Cuộc ra đi vào năm 1911 của Người
đã trở thành dấu mốc đặc biệt quan trọng đối với lịch sử dân tộc; mang đến cho
nhân dân Việt Nam ngọn cờ và khát vọng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Không cam chịu cảnh nước mất nhà tan, cảnh nhân dân lao động bị bóc lột tàn bạo
dưới bàn tay của thực dân và phong kiến; với ý chí, khát vọng cháy bỏng giải
phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ dưới chế độ thực dân, phong kiến, ngày 5
tháng 6 năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời bến Nhà Rồng,
quyết chí ra đi tìm con đường để giải phóng, giành lại độc lập cho dân tộc, tự
do, hạnh phúc cho nhân dân.
Sự nghiệp cách mạng của Bác có
thể tóm gọn trong 3 từ
Theo PGS.TS Lý Việt Quang, Viện
trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, “xét đến cùng thì sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ có thể tóm gọn lại
trong 3 từ “vì con người”. Bác ra đi để tìm đường cứu nước, cứu dân và mục tiêu
là hướng đến con đường độc lập dân tộc, CNXH, thực hiện khát vọng giải phóng
triệt để như thế là xuất phát từ con người. Đây cũng là một trong những giá trị
quý báu trong tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh: Lựa chọn giá trị sống
vì nước, vì dân.
Tại Hội thảo khoa học quốc
gia được tổ chức mới đây, ôn lại cuộc đời cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, một lần nữa nhắc lại mong muốn của Bác đó là “làm sao cho nước
ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có
cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Cả cuộc đời Người chỉ có một mục đích,
là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân.
Theo GS.TS Nguyễn Xuân Thắng,
giá trị tư tưởng vì nước, vì dân của Người còn được thể hiện ở sự vận dụng,
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, đó là
độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng
giai cấp, giải phóng con người. Bởi theo Người, “nếu nước độc lập mà dân không
được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Xuất phát từ
thực tiễn đất nước, Người quan niệm CNXH không chỉ có những đặc trưng tổng quát
thể hiện tính ưu việt của một chế độ mới, hơn hẳn so với các chế độ xã hội trước,
mà còn mang những đặc trưng riêng có của Việt Nam, được xây dựng sáng tạo theo
cách của Việt Nam. Đó là con đường “nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần
cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh
phúc”; là “làm sao cho dân giàu nước mạnh”, “nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân”; “là mọi người cùng ra sức lao động sản xuất để được ăn no,
mặc ấm và có nhà ở sạch sẽ”.
Trong những điều phải làm để
xây dựng CNXH, Người yêu cầu phải thực hiện 4 việc: Làm cho dân có ăn, có mặc,
có chỗ ở và có học hành.
“Tư tưởng “vì dân” của Người
được diễn đạt dung dị, dễ hiểu, có ý nghĩa hết sức sâu sắc, là những chỉ dẫn
quý báu cho chúng ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhắc nhở chúng
ta yêu cầu phải hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, của Việt Nam
và do con người Việt Nam thực hiện”, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh.
Không cớ gì thay đổi con đường
mà Bác và dân tộc lựa chọn
Cuộc ra đi vào năm 1911 của
Người đã trở thành dấu mốc đặc biệt quan trọng đối với lịch sử của cả dân tộc;
đã mang đến cho nhân dân Việt Nam ngọn cờ và khát vọng độc lập dân tộc gắn liền
với CNXH. Trong cuộc ra đi ấy, Người không chỉ mang khát vọng cứu nước, giải
phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân mà khi
tiếp cận được với ánh sáng của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, của Chủ nghĩa
Mác-Lênin, Người còn tìm thấy khát vọng xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển đất
nước giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu.
Theo GS.TS Nguyễn Xuân Thắng,
vững bước trên con đường mà Người đã vạch ra cho cách mạng Việt Nam, có thể
nói, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đạt được trong 35
năm qua là minh chứng sinh động, hùng hồn khẳng định đường lối đổi mới của Đảng
ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên CNXH mà Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí
Minh và nhân dân ta đã lựa chọn là phù hợp với thực tiễn nước ta và xu thế phát
triển của thời đại. Những thành tựu ấy cũng khẳng định sự cần thiết phải kiên định,
vận dụng và bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; không ngừng hoàn thiện mô hình CNXH và con đường lên CNXH của Việt Nam
trong giai đoạn mới, phù hợp quy luật khách quan, thực tiễn dân tộc và xu thế
thời đại, kế thừa tinh hoa, giá trị văn hoá và các thành tựu phát triển của
nhân loại, như lúc sinh thời Người đã làm và mong muốn.
Vào đúng dịp kỷ niệm 131 năm
ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về vấn
đề CNXH và con đường lên CNXH ở Việt Nam được công bố, một lần nữa khẳng định
rõ ràng con đường tất yếu đi lên CNXH của dân tộc Việt Nam, không phải là ý muốn
chủ quan của một cá nhân hay một nhóm người mà con đường này chính là sự lựa chọn
đầu tiên của Bác Hồ, và sau đó trở thành sự lựa chọn của Đảng và dân tộc Việt
Nam. Lựa chọn ấy đã được minh chứng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng của dân
tộc Việt Nam.
Theo PGS.TS Lý Việt Quang,
con đường của chúng ta hiện nay đã được dân tộc lựa chọn thì không có can cớ gì
để thay đổi, mà phải tiếp tục đi lên và hoàn thiện nó, làm cho con đường đó
ngày càng sáng tỏ hơn để đạt tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ,
công bằng và văn minh.
Vì thế, theo Viện trưởng Viện
Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, “để thực hiện được điều đó, một điều hết sức
quan trọng là tất cả mọi chủ trương chính sách phải xuất phát từ lợi ích của
nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm thước đo cho những chủ trương chính sách
đó, có đúng, hoàn thiện hay không, nó mạng lại hiệu quả, lợi ích ra sao đối với
nhân dân. Đây cũng là chân lý mà sinh thời Bác đúc kết: những gì mang lại lợi
ích cho Tổ quốc, dân tộc là chân lý; trái với lợi ích của dân tộc thì không phải
chân lý”./.
“Dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và vấn đề đặt
ra trong công tác bảo vệ an ninh, trật tự hiện nay
Vấn đề “Dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” không chỉ là mục tiêu mà còn là
động lực để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trong quá trình hiện thực
hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống.
Định hướng phát triển đất nước
những năm tiếp theo về dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: Thực hành và phát huy rộng rãi quyền
làm chủ của nhân dân và vai trò chủ thể của nhân dân, thực hiện tốt, có hiệu quả
phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Trong bài viết “Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
(CNXH) ở Việt Nam” đăng trên Báo Nhân Dân ngày 17/5/2021, Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng khẳng định: “Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền
lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng
Việt Nam”. Làm rõ, hoàn thiện lý luận, thể chế hóa, phát huy phương châm “dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong thực tiễn
đời sống xã hội vấn đề cấp thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi hiện nay.
1. Quan điểm của các
nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về mục tiêu cách mạng vô sản là phục vụ lợi
ích của quần chúng nhân dân có giá trị khoa học, thực tiễn, là nền tảng phương
pháp luận trong xây dựng nền dân chủ XHCN. Theo đó, nhân dân là chủ thể của quyền
lực nhà nước và giữ vai trò quyết định sự tồn tại của nhà nước, được thể hiện
ra như là “một trong những tính quy định, cụ thể là sự tự quy định của nhân dân”;
nhà nước dân chủ thực sự là nhà nước “ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của
nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của
bản thân nhân dân”. Xã hội hướng tới sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp
luật, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Quan điểm đó tạo ra sự thay đổi
có tính chất cách mạng trong nhận thức về dân chủ, có giá trị lý luận, thực tiễn
hình thành dân chủ XHCN.
Tiếp thu, vận dụng và
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào cách mạng Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn coi trọng vai trò, vị trí, lực lượng, sức mạnh to lớn của nhân
dân, là một trong những nội dung quan trọng trong tư tưởng của Người. Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định “Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết, là tối thượng”,
“bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân”. Người nhấn
mạnh: “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ”; “Chế
độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ”. Toàn bộ quyền lực nhà nước đều
bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân, nhằm phụng sự lợi ích của nhân dân, thừa
hành ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đây là tư tưởng nền tảng mà Đảng ta hướng
tới, đồng thời là cách thức thực hiện mục tiêu, con đường đi lên CNXH ở nước
ta.
Thực tiễn nhiều năm thực
hiện cơ chế quản lý tập trung bao cấp trước thời kỳ đổi mới, do hoàn cảnh lịch
sử của thời kỳ đó, quyền làm chủ của nhân dân chưa thực sự được phát huy, việc
huy động sự đóng góp và sức dân vẫn còn nặng nề, mệnh lệnh hành chính. Xuất
phát từ thực tiễn đó, trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ V của Đảng (1981-1986), Đảng
ta đã đề ra chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đây là một
trong những nội dung đặc biệt nhấn mạnh về tầm quan trọng của công tác vận động
quần chúng. Ngày 28/11/1984, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa V) đã ban hành Chỉ
thị số 53-CT/TW “Về tăng cường công tác quần chúng của Đảng”, trong đó nhấn mạnh:
“Phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thực hiện
tốt khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra” trong sản xuất, phân phối cũng như trong tất cả các công tác quan
hệ trực tiếp đến quần chúng”. Có thể nói, lần đầu tiên, phương châm “dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được Đảng ta chính thức đề ra, trở thành một chủ
trương lớn, một phương châm hành động cụ thể.
Như vậy, Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung nội dung “dân giám sát”, “dân thụ hưởng”
vào nội dung phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đây
là sự phát triển tư duy lý luận, hoàn thiện chủ trương của Đảng về dân chủ. Sự
phát triển, hoàn thiện đó có ý nghĩa thiết thực, quan trọng trong xây dựng và
phát huy nguồn lực con người, là động lực, yếu tố sống còn, có ý nghĩa quyết định
đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước giai đoạn tiếp theo. Trong bài
viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt
Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng
và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin
tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện
phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Vậy nội hàm của phương châm trên là gì? Phải chăng là những điều cơ bản,
khái quát sau đây:
“Dân biết” là nhân dân hiểu
và nắm rõ được chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật liên quan đến cuộc
sống nhân dân, vận mệnh đất nước, dân tộc. Nhân dân nắm, biết để bàn bạc, đóng
góp ý kiến, hoạch định, góp phần bảo đảm khi được ban hành, thực hiện trong đời
sống, đem lại kết quả tốt. Nhân dân biết, nắm rõ, hiểu được chủ trương, đường lối,
chính sách, pháp luật, tạo cơ sở để thống nhất, đồng thuận, đồng lòng, đoàn kết
tổ chức, thực hiện đạt kết quả cao trong cuộc sống. Nhân dân hiểu rõ mục đích
cuối của chủ trương, chính sách, pháp luật là phục vụ lợi ích của chính nhân
dân, thành quả của chủ trương, chính sách, pháp luật mang lại do nhân dân thụ
hưởng, tạo ra xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của
nhân dân. Để nhân dân “biết” phải sử dụng hình thức tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục, thuyết phục.
“Dân bàn” là nhân dân
được thảo luận, bàn bạc, ý kiến, góp ý với Đảng và Nhà nước, để việc hoạch định,
thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật được thực hiện một cách
chính xác, phù hợp, hiệu quả. Nhân dân bàn bạc, thống nhất cách thức, biện pháp
tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả vào thực tiễn công việc, mang lại lợi
ích cho nhân dân, đất nước. Khi nhân dân góp ý kiến đúng, xác đáng phải trân trọng,
tiếp thu, hoàn thiện cho tốt hơn; khi nhân dân góp ý kiến chưa xác đáng, chưa
phù hợp phải giải thích, tuyên truyền, thuyết phục để nhân dân hiểu, nắm rõ chủ
trương, chính sách, pháp luật và những lợi ích đem lại. Để nhân dân “bàn” phải
có cơ chế, cách thức tổ chức phù hợp. “Dân làm” là nhân dân làm việc, thực hiện,
hành động chủ trương, nghị chính sách, pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, đảm bảo
hiệu quả. Nhân dân thực hiện tinh thần làm chủ, vai trò chủ thể thực hiện, triển
khai hoạt động, công việc với cách thức, phương pháp, phương tiện, lực lượng thực
hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật, việc làm vào đời sống đạt hiệu
quả. Trong quá trình đó, cán bộ, đảng viên trước hết làm tốt vai trò là một
công dân, với tinh thần là hạt nhân, đi đầu trong tổ chức, triển khai, thực hiện. “Dân
kiểm tra” là việc nhân dân xem xét, đánh giá thực tế thực hiện chủ trương, đường
lối, chính sách, pháp luật, việc làm, qua đó phát hiện những sai lệch, thiếu
sót, đề xuất, ngăn chặn, xử lý, đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời, bảo đảm
thực hiện có hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra. Mặt khác, qua kiểm tra để khuyến
khích, biểu dương những việc làm tốt, mô hình hay. Nhân dân kiểm tra bằng cơ chế
dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện
dân cử, nhất là dân chủ ở cơ sở. Để nhân dân kiểm tra được cần có cơ chế cụ thể,
cách thức tiến hành phù hợp. “Dân giám sát” là nhân dân theo dõi, xem xét,
đánh giá quá trình thực hiện, kết quả thực hiện chủ trương, đường lối, chính
sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án, công việc thực hiện. Nhân dân
theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có đúng, có tuân thủ đường lối, chủ
trương, chính sách, pháp luật không. Giám sát bằng hình thức, phương pháp cụ thể,
thường xuyên, theo nội dung công việc, trực tiếp, hoặc gián tiếp. “Dân thụ hưởng”
là nhân dân được nhận, thụ hưởng thành quả, kết quả của quá trình phát triển về
đời sống vật chất, tinh thần mà các chủ trương, đường lối, chính sách,
pháp luật mang lại sau quá trình tổ chức, thực hiện. Nhân dân thụ hưởng lợi
ích, giá trị dẫn tới xã hội có trật tự, kỷ cương, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc; đồng thời nhân dân thấy được mục đích, động lực thực sự, cuối cùng của chủ
trương, chính sách, pháp luật mà Đảng, Nhà nước đề ra và tổ chức thực hiện đều
vì con người, vì nhân dân, lan toả giá trị tiến bộ, nhân văn, phẩm giá con người,
bản chất chất của chế độ xã hội.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn,
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung nội dung “dân giám
sát” vào phương châm để tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực
hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân. Nội
dung “dân thụ hưởng” trong thực tế đời sống xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
nhất là trong suốt 35 năm đổi mới đất nước, nhân dân đã thụ hưởng tất cả những
thành quả của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới mang lại. Tuy nhiên, việc bổ
sung nội dung “dân thụ hưởng” vào phương châm nhằm khẳng vai trò làm chủ, chủ
thể nhân dân và đích cuối cùng của mọi chủ trương, chính sách, pháp luật là vì
lợi ích của nhân dân, đúng với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “bao nhiêu
lợi ích đều vì dân”, đồng thời thể hiện rõ thực tiễn, mục tiêu, con đường đi
lên CNXH, dân chủ - nhân dân làm chủ là vấn đề cơ bản, là bản chất của chế độ
XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Như vậy, “biết”, “bàn”, “làm”,
“kiểm tra”, “giám sát”, “thụ hưởng” trong nội dung phương châm là quá trình tiếp
nối biện chứng, có quan hệ chặt chẽ, chuyển hoá với nhau, gắn liền với vai trò
chủ thể là nhân dân, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân. Đây không chỉ là mục
tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trong quá
trình hiện thực hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc
sống. Đó cũng chính là động lực quan trọng để hiện thực hóa định hướng và tầm
nhìn trong giai đoạn mới, hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước phát triển phồn
vinh, hạnh phúc, đồng thời đó cũng là mục tiêu hướng tới của CNXH mà Bác Hồ, Đảng
và nhân dân ta lựa chọn, xây dựng, phát triển đất nước “dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh”.
2. Trong những năm vừa qua,
việc thực hiện phương châm “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám
sát, dân thụ hưởng” đã đạt được những kết quả tích cực. Về phương diện lý luận,
phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”
từng bước xây dựng, phát triển, hoàn thiện; cụ thể hóa trong chủ trương, đường
lối về xây dựng, thực hiện dân chủ XHCN, trở thành phương châm hành động trong
thực tiễn đời sống. Về thực tiễn, phương
châm đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dân chủ XHCN ngày càng tốt hơn
trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo
đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp năm
2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội.
Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm
công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu cấp ủy đảng,
chính quyền các cấp tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải
quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Phương châm “dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã được triển khai
ngày càng sâu rộng, từng bước vững chắc và thực sự đi vào cuộc sống, nhất là
phát huy dân chủ ở cơ sở, đạt kết quả tích cực. Nhà nước từng bước thể chế hóa
Hiến pháp, pháp luật phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển và yêu cầu của
đất nước. Chế độ dân chủ đại diện được phát huy; chất lượng, hiệu lực, hiệu quả
hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp ngày càng được nâng cao; cải
cách hành chính đạt nhiều kết quả tích cực. Dân chủ trực tiếp ở các cấp, dân chủ
ở cơ sở được mở rộng, nhân dân được bàn và quyết định những công việc quan trọng,
thiết thực, gắn liền với lợi ích của nhân dân, quyền và lợi ích hợp pháp của
các chủ thể được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Công tác giám sát của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân được chú
trọng và đạt nhiều kết quả tốt. Phương châm đã góp phần xây dựng Đảng, hệ thống
chính trị trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm
quốc phòng, an ninh.
Bên cạnh những kết quả quan
trọng đã đạt được, việc thực thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn một số hạn chế. Nghị quyết Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Việc lãnh đạo, chỉ đạo thực
hiện phương châm chưa thực sự thường xuyên. Công tác sơ kết, tổng kết việc thực
hiện chưa được chú trọng. Một số văn bản pháp luật liên quan đến dân chủ ở cơ sở
chậm được xây dựng và hoàn thiện. Thực hiện phương châm chưa thực sự đi đôi với
giữ gìn trật tự, kỷ cương, có tình trạng lợi dụng theo hướng tiêu cực, chống đối,
xuyên tạc, gây mất an ninh, trật tự, gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ. Có nơi vẫn
còn tình trạng dân chủ hình thức, ý kiến của nhân dân chưa thực sự được lắng
nghe, quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm, tệ quan liêu, tham nhũng, sách
nhiễu, gây phiền hà cho dân nhiều nơi chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Việc thực
hiện ở cơ sở chưa đồng đều ở các khu vực, loại hình cơ sở”. Các nguồn lực, tiềm
năng sáng tạo của nhân dân trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa được phát
huy. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, trong đó nhân
dân làm chủ - thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát,
dân thụ hưởng” chưa được thể chế hóa một cách cụ thể, đầy đủ, đồng bộ trong hệ
thống pháp luật. Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống
chính trị có mặt chưa theo kịp yêu cầu tình hình mới, chưa thật sự sâu sát với
hơi thở cuộc sống của các tầng lớp nhân dân và bám sát cơ sở; chất lượng, hiệu
quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội
chưa đều. Trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
các cơ sở dịch vụ, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập… khó thực hiện. Hệ thống
chính trị cơ sở, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương
mẫu, chưa thực sự tôn trọng, coi nhẹ ý kiến, kiến nghị của nhân dân, giải quyết
chưa kịp thời các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, trong phát
huy quyền làm chủ của nhân dân.
Từ cơ sở lý luận, thực
tiễn, có thể thấy những vấn đề đặt ra là: (1) Làm sao thể chế hóa các quan điểm
của Đảng, đưa phương châm thành các quy định chặt chẽ, đồng bộ, cụ thể trong hệ
thống pháp luật; (2) Thực hành phương châm trong thực tiễn đời sống xã hội, xác
định, phân định rõ phạm vi, quy trình công khai, minh bạch, cách thức triển
khai, thực hiện. (3) Dân là chủ phải gắn với kỷ cương, phép nước, đảm bảo tinh
thần thượng tôn pháp luật. (4) Tăng cường tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với người
dân, đổi mới và nâng cao chất lượng các hình thức lấy ý kiến của nhân dân. (5)
Phát huy tính ưu việt, bản chất tốt đẹp dân chủ XHCN, đấu tranh, phản bác quan
điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, làm thất bại âm mưu chống phá,
“diễn biến hòa bình”, bạo loạn, đật đổ chế độ ngày càng gay gắt.
Việc vận dụng phương
châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”
trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm
trật tự, an toàn xã hội, bên cạnh những ưu điểm, kết quả, thành tựu đạt được
thì cũng còn có hạn chế, có vấn đề đặt ra. Phát huy sức mạnh của nhân dân trong
nâng cao tiềm lực và sức mạnh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn
xã hội có việc, có lúc còn chưa đáp ứng với yêu cầu, đòi hỏi của tình hình, nhiệm
vụ hiện nay. Công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước xây dựng, thể chế hóa phương
châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”,
hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về bảo vệ an ninh, trật tự
đã cơ bản phát triển nhưng còn đặt ra vấn đề phải xử lý, khắc phục. Qua hoạt động
thực tiễn, nắm tình hình, tham mưu trên một số mặt còn chưa kịp thời, từ đó còn
có những vụ việc phức tạp phải tập trung xử lý. Công tác quản lý nhà nước về an
ninh, trật tự, nhận thức của một bộ phận quần chúng nhân dân đối với pháp luật
chưa cao. Ý thức chấp hành pháp luật, công tác phối hợp, phát huy vai trò của
nhân dân bảo đảm an ninh, trật tự trên một số địa bàn, lĩnh vực chưa vững chắc,
còn tiềm ẩn những vấn đề phức tạp, nhất là khu vực biên giới, vùng tôn giáo,
vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.
3. Quán triệt Nghị quyết đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Tổng
Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”: Trong mọi công việc của Đảng
và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin
tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện
phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”,
trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Để thực hiện mục tiêu đó,
trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội phải
thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám
sát, dân thụ hưởng” để phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, xây dựng nền
an ninh nhân dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, phong trào toàn dân bảo vệ
an ninh Tổ quốc. Đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh hoạt động lợi dụng
phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”
để hoạt động tiêu cực, vi phạm pháp luật, chống phá. Phải “dựa vào dân mà công
tác, chiến đấu, vì nhân dân mà phục vụ”, từ đó hoàn thành xuất sắc trọng trách
được giao, đảm bảo xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, lành mạnh, tạo
môi trường hòa bình, ổn định, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới trên
con đường thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh, phồn vinh, hạnh phúc”./.