Thứ Năm, 13 tháng 1, 2022

Lời cảnh báo từ Omicron


          Biến thể Omicron đang làm chao đảo toàn cầu khi nhiều nước ghi nhận số ca mắc mới Covid-19 cao kỷ lục. Cùng với biến thể Delta, Omicron chính là hồi chuông thúc giục thế giới phải quyết liệt, đồng lòng và khẩn trương hơn nữa để lấp đầy những khoảng cách về tiếp cận vắc-xin.

          Biến thể Omicron xuất hiện vào cuối tháng 11/2021, khi các nước vẫn chưa vượt qua những đợt "sóng dữ" mà biến thể Delta gây ra. Đến nay, Omicron đã lây lan trên diện rộng và là một trong những nguyên nhân dẫn đến các kỷ lục buồn về Covid-19 ở nhiều châu lục. Ngày 12/1 vừa qua, nước Đức ghi nhận 80.430 ca mắc mới Covid-19 trong 24 giờ, mức cao nhất kể từ khi dịch bắt đầu bùng phát hai năm trước. Ở Ấn Độ, số ca mắc mới theo ngày đã tăng gấp 5 lần kể từ đầu năm 2022. Châu Phi gần đây ghi nhận số ca mắc mới tăng 83% chỉ trong vòng một tuần, chủ yếu là do biến thể Delta và Omicron... Đây là những con số biết nói, cho thấy mức độ nguy hiểm khó lường của biến chủng Omicron và việc tiêm vắc-xin ngừa Covid-19 vẫn cần được chú trọng trong năm 2022.

          Tuy nhiên, điều đáng nói là bài toán phân phối, tiếp cận công bằng vắc-xin, cho đến giờ vẫn chưa tìm được lời giải thỏa đáng. Trong khi một số nước phát triển đã đạt được thỏa thuận từ sớm với các nhà sản xuất để bảo đảm vắc-xin được phân phối cho người dân, thì nhiều quốc gia có thu nhập thấp và trung bình lại chỉ có thể dựa chủ yếu vào nguồn cung hạn chế từ Cơ chế tiếp cận vắc-xin toàn cầu COVAX. Châu Phi từ lâu luôn bị tụt lại phía sau các khu vực khác về tốc độ bao phủ vắc-xin. Hiện tại, chưa đầy 10% dân số ở "lục địa đen" được tiêm đủ liều vắc-xin ngừa Covid-19. Khi đặt con số này bên cạnh tỷ lệ 62,6% dân số Mỹ đã được tiêm phòng đầy đủ, có thể thấy những gam mầu sáng-tối tương phản rõ rệt trên bức tranh vắc-xin toàn cầu. Ông Tian Johnson (T.Giôn-xơn), người sáng lập Liên minh phân phối vắc-xin châu Phi nhấn mạnh: "Trong khi ở một số quốc gia khác, người dân đang tiêm các mũi vắc-xin tăng cường và thúc đẩy tiêm cho động vật trong sở thú, thì ở châu Phi, mới chỉ có hơn 7% dân số được tiêm phòng đầy đủ".

          COVAX, một sáng kiến quan trọng nhằm bảo đảm quyền tiếp cận vắc-xin nhanh và bình đẳng trên toàn cầu, cũng đang đối mặt thách thức lớn. Năm 2021, dù rất nỗ lực song COVAX mới bàn giao được 900 triệu liều vắc-xin cho các quốc gia, chưa đạt được một nửa mục tiêu phân phối 2 tỷ liều trong năm 2021. Giới chuyên gia nhận định, bảo đảm nguồn tài chính lẫn nguồn cung vắc-xin luôn là "bài toán hóc búa" đối với COVAX kể từ khi cơ chế này được thành lập. Làn sóng lây nhiễm Covid-19 nghiêm trọng hồi quý II/2021 đã buộc Ấn Độ, nhà cung cấp vắc-xin lớn của COVAX, phải ngừng xuất khẩu vắc-xin, khiến quá trình chuyển giao đến các khu vực khác bị chậm lại. Không chỉ có vậy, COVAX cũng gặp khó khăn với các nước giàu để đặt hàng vắc-xin với các nhà sản xuất.

          WHO khẳng định, bất bình đẳng vắc-xin chính là cách chúng ta "tự thua" trong cuộc chiến chống đại dịch. Theo ông Jeremy Farrar (G.Pha-ra), Giám đốc quỹ từ thiện Wellcome Trust có trụ sở tại Anh, sự xuất hiện của các biến thể mới đã cho thấy tại sao thế giới cần bảo đảm khả năng tiếp cận công bằng hơn đối với vắc-xin và các công cụ y tế công cộng khác. Cùng phối hợp hành động trên quy mô toàn cầu nhằm bảo đảm tất cả mọi người đều được tiếp cận vắc-xin là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách không chỉ của riêng quốc gia nào.

 

Trò bới móc xuyên tạc của RFA về tình hình biên giới

 Gần đây, mạng xã hội lan truyền một video liên quan đến việc vài người lính Trung Quốc đang kêu gọi các công nhân Việt Nam dừng thi công gia cố bờ kè ở đoạn sông chia biên giới, có người ném đá sang.

          Đúng là có việc lính Trung Quốc ném vài viên đá sang khu vực thi công của công nhân Việt Nam, nhưng đây chỉ có thể là hành động cản trở, không thể gọi là “đụng độ”, vì thế quân đội Việt Nam không cần xuất hiện để làm phức tạp tình hình. Nhưng quân đội cũng sẵn sàng xuất hiện khi cần thiết để cảnh báo phía Trung Quốc như chính trong đoạn video của RFA đã đăng tải. Đây là một biện pháp hết sức khôn khéo, cương nhu kết hợp mà vẫn đạt hiệu quả tối đa.

          Tình hình biên giới giữa hai quốc gia bất kỳ luôn tồn tại những điểm nóng. Điều này phát sinh là bởi địa hình phức tạp cùng yếu tố dân cư, văn hóa. Ngay cả một quốc gia văn minh như Mỹ cũng từng gặp không ít vấn đề về đường biên giới với Mexico, dẫn đến việc ông cựu Tổng thống Donald Trump từng kiên quyết xây dựng một hàng rào cứng phân chia hai nước để ngăn chặn dòng người nhập cư. Việt Nam và Trung Quốc vốn đã đàm phán và phân định biên giới xong, vạch được bản đồ, và cắm mốc trên thực địa. Nhưng không phải phân chia xong là xong, mà phải có các biện pháp quản lý chung đường biên giới để làm sao nhân dân hai nước có thể giao lưu qua lại, thúc đẩy hợp tác, làm ăn.

          Còn nhớ, trong chuyến công tác các tỉnh biên giới hồi đầu năm, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chỉ đạo phải bảo vệ vững chắc chủ quyền nhưng cũng cần giữ vững hòa bình, ổn định tại biên giới để thúc đẩy giao lưu, hợp tác giữa hai nước. Đây là quyết sách đúng đắn của người đứng đầu Chính phủ, nhằm mang lại lợi ích tối đa cho đất nước. Nhưng xem cái cách mà RFA thì có vẻ họ muốn xung đột, và thậm chí là chiến tranh. Nực cười những “trẻ trâu” thích đi dạy người lớn, những anh hùng núp sau bàn phím muốn xúi giục một dân tộc anh hùng đã đi qua mọi cuộc chiến với đầy rẫy vinh quang.

Quốc Hội họp bất thường là hoàn toàn bình thường

 Ngày 4 đến 11 tháng 1 năm 2022vừa rồi, Quốc hội khoá XV đã khai mạc phiên họp bất thường lần thứ nhất. Việc họp bất thường để nhanh chóng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Tuy nhiên, một số đối tượng xấu, chống đối, cơ hội chính trị đã nhanh chóng xuyên tạc, hướng lái thông tin tiêu cực.

          Ở quốc gia nào cũng vậy, việc Quốc hội họp bất thường là quá bình thường. Đối với Quốc hội nước Việt Nam, việchọp bất thường đã được quy định trong Luật. Cụ thể, tại Khoản 2 Điều 90 Luật Tổ chức Quốc hội có quy định Quốc hội họp thường lệ mỗi năm hai kỳ; Trường hợp Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu thì Quốc hội họp bất thường. Như vậy, việc tổ chức họp bất thường là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, trước khi tổ chức phiên họp bất thường, các cơ quan chức năng đã có thông báo rộng rãi về việc tổ chức phiên họp và các nội dung cần làm việc.

          Cần khẳng định rõ kỳ họp bất thường lần này là việc cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh đất nước bị ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19. Như đánh giá của Tổng Thư ký, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường: “Trước những yêu cầu cấp bách và giải quyết những yêu cầu thực tiễn đặt ra, Quốc hội tổ chức kỳ họp bất thường lần thứ nhất… Nếu cũng nội dung này mà chúng ta để đến 6 tháng sau mới đưa vào kỳ họp thì sẽ làm chậm sự phát triển của đất nước”. Việc tiến hành phiên họp bất thường là để kịp thời giải quyết những yêu cầu trong phát triển kinh tế, xã hội của đất nước; nhanh chóng thể chế hoá, cụ thể hoá các chủ trương, nghị quyết của Đảng để sớm đưa vào cuộc sống.

          Trong những năm qua, Quốc hội Việt Nam đã có nhiều nỗ lực, cố gắng, thể hiện rõ vị thế là cơ quan lập Hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Luật Tổ chức Quốc hội đã có những quy định cụ thể, rõ ràng. Do vậy, không có lý do gì để vu khống “Quốc hội chỉ là cây cảnh”, “Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định hết những vấn đề của Quốc hội” như những gì RFA đưa ra. Đây là những luận điệu thô thiển, thể hiện sự không tôn trọng cơ quan quyền lực cao nhất của Việt Nam.

Trò xỏ xiên phát biểu của lãnh đạo trong vụ bé gái 8 tuổi

 Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số bài viết nhằm lợi dụng vụ bé gái 8 tuổi bị bạo hành tử vong ở TP. HCM để xuyên tạc lời phát biểu về nhân quyền của Thủ tướng Phạm Minh Chính.

          Cụ thể, trang cá nhân của tên Mạc Văn Trang, một đối tượng chuyên xuyên tác chế độ viết rằng “Vụ bé gái 8 tuổi bị bạo hành đến chết, cho thấy nhân quyền không chỉ là ăn, mặc đủ mà là được sống và làm người một cách xứng đáng”. Ẩn ý của câu này là nhằm chỉ trích lời phát biểu Thủ tướng Phạm Minh Chính trong chuyến công tác tại Anh: “Nhân quyền lớn nhất là lo cơm ăn áo mặc cho 100 triệu dân, không để ai thiếu ăn thiếu mặc, khi khó khăn không bỏ ai lại phía sau”. Quyền được sống thì đúng rồi, bé gái không may mắn đã bị bạo hành rồi ra đi trong tức tưởi. Còn “làm người một cách xứng đáng” nghĩa là sao? Xuyên tạc, chống đối chính quyền, hùa theo luận điệu của các thế lực xấu ở nước ngoài nhằm phá hoại đất nước thì có xứng đáng hay không?

          Xin nói với đối tượng Trang rằng: câu phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính nói đến quyền ưu tiên nhất là mọi người có đủ cơm ăn áo mặc, không gặp khó khăn trong cuộc sống, nó hoàn toàn không hạn chế bất cứ “quyền” gì khác. Điều quan trọng hơn là nó chẳng liên quan gì đến câu chuyện bi thảm của bé gái không may. Vụ việc xảy ra là một điều đáng tiếc nhưng cũng chỉ là một vụ việc đơn lẻ và thậm chí không thể đại diện cho bất cứ điều gì về xã hội Việt Nam.

          Việc xuyên tạc để chỉ trích Nhà nước không làm cho Mạc Văn Trang trở nên tử tế hơn. Trong khi Đảng và Chính phủ đang có những nỗ lực không ngừng để bảo vệ quyền lợi của trẻ em như việc ban hành các điều Luật trẻ em 2016, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004. Cục Bảo vệ – chăm sóc trẻ em (Bộ Lao động – thương binh và xã hội) cũng đã cho ra mắt tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em với số điện thoại 111 để nhân dân kịp thời báo cho cơ quan chức năng khi cần thiết. Đáng tiếc là với vụ việc bé gái 8 tuổi thì do gia đình sống khép kín khiến không ai kịp can thiệp, để xảy ra hậu quả không ai mong muốn. Còn ông Trang, ngoài những bình luận xuyên tạc, chọc phá, ảnh hưởng an ninh trật tự xã hội và cuộc sống của người dân thì không hiểu ông đã làm được gì.

Cố tình đánh tráo khái niệm “độc lập” với “đối lập”

 Gần đây, lợi dụng quy định cho phép thành lập “Tổ chức đại diện người lao động” không thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, các phần tử chống phá đã ráo riết tuyên truyền, lôi kéo công nhân và người lao động cho ra đời cái gọi là tổ chức “công đoàn độc lập” ở Việt Nam.

          Nhà nước ta ghi nhận quyền tự do lập hội của công dân nhưng việc thực hiện quyền này phải tuân thủ các quy định luật pháp. Điều 25, Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Thêm vào đó, Điều 170, Bộ luật Lao động, người lao động có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn theo quy định của Luật Công đoàn. Đây là một quyền không mới do đã được pháp luật về lao động của Việt Nam ghi nhận cho người lao động từ lâu. Bên cạnh đó, khoản 2 điều này bổ sung quy định cho phép người lao động trong doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức, người lao động tại doanh nghiệp. Quy định về gia nhập, tham gia tổ chức này là rất mới, độc lập với tổ chức công đoàn cơ sở truyền thống.    

          Tuy vậy, lợi dụng chính sách ưu việt đó, một số thế lực đưa ra chiêu bài thành lập cái gọi là “công đoàn độc lập” để dụ dỗ, mua chuộc công nhân và người lao động Việt Nam, hình thành tổ chức mà bản chất tổ chức này không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân và người lao động. Các thế lực từng bước đi đến hình thành một tổ chức đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam. Với mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước, thời gian qua, các thế lực thù địch đã tranh thủ truyền thông quốc tế, đưa ra quan điểm phiến diện, quy chụp đối với hệ thống công đoàn Việt Nam, trong khi tung hô các tổ chức công đoàn độc lập.

          Cái được tung hô là “Hội nhà báo độc lập” là một tổ chức bất hợp pháp, không được Nhà nước thừa nhận, không có tư cách pháp nhân, không có văn bản pháp quy nào để đảm bảo cơ sở pháp lý của nó. Đây là một sự đánh tráo khái niệm “độc lập” với “đối lập” nhằm dễ bề lôi kéo người lao động để hình thành một lực lượng chính trị đối lập với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đối lập với hệ thống luật pháp Việt Nam. Tổ chức này không đại diện cho ai, không đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động và công nhân mà mục đích chống phá Đảng, Nhà nước.

          Nếu những tổ chức này không được ngăn chặn thì sẽ gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, làm lung lạc niềm tin của người lao động và công nhân đối với sự lãnh đạo của Đảng với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, sớm muộn cũng hình thành tổ chức đối lập với Đảng, thậm chí khi có điều kiện sẽ tổ chức biểu tình, bạo loạn.

Việt Nam kiên định con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội

 Một ngày cuối tháng 12 năm 1991, lá cờ đỏ búa liềm từ đỉnh tháp Kremli đã bị hạ xuống và thay vào đó là lá cờ ba sắc, đánh dấu sự sụp đổ của Liên Xô. Đây được coi là là cơn địa – chính trị chấn động thế kỷ XX. Lợi dụng sự kiện này, các đối tượng xấu ra sức xuyên tạc về chủ nghĩa cộng sản cũng như con đường mà Việt Nam đang đi.

          Dựa vào sự kiện Liên Xô tan rã cách đây đã 30 năm, các đối tượng chống phá tiếp tục tung ra những luận điệu sai trái, độc hại để kích động sự hoang mang, dao động trong quần chúng nhân dân. Chúng lu loa rằng, “Liên Xô sụp đổ là minh chứng cho thấy chủ nghĩa cộng sản không thể tồn tại trên thực tế”, “Việt Nam kiên định con đường đi lên CNXH là sai lầm, đi theo vết xe đổ của Liên Xô”… Từ đây, những kẻ này đòi Việt Nam phải thay đổi con đường cách mạng đã lựa chọn, từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội, chuyển hướng sang con đường tư bản, chấp nhận đã nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

          Sau 3 thập kỷ Liên Xô sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới đã có những thay đổi, biến động sâu sắc. Tại Việt Nam, việc sụp đổ hệ thống chủ nghĩa xã hội tại Liên Xô và Đông Âu cũng đặt ra nhiều thách thức. Tại thời điểm đó, đã có những sự hoài nghi, dao động, lo sợ về con đường cách mạng mà chúng ta lựa chọn liệu có đúng hay không? Thậm chí, có những người đã đưa ra ý kiến đòi thay đổi thể chế, thay đổi định hướng cách mạng. Tuy nhiên, trong 30 năm qua, chúng ta vẫn luôn kiên định con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và đạt được những kết quả không thể phủ nhận.

          Kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, không những không sụp đổ mà kể từ sau Đổi mới, Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực. Trên lĩnh vực kinh tế, năm 2020 quy mô nền kinh tế Việt Nam đã đạt 343,6 tỷ USD, thuộc nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới, nhóm 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới và đồng thời cũng thuộc nhóm 10 nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới. Công tác xoá đói giảm nghèo của Việt Nam được cộng đồng thế giới ghi nhận. Nếu như năm 1990, 70% là hộ nghèo thì đến năm 2020 con số này chỉ còn 3%. Hội nhập quốc tế diễn ra sâu rộng, đến nay Việt Nam đã có quan hệ kinh tế, thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết gần 100 hiệp định thương mại song phương.

          Với những kết quả như trên, rõ ràngViệt Nam không hề “đi vào vết xe đổ của Liên Xô” như những gì các đối tượng xấu tung ra. Suy cho cùng, mục đích của những kẻ này vẫn là chống phá chế độ chính trị của Việt Nam, kích động sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ Việt Nam.

Không để bị lợi dụng vì khiếu kiện

 Lợi dụng tình trạng tranh chấp, khiếu kiện vẫn xảy ra và diễn biến phức tạp, các đối tượng xấu lôi kéo, kích động người dân gây rối, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Trách nhiệm của mỗi người khi thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là phải tuân thủ pháp luật, đúng cả về nội dung và trình tự.

Lợi dụng khiếu nại, tố cáo để kích động

Thời gian qua, một số vụ việc khiếu kiện tuy đã được các cấp giải quyết,  đã được tòa án có thẩm quyền xét xử đúng pháp luật, nhiều quyết định đã có hiệu lực nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu kiện không đúng trình tự, thủ tục quy định. Nhiều vụ việc bị kích động đẩy từ khiếu nại lên khiếu kiện, từ vụ việc cá nhân trở thành vụ việc đông người. Một số vụ việc khiếu nại, tố cáo dù đã được các cấp, các ngành giải quyết nhiều lần nhưng các đối tượng khiếu kiện vẫn cho rằng “chưa thỏa đáng” rồi hô hào tập trung đông người, kéo đến cơ quan Đảng, Nhà nước gây mất an ninh, trật tự. Lợi dụng danh nghĩa “đấu tranh đòi quyền lợi” vin vào các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, một số đối tượng phản động, lưu vong gia tăng các hoạt động móc nối, chỉ đạo các đối tượng khiếu kiện cực đoan tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động ưa thích của các đối tượng này là lôi kéo, kích động, thậm chí hỗ trợ tài chính, hướng dẫn người dân khiếu kiện tham gia các tổ chức trá hình với danh nghĩa “dân oan” để tập hợp lực lượng có các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, làm phức tạp tình hình an ninh, trật tự. 

Những vụ việc khiếu kiện, tố cáo là “miếng đất tốt” để các thế lực thù địch, phản động khai thác để chống phá. Chúng triệt để lợi dụng những bức xúc để lôi kéo, kích động người dân khiếu kiện có các hoạt động gây phức tạp tình hình an ninh, trật tự với âm mưu thực hiện những hoạt động gây rối trong những thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước hoặc lợi dụng bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực, trong nước phức tạp, những vấn đề nhạy cảm về chính trị, kinh tế, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, những vi phạm liên quan đến tôn giáo, môi trường,… để kích động đưa kiến nghị, biểu tình “đòi” bảo vệ chủ quyền, môi trường, “đòi” tự do tôn giáo v.v... gây mất an ninh, trật tự. 

Trong các vụ việc, hầu hết những người đi khiếu kiện là nhân dân lao động. Các đối tượng lợi dụng tâm trạng bức xúc cùng với tình trạng thiếu hiểu biết về pháp luật để kích động người dân không đồng ý với cách giải quyết của các cấp, các ngành, đẩy mâu thuẫn lên cao, xúi giục người dân biểu tình gây mất an ninh, trật tự. Chỉ cần ở đâu đó xuất hiện các điểm nóng xung đột quyền lợi giữa người dân với chính quyền hoặc giữa những người dân với nhau là các đối tượng đã có thể xuất hiện đặt vấn đề viết “hộ” (!) đơn, thư khiếu kiện hoặc “lo” giúp giải quyết vụ việc. Cách làm thường thấy của các đối tượng này là đi đến tận nơi có người dân đang khiếu kiện, hứa hẹn giúp đỡ “đòi công bằng”, giúp gửi đơn ra các cơ quan Trung ương. Bước cao hơn là xúi giục người dân làm băng rôn, khẩu hiệu, tụ tập đông người kéo đến trụ sở các cơ quan Đảng, chính quyền các cấp để gây sức ép. Nhiều đối tượng còn đặt vấn đề viết bài đăng báo, “đòi quyền lợi” (?). Nguy hiểm hơn, để tạo được “tiếng vang”, họ xúi giục người dân vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác hoặc cơ quan, tổ chức liên quan. Các “nhà dân chủ” thường đóng vai “người bảo vệ quyền lợi” cho dân để thực hiện các bài “phỏng vấn” lồng ghép các nội dung bôi nhọ chính quyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách rồi đưa lên các trang mạng xã hội vu cáo, chống Đảng và Nhà nước.

Thực hiện quyền hiến định, công minh…

Từ năm 1959, khi tiến hành sửa đổi Hiến pháp 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Quy định nhiệm vụ cho tất cả các cơ quan Nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”(1). Điều này trong các đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước là nhất quán. Điều 20, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm...”. Quyền tố cáo của công dân được quy định tại Điều 30: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Những điều đó trong Hiến pháp đã được cụ thể hóa trong các Bộ luật Dân sự (2015) và Luật Hình sự (2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017). 

Cần phải khẳng định, đơn thư tố cáo đúng có vai trò quan trọng trong công tác tổ chức, nhất là những công việc có liên quan đến kinh tế, tài chính, đặc biệt là liên quan đến con người. Những năm qua, cùng với công cuộc xây dựng chỉnh đốn, làm trong sạch Đảng được đẩy mạnh từ hai nhiệm kỳ Đại hội gần đây, từ việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, nhiều vụ việc bị phanh phui đã giúp Đảng làm rõ nhiều cán bộ có sai phạm và thi hành kỷ luật nghiêm minh những cá nhân không đủ trình độ, tư cách, phẩm chất đạo đức. Nhiều đại án bị phanh phui cũng bắt đầu từ các đơn thư tố cáo đúng sự thật, có trách nhiệm. Dựa vào các thông tin có cơ sở, Đảng và các cơ quan Nhà nước các cấp đã kiên quyết xử lý nhiều cán bộ sai phạm, trong đó có cả những cán bộ cấp cao. Điều này làm tăng thêm lòng tin của dân với Đảng,  gây được không khí phấn chấn và tin tưởng vào công lý trong xã hội. Việc đấu tranh với tiêu cực được khuyến khích, việc tố cáo đúng được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, mặt trái của nó là tình trạng đơn thư tố cáo nặc danh, mượn danh, tố cáo sai sự thật; động cơ nhằm triệt hạ người khác, gây mất đoàn kết nội bộ... đã gây ra những hậu quả xấu. Điều này không chỉ là nguyên nhân gây rối loạn trật tự, an toàn xã hội, gây thêm khó khăn cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân.

Luật Tố cáo (2018) đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, trong đó người tố cáo có nghĩa vụ trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo; hợp tác với người giải quyết tố cáo khi có yêu cầu... Luật cũng nghiêm cấm nhiều hành vi đối với người tố cáo, như: Cố ý tố cáo sai sự thật; cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật; sử dụng họ tên của người khác để tố cáo; mua chuộc, hối lộ, đe dọa, trả thù, xúc phạm người giải quyết tố cáo; lợi dụng quyền tố cáo để tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước; gây rối an ninh, trật tự công cộng; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác; đưa tin sai sự thật về việc tố cáo và giải quyết tố cáo... 

… Và thượng tôn pháp luật

Pháp luật cho phép người dân thực hiện các quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo luật định qua đơn thư gửi các cơ quan chức năng có thẩm quyền thụ lý giải quyết, nếu thấy chưa thỏa đáng thì có thể tiếp tục khiếu nại lên cấp trên hoặc khởi kiện ra tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình. Trên tinh thần đó, mỗi người dân cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, phân biệt rõ giới hạn của quyền khiếu nại, tố cáo, đấu tranh với những hành vi sai trái. Điều mỗi người cần hiểu rõ và thực hiện đúng là: Bảo vệ quyền lợi của mình nhưng phải đúng quy định và với tinh thần thượng tôn pháp luật. Đặc biệt, người dân cũng cần cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng khiếu nại, tố cáo để kích động gây rối, xâm phạm an ninh, trật tự - những điều đó là phạm pháp. Khi cần tìm hiểu, tư vấn về pháp luật liên quan đến khiếu kiện, người dân nên/có thể đến các trung tâm hỗ trợ pháp lý, các văn phòng luật sư, gặp cán bộ tư pháp... để được hướng dẫn cụ thể về nội dung và trình tự những điều mình có thể làm để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân, gia đình. Mỗi cá nhân khi thực hiện việc khiếu nại, tố cáo đều phải hiểu rõ và thực hiện đúng các quy định của pháp luật với đầy đủ trách nhiệm của mình.

Để làm sáng rõ tính công minh, chính đáng và rộng đường dư luận, các cấp chính quyền cũng cần tăng cường hơn nữa công tác tiếp dân, đối thoại với công dân để khi giải quyết mỗi vụ việc đều bảo đảm chính xác, khách quan, có tình, có lý và có tính thuyết phục cao. Đồng thời, cùng với việc có biện pháp quyết liệt để đấu tranh, xử lý có hiệu quả, triệt để tình trạng khiếu nại, tố cáo sai sự thật, vượt cấp, cơ quan chức năng cần tập trung xử lý dứt điểm các vụ khiếu nại, tố cáo còn tồn đọng, những vụ việc phức tạp đã kéo dài và công khai kết quả trước dư luận công chúng. Những vụ việc đã được giải quyết thỏa đáng, đúng quy định của pháp luật cần có các biện pháp thuyết phục, tuyên truyền, vận động để các đương sự nghiêm túc chấp hành. Cùng với đó, cần kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các cán bộ lợi dụng kẽ hở, lợi dụng sự phức tạp và chồng chéo của các văn bản để gây khó khăn, nhũng nhiễu, “dọa” dân, làm phức tạp thêm vụ việc nhằm đạt các mục đích xấu khi người dân có việc cần khiếu nại, tố cáo.

110 năm Bác ra đi tìm đường cứu nước: Dấu mốc đặc biệt quan trọng đối với lịch sử

 Cuộc ra đi vào năm 1911 của Người đã trở thành dấu mốc đặc biệt quan trọng đối với lịch sử dân tộc; mang đến cho nhân dân Việt Nam ngọn cờ và khát vọng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Không cam chịu cảnh nước mất nhà tan, cảnh nhân dân lao động bị bóc lột tàn bạo dưới bàn tay của thực dân và phong kiến; với ý chí, khát vọng cháy bỏng giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ dưới chế độ thực dân, phong kiến, ngày 5 tháng 6 năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời bến Nhà Rồng, quyết chí ra đi tìm con đường để giải phóng, giành lại độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Sự nghiệp cách mạng của Bác có thể tóm gọn trong 3 từ

Theo PGS.TS Lý Việt Quang, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, “xét đến cùng thì sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ có thể tóm gọn lại trong 3 từ “vì con người”. Bác ra đi để tìm đường cứu nước, cứu dân và mục tiêu là hướng đến con đường độc lập dân tộc, CNXH, thực hiện khát vọng giải phóng triệt để như thế là xuất phát từ con người. Đây cũng là một trong những giá trị quý báu trong tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh: Lựa chọn giá trị sống vì nước, vì dân.

Tại Hội thảo khoa học quốc gia được tổ chức mới đây, ôn lại cuộc đời cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, một lần nữa nhắc lại mong muốn của Bác đó là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Cả cuộc đời Người chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân.

Theo GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, giá trị tư tưởng vì nước, vì dân của Người còn được thể hiện ở sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, đó là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Bởi theo Người, “nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Xuất phát từ thực tiễn đất nước, Người quan niệm CNXH không chỉ có những đặc trưng tổng quát thể hiện tính ưu việt của một chế độ mới, hơn hẳn so với các chế độ xã hội trước, mà còn mang những đặc trưng riêng có của Việt Nam, được xây dựng sáng tạo theo cách của Việt Nam. Đó là con đường “nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”; là “làm sao cho dân giàu nước mạnh”, “nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”; “là mọi người cùng ra sức lao động sản xuất để được ăn no, mặc ấm và có nhà ở sạch sẽ”.

Trong những điều phải làm để xây dựng CNXH, Người yêu cầu phải thực hiện 4 việc: Làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở và có học hành.

“Tư tưởng “vì dân” của Người được diễn đạt dung dị, dễ hiểu, có ý nghĩa hết sức sâu sắc, là những chỉ dẫn quý báu cho chúng ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhắc nhở chúng ta yêu cầu phải hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, của Việt Nam và do con người Việt Nam thực hiện”, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh.  

Không cớ gì thay đổi con đường mà Bác và dân tộc lựa chọn

Cuộc ra đi vào năm 1911 của Người đã trở thành dấu mốc đặc biệt quan trọng đối với lịch sử của cả dân tộc; đã mang đến cho nhân dân Việt Nam ngọn cờ và khát vọng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Trong cuộc ra đi ấy, Người không chỉ mang khát vọng cứu nước, giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân mà khi tiếp cận được với ánh sáng của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Người còn tìm thấy khát vọng xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Theo GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, vững bước trên con đường mà Người đã vạch ra cho cách mạng Việt Nam, có thể nói, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đạt được trong 35 năm qua là minh chứng sinh động, hùng hồn khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên CNXH mà Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn là phù hợp với thực tiễn nước ta và xu thế phát triển của thời đại. Những thành tựu ấy cũng khẳng định sự cần thiết phải kiên định, vận dụng và bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không ngừng hoàn thiện mô hình CNXH và con đường lên CNXH của Việt Nam trong giai đoạn mới, phù hợp quy luật khách quan, thực tiễn dân tộc và xu thế thời đại, kế thừa tinh hoa, giá trị văn hoá và các thành tựu phát triển của nhân loại, như lúc sinh thời Người đã làm và mong muốn. 

Vào đúng dịp kỷ niệm 131 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về vấn đề CNXH và con đường lên CNXH ở Việt Nam được công bố, một lần nữa khẳng định rõ ràng con đường tất yếu đi lên CNXH của dân tộc Việt Nam, không phải là ý muốn chủ quan của một cá nhân hay một nhóm người mà con đường này chính là sự lựa chọn đầu tiên của Bác Hồ, và sau đó trở thành sự lựa chọn của Đảng và dân tộc Việt Nam. Lựa chọn ấy đã được minh chứng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam.

Theo PGS.TS Lý Việt Quang, con đường của chúng ta hiện nay đã được dân tộc lựa chọn thì không có can cớ gì để thay đổi, mà phải tiếp tục đi lên và hoàn thiện nó, làm cho con đường đó ngày càng sáng tỏ hơn để đạt tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.

Vì thế, theo Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, “để thực hiện được điều đó, một điều hết sức quan trọng là tất cả mọi chủ trương chính sách phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm thước đo cho những chủ trương chính sách đó, có đúng, hoàn thiện hay không, nó mạng lại hiệu quả, lợi ích ra sao đối với nhân dân. Đây cũng là chân lý mà sinh thời Bác đúc kết: những gì mang lại lợi ích cho Tổ quốc, dân tộc là chân lý; trái với lợi ích của dân tộc thì không phải chân lý”./.

 

“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và vấn đề đặt ra trong công tác bảo vệ an ninh, trật tự hiện nay

Vấn đề “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trong quá trình hiện thực hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống.

Định hướng phát triển đất nước những năm tiếp theo về dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: Thực hành và phát huy rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân và vai trò chủ thể của nhân dân, thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam” đăng trên Báo Nhân Dân ngày 17/5/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”. Làm rõ, hoàn thiện lý luận, thể chế hóa, phát huy phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong thực tiễn đời sống xã hội vấn đề cấp thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi hiện nay.

 1. Quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về mục tiêu cách mạng vô sản là phục vụ lợi ích của quần chúng nhân dân có giá trị khoa học, thực tiễn, là nền tảng phương pháp luận trong xây dựng nền dân chủ XHCN. Theo đó, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước và giữ vai trò quyết định sự tồn tại của nhà nước, được thể hiện ra như là “một trong những tính quy định, cụ thể là sự tự quy định của nhân dân”; nhà nước dân chủ thực sự là nhà nước “ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân”. Xã hội hướng tới sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Quan điểm đó tạo ra sự thay đổi có tính chất cách mạng trong nhận thức về dân chủ, có giá trị lý luận, thực tiễn hình thành dân chủ XHCN.

Tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vai trò, vị trí, lực lượng, sức mạnh to lớn của nhân dân, là một trong những nội dung quan trọng trong tư tưởng của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết, là tối thượng”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân”. Người nhấn mạnh: “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ”. Toàn bộ quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân, nhằm phụng sự lợi ích của nhân dân, thừa hành ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đây là tư tưởng nền tảng mà Đảng ta hướng tới, đồng thời là cách thức thực hiện mục tiêu, con đường đi lên CNXH ở nước ta.

 Thực tiễn nhiều năm thực hiện cơ chế quản lý tập trung bao cấp trước thời kỳ đổi mới, do hoàn cảnh lịch sử của thời kỳ đó, quyền làm chủ của nhân dân chưa thực sự được phát huy, việc huy động sự đóng góp và sức dân vẫn còn nặng nề, mệnh lệnh hành chính. Xuất phát từ thực tiễn đó, trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ V của Đảng (1981-1986), Đảng ta đã đề ra chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đây là một trong những nội dung đặc biệt nhấn mạnh về tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng. Ngày 28/11/1984, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa V) đã ban hành Chỉ thị số 53-CT/TW “Về tăng cường công tác quần chúng của Đảng”, trong đó nhấn mạnh: “Phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thực hiện tốt khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong sản xuất, phân phối cũng như trong tất cả các công tác quan hệ trực tiếp đến quần chúng”. Có thể nói, lần đầu tiên, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được Đảng ta chính thức đề ra, trở thành một chủ trương lớn, một phương châm hành động cụ thể.

Như vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung nội dung “dân giám sát”, “dân thụ hưởng” vào nội dung phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.  Đây là sự phát triển tư duy lý luận, hoàn thiện chủ trương của Đảng về dân chủ. Sự phát triển, hoàn thiện đó có ý nghĩa thiết thực, quan trọng trong xây dựng và phát huy nguồn lực con người, là động lực, yếu tố sống còn, có ý nghĩa quyết định đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước giai đoạn tiếp theo. Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vậy nội hàm của phương châm trên là gì? Phải chăng là những điều cơ bản, khái quát sau đây:

“Dân biết” là nhân dân hiểu và nắm rõ được chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật liên quan đến cuộc sống nhân dân, vận mệnh đất nước, dân tộc. Nhân dân nắm, biết để bàn bạc, đóng góp ý kiến, hoạch định, góp phần bảo đảm khi được ban hành, thực hiện trong đời sống, đem lại kết quả tốt. Nhân dân biết, nắm rõ, hiểu được chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, tạo cơ sở để thống nhất, đồng thuận, đồng lòng, đoàn kết tổ chức, thực hiện đạt kết quả cao trong cuộc sống. Nhân dân hiểu rõ mục đích cuối của chủ trương, chính sách, pháp luật là phục vụ lợi ích của chính nhân dân, thành quả của chủ trương, chính sách, pháp luật mang lại do nhân dân thụ hưởng, tạo ra xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Để nhân dân “biết” phải sử dụng hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục.

 “Dân bàn” là nhân dân được thảo luận, bàn bạc, ý kiến, góp ý với Đảng và Nhà nước, để việc hoạch định, thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật được thực hiện một cách chính xác, phù hợp, hiệu quả. Nhân dân bàn bạc, thống nhất cách thức, biện pháp tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả vào thực tiễn công việc, mang lại lợi ích cho nhân dân, đất nước. Khi nhân dân góp ý kiến đúng, xác đáng phải trân trọng, tiếp thu, hoàn thiện cho tốt hơn; khi nhân dân góp ý kiến chưa xác đáng, chưa phù hợp phải giải thích, tuyên truyền, thuyết phục để nhân dân hiểu, nắm rõ chủ trương, chính sách, pháp luật và những lợi ích đem lại. Để nhân dân “bàn” phải có cơ chế, cách thức tổ chức phù hợp. “Dân làm” là nhân dân làm việc, thực hiện, hành động chủ trương, nghị chính sách, pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, đảm bảo hiệu quả. Nhân dân thực hiện tinh thần làm chủ, vai trò chủ thể thực hiện, triển khai hoạt động, công việc với cách thức, phương pháp, phương tiện, lực lượng thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật, việc làm vào đời sống đạt hiệu quả. Trong quá trình đó, cán bộ, đảng viên trước hết làm tốt vai trò là một công dân, với tinh thần là hạt nhân, đi đầu trong tổ chức, triển khai, thực hiện. “Dân kiểm tra” là việc nhân dân xem xét, đánh giá thực tế thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, việc làm, qua đó phát hiện những sai lệch, thiếu sót, đề xuất, ngăn chặn, xử lý, đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời, bảo đảm thực hiện có hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra. Mặt khác, qua kiểm tra để khuyến khích, biểu dương những việc làm tốt, mô hình hay. Nhân dân kiểm tra bằng cơ chế dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện dân cử, nhất là dân chủ ở cơ sở. Để nhân dân kiểm tra được cần có cơ chế cụ thể, cách thức tiến hành phù hợp. “Dân giám sát” là nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá quá trình thực hiện, kết quả thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án, công việc thực hiện. Nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có đúng, có tuân thủ đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật không. Giám sát bằng hình thức, phương pháp cụ thể, thường xuyên, theo nội dung công việc, trực tiếp, hoặc gián tiếp. “Dân thụ hưởng” là nhân dân được nhận, thụ hưởng thành quả, kết quả của quá trình phát triển về đời sống vật chất, tinh thần mà các chủ trương, đường lối,  chính sách, pháp luật mang lại sau quá trình tổ chức, thực hiện. Nhân dân thụ hưởng lợi ích, giá trị dẫn tới xã hội có trật tự, kỷ cương, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời nhân dân thấy được mục đích, động lực thực sự, cuối cùng của chủ trương, chính sách, pháp luật mà Đảng, Nhà nước đề ra và tổ chức thực hiện đều vì con người, vì nhân dân, lan toả giá trị tiến bộ, nhân văn, phẩm giá con người, bản chất chất của chế độ xã hội.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung nội dung “dân giám sát” vào phương châm để tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân. Nội dung “dân thụ hưởng” trong thực tế đời sống xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là trong suốt 35 năm đổi mới đất nước, nhân dân đã thụ hưởng tất cả những thành quả của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới mang lại. Tuy nhiên, việc bổ sung nội dung “dân thụ hưởng” vào phương châm nhằm khẳng vai trò làm chủ, chủ thể nhân dân và đích cuối cùng của mọi chủ trương, chính sách, pháp luật là vì lợi ích của nhân dân, đúng với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”, đồng thời thể hiện rõ thực tiễn, mục tiêu, con đường đi lên CNXH, dân chủ - nhân dân làm chủ là vấn đề cơ bản, là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Như vậy, “biết”, “bàn”, “làm”, “kiểm tra”, “giám sát”, “thụ hưởng” trong nội dung phương châm là quá trình tiếp nối biện chứng, có quan hệ chặt chẽ, chuyển hoá với nhau, gắn liền với vai trò chủ thể là nhân dân, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân. Đây không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trong quá trình hiện thực hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống. Đó cũng chính là động lực quan trọng để hiện thực hóa định hướng và tầm nhìn trong giai đoạn mới, hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc, đồng thời đó cũng là mục tiêu hướng tới của CNXH mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta lựa chọn, xây dựng, phát triển đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

2. Trong những năm vừa qua, việc thực hiện phương châm “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã đạt được những kết quả tích cực. Về phương diện lý luận, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” từng bước xây dựng, phát triển, hoàn thiện; cụ thể hóa trong chủ trương, đường lối về xây dựng, thực hiện dân chủ XHCN, trở thành phương châm hành động trong thực tiễn đời sống. Về thực tiễn, phương châm đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dân chủ XHCN ngày càng tốt hơn trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã được triển khai ngày càng sâu rộng, từng bước vững chắc và thực sự đi vào cuộc sống, nhất là phát huy dân chủ ở cơ sở, đạt kết quả tích cực. Nhà nước từng bước thể chế hóa Hiến pháp, pháp luật phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển và yêu cầu của đất nước. Chế độ dân chủ đại diện được phát huy; chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp ngày càng được nâng cao; cải cách hành chính đạt nhiều kết quả tích cực. Dân chủ trực tiếp ở các cấp, dân chủ ở cơ sở được mở rộng, nhân dân được bàn và quyết định những công việc quan trọng, thiết thực, gắn liền với lợi ích của nhân dân, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân được chú trọng và đạt nhiều kết quả tốt. Phương châm đã góp phần xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, việc thực thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn một số hạn chế. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện phương châm chưa thực sự thường xuyên. Công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện chưa được chú trọng. Một số văn bản pháp luật liên quan đến dân chủ ở cơ sở chậm được xây dựng và hoàn thiện. Thực hiện phương châm chưa thực sự đi đôi với giữ gìn trật tự, kỷ cương, có tình trạng lợi dụng theo hướng tiêu cực, chống đối, xuyên tạc, gây mất an ninh, trật tự, gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ. Có nơi vẫn còn tình trạng dân chủ hình thức, ý kiến của nhân dân chưa thực sự được lắng nghe, quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm, tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân nhiều nơi chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Việc thực hiện ở cơ sở chưa đồng đều ở các khu vực, loại hình cơ sở”. Các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa được phát huy. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, trong đó nhân dân làm chủ - thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” chưa được thể chế hóa một cách cụ thể, đầy đủ, đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị có mặt chưa theo kịp yêu cầu tình hình mới, chưa thật sự sâu sát với hơi thở cuộc sống của các tầng lớp nhân dân và bám sát cơ sở; chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội chưa đều. Trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các cơ sở dịch vụ, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập… khó thực hiện. Hệ thống chính trị cơ sở, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, chưa thực sự tôn trọng, coi nhẹ ý kiến, kiến nghị của nhân dân, giải quyết chưa kịp thời các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

 Từ cơ sở lý luận, thực tiễn, có thể thấy những vấn đề đặt ra là: (1) Làm sao thể chế hóa các quan điểm của Đảng, đưa phương châm thành các quy định chặt chẽ, đồng bộ, cụ thể trong hệ thống pháp luật; (2) Thực hành phương châm trong thực tiễn đời sống xã hội, xác định, phân định rõ phạm vi, quy trình công khai, minh bạch, cách thức triển khai, thực hiện. (3) Dân là chủ phải gắn với kỷ cương, phép nước, đảm bảo tinh thần thượng tôn pháp luật. (4) Tăng cường tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với người dân, đổi mới và nâng cao chất lượng các hình thức lấy ý kiến của nhân dân. (5) Phát huy tính ưu việt, bản chất tốt đẹp dân chủ XHCN, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, làm thất bại âm mưu chống phá, “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, đật đổ chế độ ngày càng gay gắt.

 Việc vận dụng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bên cạnh những ưu điểm, kết quả, thành tựu đạt được thì cũng còn có hạn chế, có vấn đề đặt ra. Phát huy sức mạnh của nhân dân trong nâng cao tiềm lực và sức mạnh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội có việc, có lúc còn chưa đáp ứng với yêu cầu, đòi hỏi của tình hình, nhiệm vụ hiện nay. Công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước xây dựng, thể chế hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về bảo vệ an ninh, trật tự đã cơ bản phát triển nhưng còn đặt ra vấn đề phải xử lý, khắc phục. Qua hoạt động thực tiễn, nắm tình hình, tham mưu trên một số mặt còn chưa kịp thời, từ đó còn có những vụ việc phức tạp phải tập trung xử lý. Công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, nhận thức của một bộ phận quần chúng nhân dân đối với pháp luật chưa cao. Ý thức chấp hành pháp luật, công tác phối hợp, phát huy vai trò của nhân dân bảo đảm an ninh, trật tự trên một số địa bàn, lĩnh vực chưa vững chắc, còn tiềm ẩn những vấn đề phức tạp, nhất là khu vực biên giới, vùng tôn giáo, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.

3. Quán triệt Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Để thực hiện mục tiêu đó, trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội phải thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, xây dựng nền an ninh nhân dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh hoạt động lợi dụng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để hoạt động tiêu cực, vi phạm pháp luật, chống phá. Phải “dựa vào dân mà công tác, chiến đấu, vì nhân dân mà phục vụ”, từ đó hoàn thành xuất sắc trọng trách được giao, đảm bảo xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, lành mạnh, tạo môi trường hòa bình, ổn định, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới trên con đường thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc”./. 

Những thủ đoạn kích động chống phá không phủ nhận được sự thật

 Tham nhũng sinh ra và gắn liền với nhà nước. Đây là vấn đề có tính toàn cầu, không của riêng đất nước, quốc gia nào. Tuy nhiên, các đối tượng núp dưới nhãn hiệu “dân chủ, nhân quyền” luôn lợi dụng vấn đề tham nhũng và công cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam để xuyên tạc, phá hoại niềm tin về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Hơn lúc nào hết, việc nhận thức rõ và đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn chống phá này là vấn đề mang tính cấp thiết hiện nay.

Vấn đề “nóng” nên dễ bị lợi dụng

Tệ tham những đã được Đảng ta coi là “quốc nạn”. Nạn tham nhũng, tệ quan liêu và nhũng nhiễu (để vòi) “ăn” hối lộ đã và đang gây bức xúc dư luận, làm nhụt chí các nhà đầu tư. Không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, “quốc nạn” này làm băng hoại niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng gây sự hoài nghi về tính trong sạch của bộ máy, về những con nguời điều khiển bộ máy đó và những quyết định được đưa ra... Đây chính là điểm “đen” được các đối tượng thù địch, bất mãn nhằm đến để xuyên tạc, bôi đen, chia rẽ dân với Đảng, kêu gọi kích động, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng… Càng ngày, thủ đoạn chống phá càng tinh vi, đa dạng hơn bởi sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội chứ không chỉ còn là các phương pháp “cổ truyền” như rỉ tai tung tin thất thiệt, truyền tay phát tán tài liệu “mật”. Trong thời công nghệ số toàn cầu, dễ dàng bắt gặp những trang trên nền tảng mạng xã hội nhân danh những điều tốt đẹp: cùng Đảng chống tham nhũng, diệt trừ quan tham, vì một xã hội trong sạch, vì một chính phủ liêm chính,… Tuy nhiên, nếu nhìn sâu vào những thông tin, bài viết đó có thể dễ dàng nhận thấy sự suy diễn chủ quan, thổi phồng, xuyên tạc tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Mục đích của những người tung ra những thứ “hỏa mù” này phá hoại lòng tin rồi lôi kéo người dân tin vào các luận điệu xấu.

Những đối tượng này lợi dụng những vụ án tham nhũng liên quan đến cán bộ, đảng viên đã xảy ra hoặc những sự việc tiêu cực trong xã hội để suy diễn, quy kết “do tham nhũng”, từ đó xuyên tạc rằng đó là tình trạng “phổ biến”, quy kết rằng đó là “bản chất” của chế độ, đó là một “căn bệnh trầm kha” do cơ chế độc đảng lãnh đạo, do năng lực quản lý yếu kém của Nhà nước do đã bị những cán bộ xấu kiểm soát, v.v. Điều thường được lặp lại là tình trạng đó có sự “bao che, dung túng, tiếp tay”, thậm chí can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí của lãnh đạo, chính quyền các cấp. Ngoài / và cùng với xuyên tạc là vu cáo, “bôi đen” cá nhân lãnh đạo lãnh đạo Đảng, Nhà nước bằng những bài viết, hình ảnh về đời tư, về sự minh bạch tài sản, một “món khoái khẩu” khác là lái dư luận suy diễn theo hướng “cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc đấu đá phe cánh”, tung tin “đang có cuộc thanh trừng, đấu đá nội bộ trong Đảng”, hoặc “tăng cường phòng, chống tham nhũng chỉ là chiêu trò mị dân, chỉ là hô khẩu hiệu” v.v. Qua đó phủ nhận những nỗ lực, xuyên tạc những nỗ lực trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, làm mất niềm tin của nhân dân về công cuộc chống tham nhũng mà Đảng ta đang quyết liệt thực hiện.

Mục đích của tất cả những thủ đoạn đó là nhằm vẽ lên một bức tranh đen tối về thực trạng xã hội Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đó gây hoài nghi trong nhân dân vào các cấp lãnh đạo, vào hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng và phá hoại sự đoàn kết, đồng thuận trong xã hội. 

Tham nhũng không phải là một “định mệnh”

Tham nhũng, hối lộ chưa bị tiêu diệt nhưng người ta có thể kiềm chế nó bằng cách tác động đến những yếu tố có thể làm nó biến đổi. Một công thức đã được thừa nhận: Tham nhũng = Quyền lực độc quyền + Tùy ý định đoạt - Trách nhiệm. 

Công thức này chỉ ra những mặt cần can thiệp để có thể kiềm chế được tham nhũng. Đồng thời cố gắng làm giảm bớt quyền lực độc quyền (bằng những cải cách định hướng thị trường), giảm quyền tuỳ ý định đoạt (bằng cải cách hành chính) và tăng cường tính trách nhiệm (thông qua các cơ chế giám sát) của các quan chức để bất cứ một công việc gì cũng phải gắn với trách nhiệm của một người nào đó. 

Một nghiên cứu khác cho rằng: Tham nhũng = Độc quyền + Tùy tiện quyết định + Thiếu công khai. 

Độc quyền dẫn đến việc tự quy định giá và chỉ bán khi được giá; Tùy tiện dẫn tới việc các quan chức có thể tuỳ ý trả lời “Có” hoặc “Không” hoặc “Bao nhiêu tiền” mà không bị khiếu kiện và Bí mật thể hiện sự không thể kiểm soát nổi các thoả thuận. Cuộc đấu tranh chống tham nhũng do vậy phải thông qua việc không ngừng giảm bớt những độc quyền; hạn chế sử dụng quyền hành một cách tuỳ tiện và nhất là phải thiết lập sự công khai hoá ngày càng cao trong các lĩnh vực của đời sống xã hội vì thông tin là kẻ thù số một của lậu thuế.

Những cải cách chống tham nhũng phải nhằm vào các mục tiêu cốt lõi về chính trị và hành chính. Quá trình thực hiện những mục tiêu đó phải thường xuyên được đánh giá bằng các báo cáo trung thực và những tiến bộ cụ thể sẽ xác nhận những lời cam kết. Nhiều quốc gia trên thế giới đã thành công trong việc xây dựng một chính phủ trong sạch dựa trên những công thức đó. 
Những nỗ lực của Đảng cùng với nhân dân trong công cuộc chống tham nhũng được đặc biệt đẩy mạnh trong những năm gần đây cũng đi theo hướng đó, mạnh mẽ,  quyết liệt và “không có vùng cấm”. 

Không thể phủ nhận sự thật

Trong nhiệm kỳ Ðại hội khóa XII, công tác phòng, chống tham nhũng đã có những chuyển biến quan trọng. Đó là nguồn động viên to lớn, làm tăng niềm tin trong xã hội về tinh thần kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của Đảng. Chưa bao giờ công tác phòng, chống tham nhũng lại được chỉ đạo mạnh mẽ, đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả như thời gian vừa qua; để lại dấu ấn nổi bật, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. “Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành mới đây, tuyệt đại đa số ý kiến người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng”. Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam năm 2019 đứng thứ 96 trong số 180, tăng 27 bậc so năm 2012, trong bảng xếp hạng toàn cầu. 

Trong nhiệm kỳ XII, Đảng đã xử lý dứt điểm nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, cả những vụ tồn đọng, kéo dài từ nhiều năm trước, với nhiều cán bộ cấp cao bị xử lý hình sự. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, đã thi hành kỷ luật hơn 87 nghìn cán bộ, đảng viên, trong đó, có trên 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; đã thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang). Đây là bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng.

Công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế được tiến hành kiên quyết, “không có vùng cấm”, không khoan nhượng, không nương nhẹ, không làm oan, không bỏ lọt tội phạm. Chính điều này có tác dụng cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, giáo dục, phòng ngừa mạnh mẽ, được dư luận, nhân dân rất đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, tạo bước đột phá trong công tác phát hiện và xử lý tham nhũng. 

Đảng ta đã xác định, tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Ðảng và chế độ. Phòng, chống tham nhũng là “chống giặc nội xâm”, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa cấp bách, vừa khó khăn, phức tạp, lâu dài; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục, ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực, phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa trọng tâm, những giải pháp có tính đột phá để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả. Điều được Đảng ta nhấn mạnh là luôn luôn cần nâng cao vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu, quyết liệt của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, trước hết là của người đứng đầu đối với công tác phòng, chống tham nhũng. Cấp ủy, tổ chức đảng phải xác định phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, cấp bách để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo. Ðồng chí bí thư cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu, quyết liệt, đi đầu, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng.

Trong chặng đường phòng, chống tham nhũng trước mắt, Đảng ta đã xác định quyết tâm tập trung đẩy mạnh rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội, xây dựng Ðảng, hệ thống chính trị và phòng, chống tham nhũng, tạo hành lang chính trị, pháp lý hoàn chỉnh, thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ, hình thành cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng; giám sát, kiểm soát quyền lực để bảo đảm quyền lực được thực hiện công khai, minh bạch, không bị lợi dụng, lạm dụng; hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Ðảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới. Những nỗ lực đó đang được nhân dân đồng tình, ủng hộ, tạo được không khí phấn chấn và tin tưởng trong xã hội. Đó là những sự thật mà những kẻ kích động, chống phá không thể phủ nhận./.

“Kiên quyết, kiên trì” điều kiện cần và đủ để thực hiện mục tiêu bảo vệ Tổ quốc

 Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa...”. Đây là luận điểm hết sức quan trọng, cần được các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị và toàn dân quán triệt sâu sắc, thực hiện hiệu quả trong thời gian tới.

Kiên quyết, kiên trì trở thành bài học kinh nghiệm giữ nước quý báu. Khi nói đến kiên quyết, kiên trì là nói đến mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và sách lược cũng như phương thức thực hiện chiến lược đó; là mối quan hệ giữa quan điểm và phương châm; là điều kiện cần và đủ để thực hiện mục tiêu bảo vệ Tổ quốc. Từ thực tiễn 35 năm đổi mới và trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, đứng trước tình hình thế giới, khu vực liên tục có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc (BVTQ), nhất là biên giới, biển đảo vẫn đang đặt ra những thách thức mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương (QUTƯ), Bộ Quốc phòng (BQP), chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng, đạt được mục tiêu bao trùm là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, giữ vững môi trường hòa bình ổn định để phát triển đất nước”.

Cùng với việc chủ động chuẩn bị các yếu tố để có đủ sức mạnh kiên quyết BVTQ, Việt Nam cũng thể hiện rõ lập trường, quan điểm, tính chính nghĩa, yêu chuộng hòa bình, hòa hiếu, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, kiên trì giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là các tranh chấp trên Biển Đông. Nhờ vận dụng đúng đắn, linh hoạt quan điểm này, nhiệm kỳ qua, chúng ta đã bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, tạo môi trường hòa bình ổn định để phát triển đất nước. Tất cả những vấn đề đó đã khẳng định quan điểm “kiên quyết, kiên trì”, chủ động BVTQ “từ sớm, từ xa”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc đã và đang được hiện thực hóa trong thực tiễn.

Từ thực tiễn thế giới, khu vực và trong nước diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự đoán, cùng một số những hạn chế, thiếu sót cả trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm kỳ qua đã được Đại hội XIII chỉ ra, để thực hiện thắng lợi quan điểm “kiên quyết, kiên trì” của Đảng đã xác định, cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục quan điểm kiên quyết, kiên trì BVTQ, tạo sự thống nhất cao nhận thức và hành động trong  toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu nhằm củng cố vững chắc lòng tin vào sự lãnh đạo, chỉ đạo và những quyết sách của Đảng, Nhà nước, QUTƯ, BQP trong giải quyết các tình huống diễn ra. Thực hiện giải pháp này, các cấp, các ngành cần đa dạng các hình thức, biện pháp; mở rộng đối tượng tham gia, chú trọng luận giải cho rõ vì sao phải gắn kiên quyết với kiên trì và tính tất yếu phải kết hợp hai thành tố đó. Bằng kinh nghiệm lịch sử dân tộc cũng như thực tiễn BVTQ những năm qua, công tác tuyên truyền cần phải làm sáng tỏ, chống tư tưởng chần chừ, do dự, mặt khác lại phải khắc phục triệt để tư tưởng nóng vội, thiếu cân nhắc, tính toán dẫn đến ứng xử sai lầm, những hậu quả khôn lường.

Hai là, làm tốt công tác nghiên cứu, tham mưu dự báo chiến lược.

Công tác nghiên cứu, tham mưu dự báo chiến lược có vị trí rất quan trọng, làm cơ sở xác định phương án xử lý các tình huống. Thực tiễn nhiệm kỳ 2016-2021 đã minh chứng điều đó. Từ diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống nảy sinh, các thế lực phản động thù địch gia tăng chống phá... công tác dự báo cần quán triệt sâu sắc quan điểm Đại hội XIII của Đảng và Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI “nâng cao năng lực dự báo chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống...”[3]; nghiên cứu kỹ lưỡng các chiến lược về quân sự, quốc phòng (QS, QP) của Đảng; chiến lược của các nước lớn và các nước trong khu vực liên quan đến nước ta, từ đó dự kiến các phương án đối phó chính xác, kịp thời. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, truyền thông, cần chú trọng đội ngũ người làm công tác nghiên cứu bảo đảm đủ năng lực khai thác, phân tích và xử lý thông tin; đồng thời phát huy hiệu quả các phương tiện thông tin, truyền thông, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài quân đội.

Ba là, phát huy vai trò nòng cốt của LLVT trong thực hiện quan điểm “kiên quyết, kiên trì” bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

LLVT giữ vai trò nòng cốt để vừa BVTQ, vừa giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Vì thế, cần phát huy đầy đủ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ được giao, nhất là ở các địa bàn chiến lược, trọng yếu, biên giới, biển, đảo, bảo đảm cho quân đội luôn đề cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, xử lý thắng lợi mọi tình huống, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thường xuyên chủ động nghiên cứu, nắm, dự báo tình hình ở từng địa bàn, thực hiện tốt 3 chức năng, nâng cao chất lượng và hiệu quả làm tham mưu trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ QS, QP, thực hiện hiệu quả nghị quyết, chỉ thị và các chiến lược về QS, QP; tham mưu xây dựng các công trình chiến đấu theo kế hoạch phòng thủ từng địa bàn, nhất là tuyến biên giới, tuyến biển; phát huy vai trò “đội quân công tác” trên các địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo, dân tộc, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.

Bốn là, tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh, đối ngoại, góp phần nâng cao thế và lực để kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Hội nhập về quốc phòng, an ninh, đối ngoại là quan điểm nhất quán của Đảng ta và đã trở thành một bộ phận quan trọng trong tiến trình xây dựng, phát triển đất nước. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 28-NQ/TW khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, cần tăng cường hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, phát huy các cơ chế hợp tác song phương, đa phương, xây dựng lòng tin chiến lược, phát huy hiệu quả sự đồng thuận của các quốc gia trong Cộng đồng ASEAN, tăng cường mối quan hệ với các nước trên thế giới. Hội nhập về quốc phòng, an ninh, đối ngoại cần gắn kết chặt chẽ với hội nhập về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, tạo nên sức mạnh tổng hợp BVTQ, đặt lợi ích quốc gia-dân tộc lên tối thượng.

Năm là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ và đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế.

Đây là vấn đề có tính nguyên tắc trong đường lối cách mạng của Đảng ta, đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 806-NQ/QUTW ngày 31-12-2013 của QUTƯ về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo đã chỉ rõ quan điểm và những định hướng cơ bản để nâng tầm đối ngoại, văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”[4], vì thế thời gian tới các cấp, các ngành cần quán triệt và thực hiện hiệu quả hơn nữa nghị quyết; đẩy mạnh hợp tác tạo thế đan cài lợi ích với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc.

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là một trong những quan điểm cơ bản của Đảng ta được tiếp tục nhấn mạnh trong văn kiện Đại hội XIII, quan điểm này thể hiện sự phát triển tư duy, nhận thức về BVTQ của Đảng ta trước tình hình mới. Vì thế, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm “kiên quyết, kiên trì” của Đảng, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp, vận dụng sáng tạo, linh hoạt trong thực tiễn bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước./.

NHỮNG BẠI TƯỚNG PHÁP- MỸ NÓI GÌ VỀ ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP?

 Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, đại tướng Võ Nguyên Giáp lại chỉ huy bộ đội 2 miền Nam - Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ xâm lược. Năm 1984, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người học trò xuất sắc của Bác Hồ, người Anh Cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Anh hùng được thế giới vinh danh bầu chọn là 1 trong 10 danh tướng tài ba, thao lược của thời đại. Nói về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các nhân vật quan trọng trong giới quân sự, từ tướng Henri Navarre, De Castries (Pháp) đến McNamara, William Westmoreland (Mỹ) chưa có ai nói và viết những lời xúc phạm hoặc hạ thấp vai trò của Đại Tướng, trái lại phần lớn trong số ấy đều thán phục ca ngợi ông thật lòng.

Là tướng quân đội Pháp từng tham gia chiến đấu trong Chiến tranh thế giới I, Chiến tranh thế giới II và là Tổng chỉ huy quân đội Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ, Henri Eugène Navarre tự tin nhận định rằng quân đội Việt Nam sẽ không thể vận chuyển các vũ khí hạng nặng vào chiến đấu với quân đội Pháp. Nhưng ông ta không ngờ, quân đội giải phóng nhân dân Việt Nam đã dùng sức người để kéo pháo 150 mm và pháo cao xạ 37 mm qua nhiều đèo cao suối sâu để tiến vào trận địa. Các chiến sĩ Việt Nam cũng dùng sức người để đào chiến hào, tạo thành “chiếc thòng lọng siết cổ” quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ. Khi nhận ra mình đang bị mắc kẹt, vị Đại tướng Tổng tư lệnh cuối cùng của quân đội Pháp ở Đông Dương năm 1953-1954 nói:

"Khi biết Tướng Giáp hoãn cuộc tiến công Điện Biên Phủ (1/1954), tôi đã nhận thấy ngay đó là một nước cờ sáng suốt, hiểm độc và đáng sợ nhất của Tướng Giáp". Từ niềm tin chiến thắng Navarre trở nên hoang mang và rất mong Tướng Giáp bỏ ý định giao chiến. Từ đó ông ta lúc tin, lúc lo, lo nhiều hơn sau khi tướng Ê ly đi thị sát chiến trường Điện Biên Phủ về hỏi: "Ông có mong giao chiến với Tướng Giáp ở Điện Biên không?" Navarre trả lời: "Không, tôi không bao giờ mong cả".

Tướng De Castries là chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm kiêm chỉ huy cao nhất của quân Pháp trong trận đánh Điện Biên Phủ. Việc Tướng De Castries bị bắt sống ngay tại căn hầm của mình ngày 7/5/1954 đã đánh dấu sự thảm bại của quân Pháp trong cuộc chiến.

Nhắc tới chiến bại Điện Biên Phủ, Tướng De Castries đã bày tỏ sự thán phục tài cầm quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Tướng Giáp là một người thông minh, dũng cảm, một người giỏi chỉ huy du kích. Ông ấy cũng giỏi về chính trị, về chủ nghĩa cộng sản. Chúng tôi đã thấy rõ điều đó. Nay qua trận Điện Biên Phủ, tôi thấy Tướng Giáp không những giỏi về chỉ huy đánh du kích, mà còn giỏi cả về chỉ huy trận địa chiến, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng và cả về nghi binh đánh lừa tình báo đối phương”. Nói thêm về tài điều quân linh hoạt và sáng suốt của Tướng Giáp trong trận đánh Điện Biên Phủ, Tướng De Castries phải thốt lên rằng: “Điều làm tôi hết sức ngạc nhiên là không biết Tướng Võ Nguyên Giáp đã tốt nghiệp từ những trường, học viện võ bị cao cấp nào”.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ngay sát giờ nổ súng, Tướng Giáp đã hạ lệnh rút hết quân đội, pháo binh ra khỏi vị trí, lùi thời điểm tiến đánh, chuyển từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đây chính là yếu tố buộc quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ phải đầu hàng vào tháng 5/1954 sau 2 tháng chịu trận. Dù triển khai tới 16.000 binh sĩ nhưng quân đội Pháp vẫn không thể chống đỡ trước các cuộc tấn công dồn dập của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Thậm chí, sau nhiều năm chiến đấu tại Việt Nam và nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ phía Mỹ, quân đội Pháp vẫn không thể tiếp tục ứng chiến sau thất bại Điện Biên Phủ.

Ông chỉ huy những chiến dịch tưởng chừng không thể thắng, đưa ra những quyết định mà có lẽ không một vị tướng nào dám thực hiện. Đặc biệt, Tướng Giáp rất giỏi khi tổ chức, bố trí những trận đánh du kích lấy ít địch nhiều”, Tướng De Castries nhận định.

Khi xét tới sự tương quan lực lượng và khí tài giữa quân đội Nhân dân Việt Nam và quân đội Pháp, Tướng De Castries khẳng định: “Quân đội viễn chinh Pháp và các tướng tá Pháp chúng tôi là một đội quân nhà nghề, thiện chiến và trang bị hiện đại. Sự kiện Tướng Giáp thắng chúng tôi ở Điện Biên Phủ làm chúng tôi ngạc nhiên về tài năng của ông ấy. Chúng tôi biết Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trí thức và là một giáo sư đã từng dạy học ở Hà Nội. Nhưng không phải nguồn kiến thức nào cũng biến thành tri thức quân sự, không phải người trí thức nào cũng biến thành vị tướng giỏi đâu".

Cuộc bao vây kéo dài trong suốt ba tháng từ ngày 13/3 tới 7/5/1954. Kết quả, quân đội Pháp cùng với bộ chỉ huy tiền phương tại Điện Biên Phủ do Đại tá De Castries cầm đầu, đã phải đầu hàng vô điều kiện. Tướng De Castries đã phải thốt lên rất thành thực rằng: "Tôi thừa nhận Tướng Giáp rất sành sỏi binh nghiệp và khôn ngoan hơn, tài giỏi hơn tôi đã đành, mà còn hơn cả tướng Cogny và tướng Navarre. Tôi hân hạnh được làm đối thủ của Tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như Tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục ông”.

Cho đến lúc qua đời, vị đại tướng 4 sao của quân đội Mỹ William Westmoreland vẫn không tin rằng mình từng thất bại tại chiến trường Việt Nam, nơi ông đã chỉ huy một lực lượng binh lính đông đảo nhất trong suốt cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Tuy đã thất bại nhưng ông không thể phủ nhận sức mạnh của Quân Giải phóng Miền nam Việt Nam, đặc biệt ông rất tôn trọng đối thủ của mình - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lúc bấy giờ là Bộ trưởng Quốc phòng và là Tổng tư lệnh Quân đội Việt Nam. Ông từng nói: “Những phẩm chất làm nên một nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại là khả năng đưa ra quyết định, sức mạnh tinh thần, khả năng tập trung và một trí tuệ hội tụ được những phẩm chất này. Tướng Giáp đã sở hữu tất cả”.

--------------

PV-TG.  Nguồn: Báo QĐND



CÁI NHÌN THIỂN CẬN CỦA QUỐC BẢO

 Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi đội ngũ trí thức là một bộ phận quan trọng của lực lượng cách mạng, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vậy mà, trên trang mạng Thongluan-rdp. org, với tựa đề “Chân dung tự họa của trí thức cộng sản”, Quốc Bảo đã có cái nhìn thiển cận về vai trò, cũng như đóng góp của đội ngũ trí thức Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, cho rằng: Đảng Cộng sản đã đào tạo ra trí thức của Đảng, những người mang mộng ước quyền lực với ngôn ngữ dân túy. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động, xuyên tạc trắng trợn đường lối, quan điểm của Đảng ta đối với đội ngũ trí thức và những đóng góp của đội ngũ trí thức Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bởi lẽ:

Thứ nhất, Ðảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng vị trí, vai trò của trí thức, tạo mọi điều kiện thuận lợi để đội ngũ trí thức phát triển.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Ðảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển cả về số lượng, chất lượng và phát huy vai trò của đội ngũ tri thức trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã ban hành: Nghị quyết số 27-NQTW ngày 06/8/2008 “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Nghị quyết đã đánh giá một cách khách quan, khoa học về đội ngũ trí thức Việt Nam, thẳng thắn chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm của đội ngũ này và đề ra nhiệm vụ, giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đặt mục tiêu phấn đấu “đến giữ thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước công nghiệp phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trong đó xác định: Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học. Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng, môi trường làm việc, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo của trí thức. Đây là những minh chứng chân thực nhất, khẳng định sự quan tâm và coi trọng đội ngũ trí thức của Đảng, Nhà nước ta.

Đến nay, sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW, cả nước đã tăng hơn 4,2 triệu người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên. Đội ngũ trí thức Việt Nam đã tăng thêm khoảng 3,1 triệu người. Lĩnh vực văn học - nghệ thuật có hơn 43.000 văn nghệ sĩ, đa phần đã qua đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; không ít văn nghệ sĩ có trình độ cao, tạo được hiệu ứng xã hội tốt. Trong các lĩnh vực đặc biệt như quốc phòng, so với năm 2008, số lượng trí thức đã tăng 68%, có những đơn vị như Tập đoàn Công nghiệp -Viễn thông Quân đội đã tăng 200%... Ngoài trí thức trong nước còn có khoảng hơn 400.000 trí thức Việt kiều (trong đó có hơn 6.000 tiến sĩ và hàng trăm trí thức tên tuổi được đánh giá cao). Đội ngũ trí thức nước ta có tinh thần yêu nước, có lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc, luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.

Thứ hai, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội ngũ trí thức Việt Nam không ngừng phát triển, đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những năm qua, đội ngũ trí thức trực tiếp tham mưu, góp ý, phản biện vào những quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước. Trong xây dựng và hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính sách, hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng và chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở đều có sự đóng góp tích cực của đội ngũ trí thức. Điều này được minh chứng qua việc chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam liên tục được cải thiện, đến năm 2021 đã đứng vị trí thứ 44/132 quốc gia, vùng lãnh thổ được xếp hạng, tăng mạnh so với vị trí thứ 71 của năm 2014. Năm 2021, Việt Nam cũng là một trong 4 quốc gia có thu nhập trung bình được Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới đánh giá là đang bắt kịp đà tăng chỉ số đổi mới sáng tạo của thế giới.

Đặc biệt, trong bối cảnh chịu tác động nặng nề bởi đại dịch Covid-19, đội ngũ trí thức Việt Nam đã đóng vai trò động lực, đi đầu trong việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ, nhất là trong chuyển đổi số để chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại. Đây là yếu tố quan trọng để đất nước ta vượt qua những khó khăn, vừa thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh Covid-19 vừa khôi phục và phát triển kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". 
Sự thật trên đã vạch trần luận điệu sai trái, phản động của Quốc Bảo nhằm tuyên truyền bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận vai trò và sự đóng góp của đội ngũ trí thức trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta cần đề cao cảnh giác, tỉnh táo và kiên quyết vạch trần âm mưu thâm độc, nham hiểm của Quốc Bảo và đồng bọn./.
---------------
PT-TG. st



CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: TỰ CAO TỰ ĐẠI!

      Trong Chu dịch giảng: “Khiêm thụ ích, mãn chiêu tổn”, nghĩa là khiêm nhường sẽ nhận được lợi ích mà tự mãn thì mất đi. Và những người khôn có đức tính khiêm nhường là khởi nguồn của “tự tâm sinh ma”. Người tự cao tự đại thường so sánh hơn thua với người khác, họ sẽ làm bất cứ điều gì để chứng minh cho người khác thấy họ đang tài giỏi hơn mọi người.

Đó là sách của người xưa nói, tôi chỉ có việc chép lại thôi.

Tôi thì hiểu một cách nôm na rằng, dù mình chưa cao nhưng cứ tưởng mình đã cao hoặc cố làm cho mình cao hơn người một cách huyễn hoặc. Và cũng huyễn hoặc như thế, tự cho mình to lớn (về đầu óc) hơn người. Từ cổ chí kim chưa mấy ai thành công khi mình có tính kiêu ngạo, thậm chí nhiều vị tướng lĩnh chết dưới tay kẻ thù cũng vì cái tính kiêu ngạo đó.

Họa sĩ lừng danh thế giới Leonardo da Vinci, sống vào thời Phục Hưng, ở thế kỷ 15, có một câu nói nổi tiếng: “Những bông lúa lép thường kiêu ngạo chĩa thẳng đầu lên trời, còn những bông lúa chắc hạt thường cúi đầu xuống đất”.

Một đất nước, một dân tộc kiêu ngạo mà không biết tự kiềm chế sự ngông cuồng, là một quốc gia thất bại. Các nước đế quốc thường rêu rao, “dậy cho nước này nước kia một bài học”, song bản thân mình lại không chịu học.

Những năm còn trong rừng Việt Bắc, chính cụ Hồ đã viết thư cho tổng thống và phó tổng Mỹ lúc đó là Franklin Roosevelt và Harry Truman, thông qua các sĩ quan OSS (tiền thân của CIA ngày nay), là những người đã được Việt Minh cứu khi nhảy dù xuống vùng biên giới Việt Trung, trong thư cụ Hồ đã đề xuất sự hợp tác giữa hai nước, nhưng sẵn tính kiêu ngạo nên Mỹ đã từ chối.

Cũng bởi tính kiêu ngạo, người Pháp đã tuyên bố vào thời điểm lập căn cứ Điện Biên Phủ, rằng sẽ quét sạch Việt Minh ra khỏi núi rừng Tây bắc trong bảy (7) ngày. Kết cục thế nào thì ai cũng đã biết, tướng De Castries khi đến ngạo nghễ bao nhiêu thì khi phải dơ hai tay lên đầu hàng lại thảm hại bấy nhiêu, đến nỗi về sau ông ta phải thốt lên rằng, “…Tôi hân hạnh được làm đối thủ của tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như tướng Giáp”.

Một khi đã giành được chính quyền, cụ Hồ lại đề nghị với chính quyền Pháp thời đó, công nhận quyền độc lập của Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, song vì bản tính kiêu ngạo, không thể chấp nhận nền độc lập của một nước nhược tiểu bị đô hộ. Cuối cùng lại phải đặt bút ký vào Hiệp định Geneve, nhận sự thất bại, chấp nhận để Mỹ thay chân tiếp tục xâm chiếm Việt Nam qua chính phủ bù nhìn Bảo Đại và Trần Trọng Kim.

Lại thêm một chính quyền Mỹ kiêu ngạo nữa, chủ trương dạy cho Việt Nam một bài học và “đưa miền bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”. Rốt cuộc thì sao? Mỹ phải ngồi vào bàn đám phán ở Paris để ký bản Hiệp định công nhận sự thất bại của mình. 

Nếu ai đã đọc cuốn sách “Khi đồng minh tháo chạy” của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, nguyên bộ trưởng trong nội các Nguyễn Văn Thiệu mới thấy sự ê chề của chính quyền Mỹ và chính quyền bọn tay sai thời đó, ê chề lắm cơ!

Bước sang thế kỷ 20, khi Liên bang Xô viết sụp đổ, là chất xúc-tát kích thích thêm tính kiêu ngạo của những nước Mỹ và châu Âu, đinh ninh rằng lần này chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản sẽ biến khỏi trái đất, chủ nghĩa tư bản sẽ làm bá chủ hoàn cầu. Nhưng, mọi người hãy nhìn vào các chiến trường mà Mỹ và khối NATO đã tiến hành trên các nước trung đông, và gần nhất là tại Afghanistan thì biết kết quả của những cuộc chiến ấy.

Cũng là thời kỳ hậu Xô viết, một nước Trung hoa đang lên đe dọa ngôi bá chủ của Mỹ, thế là Mỹ “chiến” bằng kinh tế với Trung quốc. Một nước Nga, đáng lẽ cũng phải sụp đổ vì Gorbachev và Eltsin, bọn họ đã ồ ạt tư nhân hóa, kết quả là kinh tế nước Nga suy sụp, nhiều cá nhân nhờ vậy mà giàu lên. Nhưng NATO lại không hiểu người đã vực nước Nga đứng dậy – Vladimir Putin. Nếu có dịp, tôi sẽ viết về nước Nga trong những năm 1990 và Putin.

Trong bài này tôi chỉ xin nói một câu, rằng các nước Mỹ và châu Âu đã đánh giá sai về nhân dân Nga và Putin, nên mới bị giật mình, vội vàng đưa quân tướng áp sát nước Nga đồng thời nuôi dưỡng một quân cờ mới – Zelensky của Ucraina, để bao vây nước Nga.

Nhưng đó là thể hiện một sự yếu đuối, một sự mất lý trí, một sự bị động, một sự khiêu khích. Không hơn.

Hãy nghe nhà văn F. M. Dostoyevsky của Nga (1821-1881) nói về các nước châu Âu vào thuở đó, nghiệm ra đến nay vẫn đúng:

“Đắm đuối thế đủ rồi, đã đến lúc phải tỉnh táo lại. Và tất cả những điều này, tất cả những trò ngoại quốc này, tất cả châu Âu này của các ông chỉ tuyệt là ảo tưởng; và cả chúng ta nữa, khi ở ngoại quốc này, tất cả chúng ta cũng chỉ là ảo tưởng… Hãy nhớ lấy lời tôi, rồi các ông sẽ thấy!”.

Bài dài rồi, tạm kết thúc ở phần các quốc gia kiêu ngạo. Bài sau tôi xin nói về tính tự cao tự đại của con người chúng ta./.

Ảnh: Tướng De Castries bị bắt ở Điện Biên Phủ.

Yêu nước ST.