế? Đó là kết quả của sự tu hành chân chính, của lòng từ không biên giới mà quý tăng, ni, tình nguyện viên... nơi đây đem lại cho những vị khách xa xôi đã một lần ghé đến. Thiền Tôn Phật Quang – nơi mà lòng từ bi, sự thương yêu là chân thật, tình người luôn được đề cao, những nền tảng đạo đức luôn được coi trọng, nơi mà mọi cảm xúc đều từ trái tim chạm đến trái tim - thật sự là một môi trường tu dưỡng đạo đức, nhân cách vô cùng quý giá giữa cuộc sống đầy bấp bênh này cho tất cả mọi người, đặc biệt là cho giới trẻ Việt Nam.
Hãy một lần thử đặt chân đến nơi đây và cảm nhận những món quà tinh thần quý giá mà mái chùa ban tặng; cảm nhận những ánh lửa từ tâm, trí tuệ khẽ cháy sáng trong tâm hồn được lan truyền bởi những con người thân thương, mộc mạc, giản dị nơi đây; cảm nhận sự an lạc đầm ấm luôn giăng tràn, phủ kín mọi ngõ ngách và trên tất cả, cảm nhận những giá trị tâm linh thiêng liêng mà đức Phật đã đem đến cho con người thông qua những bài giáo pháp giản dị, gần gũi và sâu sắc đã được ứng dụng thực tế trong cuộc sống hàng ngày nơi đây. Hãy đến, dùng trái tim cả trí tuệ để cảm nhận!
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

KHÔNG XỨNG LÀM LINH MỤC !


Đó là lời huấn bảo, cảnh cáo của Đức Cha Anphongsô Nguyễn Hữu Long, Tổng Giám mục Giáo phận Vinh đối với lm Đặng Hữu Nam, cựu chánh xứ Mỹ Khánh thuộc quyền. Đúng ra câu nói đầy đủ của Đức Cha giành cho ông Đặng Hữu Nam, trong dịp gặp mặt đầu năm 2022 tại Tòa tổng Giám mục là: "con không xứng làm lm..", khi Ngài chỉ ra những bài viết xách động giáo dân, xỏ xiên, thóa mạ Chính quyền của người này, được đăng tải trên MXH. Đồng thời Đức Tổng Giám mục cũng thông báo cho ông Đặng Hữu Nam, từ bây giờ không được thực hiện các mục vụ như một lm nữa. Nghĩa là lm này đã bị án phạt với hình thức "Treo chén" ! Đây không phải lần đầu lm Nam bị bề trên truất quyền của một lm, điều đó nói lên rằng: ông Đặng Hữu Nam đã cố tình không chỉ chống phá Chính quyền, mà còn có hành động đi ngược lại, bất tuân giáo luật và tinh thần của Tòa Tổng GM, cũng như của Giáo hội. Nếu thật sự nghiêm minh hơn, thì cần loại người này ra khỏi cộng đoàn vĩnh viễn, chứ án phạt "treo chén" là còn nhẹ, còn cơ hội để phục hồi; một con người đầy tham vọng đen tối và ngạo mạn như vậy, thì không bao giờ hối đổi được, bởi "giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời" !
Án phạt "Treo chén" là cách nói về việc một lm bị rút quyền năng (Suspension fo faculties), theo giáo luật số 1333. Hình thức án phạt này, tùy theo mức độ mà bị "Treo chén" tạm thời, hay vĩnh viễn không được thi hành tác vụ lm (Priestly mini stress). Khi bị án phạt này, người đó không còn các quyền năng sau: cử hành Thánh lễ (Ecucharist)/ cử hành các bí tích rửa tội, thêm sức, hòa giải, xức dầu bệnh nhân và chứng hôn/ giảng dạy giáo lý và Tin mừng (Gospels). Chừng đó quyền năng, trong thực tế đã bao trùm hết mọi sinh hoạt của giáo dân ở các Giáo xứ. Nên lời nói của lm rất có trọng lượng, gần như bất khả kháng đối với con chiên, một Giáo xứ thuận hòa, bình yên phụ thuộc vào cái Tâm của lm quản xứ ở đó; khi lm đã bị truất các quyền năng đó; thì coi như không còn là một lm nữa.
Ông Đặng Hữu Nam đã từng bị "Treo chén" (6/2020) và lần này liệu có bị "Treo chén" vĩnh viễn hay không, còn đợi quyết định chính thức của bề trên từ Tòa TGM. Những người giáo dân có sự công tâm, ở những nơi lm Nam đã đảm nhiệm, thì qúa hiểu thực chất tư cách của con người này; nên mong Tòa TGM hãy sáng suốt nhìn nhận để thi hành án phạt "Treo chén" vĩnh viễn đối với lm Đặng Hữu Nam, để tạo nên sự đồng thuận cao và Tin mừng thật sự đến với mọi nhà, mọi người trong toàn Giáo phận, vốn đã bị tai tiếng không hay từ thời TGM Nguyễn Thái Hợp đảm nhiệm.
Về những việc làm xách động của ông Đặng Hữu Nam, lôi kéo, khích động giáo dân biểu tình, gây rối, chống đối chính quyền khi ông ta là làm còn Chánh xứ Phú Yên (Quỳnh Lưu), Mỹ Khánh (Yên Thành), đã gây nên bao điều phiền toái cho cuộc sống của người dân, làm rạn nứt mối đoàn kết vốn có ở các địa phương đó, hậu qủa để lại không nhỏ. Điều này đã phạm vào lời răn dạy của các Thánh và giáo luật. Thánh Phaolô đã khuyên nhủ các tín hữu rằng: "cần phải phục tùng các chính quyền, không những sợ bị phạt, mà còn vì lương tâm" (Rm 13,5). Ông Đặng Hữu Nam đã làm ngược lại điều này một cách cố tình, có hệ thống, nên ông ta không xứng làm một lm nữa. Nếu còn làm lm, hoặc có cơ hội phục hồi quyền năng, thì tác hại cho người dân và Giáo hội càng lớn.
Nói về Tư cách, đạo đức của ông ĐHN, lại càng không xứng đáng làm một lm để thực hiện những quyền năng thiêng liêng vốn có. Khi còn làm Chánh xứ Phú Yên đã có nhiều tai tiếng về quan hệ bất chính với pn, nhập nhèm tư lợi các khoản tiền đóng góp của giao dân và các nơi ủng hộ cho Nhà Thờ. Đến khi rời khỏi Giáo xứ còn để lại một khoản nợ lớn, mà không thể giải thích rõ. Về làm quản xứ Mỹ Khánh cũng gây ra nhiều điều tiếng xấu tương tự, làm mất đi hình ảnh chung của bà con giáo dân trong vùng.
Những điều xấu xa đó không xứng là một tín đồ của Chúa, huống gì làm một lm. Nên lời cảnh cáo của Đức TGM Anphongsô Nguyễn Hữu Long đối với ông ĐHN là hoàn toàn tương xứng với ông này. Là một giáo dân, nhưng tui muốn nói rằng: ông Đặng Hữu Nam không đáng là một con người lương thiện, nên loại bỏ khỏi cộng đoàn cho cuộc sống này thêm đẹp, nguời dân được bình yên.
"Chính Đạo làm đẹp cho đời. (cuộc sống)
Nếu là ngược lại xin mời cút đi".
Đó chính là Tin mừng !