Thứ Tư, 12 tháng 1, 2022

Cần tiếp tục đấu tranh với các luận điệu phủ nhận vai trò to lớn của Đảng CSVN đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc

Từ việc nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta càng cần phải tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc để tiếp thêm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng cũng như vận mệnh và tương lai của đất nước. Sự lãnh đạo của Đảng luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Từ khi thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đến nay, suốt hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thủ thách để đạt được những thành quả cách mạng to lớn. Đó là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược và đặc biệt nhất là những thành công to lớn của 35 đổi mới đất nước. Thực tế phát triển đất nước qua hơn 35 năm đổi mới đã cho thấy, Việt Nam từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; mọi mặt đời sống của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng-an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đây là một sự thật lịch sử đã được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ghi nhận và nhân dân Việt Nam tôn vinh chứ không phải giống như những luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch: “Đảng tự vinh danh, tự đeo vòng nguyệt quế vào cổ cho mình quyền cầm đầu nhân dân”(12). Những thành tựu rất quan trọng của đất nước trong thời gian qua là cơ sở khách quan để khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu đó cũng ngày càng khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc đúng như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã khẳng định trong Diễn văn Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2020): Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn có thái độ khách quan, công tâm khi nhìn nhận những khuyết điểm, thiếu sót của Đảng trong quá trình lãnh đạo đất nước. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót do giáo điều, chủ quan, duy ý chí. Tuy nhiên, như một thông lệ không thể thiếu, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, nhất là kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, khi đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội qua một nhiệm kỳ, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, “tôn trọng hiện thực khách quan”, Đảng ta luôn thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta coi những sai lầm, khuyết điểm là yêu cầu, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới, nhân dân phải tiếp tục đồng lòng để vượt qua những khó khăn, thử thách. Điều này được khẳng định rõ trong Báo cáo tổng kết chặng đường 30 năm đổi mới của Đảng: “Những hạn chế, khuyết điểm đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải nỗ lực phấn đấu không ngừng để khắc phục, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa”. Nhìn nhận lại những chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian qua thông qua những Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI (năm 2012), Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (năm 2016), Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII (năm 2021) có thể nhận thấy tinh thần nghiêm túc trong tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn, giữ vững bản chất cách mạng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc. Đây không phải là sự “chắp vá”, “giật gấu vá vai” như những luận điệu mà các thế lực thù địch vẫn rêu rao mà nó thể hiện quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng trong việc “tự sửa mình” và đào tạo, huấn luyện cán bộ, đảng viên. Do đó, cần có thái độ khách quan, công tâm khi xem xét những sai lầm, khuyết điểm của Đảng. Cần tránh cả hai xu hướng xem nhẹ, bỏ qua những khiếm khuyết hoặc tuyệt đối hóa, thổi phồng những khuyết điểm bởi cả hai xu hướng này hoặc là dẫn đến thái độ chủ quan, lơ là; hoặc dẫn đến thái độ cực đoan, bất mãn. Sai lầm, khuyết điểm của Đảng, nhất là của một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong thời gian qua là một bài học đắt giá cho công tác xây dựng Đảng nhưng không vì thế mà đánh đồng với đóng góp của biết bao thế hệ đảng viên với sự nghiệp cách mạng của đất nước. Cũng không vì thế mà đưa ra những lời rêu rao theo kiểu chụp mũ, vô căn cứ là “không ai muốn sống ở Việt Nam”, “những kẻ lắm tiền, nhiều của là thành phần cán bộ có chức có quyền đã tìm mọi cách đem gia đình chạy khỏi Việt Nam sau khi đã vơ vét đầy túi”. Khẳng định tính hợp hiến, hợp pháp, hợp lòng dân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây là sự kế thừa các bản Hiến pháp trước đó như Hiến pháp năm 1980, năm 1992 đồng thời thể hiện ý chí, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân. Do đó, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn hợp hiến và hợp pháp. Hơn nữa, chính nhân dân Việt Nam đã tin tưởng lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất sự nghiệp cách mạng trong suốt thời gian qua. Hơn nữa, mối quan hệ của Đảng với Nhân dân là mối quan hệ máu thịt bởi Đảng vì Nhân dân là phấn đấu, tôi luyện, trưởng thành, lấy hạnh phúc cho Nhân dân là mục tiêu phấn đấu; ngược lại, Nhân dân cũng luôn vững tin theo Đảng, cùng chung tay giúp sức xây dựng và chỉnh đốn Đảng, sát cánh bên Đảng để vượt qua những khó khăn. Mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và Nhân dân chính là nguồn gốc sức mạnh và nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chúng ta cần phải khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 thời gian qua. Hơn bao giờ hết là sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị và niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng sẽ góp phần tăng thêm sức mạnh to lớn giúp vượt qua đại dịch, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, “luận điệu phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội của các thế lực thù địch là hoàn toàn trái với nguyện vọng, sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân Việt Nam. Mọi công dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác, không mắc mưu kẻ địch phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội của chúng ta”. Như vậy, nhận diện các quan điểm sai trái về Đảng Cộng sản Việt Nam để chúng ta - những người cộng sản luôn cảnh giác trước những luận điệu công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Quan trọng hơn nữa, chúng ta cũng có dịp nhìn lại hành trình hơn 90 năm ra đời và phát triển của Đảng, cảm thấy tự hào về những thành tựu to lớn, nổi bật của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời không được chủ quan, lơ là trước những sai lầm, khuyết điểm để có ý thức xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam để mỗi đảng viên thêm vững tin vào Đảng, luôn trọn một niềm tin theo Đảng, cùng sát cánh bên Đảng để vượt qua những khó khăn, thử thách nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trên những chặng đường tiếp theo./.

SAO PHẢI “LÊN ĐỒNG” CHO KẺ ẢO TƯỞNG CHÍNH TRỊ LÊ TRỌNG HÙNG?

 


Năm 2021 có lẽ được xem là một trong những năm mà nhiều kẻ được mệnh danh là “nhà dân chủ” đã bị bắt, xử lý với những hình phạt nghiêm minh của pháp luật và người kết thúc cho một năm tệ hại cho những “nhà dân chủ” đó không ai khác chính là kẻ ảo tưởng, thần kinh chính trị Lê Trọng Hùng, hay còn gọi là “Hùng Gàn”. Như thông tin ngày 01/1/2022 trang Việt Nam thời báo đã đăng tải, ngày 31/12/2021, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên án phạt 5 năm tù giam, 5 năm quản chế kể từ sau ngày chấp hành xong hình phạt tù đối với bị cáo Lê Trọng Hùng (sinh năm 1979, trú tại phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, khoản 1, điểm a, b, c, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cũng như đối với Phạm Đoan Trang, Đô Nam Trung, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thị Tâm, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư… được đưa ra xét xử trước đó cũng về tội tuyên truyền chống Nhà nước thì bản án đối với Lê Trọng Hùng với mức án 05 năm tù giam, 5 năm quản chế cũng là điều đã được dự báo từ trước sau những hoạt động chống phá của y trong thời gian qua.

Vậy nhưng, cũng giống như ngay sau khi Lê Trọng Hùng bị bắt, một số đài báo, truyền thông thiếu thiện chí với Đảng, Nhà nước Việt Nam như BBC Tiếng Việt “Việt tân”, Đài Á Châu Tự do (RFA)… đã đăng tải các thông tin xuyên tạc về bản chất của vụ việc và thực hiện chiêu trò “lập lờ đánh lận con đen” khi cho rằng Lê Trọng Hùng bị bắt, bị đưa ra xét xử và tuyên phạt về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, khoản 1, điểm a, b, c, Bộ luật Hình sự là do y đã “tự ứng cử đại biểu Quốc hội”. Thậm chí lợi dụng vụ việc này các đài báo, truyền thông thiếu thiện chí này con tung ra những thông tin cho rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam đàn áp người “bất đồng chính kiến’, “tự ứng cử đại biểu Quốc hội”… và tô vẽ về hình tượng của Lê Trọng Hùng như là những “anh hùng” dám đứng lên đấu tranh, đòi quyền “tự do, dân chủ”…

Tuy nhiên, chiêu trò “lập lờ đánh lận con đen” của các báo, đài truyền thông thiếu thiện chí kia cũng đã nhanh chóng thất bại thảm hại bởi quá trình hoạt động chống phá, vi phạm pháp luật của Lê Trọng Hùng đã quá rõ ràng, bản cáo trạng về hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến y phải chịu mức án phạt 5 năm tù giam, 5 năm quản chế cũng đã được các cơ quan chức năng, truyền thông báo chí chính thống đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, các trang mạng xã hội. Việc Lê Trọng Hùng bị bắt, bị đưa ra xét xử và tuyên phạt với mức án nghiêm minh đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của quần chúng nhân dân và đó là cái giá phải trả cho những kẻ đang ảo tưởng về chính trị như Lê Trọng Hùng.

Trong thời điểm này, Lê Trọng Hùng có trách thì nên tự trách bản thân mình khi đã quá ảo tưởng về “sức mạnh” của bản thân sau khi nhận được những lời tung hô, hứa hẹn của ‘đồng bọn’, của những cá nhân, tổ chức chống phá Việt Nam để tham gia, điều hành cái gọi là “Phong trào chấn hưng nước Việt”, “CHTV”… với việc đăng tải các bài viết, video, hình ảnh có nội dung tuyên truyền chống phá Nhà nước. Còn đối với những kẻ đang “lên đồng” khóc thuê cho Lê Trọng Hùng, họ vẫn vậy sau khi những kẻ được mệnh danh là “nhà dân chủ” bị bắt hay đưa ra xét xử như Lê Trọng Hùng thì đây cũng chỉ là chiêu trò để họ lấy cớ để xuyên tạc về vấn đề dân chủ, nhân quyền cũng như can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam và đáng tiếc cho họ khi đó cũng chỉ là những tiếng khóc lạc lõng mà thôi.

                <Tống Giang>

GIẢI PHÁP PHÁT HUY PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ

       Trước hết, cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục về sự cần thiết phải tiếp tục phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị văn hóa quân sự bền vững được hình thành và phát triển qua hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Nó trở thành biểu tượng đẹp và có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với nhân dân và thanh niên Việt Nam, nhất là những chiến sĩ trẻ. Vì thế, việc tuyên truyền, giáo dục để mỗi tổ chức và cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân thấy rõ sự cần thiết phải giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” có ý nghĩa quan trọng. Thực hiện tốt công tác này, sẽ tạo động lực tinh thần mạnh mẽ, góp phần xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trước hết là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Đặc biệt, trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, trong đó Quân đội nhân dân giữ vai trò là lực lượng nòng cốt, việc phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” càng có giá trị thực tiễn to lớn. Công tác tuyên truyền, giáo dục của các cơ quan, đơn vị phải tập trung làm rõ những vấn đề đó, đồng thời đi sâu phân tích những yếu tố tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ để có biện pháp ngăn ngừa những biểu hiện không tốt làm ảnh hưởng đến uy tín Quân đội, danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”. Việc làm này phải được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều biện pháp, hình thức, phương tiện, nhất là hệ thống thông tin đại chúng; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa, xây dựng lề lối, tác phong khoa học, bám sát cơ sở, địa bàn. Từ nhận thức đúng, đề cao ý thức trách nhiệm của các cấp ủy và mọi cán bộ, đảng viên trong phấn đấu, rèn luyện theo phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; phát hiện, khắc phục kịp thời tư tưởng lệch lạc nảy sinh, vi phạm kỷ luật quân đội, làm ảnh hưởng quan hệ quân - dân.

     Hai làtiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” đi vào chiều sâu, đạt chất lượng, hiệu quả. Đây là giải pháp quan trọng, đồng thời cũng là bài học kinh nghiệm xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong những năm qua, nhằm đảm bảo cho Quân đội thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, việc đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” cần tiếp tục được thực hiện một cách nghiêm túc, liên tục, kiên trì, gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng. Sau đó, nâng cao sức mạnh của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, khơi dậy niềm vinh dự, tự hào, xây dựng ý chí quyết tâm, tinh thần trách nhiệm, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Để làm được điều đó, các cấp cần quán triệt và thực hiện nghiêm túc Hướng dẫn 202/HD-CT, ngày 03-02-2015 của Tổng cục Chính trị về “Thực hiện nội dung xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới”, đảm bảo nghiêm túc, thiết thực, chặt chẽ, gắn với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của mỗi cá nhân. Theo đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải có động cơ trong sáng, bản lĩnh vững vàng, trách nhiệm cao; đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; thực hành dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; đoàn kết nội bộ, đoàn kết gắn bó với nhân dân và đoàn kết quốc tế. Cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện nội dung xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” bằng những nội dung, biện pháp cụ thể, thiết thực. Các tổ chức quần chúng đẩy mạnh hoạt động xung kích, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác của cán bộ, hội viên, đoàn viên, đảm bảo cho nội dung xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” đi vào cuộc sống, hoạt động của các tổ chức, lực lượng, phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, nhất là những việc mới, việc khó, đòi hỏi ý chí, nghị lực cao.

     Ba làtăng cường hoạt động thực tiễn, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tạo môi trường thuận lợi để phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được phát huy trong điều kiện mới. Phẩm chất, nhân cách của “Bộ đội Cụ Hồ” được hình thành và hoàn thiện thông qua hoạt động thực tiễn của bộ đội trong môi trường quân sự. Thực tiễn càng phong phú, sinh động, sát chức năng, nhiệm vụ của Quân đội thì phẩm chất của người quân nhân cách mạng - “Bộ đội Cụ Hồ” càng được thể hiện sâu sắc. Bởi vậy, các cơ quan, đơn vị cần tổ chức cho bộ đội tích cực tham gia các nhiệm vụ: huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, thực thi pháp luật trên biển, tuần tra bảo vệ đường biên, mốc giới, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, vùng trời, biển, đảo trong mọi tình huống; tăng cường xây dựng nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật, hoạt động dã ngoại để bộ đội rèn luyện, phấn đấu và phát huy thế mạnh, sở trường trong công tác. Đồng thời, đẩy mạnh công tác dân vận và thông qua hoạt động thực tiễn để đổi mới nội dung, hình thức cho phù hợp với từng địa bàn và từng đối tượng. Trong đó, chú trọng đổi mới nội dung, phương pháp tuyên truyền, vận động nhân dân và hình thức giúp dân xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, xây dựng nông thôn mới, đưa văn hóa Đảng đến với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, v.v. Việc tổ chức các hoạt động phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, khoa học, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, gắn với đẩy mạnh các phong trào thi đua, các cuộc vận động; động viên, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt”, tạo động lực tinh thần to lớn để họ phấn đấu vươn lên, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trên mọi lĩnh vực công tác. Qua thực tiễn tổ chức hoạt động, kịp thời phát hiện, khắc phục những nhận thức, hành vi không đúng làm ảnh hưởng đến phẩm chất, nhân cách người quân nhân cách mạng.

     Bốn làphát huy vai trò đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp trong rèn luyện, phấn đấu theo tiêu chí phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp đóng vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, xây dựng đơn vị và rèn luyện phẩm chất, nhân cách của bộ đội. Cán bộ, đảng viên tốt sẽ là tấm gương sáng để mọi người học tập, noi theo. Để việc phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đạt yêu cầu đề ra, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải đề cao trách nhiệm, tích cực, tự giác phấn đấu, rèn luyện theo các tiêu chí đã xác định; phải thật sự gắn mình với đơn vị, sâu sát, gần gũi quần chúng, cấp dưới, công tâm trong xử lý các công việc, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong mọi hoạt động. Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp quán triệt và thực hiện nghiêm Quy định của Ban Bí thư Trung ương về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; thực hiện tốt yêu cầu: “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực học tập, làm theo”; giải quyết hài hoà các mối quan hệ; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất; quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Có như vậy, bộ đội mới yên tâm, phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của cấp ủy, cán bộ chủ trì và uy tín của cán bộ, đảng viên, ra sức phấn đấu, rèn luyện, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

     Năm làtích cực đấu tranh với những biểu hiện sai trái, xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Cùng với xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất người quân nhân cách mạng theo hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ”, các cơ quan, đơn vị cần chủ động đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu làm xóa mờ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân; kiên quyết bác bỏ những luận điệu tuyên truyền, kích động, gây phân tâm về nhận thức, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ. Các đơn vị, trước hết là đội ngũ cán bộ chính trị các cấp cần coi trọng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, làm cho bộ đội hiểu rõ sự nguy hiểm của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Các cơ quan báo chí Quân đội phải bám sát thực tiễn, tích cực, chủ động triển khai bài viết nêu gương điển hình tiên tiến trong rèn luyện theo phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; đồng thời, phản bác các quan điểm sai trái, lối sống thiếu lành mạnh, ngại phấn đấu, rèn luyện, làm ảnh hưởng đến phong trào chung. Các đơn vị văn hóa - nghệ thuật Quân đội cần tăng cường nghiên cứu, sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật, tính chính trị cao, tôn vinh hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” cả trong thời kỳ chiến tranh cách mạng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, góp phần ngăn ngừa văn hóa xấu độc thẩm thấu vào đơn vị, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần trong Quân đội theo đúng đường lối văn hóa của Đảng.

     Tiếp tục phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới là trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội, trực tiếp là cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp. Thực hiện tốt điều đó, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đã được tôi luyện trong những năm tháng chiến tranh và trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay luôn được giữ vững và tỏa sáng, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. (X.T)

NHẬN DIỆN NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Cứ chuẩn bị tới Ngày kỷ niệm thành lập Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh, các thế lực thù địch lại ra sức đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” bằng việc chống phá cách mạng Việt Nam, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, chia rẽ nội bộ, gây mất ổn định về chính trị nhằm cản trở quá trình Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam theo các hướng chủ yếu sau: - Thứ nhất, những quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đã cố tình xuyên tạc, bóp méo để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Chúng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều sai lầm trong quá khứ, dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ sức để lãnh đạo đất nước. Từ những hạn chế của công cuộc đổi mới, nhất là sự tụt hậu về kinh tế của Việt Nam so với các nước trong khu vực, các thế lực thù địch đã lên tiếng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất nước không hiệu quả nên cần phải “trả lại cho nhân dân Việt Nam quyền tự quyết định vận mệnh của chính mình và của đất nước”. Với danh nghĩa đứng về phía nhân dân, các thế lực thù địch đã khuyên nước ta cần phải đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện chính sách “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập” vì Đảng có “một bộ máy đã tạo nên một xã hội không có tự do, dân chủ”. Chúng cho rằng: “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”. Chúng lập luận rằng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội là theo “chế độ đảng trị = đảng chủ”, “thể chế Việt Nam hiên nay là không phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Chế độ một Đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”, “Hiến pháp của Việt Nam là không chính danh, chỉ là Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam độc tài, toàn trị”. - Thứ hai, những quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận đường lối cách mạng của Đảng, phủ nhận công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Bên cạnh việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, trong thời gian qua, các thế lực thù địch còn ra sức xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng qua các cương lĩnh, văn kiện. Các thế lực thù địch cho rằng, việc ban hành các cương lĩnh, văn kiện là thể hiện sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”, thể hiện sự “sự chuyên chính của một đảng”, “sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu”. Những luận điệu này được các thế lực thù địch tung ra ngày càng nhiều nhằm phá hủy lòng tin của Nhân dân với Đảng, chia rẽ Đảng với Nhà nước, đối lập Đảng và Nhà nước với Nhân dân. Chúng tập trung tuyên truyền những luận điệu này ngày càng nhiều nhằm kêu gọi nhân dân phải “tỉnh ngộ”, từ bỏ đường lối lãnh đạo của Đảng. Trắng trợn hơn, chúng còn đưa ra luận điệu đòi “đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc để giữ gìn độc lập, chủ quyền của đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”. Trọng tâm của sự công kích, chống phá cương lĩnh, văn kiện của Đảng là sự xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch về con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vấn đề dân tộc, dân chủ, tôn giáo, nhân quyền… Dễ dàng nhận thấy thực chất của sự chống phá này là phủ nhận đường lối xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra trong các cương lĩnh chính trị; từ đó cổ xúy cho chủ nghĩa tư bản nhằm gây nên sự hoang mang, dao động của nhân dân về con đường phát triển đất nước, sâu xa hơn nữa là nhằm phá vỡ từng mảng nền tảng tư tưởng của Đảng ta, tạo ra sự khủng hoảng chính trị, làm chệch hướng con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn. Bên cạnh những luận điệu phủ nhận về đường lối lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch còn ra sức tấn công vào công cuộc xây dựng Đảng hiện nay. Chúng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Chúng còn dự đoán tình hình sẽ ngày càng có nhiều sự phản ứng quyết liệt của nhân dân chống lại Đảng: “Trước tình hình cai trị độc tài, vô hiệu quả của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân không thể chịu đựng được nữa, đang đứng lên để chống đối những sai lầm đó, đứng lên đòi nhân phẩm, nhân quyền dân chủ. Càng ngày càng có nhiều người đấu tranh, người trước, kẻ sau, càng ngày càng đông”. - Thứ ba, những quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc về cán bộ lãnh đạo của Đảng. Trong hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, một mục tiêu mà các thế lực thù địch luôn hướng tới là các cán bộ lãnh đạo của Đảng. Vì xác định đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính là “linh hồn” của Đảng nên các thế lực thù địch đã ra sức xuyên tạc sự thật, bôi nhọ hình ảnh của các lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao của Đảng nhằm tạo nên sự hoài nghi, mất niềm tin của nhân dân. Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng truyền thông, nhất là mạng xã hội để phát tán các bài viết, video, clip xuyên tạc về cuộc đời và sự nghiệp của các lãnh tụ của Đảng, các cán bộ lãnh đạo nhằm tạo ra sự bất mãn trong nhân dân, kích động “phản biện xã hội”, nhất là vào các dịp trước, trong và sau Đại hội Đảng. Gần đây, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng các hiện tượng tiêu cực, nhất là tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, các mâu thuẫn xã hội để kích động nhân dân đứng lên khiếu kiện tập thể, gây rối trật tư công cộng, bêu riếu một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; từ đó tạo điều kiện để cho các phần tử cơ hội chính trị nước ngoài tham gia gây nên tình trạng mất ổn định chính trị nghiêm trọng tại một số địa phương. Các thế lực thù địch tìm mọi cách để xuyên tạc, bôi nhọ những đồng chí có tên trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Một âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch khi thực hiện sự chống phá này là chúng móc nối, xâm nhập vào nội bộ của Đảng, tìm cách phân hóa tổ chức để tìm ra “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. “Ngọn cờ” mà các thế lực thù địch hướng tới chính là những phần tử ở ngay trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng nhưng có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn chính trị. Đây chính là những kẻ “tay trong” được các thế lực thù địch lợi dụng nhằm lấy thông tin để thêu dệt, xuyên tạc về các lãnh tụ của Đảng nói riêng, của Đảng nói chung. Có thể nhận thấy, các thế lực thù địch đã dùng những chiêu bài, thủ đoạn rất tinh vi để xuyên tạc, phủ nhận Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích lớn nhất của những chiêu bài này là nhằm hạ bệ uy tín của Đảng, kêu gọi thực hiện “đa nguyên chính trị”, từ đó tiến tới xây dựng một chế độ chính trị mới ở Việt Nam do các thế lực thù địch, phản động giật dây, điều khiển. Đây là một âm mưu rất nguy hiểm, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ nên cần được tỉnh táo nhận diện.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Là tiếng nói của Đảng, của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức đoàn thể và là diễn đàn rộng rãi của nhân dân, 94 năm qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đặc biệt, trên mặt trận chính trị, tư tưởng, báo chí cách mạng Việt Nam đã thể hiện rõ vai trò và ưu thế trong việc chủ động, tích cực tham gia truyền bá, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ðảng ta xác định việc đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ là nhiệm vụ cấp bách thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên, của mọi công dân. Quán triệt và thực hiện tinh thần ấy, báo chí cách mạng Việt Nam luôn xác định đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ chính trị trung tâm, cần thiết và cấp bách. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, báo chí cách mạng Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện. Hệ thống báo chí của ta hiện nay đã có đủ các loại hình: Báo in, báo hình, báo nói và báo điện tử. Tính đến năm 2018, cả nước có 844 cơ quan báo chí in với 184 báo in, 660 tạp chí in và 24 cơ quan báo chí điện tử độc lập. Cả nước có 67 đài phát thanh-truyền hình (PT-TH) Trung ương và địa phương, 5 đơn vị hoạt động truyền hình với tổng số kênh PT-TH là 278 kênh. Toàn quốc hiện có khoảng 41.600 người làm việc trong lĩnh vực báo chí, trong đó có hơn 19.000 nhà báo đang công tác tại các cơ quan báo chí được cấp thẻ hành nghề. Thực tiễn khẳng định, trong bất cứ hoàn cảnh nào báo chí cách mạng Việt Nam luôn giữ vững định hướng và tôn chỉ, mục đích. Các xuất bản phẩm báo chí không ngừng đổi mới cả về nội dung và hình thức, chất lượng các tác phẩm báo chí và hiệu quả tuyên truyền không ngừng được nâng lên, vai trò định hướng dư luận ngày càng rõ nét. Báo chí đã chủ động tham gia tích cực, hiệu quả trong công tác tuyên truyền bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước; định hướng dư luận, đấu tranh phản bác kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Đi đôi với tuyên truyền, phổ biến, quán triệt góp phần đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, báo chí tích cực tham gia vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; lên án những hành vi coi thường kỷ cương, phép nước; bài trừ tệ nạn xã hội... Qua đó, báo chí không chỉ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", mà còn góp phần giữ vững sự ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ngày càng có nhiều các chuyên mục, chuyên trang với những bài viết, chương trình phát sóng mang nội dung chuyên biệt phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, được các cơ quan báo chí tổ chức. Trung bình mỗi năm trên các chuyên mục đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của báo chí cả nước có hàng nghìn tác phẩm được đăng tải, phát sóng. Nhiều tác phẩm được các nhà báo, cộng tác viên (CTV) thực hiện công phu, lập luận chặt chẽ, đưa ra được những luận cứ, luận điểm sắc bén bảo vệ tính đúng đắn, khoa học trong đường lối, chủ trương của Đảng, phản bác kịp thời những luận điệu sai trái, góp phần đáng kể vào cuộc đấu tranh ngăn chặn sự phá hoại tư tưởng nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong đấu tranh, các cơ quan báo chí luôn đề cao tính thuyết phục, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn. Trước mỗi luận điểm, vấn đề, các nhà báo đã cố gắng tìm tòi, khai thác để có các con số, sự việc, dẫn chứng chứng minh một cách thuyết phục. Báo chí luôn quán triệt quan điểm kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy "xây" là chính; kết hợp giữa đấu tranh phản bác cái sai, cái lệch lạc với bênh vực, bảo vệ cái đúng, cái tốt, cái tiến bộ, nhân rộng các điển hình tiên tiến. Chủ đạo là tuyên truyền về các thành tựu kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...; phân tích một cách khách quan những mặt còn hạn chế trong xã hội, không tô hồng thành tích, không thổi phồng khuyết điểm. Đấu tranh vì mục đích xây dựng “lấy cái đẹp dẹp cái xấu"; dùng cái tích cực, cái tốt để đẩy lùi cái tiêu cực, cái xấu. Hầu hết các cơ quan báo chí đều mở chuyên trang, chuyên mục, tổ chức các cuộc thi tuyên truyền những tấm gương người tốt-việc tốt, những điển hình tiên tiến. Đội ngũ nhà báo, nhất là những người trực tiếp tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, thường xuyên trau dồi cả phẩm chất đạo đức và kiến thức nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cùng với xây dựng đội ngũ nhà báo chuyên nghiệp, các cơ quan báo chí rất quan tâm đến xây dựng đội ngũ CTV là những chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu chuyên trách từng lĩnh vực. Ngoài tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm bàn về vai trò của báo chí trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, hằng năm các cơ quan báo chí lớn đều tổ chức hội nghị CTV tham gia cộng tác trên mặt trận đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Các tập thể, cá nhân tích cực, dũng cảm trên mặt trận này đều được lãnh đạo cơ quan chủ quản và các cơ quan báo chí khen thưởng kịp thời... Tuy nhiên, trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của báo chí thời gian qua vẫn còn một số hạn chế. Đáng chú ý là sự thiếu chủ động, chưa kịp thời trong đấu tranh. Không ít trường hợp, chúng ta biết trước, chúng ta có thông tin, nhưng do sự thiếu kịp thời trong tuyên truyền của báo chí chính thống đã tạo thời cơ, lợi thế cho mạng xã hội (MXH). Sẽ là rất nguy hại khi các thế lực thù địch, phản động, kẻ xấu lợi dụng MXH để tạo thông tin giả, bóp méo, xuyên tạc sự thật, suy diễn ác ý, tác động tiêu cực đến xã hội. Trong kỷ nguyên MXH, báo chí chính thống không thể bắt kịp MXH về tốc độ truyền tin. Để đủ sức chiếm lĩnh mặt trận, góp phần định hướng dư luận, đòi hỏi báo chí chính thống phải chiến thắng MXH ở chất lượng thông tin. Điều này đòi hỏi trách nhiệm của nhà báo là phải bằng cái tâm và cái tầm, bằng trình độ, kỹ năng của mình cung cấp cho bạn đọc những thông tin khách quan, trung thực, giàu tính thuyết phục. Bên cạnh đó là tính “bút chiến”, độ sắc sảo, tính thuyết phục của nhiều tác phẩm báo chí còn hạn chế, nặng về lý luận, chưa gắn sát với thực tiễn; chậm đổi mới cách tiếp cận và hình thức thể hiện. Số lượng các tác phẩm đấu tranh phản bác trực diện, vạch mặt, chỉ tên với từng quan điểm sai trái, thù địch chưa nhiều; nặng về lý luận, "bắn chỉ thiên" nên hiệu quả đấu tranh chưa như mong muốn, khả năng tạo hiệu ứng tích cực trong xã hội chưa cao. Sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí với các cơ quan nghiên cứu chưa chặt chẽ, nhất là nghiên cứu chiến lược trong nhận định đánh giá, dự báo tình hình, phát hiện sớm những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch để chủ động phản bác. Trước các sự kiện, vấn đề, tình huống nhạy cảm, phức tạp, do chưa được dự báo, phát hiện sớm và phân tích, xử lý, định hướng, thông tin kịp thời, vì thế mà tính chủ động tác chiến của báo chí bị ảnh hưởng. Trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, báo chí là một trong những lực lượng hàng đầu, là diễn đàn để Đảng ta định hướng tuyên truyền, lãnh đạo tư tưởng chính trị đối với Nhà nước và xã hội. Chính vì vậy các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách triệt để khai thác lĩnh vực báo chí, lợi dụng báo chí để thúc đẩy chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Một trong các chiêu trò mà chúng thực hiện là tác động thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong chính nội bộ báo chí. Thực tiễn báo chí những năm qua cho thấy, bên cạnh những nhân tố tích cực là chủ yếu, đã có không ít nhà báo vấp ngã trước những cám dỗ, bị kẻ xấu lợi dụng vào những mục đích không trong sáng. Điều này đòi hỏi trong phát triển nguồn nhân lực các cơ quan báo chí cần đặc biệt chú trọng xây dựng bản lĩnh chính trị cho các nhà báo. Yêu cầu đặt ra với đội ngũ những người làm báo là phải luôn giữ vững lập trường giai cấp, đứng vững trên nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng để xử lý các vấn đề mà dư luận quan tâm. Kiên quyết không để xảy ra tình trạng nhà báo nói và viết trái quan điểm, đường lối của Đảng; trong cơ quan nói khác, ngoài nói khác; trên báo nói khác, tham gia MXH nói khác. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, MXH ngày càng ảnh hưởng lớn đến xã hội, các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội trong và ngoài nước tận dụng triệt để ưu thế của MXH để tán phát tài liệu xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Muốn làm tốt hơn vai trò, trọng trách của mình, các cơ quan báo chí cần thường xuyên củng cố và nâng cao nhận thức cho các nhà báo, trước hết là lãnh đạo các cơ quan báo chí. Việc tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thời gian qua vẫn tập trung vào một số cơ quan báo chí. Nhiều cơ quan báo chí còn đứng ngoài cuộc. Trách nhiệm này trước hết thuộc về người đứng đầu từng cơ quan báo chí. Do đó chúng ta cần tăng cường giáo dục làm cho các nhà báo, trước hết là lãnh đạo các cơ quan báo chí nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí, ý nghĩa vô cùng quan trọng của báo chí với nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong đấu tranh, báo chí phải luôn giữ thế chủ động về thông tin, chủ động dẫn dắt, hướng lái dư luận trên báo chí, nhất là trên không gian mạng. Một khi thông tin chính thống được đăng tải minh bạch, chính xác, kịp thời, phân tích, lập luận thuyết phục thì những thông tin sai trái, bịa đặt, chống phá đất nước trên MXH sẽ bị vô hiệu hóa. Trước bối cảnh công nghệ truyền thông hiện đại phát triển mạnh, sự lan tỏa thông tin nhanh chóng, đa chiều, khó kiểm soát, thêm vào đó là sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch, nếu không giữ thế chủ động thì chúng ta luôn đi sau, nói sau và sẽ rất khó để định hướng dư luận. Cùng với xây dựng đội ngũ nhà báo, cần quan tâm xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ CTV, nhất là các chuyên gia, nhà khoa học ở từng lĩnh vực. Đặc biệt, cần có các CTV “bấm nút” để phản ứng nhanh trước các sự kiện thời sự. Đi đôi với xây dựng mạng lưới CTV viết bài, cần có các CTV trả lời phỏng vấn, sưu tầm tài liệu, cung cấp thông tin phục vụ cho việc sáng tạo tác phẩm báo chí. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tác động mạnh mẽ đến mọi ngành, mọi lĩnh vực, đặc biệt đối với báo chí nó mở ra nhiều cơ hội, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức. Trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, khi mà các thế lực thù địch triệt để khai thác ưu thế của CNTT, thì các cơ quan báo chí phải có hạ tầng CNTT hiện đại, tốc độ làm báo nhanh hơn, kỹ năng tác nghiệp của phóng viên trên môi trường mạng linh hoạt hơn... Do đó việc đầu tư, trang bị phương tiện kỹ thuật, công nghệ phục vụ cho việc đấu tranh trên không gian mạng của các nhà báo cần được các cơ quan quản lý và lãnh đạo cơ quan báo chí quan tâm... Đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc chiến đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi các cơ quan báo chí cần chủ động, vào cuộc quyết liệt, kiên trì và bền bỉ. Trong cuộc chiến này các nhà báo và cơ quan báo chí không thể hoạt động tự thân và đơn phương, chỉ có phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng, các cấp, các ngành, chúng ta mới đủ sức đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong đời sống xã hội.

Cảnh giác với các vấn đề "nóng" trên mạng xã hội.

Sự bùng phát mạnh mẽ của truyền thông và mạng xã hội (MXH) giúp mỗi cán bộ, đảng viên và người dân có những kênh tiếp nhận thông tin đa chiều và bày tỏ chính kiến, thái độ phản biện. Tuy nhiên, trong “xa lộ thông tin” đầy biến động ấy, không ít cán bộ, đảng viên, người có uy tín trong xã hội… bị cuốn theo những vấn đề “nóng”, những vụ việc gay cấn, giật gân. Mỗi hành động phát ngôn, nhấn nút “like” (thích), bình luận, chia sẻ… vô hình trung góp thêm tác nhân gây “bão” thông tin, khiến đời sống xã hội có những phân khúc rối ren, phức tạp. Khi chúng ta bị cuốn theo nó, chính là lúc chúng ta để hổng vị trí của mình, coi nhẹ chức trách, nhiệm vụ của chính mình. Khu phố nơi tôi sinh sống có nhiều cán bộ hưu trí, đảng viên, công chức, giới trí thức… Đã thành thói quen, cứ vào dịp cuối tuần mọi người lại tề tựu hàn huyên. Đề tài được bàn luận sôi nổi (nhiều lúc gay gắt) là những chuyện thời sự nóng bỏng của thế giới, khu vực, trong nước và những vụ việc tiêu cực trong đời sống xã hội, được truyền thông và MXH thông tin. Ngay cả khi sinh hoạt tổ đảng, họp tổ dân phố, tham gia hoạt động tiếp xúc cử tri… các vấn đề “nóng” do truyền thông, MXH thông tin cũng được đem ra mổ xẻ, tốn rất nhiều thời gian. Một lần, ông giáo già cảm thán: “Khu phố mình còn rất nhiều việc cần bàn, cần phải chung tay giải quyết. Quan tâm bàn luận đến những vấn đề to tát ở nơi khác là cần thiết, nhưng trước hết, chúng ta nên bàn chuyện của mình, giải quyết việc của mình trước đã. Ngó lơ việc nhà mình, đi bàn chuyện thiên hạ, kết quả chúng ta chỉ là những người “chém gió” chứ giải quyết được vấn đề gì?”. Lời góp ý thẳng thắn của ông giáo được nhiều người đồng tình. Một số cán bộ hưu trí cũng cho rằng, một trong những thói quen của không ít cán bộ, đảng viên ở cơ sở là đi theo trào lưu, hội chứng đám đông. Dù biết, ở cương vị của mình không nên và không thể can thiệp được, cũng không đủ thông tin, lý lẽ để phản biện, nhưng một khi đã bị cuốn theo “bão” thông tin thì rất dễ biến bản thân thành những “người hùng” ảo. Có nhiều vụ việc, sau khi cơ quan chức năng có thông tin chính thức mới vỡ lẽ, mình bị hớ, bị lố khi chạy theo trào lưu, có những phát ngôn vô hình trung góp phần gây “bão” thông tin trên MXH và đời sống dân cư. Đây là những biểu hiện khá phổ biến trong đời sống xã hội hiện nay. Ở phạm vi công tác xây dựng Đảng, nếu để bản thân bị cuốn theo trào lưu, “ăn theo” hội chứng đám đông chính là biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ rõ: “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc nhận thức hạn chế, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng… chính là việc “bỏ quên” chuyện của mình, việc của mình, để tâm trí “hướng ngoại”, hăng hái bàn việc của người khác, ở chỗ khác, nơi khác. Khi vấn đề bị đẩy quá đà, sự góp ý, phản biện biến thành phán xét, quy chụp thiếu căn cứ. Khi cán bộ, đảng viên là người từng giữ những cương vị lãnh đạo, quản lý đã nghỉ hưu hoặc người có tiếng nói, uy tín trong cộng đồng, xã hội, những ý kiến đóng vai trò phản biện bị đẩy lên gay gắt quá mức cần thiết, rất dễ trở thành nhân tố kích động, gây hoang mang, mất niềm tin trong công chúng. Thực tế công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời gian qua cho thấy, không ít cán bộ, đảng viên, cấp ủy, tổ chức đảng có khuyết điểm, biểu hiện sai phạm, thậm chí vi phạm nghiêm trọng, nhưng không được phát hiện, ngăn chặn từ sớm, ngay từ cơ sở. Tình trạng yếu kém trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình, thủ tiêu đấu tranh, dĩ hòa vi quý… khiến các sai phạm có môi trường sinh sôi, phát triển, nhiều vụ việc gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân. Mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đều bắt nguồn từ khuyết điểm, sai phạm của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng ở cơ sở. Tư duy chủ nghĩa cá nhân, có lợi ích, quyền lợi thì lo vun vén cho bản thân, gia đình, còn khuyết điểm, sai trái thì đùn đẩy, né tránh, khiến tình trạng suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống bị hổng từ gốc, bị mục ruỗng từ bên trong. Đứng trước khuyết điểm, sai phạm thì nghĩ, nó xảy ra ở nơi khác, người khác, trừ mình. Lối phê bình, phản biện kiểu “quăng chài”, “đơm đó ngọn tre”… làm cho chất lượng sinh hoạt Đảng mang tính hình thức, chiếu lệ. Cán bộ, đảng viên là tế bào gốc của Đảng. Khi có một bộ phận không nhỏ tổ chức đảng yếu kém thì sức chiến đấu, uy tín của Đảng sẽ bị giảm sút. Khi cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng có thói quen “hóng hớt” theo trào lưu mà thờ ơ, thậm chí bỏ quên vai trò, trách nhiệm của mình thì cái gốc của xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ bị lung lay. Đây là kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng, khoét sâu, xuyên tạc, chống phá Đảng. Cái vỏ ốc và tầm nhìn phản biện Một trong những vụ việc sai phạm lớn khiến dư luận bức xúc gần đây là điểm “nóng” Khu đô thị mới Thủ Thiêm, TP Hồ Chí Minh. Tại Thông báo số 1041/TB-TTCP ngày 26-6-2019 về công tác quản lý nhà nước và thực hiện pháp luật trong quy hoạch, quản lý xây dựng, đất đai tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Thanh tra Chính phủ đã nêu rõ: “Để xảy ra những khuyết điểm, vi phạm trên là do UBND TP Hồ Chí Minh không thực hiện đầy đủ chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, không lập các dự án theo thứ tự ưu tiên để trình duyệt theo quy định; giao đất, cho thuê đất trước khi đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, chỉ định nhà đầu tư không đúng quy định…”. Những sai phạm ấy tồn tại, kéo dài suốt hơn 20 năm qua không được phát hiện, xử lý kịp thời từ cơ sở khiến sai phạm chồng sai phạm, gây thất thoát tài sản Nhà nước, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, khiến việc xử lý, khắc phục hậu quả tốn rất nhiều công sức và khó khăn. Cùng với Thủ Thiêm, không ít vụ việc sai phạm ở nhiều địa phương, đơn vị… thời gian qua đều có nguyên nhân tổ chức đảng ở cơ sở chưa hoàn thành vai trò lãnh đạo, tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu chưa được phát huy, vai trò giám sát, đấu tranh trong nội bộ tổ chức đảng ở cơ sở bị coi nhẹ, nhiều khi bị triệt tiêu. Hàng loạt vụ việc, tổ chức, cá nhân cán bộ, đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật, truy tố trước pháp luật thời gian qua đều có chung nguyên nhân mấu chốt này. Các vụ việc sai phạm, tiêu cực đó đã gây tâm lý bức xúc trong dư luận. Tuy nhiên, chúng ta cần bình tĩnh suy xét một cách khách quan, thấu đáo là, sau khi vụ việc được phát hiện, các cơ quan chức năng của Trung ương và địa phương đã vào cuộc rất quyết liệt để từng bước đưa vấn đề ra xử lý trước pháp luật, khắc phục hậu quả, chăm lo an sinh xã hội cho người dân bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, nhìn vào môi trường truyền thông, MXH và dư luận, “mũi nhọn” của phản biện xã hội lại thường tập trung khoét sâu vào khuyết điểm, sai phạm của cán bộ mà không coi trọng, đề cao vai trò, hiệu quả của việc chỉ đạo, giải quyết của cấp ủy, chính quyền địa phương và của các cơ quan chức năng Trung ương. Bản chất của đấu tranh, phản biện là để xây dựng chứ không phải xát thêm muối vào vết thương, gây thêm hoang mang cho người dân. Tinh thần lấy xây để chống phải được quán triệt, thực thi ngay từ mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng ở cơ sở, nhất là đối với những người có tiếng nói trong cộng đồng dân cư. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII: “Trước mắt, rà soát, kiểm tra, xử lý dứt điểm các vụ việc vi phạm trong thực thi quyền lực gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”, hàng loạt vụ việc tiêu cực, sai phạm đã được ủy ban kiểm tra đảng ủy các cấp, đặc biệt là Ủy ban Kiểm tra Trung ương chỉ ra trên cơ sở khách quan, thận trọng, kiên trì, kiên quyết… đã góp phần quan trọng chấn chỉnh lề lối sinh hoạt, chấn hưng văn hóa đạo đức và sức mạnh chiến đấu trong Đảng. Người xưa đã đúc kết: Sống ở đời phải chú ý 3 việc: Việc của bản thân, việc của người khác và việc của ông trời. Chúng ta thường buồn phiền là do: Quên mất việc bản thân, thích xen vào việc người khác và lo lắng về việc của ông trời. Muốn vui vẻ, cần phải làm tốt việc của bản thân, đừng xen vào việc người khác và đừng nghĩ việc của ông trời. Trong đời sống hiện đại, xét riêng về yếu tố đấu tranh, phản biện xã hội và nhiệm vụ đảng viên thì việc của ông trời chính là những yếu tố khách quan, việc của bản thân chính là chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên được quy định rõ trong Điều lệ Đảng và các nghị quyết, quy định, chỉ thị. Thực hiện nhiệm vụ theo chức trách, tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân theo quy định, nghị quyết, Điều lệ Đảng, quan tâm, phản biện các vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội trên tinh thần hiểu biết, xây dựng, nêu cao tính chiến đấu… chính là cách để mỗi cán bộ, đảng viên xây dựng, củng cố bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh… Trên phương diện cá nhân, mỗi cán bộ, đảng viên không ai có thể am tường hết mọi lĩnh vực tri thức và mọi vấn đề của đời sống xã hội. Mỗi chúng ta đều chịu giới hạn bởi một cái “vỏ ốc”, dù ít nhiều, ai cũng muốn vượt khỏi nó để có thể mang được cái cọc đóng rêu. Để xác định được tầm nhìn phản biện, đấu tranh, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ rõ, một trong những giải pháp thực hiện, đó là: “Tổ chức diễn đàn trao đổi, đối thoại những vấn đề còn có nhận thức, quan điểm khác nhau liên quan đến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Tăng cường trao đổi, đối thoại ngay tại nơi sống, sinh hoạt, giải quyết căn cơ các vấn đề bức xúc, sai sót ngay trong tổ chức cơ sở đảng là điều kiện cần thiết để cán bộ, đảng viên tham gia có hiệu quả hoạt động đấu tranh, phản biện mà không phải “ăn theo” hội chứng đám đông…

Không để "Nhạt phai lý tưởng cách mạng".

Trong thời khắc thiêng liêng của buổi lễ kết nạp Đảng, lời nói đầu tiên của mỗi đảng viên vang lên tha thiết, xúc động từ trái tim mình là: “Trước Quốc kỳ, Đảng kỳ và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, tôi xin thề “Tuyệt đối trung thành với mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng…”. Lời thề đó được nhiều thế hệ đảng viên cộng sản khắc cốt ghi tâm trong suốt cuộc đời, nhưng cũng có người để cho lý tưởng cách mạng của Đảng “buông trôi”, nhạt nhòa theo năm tháng, thậm chí đi ngược lại lý tưởng mình hằng theo đuổi, tôn thờ. Từng có ý kiến cho rằng, thời buổi kinh tế thị trường mà nói đến lý tưởng cách mạng nghe có vẻ cũ kỹ, sáo mòn, khô khan, không hợp thời, khó hội nhập với thế giới. Thậm chí có ý kiến khuyến nghị: Cứ tập trung chăm lo phát triển kinh tế, làm giàu đi, khi mọi người, mọi nhà đều sung túc, của cải xã hội dồi dào, thì đương nhiên là hiện thực hóa lý tưởng rồi. Thoạt nghe thì tưởng đúng, nhưng sự thật đó là thái độ cổ xúy cho tư tưởng cấp tiến, dễ làm những người cộng sản rơi vào tâm thế dao động, thiếu lập trường kiên định, mất phương hướng rèn luyện, phấn đấu để thực hiện những mục đích cao cả mà sự nghiệp cách mạng đã đặt ra. Thời nào cũng vậy, lý tưởng cách mạng chính là “chiếc la bàn” dẫn dắt niềm tin, định hướng đường đi nước bước đúng đắn để mỗi đảng viên không đi xa, đi chệch khỏi quỹ đạo mà Đảng đã vạch ra. Đề cao lý tưởng cách mạng là tiền đề, cơ sở để những người cộng sản có thái độ, hành vi ứng xử phù hợp với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và nhân dân. Trong thời chiến, dù muôn vàn gian khổ, nhưng Đảng ta tự hào đã rèn luyện được một đội ngũ đảng viên tràn đầy lý tưởng cách mạng và giàu tinh thần cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc. Theo lịch sử ghi lại, chỉ tính hai năm 1931-1932, trong cuộc “khủng bố trắng” của thực dân Pháp đã có hàng vạn cán bộ, đảng viên và chiến sĩ yêu nước bị giam cầm, tù đày, giết hại. Những trại giam, như: Côn Đảo, Phú Quốc, Lao Bảo, Sơn La, Hỏa Lò… được ví như địa ngục trần gian, lò tra tấn thời trung cổ, khiến hàng nghìn người con ưu tú của Đảng bị hành hạ dã man và rất nhiều người không còn cơ hội để tiếp tục thực hiện lý tưởng đấu tranh cách mạng cao đẹp của mình. Gần 16 vạn đảng viên anh dũng hy sinh trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc trở thành gần 16 vạn đóa hoa bất tử về sự dâng hiến, hy sinh và làm sáng ngời những trang sử vàng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó cũng là bằng chứng sinh động về sự kiên trung, bất khuất và một lòng một dạ son sắt thủy chung của đảng viên đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Thời nay, trước những diễn biến phức tạp của thời cuộc và mặt trái kinh tế thị trường phần nào làm nhạt phai lý tưởng cách mạng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Sự nhạt phai đó biểu hiện dưới nhiều khía cạnh chệch choạc. Thay vì đề cao lý tưởng “Tổ quốc là trên hết”, nhiều người chỉ nhăm nhăm chăm lo quyền lợi cá nhân, bảo kê lợi ích nhóm, bất chấp pháp luật, chà đạp đạo lý để co kéo lợi ích tối đa về bản thân, gia đình và bộ phận nhỏ nhoi của mình. Thay vì nguyên tắc làm việc “dĩ công vi thượng” (lấy việc công trên hết), nhiều người đã lợi dụng cương vị, chức trách, quyền hạn của mình để làm việc vì động cơ cá nhân, vụ lợi, thiếu chú trọng hoặc không thường xuyên tìm tòi, nghiên cứu, đề ra các giải pháp sáng tạo nhằm làm chuyển biến tiến bộ, toàn diện các mặt công tác của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Thay vì đề cao quan điểm “dĩ dân vi bản” (lấy dân làm gốc), một bộ phận cán bộ do tham nhũng, vơ vét mà sa đà vào lối sống vinh thân phì gia, xa hoa, cách biệt với người dân, không quan tâm đến cuộc sống vất vả của biết bao người lao động và dân nghèo. Thay vì thực hiện phương châm “sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tìm mọi kẽ hở của cơ chế, “khe hổng” của chính sách, luật pháp để bòn rút của công, gây nhiễu nhương, phiền hà doanh nghiệp và người dân mà thực chất là muốn người khác phải lót tay cho mình thì mới giải quyết công việc hanh thông. Thay vì “nói đi đôi với làm”, “nói đúng quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng”, thì một bộ phận cán bộ, đảng viên lại nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm, nói một đằng làm một nẻo, phát ngôn vô tổ chức, vô ý thức kỷ luật, gây tổn hại đến uy tín, danh dự của Đảng, tác động xấu đến dư luận xã hội. Rồi tình trạng một số cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao khi đăng đàn, viết báo, viết sách thì lên mặt “đức cao vọng trọng” để khuyên răn, chỉ bảo, giáo huấn cấp dưới và nhân dân phải đề cao lý tưởng, coi trọng đạo đức, nâng tầm văn hóa, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhưng phía sau những lời hay ý đẹp, mỹ từ ấy là một tâm địa ích kỷ, nhỏ nhen, ham hố tầm thường của chính người trong cuộc. Có một sự thật xót xa là trong số hơn 70 cán bộ cao cấp bị xử lý kỷ luật từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, nhiều người từng một thời không thiếu nhiệt huyết, lý tưởng cách mạng, nhưng khi “leo lên” những vị trí quan trọng, được kẻ tung người hứng nên sinh ra chủ quan, tự mãn, say sưa với quyền lực, đắm chìm vào lợi ích và lại thiếu rèn luyện bản lĩnh cách mạng, thiếu tu dưỡng, thiếu nghiêm khắc với chính bản thân và không thủy chung với lý tưởng mình đã lựa chọn, cho nên “ngã ngựa giữa đường” và trả giá rất đắt. Thật ra, lý tưởng cách mạng không phải là cái gì đó xa xôi, trừu tượng, khó hiểu, khó thực hiện, mà đó chính là nhận thức đúng Cương lĩnh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong từng thời kỳ cách mạng; nắm vững, vận dụng nhuần nhuyễn và thực hiện hiệu quả nguyên tắc lý luận gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với hành, gắn rèn luyện phẩm đạo đức với nâng cao năng lực công tác, trong đó lấy việc giữ đức làm gốc. Nếu như trước đây, lý tưởng cách mạng của Đảng đòi hỏi người đảng viên có tinh thần dấn thân, xông pha vào nơi gian khổ, hiểm nguy, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc; thì thời nay, lý tưởng cách mạng của Đảng mong muốn, yêu cầu cán bộ, đảng viên cần đề cao tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; biết giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, trong đó phải lấy lợi ích xã hội, lợi ích tập thể làm trọng; biết xử lý đúng mực, hợp lý, hợp tình mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ; biết gắn kết chặt chẽ và thực hiện giữa nói và làm, trong đó cần coi trọng làm đến nơi đến chốn, làm thực chất, làm hiệu quả, làm vì sự trưởng thành của bản thân và sự vững mạnh, tiến bộ của tập thể. Không ai sinh ra đã hoàn hảo. Không người nào tự thân lớn lên, trưởng thành được nếu không có sự kiên trì rèn luyện, tu dưỡng ở mọi lúc, mọi nơi. Sinh thời, Tổng Bí thư Lê Duẩn từng nói, “lý tưởng, phẩm chất cách mạng chỉ có thể được hình thành trong quá trình đấu tranh cách mạng, trong sản xuất, chiến đấu và tu dưỡng”. Vì vậy, để lý tưởng cách mạng trong mỗi cán bộ, đảng viên không bị nhạt phai, mỗi chúng ta phải thường xuyên nung nấu ý chí, bền bỉ tu thân tích đức, tự nhắc lòng mình không bao giờ được phép xa rời con đường đã chọn, đi ngược mục tiêu mình đã tôn thờ, làm trái lương tâm đạo đức của chiến sĩ cách mạng, buông bỏ phẩm chất tiên phong, gương mẫu của người cộng sản. Nếu cứ để một chút lơ là, một chút lơi lả, một chút dễ dãi, một chút “thỏa hiệp” với chính mình thì theo ngày tháng, “một chút” đó sẽ lớn dần lên thành “mụn nhọt”, thậm chí thành “ung thư” thì phẩm chất, nhân cách, tư cách của cán bộ, đảng viên sẽ rơi vào tình trạng “chết lâm sàng”. Từ đó, lý tưởng cách mạng không phải là nhạt phai, mà đã thoái hóa rồi biến người cộng sản thành “bóng ma” của chính mình!

Căn bệnh nguy hiểm của việc lười học, ngại học lý luận chính trị.

Lý luận có vai trò quan trọng và việc giáo dục lý luận chính trị (LLCT), xây dựng nhận thức đúng đắn và niềm tin vững chắc vào lý tưởng cộng sản, vào con đường và biện pháp do Đảng Cộng sản Việt Nam-đội tiền phong của giai cấp và dân tộc vạch ra để kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) là yêu cầu vừa cấp bách, vừa thường xuyên để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong. LLCT là hệ thống tri thức về lĩnh vực chính trị, là một bộ phận quan trọng về lý luận trong lĩnh vực chính trị; mang tính đảng, tính giai cấp, đồng thời có tính khái quát hóa, trừu tượng hóa và tính dự báo khoa học cao. Vì vậy, giáo dục LLCT, bao gồm nghiên cứu, học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… là yêu cầu thường xuyên, hằng ngày, bức thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên. LLCT giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư duy khoa học, có phương pháp làm việc biện chứng; có phương thức lãnh đạo và tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội... phù hợp với quy luật khách quan. Không có LLCT thì tinh thần và ý chí kém cương quyết, không trông xa thấy rộng; trong lúc đấu tranh, dễ lạc phương hướng và kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng. Với ý nghĩa đó, việc học tập LLCT không chỉ góp phần để cán bộ, đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị, nắm bắt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận dụng hiệu quả những tri thức lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra mà còn là cẩm nang để giúp mỗi người thâm nhập, đi sâu vào quần chúng, gần dân, hiểu dân và trọng dân, trở thành người lãnh đạo gương mẫu, người đồng hành tin cậy, người công bộc tận tụy của nhân dân; đồng thời, kiểm nghiệm tri thức, tư tưởng, hành vi qua thực tiễn khách quan và cập nhật, nắm bắt tình hình để chủ động và kịp thời hành động đúng đắn, góp phần hoàn thành nhiệm vụ được giao phó. Tuy nhiên, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã chỉ ra một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là: “3) Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Với những người lười học lý luận, thì theo Hồ Chí Minh, đó là những người “chỉ bo bo giữ lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng”, trong khi đó thì “có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ”(1). Đó cũng chính là những người không hiểu, thậm chí cố tình không hiểu vai trò của LLCT đối với thực tiễn và mối quan hệ chặt chẽ giữa LLCT và thực tiễn, nên trong công tác, họ không có lý luận dẫn đường. Làm việc theo lối kinh nghiệm, đầy cảm tính đó khiến họ gặp phải không ít khó khăn và lúng túng khi xử lý công việc, dẫn đến phạm không ít sai lầm, khuyết điểm. Khẳng định, “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”(2); và “lý luận sở dĩ quan trọng như vậy là vì nó dạy ta hành động”, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên trau dồi, nâng cao trình độ lý luận; thấu triệt nguyên tắc gắn lý luận với thực tiễn mà còn phải chống giáo điều cũng như bệnh lười học, ngại học, hình thức trong học tập LLCT và vận dụng tri thức lý luận vào thực tiễn. Luôn thống nhất giữa lời nói và việc làm, luôn gắn liền lý luận với thực tiễn, trong suốt cuộc đời mình, Người không ngừng học hỏi, làm giàu tri thức, vượt lên lối tư duy kinh nghiệm, cảm tính để đến với lý luận khoa học Mác-Lênin; gắn lý luận với thực tiễn cách mạng và xuất phát từ thực tiễn để đề ra quyết sách và lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ của cách mạng. Sự gắn bó giữa lý luận với thực tiễn là đặc điểm nổi bật trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh, thể hiện rõ trong tư tưởng và tấm gương thực hành của Người. Là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành; đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng và Chính phủ, để đề ra chính sách cho đúng, mỗi cán bộ, đảng viên nhất định phải “học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Một trong những yêu cầu cần thiết, bắt buộc đối với người cách mạng là phải học LLCT để rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng và năng lực trí tuệ đủ sức hoàn thành trọng trách kép vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Phải phòng và chống bệnh lười học lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Khi học và vận dụng LLCT vào thực tiễn, phải thấm nhuần sâu sắc tính sáng tạo, luôn được bổ sung bằng những kết luận đúc rút được từ thực tiễn sinh động của lý luận Mác-Lênin. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị và không ít cán bộ, đảng viên không nhận thức đầy đủ về yêu cầu cần thiết phải học tập LLCT mà thường tập trung cho học tập chuyên môn, nghiệp vụ. Đã có không ít người thiếu tự giác, không chủ động tham gia học tập LLCT, thậm chí trốn tránh hoặc xin thôi không tham gia học tập. Khi đi học thì “đánh trống ghi tên”, vừa học, vừa tham gia các công việc khác hoặc nghỉ giữa chừng, học không nghiêm túc, gượng ép, đối phó; vi phạm quy chế học tập như nhờ học, nhờ thi hộ, bỏ học, bỏ thi. Cá biệt, có người đã xin “nợ” việc học tập LLCT, nợ cả bằng cao cấp LLCT khi bổ nhiệm… Học tập LLCT là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên, vì thế, lười học, ngại học lý luận cũng là biểu hiện của sự suy thoái và sự suy thoái này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của mỗi cán bộ, đảng viên mà còn khiến họ gặp khó khăn trong công tác vận động quần chúng; thậm chí không giữ được lập trường trước sự cám dỗ của vật chất, sự lôi kéo của các thế lực phản động. Hơn nữa, vì thiếu lý luận dẫn đường nên họ không nắm được đường lối, quan điểm của Đảng, chủ trương, biện pháp lãnh đạo của cấp ủy. Vì thế, khi giải quyết một vấn đề của thực tiễn, họ thường chủ quan, chỉ dựa vào kinh nghiệm mà không nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan; không xem xét toàn cục để cân nhắc, xử trí cho khéo mà thường quyết định theo ý của bản thân mình, dẫn đến tình trạng, nghị quyết của Đảng dù rất đúng đắn nhưng triển khai chậm, thậm chí hiểu sai, làm trái với đường lối, nghị quyết của Đảng. Để khắc phục những biểu hiện nêu trên, để học LLCT trở thành nhu cầu tự thân, động lực quan trọng của mỗi cán bộ, đảng viên, các cấp ủy cần phải chú trọng công tác giáo dục LLCT cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thông qua công tác giáo dục LLCT, nâng cao trình độ LLCT, khắc phục mọi biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, góp phần giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cộng sản. Cụ thể, cần tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhất là Kết luận số 69-KL/TW ngày 14-4-2010 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Quy định số 54-QĐ/TW ngày 12-5-1999 của Bộ Chính trị, khóa VIII về chế độ LLCT trong Đảng; Quy định số 164-QĐ/TW ngày 1-2-2013 của Bộ Chính trị về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với cán bộ, lãnh đạo quản lý các cấp; Kết luận số 57-KL/TW ngày 8-3-2013 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp; Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII ngày 30-10-2016 về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ"… Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của LLCT trong Đảng; không được coi nghiên cứu, học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nói riêng là công việc của các nhà lý luận mà đó là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng; là yêu cầu bắt buộc, bức thiết của mỗi cán bộ, đảng viên. Theo đó, học tập lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không phải chỉ là “thuộc làu làu”, “tầm chương trích cú”, “chỉ học thuộc lòng” hoặc biết “dăm ba chữ” để trưng ra với tổ chức, lòe người mà học cũng như vận dụng phải luôn xuất phát từ thực tiễn, gắn lý luận với thực tiễn. Học Chủ nghĩa Mác-Lênin là “phải học tinh thần của Chủ nghĩa Mác-Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của Chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng”(3) và “học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm”(4) chứ không phải và càng không nên coi đó là những công thức có sẵn để “học thuộc lòng” và áp nguyên vào thực tiễn cuộc sống. Xuất phát từ thực tiễn, từ yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ xây dựng "kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương” theo Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII phù hợp với từng đối tượng, theo hướng cụ thể, thiết thực. Phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong xây dựng kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ LLCT hằng năm đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, thực hiện kế hoạch kiểm tra, giám sát, tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc việc kiểm tra và đánh giá kết quả học tập, viết thu hoạch của mỗi cán bộ, đảng viên. Đề cao trách nhiệm chính trị, tính tự giác, chủ động gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong học tập và tự học tập, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ LLCT; học ở mọi nơi, mọi lúc, “học ở trường, ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân". Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu trong học tập LLCT, nói và làm theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Kịp thời biểu dương những tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên gương mẫu thực hiện tốt việc học tập, nghiên cứu LLCT; đồng thời, góp ý, phê bình nghiêm khắc đối với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện lơ là, thiếu nghiêm túc trong học tập LLCT. Căn cứ vào ý thức, trách nhiệm và kết quả học tập LLCT để đánh giá, xếp loại, phân loại cán bộ, đảng viên và bình xét thi đua khen thưởng hằng năm. Nghiêm túc học tập LLCT, dùng lý luận đã thấm nhuần để phân tích những thắng lợi và thất bại trong mọi mặt công tác, những mặt đúng và sai trong tư tưởng, để không chỉ “bổ sung, làm phong phú thêm lý luận bằng những kết luận mới rút ra trong thực tiễn cách mạng của ta”(5) mà còn góp phần làm cho nhận thức của mỗi cán bộ, đảng viên đối với các vấn đề trong thực tiễn được nâng cao hơn và vì thế kết quả hành động chắc chắn thu được cũng sẽ tốt hơn.

Đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức.

Qua nhiều vụ án được đưa ra xét xử thời gian qua, có thể nhận thấy, tinh thần “thượng tôn pháp luật”, “sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật” đã không được thực hiện nghiêm túc tại một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp liên quan, nên gây ra những hậu quả tai hại. Nhiều cá nhân khi ra trước tòa mới cảm thấy hối hận vì tại sao mình không dũng cảm đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp mà mình làm việc, để cuối cùng chính bản thân cũng bị cuốn vào vòng xoáy của việc vi phạm pháp luật, nhận kết cục cay đắng. Nhìn rộng hơn ra xã hội, chúng ta thấy có những người miệng luôn yêu cầu phải “thượng tôn pháp luật”, nhưng lại không thực sự tôn trọng pháp luật, nhờn pháp luật, thái độ thách thức pháp luật, đứng ngoài pháp luật, theo cái cách như thể ta đây là "bất khả xâm phạm", không ai làm gì được. Tất cả những nhận thức và hành vi sai trái đó cần được điều chỉnh nhằm bảo đảm một xã hội lấy pháp luật làm nền tảng để duy trì kỷ cương, trật tự. Các đại án như "Mobifone mua AVG"; thâu tóm công sản tại Đà Nẵng hay “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” và “Tham ô tài sản” xảy ra tại PVN, PVC... đều có điểm chung là ý muốn của người đứng đầu đã bao trùm lên cả tập thể, lấn át tập thể, dẫn dắt cả tập thể tới sai phạm pháp luật. Người đứng đầu trong các vụ án trên có biết mình vi phạm pháp luật không? Chắc chắn họ biết! Nhưng vì tự tin vào khả năng “một tay che cả bầu trời” nên cố tình chỉ đạo, dẫn dắt cả tập thể tới chỗ vi phạm pháp luật, để đem lại những lợi ích cho cá nhân họ. Thế còn những người khác trong tập thể ban thường vụ, ban cán sự đảng, đảng ủy, ban giám đốc... đã bị kỷ luật Đảng, bị pháp luật xử lý có biết rằng, các nghị quyết, quyết định mà mình tham gia bàn bạc, xây dựng là vi phạm nguyên tắc, quy định của Đảng, vi phạm pháp luật để gây nên hậu quả nghiêm trọng không?... Có thể nói: Họ rất khó chối bỏ trách nhiệm của mình! Từng cá nhân trong các tập thể vi phạm pháp luật nói trên đều có lỗi ở những mức độ khác nhau khi đã không phát hiện được, không ngăn cản, không góp ý, khuyên can, thậm chí có cả những trường hợp đồng lõa với sai phạm. Họ đã không đóng góp để xây dựng được một bộ máy lãnh đạo, quản lý lành mạnh tại cơ quan, địa phương. “Thượng tôn pháp luật” giờ trở thành câu cửa miệng, khá phổ biến trong xã hội. Tuy nhiên, để hiểu rõ về tinh thần thượng tôn pháp luật, có đủ hiểu biết, đủ tâm thế và tính tự giác để thực hiện nó thì cần cả một quá trình. Tinh thần thượng tôn pháp luật là hành lang để mọi cá nhân, tổ chức dựa vào đó mà hành động nhằm bảo đảm tính đúng đắn, tự phát hiện những lệch chuẩn của mình và những người xung quanh để điều chỉnh. Trước hết, tinh thần thượng tôn pháp luật phải được thực thi nghiêm trong bộ máy nhà nước. Một bộ máy nhà nước lành mạnh là một bộ máy mà trong đó các quyết sách phải được thực thi một cách nghiêm minh, nhất quán từ trên xuống dưới, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của cá nhân công chức hay người lãnh đạo. Bộ máy ấy cũng phải có khả năng miễn nhiễm và đào thải sai phạm pháp luật nhờ cơ chế kiểm soát nội bộ được vận hành hiệu quả, cộng với nhận thức cao của các cá nhân, để ngăn chặn được các hành vi vi phạm ngay từ bên trong. Trong bộ máy ấy, mọi cá nhân, mọi bộ phận cấu thành đều phải hiểu rõ được chức trách, nhiệm vụ của mình. Chính việc hiểu rõ, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, có trách nhiệm, có đủ dũng khí sẽ khiến cán bộ, đảng viên có thể phát hiện, ngăn cản những việc làm trái pháp luật, để không dễ bị dẫn dắt, dọa dẫm, kể cả những ý đồ vi phạm pháp luật có xuất phát từ những người ở vị trí lãnh đạo, quản lý trong cơ quan, tổ chức, địa phương. Tuy nhiên, để luật pháp được thượng tôn thì không chỉ những nhà cầm quyền phải nắm pháp luật, hiểu pháp luật, thực hiện đúng quy định của pháp luật mà mọi người dân cũng phải hiểu biết về pháp luật và nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật. Điều 16, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rõ ý này: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. Người dân biết luật và tôn trọng pháp luật thì sẽ tránh được các hành vi vi phạm pháp luật. Biết luật, nắm chắc luật cũng giúp người dân có nhiều cơ hội giám sát hoạt động của cơ quan chính quyền và giám sát xã hội. Họ sẽ nhận biết được điều gì là sai trái trong hoạt động của cơ quan nhà nước và điều gì sai trái trong xã hội. Vụ việc xâm phạm đất quốc phòng ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội thời gian qua cho thấy rõ ý nghĩa của việc tôn trọng, tuân thủ pháp luật. Bên cạnh một số cán bộ địa phương làm sai quy định của Nhà nước đã bị xử lý thì những người dân bị thúc giục bởi lòng tham, bởi sự thiếu hiểu biết, đã dẫn tới những hành động vi phạm pháp luật. Trong đó, có cả những đối tượng cầm đầu cố tình vi phạm pháp luật, kích động, thách thức pháp luật để hòng trục lợi. Vì vậy, việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân hiện nay là vô cùng cần thiết trong công cuộc đưa đất nước phát triển. Cần phải làm cho người dân hiểu rõ rằng: Suy cho cùng, pháp luật cũng là để phục vụ người dân, tạo ra môi trường xã hội an toàn, dân chủ, công bằng, văn minh, để người dân an cư lạc nghiệp. Không ai có quyền vì lợi ích riêng, lợi ích nhóm mà chà đạp lên luật pháp. Trong công cuộc đổi mới đất nước, việc đề cao vai trò, tính tối thượng của Hiến pháp, pháp luật là tất yếu khách quan. Cương lĩnh xây dựng đất nước, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, gắn với tổ chức thi hành pháp luật, nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là những đòi hỏi bức thiết. Tinh thần thượng tôn pháp luật cùng với một hệ thống pháp luật hoàn thiện thống nhất sẽ là động cơ mạnh mẽ giúp cỗ máy nhà nước vận hành trơn tru, từ đó mới có thể đưa đất nước phát triển. Muốn vậy, từng cán bộ, đảng viên cần phải thực hiện tốt một số nội dung sau: Thứ nhất, đóng góp tích cực vào việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật vừa cần có tầm nhìn tổng thể, dài hạn, vừa cần cụ thể hóa đầy đủ, kịp thời các quy định của Hiến pháp; thể chế hóa các chủ trương của Đảng thành quy định của luật, đặc biệt là về tổ chức bộ máy nhà nước; bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Cùng với đó, cán bộ, đảng viên cần chú trọng, tăng cường hơn nữa việc triển khai, xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành luật để các luật được ban hành sớm đi vào cuộc sống. Thứ hai, cần phát huy vai trò chủ động, tích cực, tính tự giác và trách nhiệm nêu gương của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức trong học tập, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật, đặc biệt trong tuân thủ và chấp hành pháp luật để mọi người dân tin tưởng, noi theo. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong thực thi công vụ, gắn với giáo dục đạo đức liêm chính, trách nhiệm giải trình. Thực hiện nghiêm các quy định về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phải có đủ dũng khí để nhận diện, đấu tranh với những vi phạm pháp luật trong cơ quan, đơn vị, trong các nội dung công việc mà mình tham gia. Thứ ba, tích cực tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến người thân, bạn bè, đồng nghiệp, bảo đảm rằng người thân của mình cũng tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật. Một quốc gia phát triển bền vững cần được xây dựng trên nền tảng pháp lý vững chắc, trong đó tinh thần thượng tôn pháp luật phải được đặt lên hàng đầu. Tinh thần đó phải trở thành nền tảng trong hoạt động của bộ máy nhà nước và của cả hệ thống chính trị, phải trở thành nếp sống văn hóa thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi cộng đồng xã hội, mỗi người dân.

Cán bộ, đảng viên nêu gương giữ gìn thuần phong mỹ tục dân tộc

Những giá trị đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt được hun đúc, kết tinh từ hàng nghìn năm qua có được giữ gìn, lưu truyền, phát huy trong xã hội đương đại hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có vai trò rất quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, bản sắc văn hóa dân tộc đang có nguy cơ bị phai nhạt, thậm chí mất gốc, hơn ai hết, với tư cách là lực lượng dẫn dắt, lãnh đạo, chi phối đường hướng, mục tiêu phát triển đất nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) càng phải đề cao vai trò, trách nhiệm trong giữ gìn những giá trị cốt lõi đã làm nên tâm hồn, cốt cách dân tộc Việt Nam. Vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục dân tộc không phải bây giờ mới đặt ra, mà được Đảng ta đề cập từ thập niên bốn mươi của thế kỷ 20. Trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đến việc chăm lo giữ gìn những nét đẹp tinh túy đã làm nên vị thế, hồn cốt văn hóa Việt trong dòng chảy văn hóa thế giới. Đó là: Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12-1-1998 của Bộ Chính trị khóa VIII “Về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội”; Chỉ thị số 46-CT/TW của Ban Bí thư khóa X “Về chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”; Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24-3-2015 của Ban Bí thư khóa XI “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015-2030”; Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 5-2-2015 của Ban Bí thư khóa XI về việc “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội”; Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”… Đặc biệt, Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về những điều đảng viên không được làm” đã quy định, đảng viên không được phép tham gia các hoạt động mê tín, dị đoan, lợi dụng tín ngưỡng để trục lợi. Một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận CB, ĐV đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cảnh báo là: “Sa vào tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”. Mấy năm trở lại đây, vào dịp trước Tết Nguyên đán, năm nào Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng ban hành chỉ thị về việc tổ chức Tết cổ truyền ở nước ta. Trong các nghị quyết, chỉ thị nêu trên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư luôn có một điều lưu ý, yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, nhất là bí thư cấp ủy, người đứng đầu, cấp ủy viên và đội ngũ CB, ĐV phải đề cao trách nhiệm, gương mẫu đi đầu trong việc thực hiện nếp sống văn minh, giữ gìn những giá trị truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Tại sao phải giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc? Bởi vì, thuần phong mỹ tục là tất cả những phong tục, truyền thống, quan niệm giá trị đạo đức, lối sống lành mạnh, tốt đẹp của cả cộng đồng đã được lưu giữ, trao truyền từ đời này qua đời khác. Thuần phong mỹ tục góp phần làm nên những tinh hoa văn hóa đặc sắc của dân tộc mà thiếu nó, hoặc là văn hóa dân tộc sẽ bị nhạt phai, lai căng, hoặc văn hóa dân tộc dễ bị “nhấn chìm” trong cơn lốc của quá trình toàn cầu hóa về văn hóa. Kinh nghiệm của các nền văn hóa trên thế giới đã chỉ ra rằng, thuần phong mỹ tục không chỉ mang ý nghĩa gắn kết cộng đồng trong một quốc gia dân tộc, có tác dụng tích cực giáo dục, bồi đắp, hoàn thiện đạo đức cho mỗi cá nhân và cộng đồng, mà còn góp phần ngăn chặn những biểu hiện, hành vi lệch chuẩn văn hóa, trái đạo đức của con người. Thuần phong mỹ tục dân tộc mới thoạt nghe có vẻ trừu tượng, khó hiểu, nhưng thực ra nó được biểu hiện thông qua những quan niệm giàu ý nghĩa nhân văn như: Ứng xử với tổ tiên, các bậc tiền nhân và những người có công với nước thể hiện qua đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”; với các bậc bô lão, cao niên thì thể hiện thái độ “Kính lão đắc thọ”; với những người có công giáo dục, dạy dỗ thì thể hiện tấm lòng “Tôn sư trọng đạo”; với cha mẹ có công sinh thành, dưỡng dục thì thể hiện tình cảm “Một lòng thờ mẹ kính cha/Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”; với việc tu dưỡng bản thân thì thể hiện qua phương châm “Thứ nhất là tu tại gia/Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”… Thuần phong mỹ tục dân tộc còn thể hiện ở văn hóa ứng xử tinh tế, xưng tôn, hô khiêm, tôn trọng các quy ước, chuẩn mực của cộng đồng, không làm trái luân thường đạo lý, tổn thương đến người khác và ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống bình yên của xã hội. Giữ gìn thuần phong mỹ tục là thiết thực góp phần bảo vệ những giá trị chân-thiện-mỹ trong xã hội đương đại. Nhiệm vụ đó là trách nhiệm của cả cộng đồng, của mỗi người dân, trong đó đội ngũ CB, ĐV phải giữ vai trò nòng cốt, đi đầu. Pháp luật chỉ điều chỉnh những vấn đề cơ bản, cốt yếu của đời sống xã hội và các mối quan hệ của con người với nhà nước, xã hội và tự nhiên, nhưng không thể bao quát hết được mọi khía cạnh quan hệ ứng xử của con người. Có những hành vi mà pháp luật không cấm, nhưng khi con người vi phạm vẫn bị coi là trái đạo đức, đi ngược lại thuần phong mỹ tục dân tộc. Ví như khi CB, ĐV đi lễ chùa với mâm cao cỗ đầy, có biểu hiện trục lợi tâm linh, “mua thần bán thánh” là không phù hợp với tục lệ văn hóa, tín ngưỡng tốt đẹp của dân tộc. Vì trong ứng xử truyền thống của ông cha ta, đi lễ chùa nhằm bái vọng tổ tiên, anh linh các bậc tiền nhân nên chỉ cần tấm lòng thanh tịnh để ước mong sức khỏe sung túc, cuộc sống yên bình, chứ đâu cứ phải vàng mã hàng đống, xôi thịt hậu hĩnh dâng lên ban thờ để cầu lợi, cầu lộc? Thể hiện niềm tin tín ngưỡng đúng mực, tinh tế, phù hợp với quy ước, chuẩn mực ứng xử của cộng đồng là hành vi văn hóa, nhưng bằng mọi giá để tranh cướp, giành giật được “lộc thánh, lộc thần” là đi quá giới hạn tín ngưỡng tâm linh. Hay như pháp luật không cấm công dân mang mặc trang phục lòe loẹt, cũn cỡn, hở hang vào đền chùa, nhưng hành vi đó xuất hiện ở những chốn thờ phụng linh thiêng của cộng đồng lại bị coi là phản cảm, trái thuần phong mỹ tục dân tộc. Xưa kia, vào những ngày Tết, khi đến thăm nhà, mọi người thường có chén trà, miếng trầu mời nhau trong tình cảm ấm cúng, chân thành, hay cũng có thể nhâm nhi một chút rượu nhẹ gọi là vui xuân, chứ nếu sa đà “chén chú, chén anh” đến “liên tu bất tận” thì lại không hợp với phong tục đón Tết nền nã, lịch thiệp của ông cha ta... Giữ vai trò dẫn dắt, lãnh đạo, chi phối đường hướng, mục tiêu phát triển đất nước, trong đó có mục tiêu phát triển văn hóa, do vậy CB, ĐV là lực lượng góp phần quyết định việc bảo tồn, giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc trong xã hội hiện đại. Mặt khác, đội ngũ cán bộ thay mặt chính quyền nhà nước đảm đương nhiệm vụ quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, do đó họ là hình ảnh đại diện của một tổ chức, cơ quan, đoàn thể, địa phương nhất định. Khi cán bộ thấm nhuần những giá trị truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục, tập quán tốt đẹp của cha ông, đồng thời biết giáo dục, trao truyền, lan tỏa những giá trị đó vào cộng đồng, vào mỗi người dân sẽ góp phần tích cực hình thành, xây dựng nền tảng văn hóa, đạo đức lành mạnh trong xã hội và trong các tầng lớp nhân dân.

 

Ý ĐỒ XẤU TỪ VIỆC LỢI DỤNG VIDEO NHÀ SƯ THÍCH CHÂN QUANG BẢO VỆ LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỂ NÓI VỀ VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN

 

Luận án tiến sĩ của nhà sư Thích Chân Quang tạo ra sự bàn luận đáng kích lệ nhưng có những ý kiến trái chiều theo hướng ‘biện hộ’ cho những tiêu cực có chủ đích thì cũng cần phải bị phơi bày và cảnh giác…

Ngay khi video bảo vệ luận án tiến sĩ của nhà sư Thích Chân Quang được đăng tải lên mạng xã hội với đề tài “Nghĩa vụ con người trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” thì nhận được nhiều ý kiến tham gia bình luận, thảo luận. Tuy nhiên, có những ý kiến tích cực nhưng vẫn còn một số ‘hạt sạn’ với ý kiến lồng ghép chủ quan với dụng ý xấu khi lợi dụng vấn đề này.

Chúng tôi phải khẳng định rằng tất cả các ý kiến đưa ra cũng chỉ là quan điểm riêng, quan điểm cá nhân và ý kiến của chúng tôi cũng chỉ là quan điểm riêng của “Trí Sáng’ chứ không đại diện cho một cơ quan, một tổ chức nào để quyết định, ấn định, khẳng định hay kết luận và ý kiến của chúng tôi chỉ bàn luận để tìm ra những ý kiến có dụng ý ‘xấu’, mưu đồ ‘xấu’ khi lợi dụng vấn đề này để thực hiện mưu đồ của mình.

Nhìn tổng thể, quan điểm của nhà sư Thích Chân Quang trong luận án tiến sĩ của mình là “con người phải có nghĩa vụ quốc tế, quốc gia thì được hưởng các quyền tương ứng” nhưng quan điểm này lại bị một số ‘học giả trên mạng xã hội’ bẻ cong thành những lập luận theo kiểu ‘nói như vậy là không chính xác theo cái mục tiêu, nguyện vọng, và nền tảng của pháp luật quốc tế” và ‘nếu con người không đóng góp nghĩa vụ thì họ không được hưởng quyền con người’ ….

Theo chúng tôi, một số quan điểm trên đã cố tình ‘lập lờ’ giữa phạm trù ‘quyền con người’ ‘quyền công dân’ và ‘nghĩa vụ quốc tế’ ‘nghĩa vụ quốc gia’ để đưa ra biện luận rồi đến những kết luận riêng phản bác lại quan điểm của nhà sư Thích Chân Quang. Cố tình lập lờ ở đây thể hiện ở chỗ “giới hạn phạm vi, đối tượng nghiên cứu” trong luận án tiến sĩ của nhà sư Thích Chân Quang không được các ‘học giả trên mạng’ chỉ ra nên đã cố tình đánh đồng trong phạm vi thuật ngữ chung ‘nghĩa vụ -quyền con người’. Nếu không bỏ qua giới hạn phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài thì đâu đến nỗi có những ‘tranh luận’ như vậy và vậy ai cố tình ‘lờ đi phạm vi, đối tượng nghiên cứu’ của đề tài? Rõ ràng, những người đưa ra tranh luận trên đều có học hàm học vị rất cao không chỉ ở trong nước và nước ngoài nhưng sao lại chỉ dừng lại ở ‘hiện tượng’ nghe đoạn video bảo vệ mà không hề tìm hiểu xem phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của đề tài này được giới hạn đến đâu. Đây chắc chắn không phải ‘sơ suất’ của các ‘học giả trên mạng’ với học hàm học vị rất cao mà chẳng qua họ cũng cố tình bỏ qua để ‘lèo lái’ theo hướng mà RFA muốn tận dụng ‘chủ đề này’. Một giáo sư bỏ qua ‘phạm vi, đối tượng nghiên cứu’ để ‘phán xét’ bằng quan điểm của mình thì đó chính là ‘sự lập lờ giữa cái chung và cái riêng’ ….

Mặt khác, các quan điểm của ‘học giả trên mạng’ đều cố tình hướng lái đến cái gọi là ‘quyền con người đương nhiên’ với ‘năng lực bảo đảm thực hiện quyền con người’. Xét về lý luận, quyền phổ quát của con người không do bất kỳ ai, tổ chức nào ‘trao tặng’ nhưng để thực hiện được nó cần phải có ‘tổ chức’ với năng lực nhất định. Như vậy, nhà sư Thích Chân Quang muốn đề cập đến ‘năng lực thực hiện quyền con người của tổ chức: Quốc gia, quốc tế’ chứ không bàn luận đến quyền con người mà quốc gia phải có nghĩa vụ bảo vệ, bảo đảm. Để thực hiện được ‘quyền con người’ thì rõ ràng các cá nhân phải có ‘trách nhiệm/nghĩa vụ’ nếu cá nhân không có trách nhiệm (nghĩa vụ) thì tổ chức thực hiện quyền con người kia ‘phát sinh, tồn tại’ thế nào được ?

Theo đó, các ‘học giả trên mạng’ đã tìm cớ để ‘bôi xấu nhà sư Thích Chân Quang’ và có những ngôn từ không phù hợp để ám chỉ chế độ xã hội và quy chụp cho quan điểm ‘quốc gia về vấn đề nhân quyền, quyền công dân’.

Trên đây cũng chỉ là quan điểm riêng của Trí Sáng và Trí Sáng cũng nhắc lại một vấn đề rằng sử dụng thủ đoạn ‘lập lờ’ để tạo cớ nói xấu, quy chụp, vu cáo vốn vẫn là phương thức của những đối tượng không có thiện chí với Việt Nam, thậm chí chống lại nhân dân, dân tộc Việt Nam. Do đó, chúng ta không thể a dua theo hiện tượng hay chỉ dừng lại ở hiện tượng bên ngoài để cũng cổ vũ, cổ súy cho những quan điểm xấu phát tán lên mạng xã hội cùng với sự kiện video nhà sư Thích Chân Quang bảo vệ luận án tiến sĩ.