Thứ Tư, 9 tháng 2, 2022

TIẾP TỤC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TRONG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VẺ VANG CỦA ĐẢNG


Ngày 08/02/1952, Chi đoàn Thanh niên Cứu quốc đầu tiên trong quân đội được thành lập tại Trung đoàn 246, Sư đoàn 346, Quân khu 1, đánh dấu sự ra đời của tổ chức đoàn trong Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.

Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam và hướng dẫn của Trung ương Đoàn, tổ chức đoàn trong quân đội ngày càng vững mạnh, trở thành hạt nhân chính trị của phong trào thanh niên, là nòng cốt trong tổ chức, tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, phát huy vai trò của thanh niên quân đội (TNQĐ) trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng.

Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “...Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên.

Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cho cái tương lai đó”(1), các thế hệ cán bộ, đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) quân đội đã không ngừng phấn đấu, trưởng thành lớn mạnh, phát huy vai trò xung kích cách mạng, có nhiều cống hiến xuất sắc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN)

Trong các cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, TNQĐ với ý chí quyết tâm và tinh thần chiến đấu mưu trí, dũng cảm đã dấy lên nhiều phong trào thi đua: “Giết giặc lập công”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, "Nhằm thẳng quân thù mà bắn"... kịp thời cổ vũ, động viên tuổi trẻ vững chắc tay súng, chiến đấu anh dũng, vượt mọi khó khăn, gian khổ, lập nhiều chiến công oanh liệt.

Trong thử thách khắc nghiệt của chiến tranh, trên mọi mặt trận đã có hàng vạn dũng sĩ và chiến sĩ thi đua, chiến sĩ quyết thắng, hàng triệu ĐVTN ưu tú đã anh dũng hy sinh, cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân cho sự nghiệp cách mạng.

Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, quán triệt và thực hiện nghị quyết của Đảng về công tác thanh niên; dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam và hướng dẫn của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; của cấp ủy đảng, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp, công tác đoàn và phong trào TNQĐ có sự phát triển vững chắc, luôn khẳng định là lá cờ đầu trong công tác đoàn và phong trào thanh niên cả nước.

Phong trào "Phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" đánh dấu sự phát triển của công tác đoàn và phong trào TNQĐ với các chương trình, mô hình mới, được tổ chức sâu rộng trên mọi lĩnh vực hoạt động của quân đội, được cụ thể hóa thành các phong trào cụ thể ở các cấp trong toàn quân như xây dựng "Chi đoàn văn hóa" với 3 yêu cầu: "Đẹp người-Đẹp doanh trại-Đẹp tình quân dân"; phong trào "3 đỉnh cao quyết thắng", "Lý tưởng đẹp-Trách nhiệm cao; Học tập tốt-Hành động giỏi; Đoàn kết tốt-Kỷ luật nghiêm”... đã tạo ra môi trường và động lực mới cho TNQĐ thi đua học tập, rèn luyện, cống hiến, trưởng thành.

Các phong trào TNQĐ: “Thi đua rèn đức luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ"; “Vươn tới những đỉnh cao”; “Tiến quân vào khoa học và công nghệ”; “Rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng”; “Đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn”; chương trình “Nghĩa tình biên giới, hải đảo”; “10.000 địa chỉ nghĩa tình”; “1.000 đội Thiếu niên Tiền phong được đỡ đầu”; “Xuân biên cương, Tết hải đảo”; “Tháng Thanh niên”; “Chiến dịch thanh niên tình nguyện hè”... được triển khai sâu rộng bằng nhiều hoạt động phong phú, sinh động, phát huy tốt vai trò của tổ chức đoàn và tuổi trẻ toàn quân xung kích vươn lên trong thực hiện nhiệm vụ; qua đó xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, nhiều tấm gương tiêu biểu, xuất sắc trên các lĩnh vực sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), huấn luyện, học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy; giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân.

Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, tuổi trẻ quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với sự nghiệp cách mạng; SSCĐ, hy sinh để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước; xung kích, đi đầu trong phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, nhất là cùng toàn dân và các lực lượng tích cực tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19...

Nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh vì sự bình yên của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Có thể khẳng định, càng trong khó khăn, gian khổ thì càng có nhiều sự cống hiến, hy sinh của tuổi trẻ toàn quân; qua đó tô thắm hình ảnh TNQĐ và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Cùng với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta, hệ thống tổ chức đoàn và đội ngũ cán bộ đoàn, cán bộ đảm nhiệm công tác thanh niên và lực lượng ĐVTN trong quân đội thường xuyên được quan tâm, chăm lo giáo dục, đào tạo, bồi dư¬ỡng, rèn luyện, củng cố phát triển cả về số lượng và chất lượng, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong quân đội; góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Đến nay đã có hàng triệu đoàn viên ưu tú được bồi dưỡng, giới thiệu kết nạp vào Đảng; hàng chục vạn ĐVTN trở thành sĩ quan quân đội, cán bộ của Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể và chính quyền các địa phương.

Hoạt động học tập, giao lưu sĩ quan trẻ của TNQĐ với thanh niên, sĩ quan trẻ quân đội các nước và tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình ở Phái bộ Liên hợp quốc được tổ chức thường xuyên và hiệu quả, qua đó tuyên truyền, quảng bá hình ảnh và truyền thống tốt đẹp về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam tới bạn bè quốc tế; đồng thời vun đắp mối quan hệ hữu nghị đoàn kết, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển, góp phần củng cố, nâng cao vị thế, uy tín của quân đội và đất nước trên trường quốc tế.

Từ phong trào thi đua của Đoàn trong những năm qua, hàng vạn lượt tổ chức đoàn và ĐVTN đạt danh hiệu “Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác”; hàng nghìn gương mặt thanh niên điển hình, tiên tiến xuất sắc trên các lĩnh vực từ cơ sở đến toàn quân được tuyên dương; hằng năm, TNQĐ đều được bình chọn trong số những Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu.

Ghi nhận những cống hiến lớn lao đó, TNQĐ đã được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Lao động hạng Ba; nhiều năm liền được Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tặng Cờ Đơn vị xuất sắc trong công tác đoàn và phong trào thanh niên, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác...

Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đã và đang đặt ra những yêu cầu mới, ngày càng cao; TNQĐ có nhiệm vụ rất nặng nề, nhưng rất vẻ vang. Phát huy truyền thống 70 năm qua, thời gian tới, cán bộ, ĐVTN quân đội cần tiếp tục nỗ lực vươn lên, xung kích, sáng tạo thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, thường xuyên quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, chỉ đạo của Tổng cục Chính trị và của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về công tác thanh niên.

Bám sát mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ của quân đội để xây dựng và tổ chức thực hiện thắng lợi các chương trình hoạt động, phù hợp với tình hình thực tiễn của đơn vị và tâm tư,¬ nguyện vọng của cán bộ, ĐVTN. TNQĐ phải luôn là lực lư¬ợng xung kích, đi đầu trong các phong trào thi đua, SSCĐ, huấn luyện, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật..., góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức cho TNQĐ về mục tiêu, lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống vẻ vang của Đảng, dân tộc, quân đội và của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, xây dựng niềm tin và bồi dưỡng kinh nghiệm chiến đấu, có kiến thức tổng hợp và chuyên sâu; năng động, sáng tạo, tự lực, tự rèn, thích ứng nhanh với thực tiễn; có phẩm chất đạo đức, lối sống trung thực, lành mạnh, đoàn kết; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, xây dựng người TNQĐ thực sự tiêu biểu cho phẩm chất, bản lĩnh, trí tuệ của thanh niên Việt Nam, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới.

Ba là, tổ chức tốt các phong trào hành động cách mạng để cán bộ, ĐVTN được rèn luyện trong thực tiễn, xung kích trên các lĩnh vực, các mặt công tác, nhất là việc mới, việc khó. Đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.

Luôn đi đầu trong học tập, làm chủ khoa học, công nghệ, vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại, tiên phong trong lĩnh vực chuyển đổi số và xây dựng Chính phủ điện tử. Chủ động đấu tranh với biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các tác động tiêu cực, tệ nạn xã hội, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, nhận thức sâu sắc công tác xây dựng Đoàn là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng, là xây dựng Đảng trước một bước, nên cần tiếp tục chú trọng xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; đồng thời quan tâm hơn nữa đến hoạt động của tổ chức đoàn, chăm lo giải quyết những nguyện vọng chính đáng của thanh niên, có cơ chế phù hợp, tạo điều kiện về thời gian, vật chất và kinh phí cho tổ chức đoàn hoạt động; tăng cường công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dư¬ỡng đội ngũ cán bộ đoàn để bổ sung nguồn cán bộ trẻ cho quân đội.

Năm là, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả phối hợp hoạt động với thanh niên các địa phương trên địa bàn đóng quân, làm tốt công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở; củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, góp phần xây dựng mối quan hệ đoàn kết “máu thịt” quân dân và củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc.

Đồng thời, tích cực tham gia thực hiện tốt công tác đối ngoại quân sự, đảm bảo đúng đường lối và các quy định về công tác đối ngoại của Đảng, Bộ Quốc phòng; qua đó, củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị với TNQĐ các nước và bạn bè quốc tế.

Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, các thế hệ TNQĐ luôn phát huy bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng của QĐND Việt Nam và truyền thống vẻ vang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; xứng đáng là bộ phận ưu tú của thanh niên cả nước, tiêu biểu cho hình mẫu người thanh niên Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh “Trung thành, dũng cảm; tâm trong, trí sáng; đoàn kết, kỷ luật; chủ động, sáng tạo; xung kích, quyết thắng”. Mỗi cán bộ, ĐVTN quân đội không ngừng học tập, rèn luyện, nỗ lực vươn lên, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân.

 

Ý Đảng - lòng dân và khát vọng dân tộc hùng cường


Ngày 3/2, đất nước rộn ràng đón chào xuân mới Nhâm Dần 2022 và toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hân hoan kỷ niệm sự kiện trọng đại làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Nói sự ra đời của Đảng ta đã làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc là bởi, cách đây 92 năm, vào ngày 3/2/1930, chính Đảng do Nguyễn Ái Quốc sáng lập đã lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng chính trị và coi “lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc” là lợi ích của Đảng. Chính Đảng đó theo đuổi mục tiêu lâu dài và cuối cùng là đáp ứng nguyện vọng thiêng liêng “Độc lập - Tự do - Hòa bình” của nhân dân, thực hiện sứ mệnh, khát vọng “hùng cường” của cả dân tộc.

Điều ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”.

Xuất phát từ lý tưởng cách mạng đó, những người cộng sản đã quyết tâm thực hiện lời thề trước cờ Đảng bằng sự phục tùng kỷ luật, tu dưỡng rèn luyện tâm hồn, giữ gìn đức hạnh, phẩm cách thanh sạch. Họ gắn bó mật thiết với nhân dân, hướng tới lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

Học thuyết khoa học tiên tiến, đường lối, phương châm đúng của Đảng cùng lý tưởng cách mạng trong sáng và kỷ luật đảng của hàng triệu đảng viên chân chính đã tạo được sự tin yêu, gắn bó mật thiết của nhân dân với Đảng ta. Chính nhân tố hàng đầu này đã quyết định đưa đất nước ta băng qua những gập ghềnh, gian nan nhất trong hơn 4.000 năm lịch sử. Và đó cũng là điều mà trước khi có Đảng thì những phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tuy dấy lên mạnh mẽ với nhiều khuynh hướng tư tưởng, con đường khác nhau, nhưng vẫn thất bại chỉ vì thiếu những nhân tố quan trọng này.

Những chiến thắng vĩ đại và thành tựu to lớn của cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng chính là minh chứng. Mùa thu năm 1945, cả dân tộc đã tự nguyện tham gia cuộc Tổng khởi nghĩa do Đảng khởi xướng để khai sinh ra nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tiếp sau đó là thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và các cuộc chiến đấu bảo vệ vững chắc cương vực của Tổ quốc.

Tuy nhiên, đó là tiếng vọng từ lịch sử hào hùng. Ngày hôm nay, Đảng ta có tiếp tục nhất quán “lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc” là lợi ích của Đảng, có theo đuổi thực hiện sứ mệnh, khát vọng của cả dân tộc như hứa hẹn của Đảng vào mùa Xuân năm 1930?

Câu trả lời là: Có! Thế nhưng…

Sau luồng gió Đổi mới năm 1986 đưa đất nước thoát khỏi trì trệ để vào đà phát triển, đời sống của người dân ngày một ấm no, thế và lực của quốc gia được tăng cường. Tuy vậy, trong bối cảnh tình hình và những yêu cầu nhiệm vụ mới đặt ra, Đảng ta đã đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng, quan liêu.

Căn nguyên là đã có những lúc, những nơi, không ít cán bộ, đảng viên quên lời thề trước cờ Đảng. Lý tưởng cách mạng và sự “khắc kỷ” vốn có của những người cộng sản chân chính- yếu tố từng được nhân dân tin yêu và gắn bó mật thiết thì nay dường như đã phai nhạt ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Thậm chí nhiều cán bộ đảng viên cấp chiến lược thiếu phục tùng kỷ luật, thiếu sự tu dưỡng rèn luyện, giữ gìn đức hạnh, phẩm cách thanh sạch.

“Vì dân” không còn là mục tiêu nhân văn, sự hướng tới của những cán bộ, đảng viên này. Thay vào đó là xa lánh nhân dân, “kiêu ngạo cộng sản”, duy ý chí, quan liêu, giáo điều. Đó là tình trạng “nói không đi đôi với làm”, hách dịch, độc đoán, lạm quyền. Đó là sự “đấu đá”, “hạ bệ” nhau với những động cơ không trong sáng. Tất cả điều đó đã dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về đạo đức, lối sống có xu hướng ngày càng phổ biến.

Dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, hành vi của những “mảnh vỡ” này đã, đang làm suy yếu Đảng, gây nguy cơ xói mòn, tâm lý hoài nghi của nhân dân đối với mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Mà nguy cơ hiện hữu này đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ!

Để tiếp tục dẫn dắt toàn Đảng, toàn quân, toàn dân vững tin bước tiếp trên con đường mà Bác Hồ, Đảng và dân tộc đã lựa chọn thì chấn chỉnh kỷ luật đảng, kiên quyết thải loại những đảng viên có biểu hiện chệch hướng, đã hoàn toàn muốn đi ngược lại lý tưởng cộng sản là yêu cầu cấp bách, đòi hỏi sống còn với Đảng.

Thế nên, Đảng, Nhà nước đang có rất nhiều hành động quyết liệt. Toàn hệ thống chính trị đang đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Cùng với việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ thì kỷ luật đảng- yếu tố hợp thành sức mạnh của Đảng đang ngày càng nghiêm minh, không có bất kỳ “vùng cấm” nào. “Lò lửa” chống tham nhũng do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhóm đang nóng rực với niềm tin “làm đến cùng, không bỏ giữa chừng”.

Những ngày lịch sử này, phương châm “lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc” là lợi ích của Đảng đang thể hiện rõ nhất, nhân văn nhất trong chiến lược của Đảng, Nhà nước về phòng, chống đại dịch COVID-19. Đó là trước mắt có thể chịu thiệt hại về kinh tế nhưng bằng mọi giá phải bảo vệ tính mạng nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội. Chiến lược ấy đã thể hiện rất sinh động qua các cơ chế, chính sách hỗ trợ kịp thời, linh hoạt nhằm đảm bảo an sinh xã hội, giúp hàng triệu lao động và doanh nghiệp vượt qua khó khăn do đại dịch.

Đó còn là những chính sách ưu tiên cao của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào vùng dân tộc thiểu số miền núi, biên giới đang giúp khu vực này giảm dần từng bản làng nghèo, từng số phận đặc biệt khó khăn, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào đang ngày càng cải thiện, khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền đang được nỗ lực từng bước thu hẹp...

Đã 92 năm kể từ ngày 3 tháng 2 năm 1930. Đất nước đang trên chặng đường phát triển mới với những vận hội song hành thách thức mới. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu Việt Nam hùng cường vào năm 2045, lợi ích quốc gia, lợi ích của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặt lên trên hết, trước hết.

Lời thề trước cờ Đảng cùng trách nhiệm nêu gương đang được đề cao và phẩm cách, đức hạnh của cán bộ, đảng viên yêu cầu hướng tới sự thanh sạch. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân đang được bồi đắp.

Bởi vậy, như niềm tin của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Với hướng đi đúng đắn, hợp quy luật; ý Đảng hợp với lòng dân; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khát vọng vươn lên mãnh liệt và ý chí, quyết tâm chính trị cao, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nhất định sẽ lập nên những kỳ tích phát triển mới, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc”.

Hạnh Quỳnh (TTXVN)

Từ ngày 6/1 - 7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam họp ở Hong Kong (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản.

 

TIN GÌ "BÁNH VẼ"!

 

Với mong muốn tiếp tục “sự nghiệp” còn dang dở của Phạm Chí Dũng và đồng bọn của y đang phải trả giá vì tội chống phá Đảng, Nhà nước, Phạm Lê Đoan trong bài viết “Doanh nghiệp xã hội về lãnh vực báo chí” đăng trên Vietnamthoibao,org đã vọng tưởng về tương lai của cái gọi là “Hội nhà báo độc lập Việt Nam”.


Đây là một tổ chức núp bóng “xã hội dân sự” không có tư cách pháp nhân và không được pháp luật Việt Nam thừa nhận. Phạm Lê Đoan vẽ ra “viễn cảnh” nó sẽ trở thành “doanh nghiệp xã hội”, để lên tiếng về “tự do tôn giáo”, “giáo dục đạo đức cho giới trẻ”, “hỗ trợ người dân yếu thế”…


Có thể thấy, “miếng bánh vẽ” do Đoan vẽ ra hết sức thâm độc. Đây thực chất là thủ đoạn của những kẻ lợi dụng “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” để chống phá Đảng, Nhà nước ta, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây xói mòn niềm tin của quần chúng nhân dân với chính quyền.


Thực tiễn đã chứng minh, Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền con người; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong thực tế đời sống, xã hội và cam kết quốc tế. Ở Việt Nam hiện có khoảng 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí, 779 cơ quan báo chí, 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh, truyền hình; ngoài ra còn có khoảng 70% dân số sử dụng điện thoại di động, tỷ lệ dân số sử dụng internet qua thiết bị di động chiếm khoảng 95%. Còn theo số liệu thống kê của NapoleonCat-một công cụ quản lý hồ sơ mạng xã hội thì tổng số người dùng Facebook tại Việt Nam hiện nay khoảng 76 triệu người, chiếm hơn 77,5% dân số cả nước. Những điều đó cho thấy, đâu cần phải có cái gọi là “doanh nghiệp xã hội báo chí” hay các tổ chức “xã hội dân sự” như Phạm Lê Đoan tưởng tượng ra thì tự do ngôn luận ở Việt Nam mới được bảo đảm!


Ấy vậy mà một số kẻ tự xưng là “nhóm báo sạch” vẫn luôn rêu rao kêu gọi “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận”. Nhưng sự thật, hoạt động của nhóm này chỉ là… tung tin giả mạo, xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu chính quyền nhằm kích động, gây hoang mang trong quần chúng. Đơn cử, trong khi cả nước ta đang nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát và đẩy lùi dịch Covid-19 thì bọn chúng lại dựng chuyện về số người mắc bệnh, số ca tử vong và loan tin tốc độ lây lan dịch bệnh lớn hơn rất nhiều so với thông tin thực tế được các cơ quan chức năng công bố, tạo tâm lý hoang mang trong cộng đồng, làm xáo trộn đời sống xã hội. Những hành vi vi phạm pháp luật của “nhóm báo sạch” và một số kẻ khởi xướng thành lập cái gọi là “Hội nhà báo độc lập Việt Nam” đã phải trả giá bằng hình phạt nghiêm minh của pháp luật.


Có thể khẳng định, những vọng tưởng mà “nhóm báo sạch” đưa ra là không thực tế. “Miếng bánh vẽ” của chúng rốt cuộc chỉ là âm mưu thâm độc hại nước, hại dân. Và chắc chắn những người hiểu biết đều thấu tỏ chuyện này, chẳng dại gì tin vào “miếng bánh vẽ” ấy!


🌟VINH DỰ TRỞ THÀNH NGƯỜI CHIẾN SỸ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM🇻🇳

 

Quân đội là trường học lớn của thanh niên, là niềm mơ ước và mục tiêu vươn tới của không ít thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ. Được học tập, rèn luyện trong quân đội là niềm vinh dự, tự hào, là trách nhiệm của thanh niên Việt Nam.


🇻🇳Niềm vinh dự, tự hào

Mỗi thanh niên tham gia nghĩa vụ quân sự là vinh dự, tự hào, bởi thực hiện nghĩa vụ quân sự chính là sự cống hiến một phần bé nhỏ của mình cho sự nghiệp của Đảng và toàn dân tộc. Hình ảnh Bộ độ Cụ Hồ luôn là tấm gương sáng cho mọi thế hệ thanh niên Việt Nam noi theo. Còn gì hơn khi được tôi luyện ở môi trường quân đội, một trường học lớn để hoàn thiện nhân cách, góp phần năng lực và phẩm chất của mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, mỗi thanh niên coi đây là vinh dự của bản thân trước gia đình, quê hương và xã hội. Do đó phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện để thực sự là những hình ảnh cao đẹp của một người lính. Quân đội cũng là môi trường để người lính được hoàn thiện những phẩm chất và năng lực cần thiết, để khi rời khỏi quân ngũ thì phẩm chất và năng lực đó lại được phát huy trên nhiều lĩnh vực. Vì thế, gia đình, cấp ủy, chính quyền địa phương cũng như các đơn vị phải thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, vận động thanh niên để họ sẵn sàng tham gia nghĩa vụ quân sự một cách tự giác, cống hiến phần bé nhỏ của mình cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.


🇻🇳Là trách nhiệm công dân

Thanh niên lên đường nhập ngũ là nghĩa vụ công dân, khi nhập ngũ họ được học tập những kiến thức cơ bản về Đảng, Bác Hồ, về chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… họ phải nhận thức rõ đối tượng, đối tác, phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù từ đó nâng cao ý thức cảnh giác và đề kháng với những luận điệu xấu độc của kẻ thù cũng như tuyên truyền giáo dục đến mọi người cùng tham gia bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, trong thời gian tại quân ngũ họ được rèn luyện về thể lực, về kỹ chiến thuật, về tâm lý từ đó tạo nên sự vững vàng trước các tình huống có thể xảy ra.


🇻🇳Bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân tộc. Do vậy, thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm với Tổ quốc, với  quê hương. Đất nước ta đã hoà bình, mọi người dân luôn hướng đến sự ấm no bình đẳng, các dân tộc đoàn kết cùng chung sống, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang gặt hái được những thành tựu to lớn. Do vậy, cùng với vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải luôn đi đôi với bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, chủ nghĩa đế quốc và các thể lực thù địch luôn tìm cách lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta và phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tìm mọi cách để chống phá cách mạng Việt Nam trên nhiều lĩnh vực trong đó có vấn đề quốc phòng. Vì vậy, mỗi thanh niên được tham gia quân đội chính là thể hiện trách nhiệm to lớn với Tổ quốc và dân tộc.


BIÊN GIỚI PHÍA BẮC 1979: “…CHÚNG TÔI ĐÃ CHIẾN ĐẤU HẾT ĐẠN, XIN VĨNH BIỆT CÁC ĐỒNG CHÍ


Trong hàng triệu bức điện mật xuyên suốt từ thời chiến đến thời bình, phần lớn các bức điện nhằm duy trì thông tin liên lạc, chỉ đạo, chỉ huy của lãnh đạo. Nhưng cũng có những bức điện mật là lời chào, lời từ biệt gửi tới đồng đội; phản ánh sự khốc liệt của những năm tháng chiến tranh bảo vệ tổ quốc. Một trong số đó là bức điện mật cuối cùng của chiến sĩ cơ yếu đồn Pha Long, với những lời từ biệt đồng đội:


 “...Chúng tôi đã chiến đấu hết đạn. Xin vĩnh biệt các đồng chí”.


Trong lịch sử đấu tranh cách mạng, đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta, Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc đã dành sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn cho Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi đất nước Việt Nam được thống nhất, Trung Quốc đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền, kích động tâm lý thù hằn dân tộc, khiêu khích vũ trang, xâm lấn đất đai… gây nên tình hình căng thẳng, phức tạp giữa hai nước, mà đỉnh điểm là cuộc tiến công của quân Trung Quốc vào biên giới phía Bắc Việt Nam (tháng 2/1979). 


Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước Việt Nam kiên trì chủ trương giải quyết tình hình nói trên bằng giải pháp hòa bình, đồng thời khẩn trương tăng cường lực lượng, đẩy mạnh xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước.


Trong những ngày cuối năm 1978 đầu năm 1979, theo ý kiến chỉ đạo của Bộ Tư lệnh, phụ trách cơ yếu các đơn vị đã nhanh chóng rà soát, bổ sung tiếp vào kế hoạch bảo đảm liên lạc qua kỹ thuật mật mã trong chiến đấu. Các đơn vị đã cử cán bộ cơ yếu xuống các đồn biên phòng kiểm tra, giúp đỡ cơ yếu đồn thực hiện kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu theo phương án đã quy định của cấp trên. Các quy ước liên lạc trong tình huống khẩn cấp đã được các đồn thực tập liên lạc thử về tỉnh và vượt cấp về Bộ Tư lệnh.


Ngày 17/2/1979, hàng chục vạn quân Trung Quốc đồng loạt vượt biên giới Trung Quốc - Việt Nam, tiến công nhiều mục tiêu trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nhằm nhanh chóng đánh chiếm một số thị xã, đường tiếp tế của Việt Nam từ phía sau lên. Hướng tiến công chủ yếu là Lạng Sơn, Cao Bằng, hướng quan trọng là Lào Cai, hướng phối hợp là Phong Thổ, Lai Châu, hướng nghi binh để thu hút lực lượng của Việt Nam là Hà Tuyên và Quảng Ninh.


Cách đánh chủ yếu của Trung Quốc là sử dụng lực lượng áp đảo bất ngờ tiến công đồng loạt, tập trung vào hướng chính diện kết hợp với vu hồi, thọc sâu, bao vây, chia cắt lực lượng ta, đặc biệt là sử dụng pháo binh gây sát thương lớn cho bộ đội và dân thường Việt Nam.


Tại Lào Cai, Trung Quốc dùng 2 trung đoàn bộ binh bất ngờ tấn công đồn Pha Long, nhằm triển khai ý đồ chiến thuật cắt rời mảnh đất hình tam giác này ra khỏi thế trận liên hoàn toàn tỉnh Hoàng Liên Sơn. 


Đồn Pha Long rơi vào thế cô lập, bị bao vây. Với tinh thần cách mạng, các chiến sĩ đã chiến đấu phòng ngự trong suốt 4 ngày đêm chống trả số lính thiện chiến, có sự yểm trợ của pháo binh và đông gấp nhiều lần bên ta. 


9 giờ ngày 18/2/1979 địch tập trung lực lượng lớn tiếp tục áp sát đồn, kêu gọi chiến sĩ ta đầu hàng. Cán bộ chiến sĩ đồn Pha Long vẫn bình tĩnh ngoan cường nổ súng vào đầu quân xâm lược. Những lúc ác liệt đó, chiến sĩ Nguyễn Duy Mạc, nhân viên Cơ yếu Đồn Biên phòng Pha Long (Hoàng Liên Sơn) vẫn liên tục một tiếng, rồi ba mươi phút một lần mã điện báo cáo về Tỉnh và Bộ Tư lệnh. Quyết tâm chiến đấu của cán bộ chiến sĩ đồn Pha Long đã được chiến sĩ Mạc chuyển đi ngay trưa 18/2/1979: “Đồn Pha Long bị bao vây, địch đã chiếm hết các chốt của ta, lực lượng thương vong nhiều. Nhưng anh em chúng tôi còn lại kiên quyết không rời vị trí chiến đấu. Dù còn một người cũng chiến đấu”.


11 giờ 20 ngày 18/2/1979, bộ phận cơ yếu tỉnh bộ Công an vũ trang Hoàng Liên Sơn đã cấp tốc chuyền ngay mệnh lệnh chiến đấu của Ban chỉ huy Tỉnh cho đồn Pha Long và đại đội 3 cơ sở biên phòng: “Đại đội 3 chi viện ngay cho đồn Pha Long để cùng phối hợp chiến đấu. Các đồng chí hãy nêu cao khí phách anh hùng dù hy sinh cũng phải chiến đấu đến cùng, kiên quyết không đầu hàng địch, không để địch bắt sống”.


Tiếp đó, Phòng Cơ yếu cũng mã ngay chỉ thị khẩn cấp của Bộ Tư lệnh cho Trung đoàn 16 cơ động biên phòng: “Điều ngay tiểu đoàn một ở Mường Khương triển khai cùng tác chiến với đồn Pha Long. Cho một đại đội khác tìm đường từ Xi Ma Cai lên Pha Long cùng chiến đấu. Nhận chỉ thị này thực hiện ngay không được chậm”.


Thời điểm ấy, Đồn trưởng Pha Long đi công tác xa, việc chỉ huy do thượng úy Trần Ngọc, Chính trị viên kiêm Bí thư Chi bộ Đồn. Mặc dù, trước đó đã được chi viện tăng cường, nhưng do bị vây đánh suốt mấy ngày liền, lương thực, đạn dược cạn dần, thương vong ngày càng cao... 


Đến sáng 19/2/1979, quân Trung Quốc đông gấp nhiều lần. Trước nguy cơ Đồn bị rơi vào tay địch, Phòng Cơ yếu đã điện chỉ đạo cho cơ yếu đồn Pha Long: “Tình hình không bảo đảm an toàn tài liệu thì báo cáo Ban chỉ huy đồn tìm cách bảo vệ hoặc xử lý ngay”. 


11 giờ ngày 19/2/1979, Cơ yếu đồn Pha Long đã mã bức điện cuối cùng của Ban Chỉ huy Đồn báo cáo Bộ Tư lệnh và Ban chỉ huy tỉnh: “Một Sư đoàn địch đang vây hãm đồn. Chúng tôi đã chiến đấu hết đạn. Xin vĩnh biệt các đồng chí”.

--------

Chiến tranh đã qua đi nhưng kí ức về một thời bom đạn vẫn còn đó. Càng thấm thía, biết ơn sâu sắc đối với lớp lớp thế hệ cha anh đi trước đã hy sinh xương máu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc...



NHẬN DIỆN ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐƯỜNG LỐI ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA


Các thế lực thù địch luôn coi đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta là mục tiêu chống phá. Thực hiện mục tiêu ấy, chúng dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, bác bỏ, chống phá. Mặc dù “lý lẽ” đã cũ rích, nhưng chúng vẫn không từ bỏ, luôn rêu rao rằng lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin “đã sai lầm”, “lỗi thời”, “lạc hậu”, thể hiện ở sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Chúng dẫn ra các hiện tượng, hình thức, trái với bản chất để mê hoặc, lôi kéo những người thiếu hiểu biết khoa học, như “lý sự” rằng: “đã kinh tế thị trường thì đâu còn là chủ nghĩa xã hội”; “chủ nghĩa xã hội không phải là cái đích của loài người đi tới”; “chủ nghĩa tư bản là trường cửu”; Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam “bảo thủ” duy trì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là “trái với quy luật”, “không phù hợp với thời đại mới” v.v và v.v.. Chúng cố lờ đi những cơ sở khoa học, tính khách quan của quy luật phát triển xã hội là chỉ có kết hợp giải phóng giai cấp với giải phóng dân tộc và giải phóng con người thì cách mạng mới đạt được kết quả trọn vẹn. Chúng không thấy con đường đổi mới, hội nhập quốc tế, độc lập, tự chủ là sự sáng tạo của Đảng và nhân dân ta để đưa đất nước ngày càng phát triển, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Chúng gây nên hoài nghi vào quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc những đặc điểm, đặc trưng, mô hình xã hội mà chúng ta xây dựng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; phủ nhận giá trị những thành tựu đạt được trong hơn 30 năm đổi mới của đất nước. Chúng cố tình quên đi những biện pháp, con đường, hình thức, bước đi, nhiệm vụ trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội đầy sáng tạo của nhân dân ta. Tất cả những điều đó với âm mưu của chúng nhằm đẩy người nghe rơi vào tâm trạng hoài nghi, thất vọng, suy giảm niềm tin, rồi đi đến xa rời, từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chúng gieo rắc tâm lý trông chờ, dựa dẫm, cầu mong sự giúp đỡ của nước ngoài, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì giàu nhanh hơn, sung sướng hơn một cách ảo tưởng, hoài vọng.

 

NHẬN DIỆN ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHIA RẼ KHỐI ĐOÀN KẾT TRONG ĐẢNG, TRONG NHÂN DÂN


Các thế lực thù địch luôn tấn công hòng phá vỡ khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, khối đồng thuận xã hội, gây nên sự ly tán, chia rẽ, suy giảm sức mạnh của Đảng, của nhân dân. Chúng chia rẽ nội bộ Đảng, giữa cơ quan Đảng, chính quyền các cấp, bịa đặt về sự hình thành “phe này”, “phái nọ” để gây hoang mang trong nhân dân. Chúng lợi dụng việc thực hiện công khai, minh bạch của Đảng trong đấu tranh chống tham nhũng và xử lý nghiêm minh một số cán bộ, đảng viên vi phạm để chia rẽ nội bộ. Chúng xuyên tạc rằng “đây chỉ là sự thanh trừ phe này, phe nọ”, không thấy đây chính là quá trình làm trong sạch Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng có tính quy luật trên đường phát triển, là việc làm phù hợp với lòng dân, được toàn Đảng, toàn dân đồng tình ủng hộ. Chúng ra sức kích động chia rẽ, gây mất đoàn kết giữa các dân tộc, các tôn giáo; giữa cán bộ và nhân dân; giữa đảng viên và quần chúng... Chúng thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên rồi đi đến khái quát một cách hàm hồ, nói xấu Đảng, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Chúng ra sức lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để kích động gây bất ổn chính trị - xã hội; lợi dụng các bức xúc của nhân dân chưa được giải quyết kịp thời để kích động tụ tập đông người gây mất trật tự, an ninh, xung đột xã hội, làm cho nhân dân không tin cán bộ, đảng viên, dẫn đến không tin Đảng, tìm “con đường khác”, “cách sống khác” do chúng vẽ ra. Đây là âm mưu, thủ đoạn phá hoại ta từ bên trong, từ trong nội bộ, từ trong lòng dân, từ trong tư tưởng, tình cảm của con người trong xã hội.

 

SỰ BUỒN CƯỜI ĐẾN LỐ BỊCH CỦA VIỆT TÂN

 

Ngày 08/2/2022 trên trang facebook Việt Tân đăng bài ADELAIDE - NGÀY THỨ 8 TỌA KHÁNG và NGOẠI TRƯỞNG ÚC MARISE PAYNE – HÃY THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI CÔNG DÂN CỦA MÌNH ĐANG BỊ TÙ OAN, cùng nội dung muốn bà Marise Payne- Thượng nghị sĩ của Đảng Tự do đại diện cho tiểu bang New South Wales, Ngoại trưởng Australia thực hiện quyền lực của mình để gây áp lực buộc Chính quyền Việt Nam phải trả tự do cho Châu Văn Khảm một cách vô điều kiện.


Vậy Châu Văn Khảm là ai ? Tại sao Việt Tân lại muốn thả tự do cho Khảm ? 


Châu Văn Khảm tham gia tổ chức khủng bố Việt Tân từ năm 2010, là một trong những đối tượng hoạt động tích cực, làm đại diện "cơ sở đảng bộ Sydney" kiêm "Bí thư Đảng bộ Úc châu," hoạt động với bí danh Hoàng Liêm.


Theo sự chỉ đạo của Đỗ Hoàng Điềm- Chủ tịch Việt Tân, đầu tháng 1.2019, Châu Văn Khảm nhập cảnh vào Campuchia, sau đó sử dụng giấy chứng minh nhân dân mang tên Chung Chính Phi để xâm nhập bất hợp pháp vào Việt Nam qua biên giới đường bộ Campuchia.


Tại Việt Nam, Châu Văn Khảm đã lôi kéo, kết nạp Nguyễn Văn Viễn (tài xế xe ôm công nghệ) vào tổ chức khủng bố Việt Tân. Sáng 12.1.2019, Khảm gặp Viễn tại một quán cà phê ở Q.1 (TP.HCM). Tại đây, Khảm truyền bá cho Viễn về phương thức hoạt động của Việt Tân; nhận định của Việt Tân về một số vấn đề quốc tế và quan điểm về Việt Nam. Đồng thời, Khảm đưa cho Viễn 400 USD. Sau đó Viễn đã đồng ý tham gia tổ chức.


Bằng các biện pháp nghiệp vụ, Cơ quan An ninh điều tra  Bộ Công an đã kịp thời bắt giữ Khảm và Viễn. Mở rộng điều tra, Cơ quan công an bắt giữ thêm Trần Văn Quyền (là thợ lắp camera) và 3 đối tượng khác.


Ngày 11.11.2019, TAND TP.HCM xử sơ thẩm các bị cáo là thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân. HĐXX tuyên phạt bị cáo Châu Văn Khảm (70 tuổi, Việt kiều Úc) 12 năm tù, Nguyễn Văn Viễn (48 tuổi, quê Quảng Nam, ngụ Q.12, TP.HCM) 11 năm tù, Trần Văn Quyền (20 tuổi, quê Hà Tĩnh, ngụ tại TX.Dĩ An, Bình Dương) 10 năm tù, cùng về tội “khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” theo Điều 113 Bộ luật Hình sự 2015.


Đồng thời, HĐXX tuyên buộc trục xuất bị cáo Châu Văn Khảm khỏi Việt Nam sau khi chấp hành xong hình phạt; tuyên phạt quản chế 5 năm đối với Viễn và Quyền sau khi mãn hạn tù.


Mặc dù vụ xét xử Khảm đã rõ ràng, khách quan, minh bạch đúng người, đúng tội. Nhưng ngay sau vụ án Châu Văn Khảm được thông tin trên các phương tiện truyền thông Việt Nam, Việt Tân vẫn cố tình tuyên truyền, xuyên tạc nhằm mục đích chống đối. Chúng đưa ra những thông tin vu cáo, quy kết nhằm tạo dư luận xấu đối với Việt Nam trên trường quốc tế...


Đến hôm nay vụ án đã trải qua hơn 3 năm, nhưng Việt Tân vẫn cố tình bới móc, ảo tưởng đề nghị một quan chức chính phủ Australia gây áp lực buộc Việt Nam phải trả tự do cho Khảm, thật là sự buồn cười đến lố bịch.


Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước". Do vậy mỗi người trong chúng ta cần nâng cao cảnh giác cách mạng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc./.



CHỦ NGHĨA DÂN TÚY VÀ VIỆC PHÁ HOẠI UY TÍN CỦA NGƯỜI CÁN BỘ

 

 Vào năm 1890, thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” được sử dụng rộng rãi tại Mỹ trong phong trào thúc đẩy người dân nông thôn và đảng Dân chủ chống lại những người đảng Cộng hòa thường sống tập trung ở đô thị. Cho đến những năm gần đây, có thể thấy chủ nghĩa dân túy đang dần trỗi dậy và được các thế lực phản cách mạng lợi dụng triệt để trong chống lại chính quyền ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam.

Một trong những nguyên nhân làm cho xu hướng dân túy phát triển mạnh là do thiếu sự gần gũi tạo ra một khoảng cách lớn giữa lợi ích, ngôn ngữ giũa quần chúng nhân dân và người lãnh đạo.

Hiện nay, lợi dụng triệt để sự nhân bản thông tin của các kênh không chính thống, như báo, mạng xã hội… các thế lực thù địch đang ra sức tìm kiếm, thu thập những việc làm sai trái của một số cán bộ hoặc cố tình bóp méo sự thật để thực hiện cái gọi là “tiếng nói của người dân” hay “đứng về phía nhân dân”. Chúng ta không khó để tiếp cận những bài viết, video, comment được đăng tải trên internet hoặc các trang mạng xã hội về các nội dung như một một đối tượng chống đối cảnh sát làm nhiệm vụ, việc giải tỏa, ngăn chặn lấn chiếm vỉa hè…Tất nhiên là các thông tin đã được chỉnh sủa hoặc cố tình dàn dựng sao cho người chấp pháp, người lãnh đạo có lỗi nhất.  Bên cạnh đó, có một số người luôn khẳng định chúng tôi đứng về phía nhân dân, đây là tiếng nói của dân… Tất cả tạo ra sự phẫn nộ và điễn biến tâm lý trong nhân dân.Làm cho uy tín của nhà nước, uy tín của những cơ quan hành pháp, của những cán bộ lãnh đạo giảm sút. Như vậy, rõ ràng là những mục đích chính trị ban đầu của các thế lực thù địch đã được thực hiện. Tiếp theo đó sẽ là những thủ đoạn của các tổ chức chống phá nhằm vào con đường cách mạng của nước ta.

Đấu tranh ngăn ngừa và chống chủ nghĩa dân túy xâm nhập là một quá trình bền bỉ, dài lâu, gắn bó mật thiết với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, là một phần rất quan trọng của đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng. Phải kiên trì làm công tác tư tưởng, đề cao sự phòng ngừa. Điều này đòi hỏi sự tất yếu và cấp bách phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng các cấp, sự vào cuộc của báo chí, truyền thông và sự tham gia tích cực của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân.

 

ĐẤU TRANH, VẠCH TRẦN NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA CƠ HỘI


Chủ nghĩa cơ hội vốn không xa lạ. Nó thường che giấu bộ mặt thật của mình. Bản chất của những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội là khi cách mạng gặp thuận lợi, phát triển thì luôn tỏ ra cấp tiến, nhưng khi đất nước gặp khó khăn thì dao động, ngả nghiêng, sẵn sàng thỏa hiệp với các đối tượng phản động và phần tử xấu để chống phá cách mạng hoặc lợi dụng những kẽ hở của chính sách, pháp luật để làm nhiều điều mờ ám, gây tổn hại đến sự nghiệp chung. Thời gian gần đây, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện những biểu hiện mới không thể xem thường.

Một số ít người từng giữ cương vị lãnh đạo, quản lý lâu năm trong hệ thống chính trị các cấp, nhưng ít nhiều có biểu hiện “trở cờ” sau khi về hưu. Một số người lợi dụng các đợt đóng góp ý kiến vào các dự thảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để đưa ra những quan niệm “mập mờ đánh lận con đen”. Một số người từng là cán bộ, đảng viên lâu năm đã mắc bệnh công thần chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vai trò, cống hiến của mình trong quá khứ để phê phán quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đề xuất những ý kiến lệch lạc. Một số ít trí thức, văn nghệ sĩ vốn là đảng viên cộng sản có những đóng góp nhất định trong lịch sử và có những công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học nghệ thuật được khá nhiều công chúng biết đến, nhưng nay lại bày tỏ sự sám hối của mình. Một bộ phận cán bộ, đảng viên cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống chính sách, luật pháp để làm những việc sai pháp luật, trái đạo lý…

Trong những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội nêu trên, tuy mỗi loại có tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau, nhưng có đặc điểm chung là đều chĩa mũi nhọn trực tiếp hoặc gián tiếp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, thách thức sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực cản con đường đưa nước ta hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Chính vì vậy, nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đội lốt “yêu nước thương dân”, không để chủ nghĩa cơ hội len lỏi vào các tổ chức tổ đảng, bộ máy công quyền các cấp là trách nhiệm của mỗi chúng ta mà trước hết là đội ngũ cán bộ đảng viên, là một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của công tác tư tưởng chính trị hiện nay.

 

 

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH BẢO VỆ LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


            Hiện nay trên mạng xã hội, khi bàn về mặt lý luận và thực tiễn Chủ Nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có một bộ phận lại lập luận bâng quơ dẫn dắt người đọc nhận thức sai lệch rằng, "Tư tưởng gì cũng được, miễn là làm cho xã hội trở nên hòa bình, tốt đẹp, không còn bất công, xung đột, mâu thuẫn..."

Thực ra, đây là quan điểm nhằm bài xích phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mở đường cho một tư duy phản động đi tìm tư tưởng mới trong giới trẻ hiện nay. Để khẳng định và loại bỏ tư duy sai trái này chúng ta cần làm rõ mấy vấn đề sau:

Thứ nhất, Đảng ta luôn khẳng định Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, xuyên suốt, bất diệt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trong suốt hơn 90 năm Đảng lãnh đạo, thực tiễn cách mạng đã chứng minh điều đó.

Thứ hai, về mặt lý luận, tại sao mỗi giai đoạn lịch sử cần phải lấy lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh để kiểm chứng. Trong cuốn Đường Kách mệnh, Người từng viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Học thuyết Mác- Lênin, Học thuyết khoa học và cách mạng được Các Mác và Ăng ghen sáng lập và được phát triển, sáng tạo bởi Lênin, học trò xuất sắc của hai ông. Sau nhiều thế kỷ, Học thuyết ngày càng chứng tỏ sức sống mãnh liệt và giá trị thời đại của nó. Học thuyết Mác- Lênin, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng lý luận, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng ta trong lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, Thực tiễn không thể phủ nhận rằng, Chủ nghĩa Mác - Lênin đã soi sáng con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn dắt nhân dân ta trong suốt hơn 90 năm qua. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Người luôn khẳng định vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin và yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải học tập, tu dưỡng và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo Người, chủ nghĩa Mác - Lênin là “cái cẩm nang thần kỳ”, là “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam: “Đảng ta nhờ kết hợp được chủ nghĩa Mác - Lênin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác”; “Học tập chủ nghĩa Mác Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh của nước ta”.

Thứ tư, Việc một số đối tượng thù địch chống phá cách mạng nước ta cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là giáo điều, xơ cứng, hoặc đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc cho rằng "Tư tưởng gì cũng được, miễn là làm cho xã hội trở nên hòa bình, tốt đẹp, không còn bất công, xung đột, mâu thuẫn..." là một thủ đoạn bài xích, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin trong bối cảnh hiện nay, rất nhiều người lầm tưởng nảy sinh chủ nghĩa xét lại, là một việc hết sức sai lầm về quan điểm lịch sử và logic.

Thứ năm, Về mặt lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác- Lênin là nguồn gốc lý luận, là cơ sở chủ yếu nhất hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để tìm ra con đường cứu nước và giải phóng dân tộc, đồng thời vận dụng sáng tạo, phát triển, bổ sung chủ nghĩa Mác- Lênin trong thời đại mới. Sự lãnh đạo của Đảng trong hơn 90 năm qua là minh chứng sinh động nhất cho việc vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; Lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về vai trò của quần chúng Nhân dân, về sức mạnh của đoàn kết, về xây dựng Nhà nước …đã được Hồ Chí Minh vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lênin chính là phủ nhận nguồn gốc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sự xuyên tạc, không có căn cứ khoa học mọi người cần cảnh giác.

Chúng ta phải luôn khẳng định, ở Việt Nam không có một học thuyết nào mang tính phổ quát cho cách mạng Việt Nam ngoài Chủ nghĩa Mác- Lênin. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, lịch sử, lý luận và thực tiẽn cách mạng đã chứng minh, bất luận kẻ nào cũng không thể xuyên tạc!

 

CẢNH GIÁC VỚI VIỆC CHIA SẺ THÔNG TIN LÊN MẠNG XÃ HỘI.

           Mạng xã hội ngày càng trở nên phổ biến và thể hiện những chức năng ưu việt của nó so với các phương tiện truyền thông khác, nhanh chóng, cập nhật và sức lan tỏa mạnh mẽ hơn nhờ tính tương tác cao . Tuy nhiên, cái gì cũng có tính hai mặt của nó. Sự vội vàng, thiếu cẩn trọng, thiếu kiểm soát trong khai thác và sử dụng mạng xã hội đã dẫn đến những hệ lụy khó lường như nguy cơ lộ, lọt thông tin liên quan đến bí mật quốc gia, an ninh, quốc phòng, gây mất đoàn kết nội bộ cơ quan đơn vị, xâm phạm cuộc sống đời tư của người khác…

          Bắt nguồn từ việc nhận thức chưa đầy đủ các nguy cơ cũng như thói quen cá nhân từ trước nên có một số quân nhân đã vi phạm các quy định khi tham gia mạng xã hội. Việc thiếu cẩn trọng trong việc đăng tải các thông tin, hình ảnh cá nhân, về hoạt động huấn luyện, SSCĐ, học tập, công tác của các quân nhân lên mạng xã hội hiện nay như facebook, tiktoc, zalo…. đã vô tình tạo điều kiện cho các thế lực thù địch, những người bất đồng quan điểm khai thác sử dụng để nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Cùng với đó là sự vội vàng, cẩu thả, khâu thẩm định, kiểm duyệt thông tin thiếu chặt chẽ của một số trang báo mạng trong việc khai thác thông tin, hình ảnh từ mạng xã hội, đã gây nên những hiểu lầm về các sự việc, hiện tượng trong dư luận xã hội. Đặc biệt có những cá nhân, thành phần bất mãn đã lợi dụng mạng xã hội để gây sự chú ý của cộng đồng mạng nhằm mục đích khiếu kiện, tố cáo gây hoang mang, hiểu lầm đối với dư luận quần chúng; đây là một hành vi hết sức nguy hiểm có thể dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" mà Đảng, Nhà nước ta đang ra sức ngăn chặn.

          Nhằm ngăn ngừa việc các quân nhân vi phạm trong quá trình tham gia mạng xã hội, ngày 22 tháng 8 năm 2014, Bộ quốc phòng đã ra Thông tư số 110/2014/TT-BQP, ban hành Quy chế quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong đó đối với các hành vi cá nhân ở Điểm 1, 2, 3, Điều 7, Chương 1 có nêu rõ " Các hành vi bị nghiêm cấm: Cung cấp, trao đổi thông tin có nội dung thuộc lĩnh vực bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, quốc phòng qua mạng Internet; tạo lập và cung cấp thông tin cá nhân với tư cách quân nhân lên các trang thông tin điện tử, các mạng xã hội; truy cập vào các trang thông tin điện tử mạo danh, phản động, có nội dung không lành mạnh."

          Đây là các hành vi mà bất cứ quân nhân nào khi tham gia mạng xã hội vi phạm đều phải chịu xử lý kỷ luật từ khiển trách trở lên, căn cứ theo mức độ vi phạm. Đã có rất nhiều bài học về hệ lụy của việc sử dụng mạng xã hội, vì thế những người tham gia mạng xã hội cần phải luôn tỉnh táo, cẩn trọng với việc chia sẻ thông tin lên mạng xã hội. Trước khi quyết định đăng tải nội dung gì đó cần phải xem xét mức độ, phạm vi tác động của nó đối với cá nhân, những người xung quanh, cơ quan, đơn vị để từ đó có hành vi đúng đắn.

          Thiết nghĩ, một lần nữa cần siết chặt các chế tài xử lý các trường hợp vi phạm, các quy định cụ thể về phát ngôn để tăng cường sự quản lý kiểm soát, cũng như làm căn cứ cho các quân nhân khi tham gia mạng xã hội, ngăn ngừa các hệ lụy không mong muốn như đã diễn ra trong thời gian qua.

 

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN MÃI MÃI LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA CÁC ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ NHÂN LOẠI TIẾN BỘ


Mác, Ăngghen, Lênin không phải là những “nhà tiên tri”, những ông “thầy bói của lịch sử” như mấy ai bôi nhọ hay huyễn hoặc. Các ông là những nhà cách mạng, nhà khoa học chân chính, thiên tài. Chủ nghĩa mà các ông sáng lập và đấu tranh không mệt mỏi để thực hiện nó, là hành động một cách dũng cảm và cách mạng biến cái lô-gích phát triển tất yếu của nhân loại, trên cơ sở giải phẫu các xã hội mà loài người đã và đang tồn tại, để các quốc gia, dân tộc đi tới tương lai.

Nói cách khác, lý luận của các ông chỉ giúp loài người lựa chọn điều cần và phải đi con đường dẫn tới chân lý, với những lực lượng tiên quyết, những điều kiện có tính chất cần và đủ, khi đứng ở ngã ba lịch sử của sự lựa chọn và phải quyết định, gồm: Một ngả dẫn đến vũng lầy của sự lầm lẫn, còn ngả kia là đi tới chân trời sáng sủa, tất yếu. Diễn đạt cụ thể, các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ đơn thuần giải phẫu các hình thái kinh tế-xã hội, mà bắt đầu từ cấu trúc nền tảng để làm nổi bật lên những vấn đề của chúng và cuối cùng, dự báo sự sụp đổ tất yếu và sự thay thế giữa chúng với nhau hoặc tuần tự hoặc nhảy vọt một cách biện chứng, theo quy luật.

Cố nhiên, chúng ta không thể phủ nhận một điều là, những thập kỷ 70, 80, nhất là những năm 90 của thế kỷ 20, trong quá trình hiện thực hóa lý luận mác-xít, những người cộng sản vấp phải khó khăn to lớn. Đặc biệt, trong thời điểm lịch sử ở vào tình thế có tính bước ngoặt, khi xu thế toàn cầu hóa trở thành phổ biến với xung lực tất yếu và mạnh mẽ là kinh tế tri thức, công việc đó càng trở nên khó khăn gấp bội; và cho thấy, sẽ chỉ “sống sót” những lực lượng chính trị nào có thể đáp lại những thách thức mới của thời đại, tiếp tục đủ sức gánh vác trọng trách đó của lịch sử.

Nhân loại đang trở về với Mác. Nhưng trở về với Mác, với Lênin như thế nào? Tất nhiên sự trở về không phải là sự thuộc lòng học thuyết của các ông, rập khuôn nó và coi nó như “chiếc chìa khóa vạn năng” nào đó, bất chấp những sự thay đổi của lịch sử. Như thế, vô hình đã bóp nghẹt sức sống của Chủ nghĩa Mác-Lênin, điều mà các ông lúc sinh thời đã cảnh báo và lịch sử từng nghiêm khắc phê phán. Mác không bao giờ và chưa bao giờ tiên thiên, không khi nào rơi vào định mệnh! Nói một cách hình ảnh, ông chỉ vén mây mù để tất cả nhìn thấy trời xanh tất yếu của sự tự do và con đường đi tới nó một cách tự nhiên, còn đi như thế nào lại tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, dân tộc và tình thế lịch sử cho phép.

Lênin cũng thế. Ông rất căm ghét thói rập khuôn mù quáng. Cả hai ông đòi hỏi sự phê phán nghiêm ngặt học thuyết của các ông chứ không phải khư khư bám giữ những điều có thể là đúng với hôm qua, nhưng hôm nay đã bị cuộc sống vượt qua. Đó chính là nguồn gốc sức sống, con đường phát triển của chính lý luận Mác-Lênin - học thuyết cách mạng phê phán và tự phê phán cách mạng! Vượt qua tất cả các học thuyết hiện nay, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã mở ra một chân trời khám phá và sáng tạo không ngừng. Vì toàn bộ thế giới quan của học thuyết Mác, nói như Ăngghen, không chỉ là một học thuyết mà còn là phương pháp. Nó đưa ra không phải những giáo điều có sẵn mà là những xuất phát điểm để tiếp tục nghiên cứu toàn diện lịch sử.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Trong cương lĩnh chính trị thành lập Đảng năm 1930, Đảng ta đã quyết định con đường cách mạng Việt Nam là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. 92 năm qua, với những thắng lợi đã giành được của cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta thêm tự hào về dân tộc Việt Nam - một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện đã một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân.

 

Tích cực học tập lý luận chính trị góp phần tu dưỡng đạo đức cho cán bộ, đảng viên


Vấn đề học tập lý  luận chính trị nói đã nhiều, nhưng nhìn chung, chất lượng, hiệu quả chưa cao. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ chưa bị đẩy lùi. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả; nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy chưa sâu sát, mạnh mẽ và thống nhất.

Phát biểu khai mạc lớp lý luận khoá I Trường Nguyễn Ái Quốc (7/9/1957), Bác Hồ chỉ rõ: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi đảng viên và cán bộ phải có lập trường giai cấp vô sản thật vững chắc, giác ngộ về chủ nghĩa xã hội cao; đòi hỏi cán bộ và đảng viên phải… rửa sạch chủ nghĩa cá nhân… Muốn thế phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, phải tổ chức học tập lý luận trong Đảng, trước hết là trong những cán bộ cốt cán của Đảng”. Tiếp sau đó, khi viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng” (1958), Người cũng khuyên bảo đảng viên và cán bộ phải: “Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin… để nâng cao tư tưởng”. Bởi vì, có học tập, cố gắng học tập tốt mới hiểu sâu sắc rằng, Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của dân tộc. Ngoài lợi ích của giai cấp, của Nhân dân và dân tộc  “Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Có học tập mới hiểu: “... cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Đồng thời còn hiểu đúng: “Chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng”; “là một kẻ địch hung ác”. Nó “đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí...”. “Người cách mạng phải tiêu diệt nó”… Qua học tập còn giúp đảng viên và cán bộ hiểu rõ: “... lợi ích của người đảng viên phải ở trong chứ không thể ở ngoài lợi ích của Đảng. Vì vậy: “… vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”.

Nhưng do chưa hiểu biết đầy đủ, sâu sắc những điều nói trên nên một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “chưa rửa gột sạch chủ nghĩa cá nhân… Rồi dần dần họ xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng”. Do “… bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc” nên một số “trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng”. Họ không thực hiện tốt, không thể hiện đúng: “Đạo đức cách mạng là hoà mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng”; “làm cho dân tin, dân phục, dân yêu”… Do bị “chủ nghĩa cá nhân ám ảnh”, một số đảng viên và cán bộ “tự cho mình cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng… Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”. Bác khẳng định: “Có học tập lý luận Mác - Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường”. Nhưng phải quán triệt sâu sắc và thực hiện đúng yêu cầu: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”. Đề phòng và loại trừ lối “học sách vở Mác - Lênin, nhưng không học tinh thần Mác - Lênin. Học để trang sức, chứ không phải để vận dụng vào công việc cách mạng”. Học kiểu đó cũng là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.

Vì vậy, thời gian tới đây phải tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, thật sự hiệu quả, thiết thực trong việc học tập lý  luận chính trị, nhằm góp phần bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, xây dựng đạo đức, lối sống theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên; góp phần xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Đây chính là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Ðảng về mặt tư tưởng. Các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt việc học tập, gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Ðảng trên lĩnh vực lý luận chính trị. Ðổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị, ứng dụng các phương pháp hiện đại, hấp dẫn người học, tạo hứng thú tìm tòi, nghiên cứu. Ðổi mới hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá thực chất kết quả học tập theo hướng thực chất. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong học tập. Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị phù hợp với nhu cầu quy hoạch, đào tạo, sử dụng cán bộ./.




 

XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


 Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ thiên tài, nhà hoạt động chính trị kiệt xuất, người anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại mà Người còn là một nhà văn hoá lỗi lạc, một danh nhân văn hoá được cả thế giới công nhận và ngưỡng mộ. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm sâu sắc đến sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá mới ở Việt Nam. Mỗi cử chỉ, mỗi lời nói và việc làm của Người trong quan hệ với đồng chí, đồng bào, với bạn bè quốc tế... trên các cương vị khác nhau khi là nhà báo, lúc là nhà văn, nhà thơ, hay trên cương vị Chủ tịch nước, ở Người đều toả ra ánh hào quang văn hoá, đó là kết tinh của những giá trị văn hoá tốt đẹp nhất. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá nói riêng là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.

Mang trong mình truyền thống văn hoá Phương Đông, lại được tiếp thu những tinh hoa  văn hoá của nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt là ánh sáng khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin, với phẩm chất thiên tài, Hồ Chí Minh đưa ra cách hiểu văn hoá rất rộng, rất sâu sắc và khái quát cao, song cũng rất cụ thể và dễ hiểu, dễ đi vào lòng người. Mặc dù đã có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về văn hoá khác nhau, nhưng Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa về văn hoá rất gần với cách hiểu mà 40 năm sau (1982) UNESCO mới nêu lên. Trong mục “Đọc sách” ở phần cuối tập “Nhật ký trong tù” (1942-1943), Người đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Chính văn hoá được hiểu theo nghĩa như vậy mới có thể được đóng vai trò “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội” như Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định.

Quan điểm trên của Hồ Chí Minh đã khái quát được nội dung đầy đủ nhất, rộng nhất, mang đầy đủ nội hàm của phạm trù văn hoá. Theo đó, văn hoá được hiểu là toàn bộ sáng tạo những giá trị vật chất và những giá trị tinh thần của con người trong quá trình tồn tại sinh sống và phát triển. Nguồn gốc và động lực sâu xa của văn hoá chính là nhu cầu của con người, khác với loài vật, nhu cầu của con người (bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần) luôn luôn thay đổi, con người không bao giờ bằng lòng với những cái mà tự nhiên ban tặng và những gì đã có. Chính điều đó, đã  thúc đẩy con người hoạt động và sáng tạo, cải tạo tự nhiên và xã hội, tạo ra không gian và điều kiện sinh tồn cả vật chất lẫn tinh thần phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu cho mình. Đó cũng chính là quá trình sáng tạo văn hoá của con người. Theo nghĩa đó, ở đâu có con người và hoạt động của con người thì ở đó có văn hoá. Văn hoá là sự phát huy và hiện thực hoá các năng lực bản chất của con người. Con người là chủ thể sáng tạo của văn hoá đồng thời văn hoá là phương thức sinh tồn, là môi trường sống của con người. Con người không thể tồn tại và phát triển với tính cách là con người được nếu tách khỏi môi trường văn hoá và thực tế lịch sử phát triển của con người luôn gắn liền với lịch sử phát triển của văn hoá. Tư tưởng đó cho chúng ta thấy rằng tồn tại xã hội bao giờ cũng quyết định ý thức xã hội, yếu tố vật chất quyết định yếu tố tinh thần, theo đúng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin.

Mặt khác, theo quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hoá, thì văn hoá bao gồm hai lĩnh vực cơ bản đó là, văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần. Bên cạnh những sản phẩm tinh thần như: ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật... văn hoá còn bao hàm các sản phẩm vật chất phục vụ cho đời sống con người như các công cụ, các phương tiện đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp...Tuy nhiên, văn hoá vật chất thực ra là vật thể hoá các giá trị tinh thần. Mỗi sản phẩm vật chất đều thể hiện sự tài hoa, lý tưởng thẩm mỹ của con người, của những chủ thể sáng tạo ra chúng.

Như vậy, có thể nói Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm hết sức khoa học và dễ hiểu về văn hoá. Quan niệm đó không những vạch ra những dấu hiệu đặc trưng của văn hoá mà còn bao quát được toàn bộ các hoạt động và các hiện tượng văn hoá trong đời sống con người. Vì vậy, tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn hoá hiện nay vẫn còn nguyên giá trị trong việc nhận thức các hiện tượng văn hoá của đời sống xã hội.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thì tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá vẫn là điểm tựa tinh thần vững chắc, là ánh sáng soi đường cho toàn Đảng, toàn dân ta đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công.

 

Nhận diện thủ đoạn lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam


Trong âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam, vấn đề nhân quyền luôn được các thế lực thù địch coi là một mũi tấn công gây sức ép lớn. Nhưng những gì mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang làm là minh chứng rõ nét nhất, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Có thể nhận diện một số thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động trong việc lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam:

Thứ nhất, lợi dụng sự khác biệt trong quan điểm, nhận thức về vấn đề quyền con người để công kích, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, chế độ XHCN Việt Nam, đả kích vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và thể chế chính trị Việt Nam.

Thứ hai, ra sức xuyên tạc thực trạng dân chủ, nhân quyền ở nước ta, triệt để khai thác các vấn đề nhạy cảm, phức tạp như tham nhũng, khiếu kiện, đình công, phân hóa xã hội, tội phạm, tệ nạn xã hội, tình hình dịch bệnh COVID-19, việc bắt, xử lý các đối tượng chống đối chính trị… để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền.

Thứ ba, lợi dụng tính phổ biến của vấn đề quyền con người, quan hệ quốc tế trong vấn đề quyền con người để tuyệt đối hóa, tuỳ tiện áp đặt các “chuẩn mực” nhân quyền nhân danh “tinh thần thời đại”, “giá trị phổ biến” đối với Việt Nam; đặt ra các “điều kiện”, “tiêu chuẩn” về nhân quyền trong quan hệ ngoại giao, hợp tác kinh tế, thương mại, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục... từ đó gây sức ép, tác động chuyển hóa nội bộ Việt Nam, thúc đẩy Việt Nam cải cách thể chế kinh tế, chính trị, pháp lý theo chuẩn mực, giá trị dân chủ, nhân quyền tư sản phương Tây.

Thứ tư, lợi dụng chiêu bài “thúc đẩy dân chủ”, “bảo vệ quyền con người” để tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần cho các phần tử, tổ chức chống Đảng, Nhà nước Việt Nam ở cả trong và ngoài nước nhằm hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ năm, gắn vấn đề nhân quyền với vấn đề tôn giáo, dân tộc, lợi dụng những thiếu sót, hạn chế trong quá trình bảo đảm quyền con người ở Việt Nam để kích động hoạt động chống nhà nước Việt Nam dưới chiêu bài đòi “tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo”, “quyền tự quyết dân tộc”; gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước với các tầng lớp nhân dân; kích động một bộ phận quần chúng hoạt động chống chính quyền nhân dân như gây rối an ninh, trật tự, bạo loạn…

Nhân quyền là một vấn đề nhạy cảm, phức tạp và thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối. Bởi vậy, hơn lúc nào hết mỗi chúng ta cần phải nhận thức đúng đắn, hiểu đúng, đầy đủ về nó và luôn tỉnh táo, cảnh giác để nhận diện các luận điệu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống Việt Nam của các thế lực, thù địch, phần tử xấu./.

 

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA GIỮ NƯỚC TRONG THANH NIÊN QUÂN ĐỘI HIỆN NAY


Văn hóa nói chung, văn hóa giữ nước nói riêng là một trong những nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Sức mạnh quật cường của dân tộc ta được kết tinh từ những giá trị đặc trưng cơ bản của văn hóa giữ nước đó là: lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, tính nhân văn cao cả và nghệ thuật quân sự độc đáo của dân tộc Việt Nam. Những giá trị đó vừa hiện hữu thông qua thực tiễn bảo vệ tổ quốc của dân tộc, vừa tiềm ẩn bên trong mỗi con người Việt Nam.


Đối với mỗi người dân Việt Nam và thanh niên quân đội, văn hóa giữ nước luôn là thành tố quan trọng trong nhân cách, khi được khơi dậy và phát huy thường xuyên, đúng cách sẽ trực tiếp xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc, qua đó tạo ra động lực tinh thần to lớn thúc đẩy thanh niên quân đội sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu của quân đội.


Trong những năm qua, việc phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội luôn được lãnh đạo, chỉ huy, các tổ chức trong quân đội quan tâm đúng mức, qua đó đã góp phần tạo động lực tinh thần mạnh mẽ cho thanh niên quân đội hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới, những ảnh hưởng tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường và âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa đã và đang tác động không nhỏ đến tâm tư, tình cảm, ý chí, trách nhiệm và chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của thanh niên quân đội hiện nay. Tình hình đó đặt ra yêu cầu một cách cơ bản, có hệ thống cả những vấn đề lý luận và thực tiễn để phát huy hơn nữa giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc nâng cao phẩm chất người thanh niên thời đại Hồ Chí Minh và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.


Phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội là quá trình tích cực, tự giác của các chủ thể. Sử dụng tổng thể cách thức, biện pháp theo cơ chế nhất định, làm cho giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc được khơi dậy, nảy nở, lan tỏa, chuyển hóa vào tri thức, tình cảm, ý chí của thanh niên quân đội, trên cơ sở đó gia tăng động lực tinh thần thúc đẩy thanh niên quân đội sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Trong quá trình phát huy giá trị văn hóa giữ nước, các giá trị lịch sử, truyền thống dân tộc được lưu giữ và truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đó là quá trình lưu truyền lâu dài, liên tục gắn liền với quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Sự lưu truyền biện chứng các giá trị này còn là sự thống nhất giữa cái khách quan của quy luật xã hội với cái chủ quan của chủ thể tiếp nhận và chuyển giao văn hóa dân tộc. Các giá trị văn hóa giữ nước chỉ được phát huy khi chủ quan hóa cao cái khách quan của quá trình này. Tức là các chủ thể tích cực, chủ động nhận thức đúng đắn và tác động đúng quy luật để quá trình lưu truyền này diễn ra mang tính tự giác cao nhất.


Chủ thể phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội là hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, các tổ chức quần chúng, đặc biệt là Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở các đơn vị cơ sở. Trong đó, với tư cách là chủ thể trực tiếp phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc, thanh niên quân đội có vai trò tích cực, năng động, độc lập và sáng tạo trong tiếp nhận, xử lý những tác động của quá trình phát huy, trực tiếp tạo nên chất lượng, hiệu quả của quá trình đó; biến quá trình phát huy thành quá trình tự phát huy.


Mục tiêu cao nhất, xuyên suốt của quá trình phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội là không ngừng lan tỏa giá trị, gia tăng vai trò giá trị văn hóa giữ nước vào ý thức bảo vệ tổ quốc, từ đó làm gia tăng động lực tinh thần to lớn và mạnh mẽ trong thanh niên quân đội, thúc đẩy họ vượt qua mọi khó khăn, trở ngại, sẵn sàng nhận và kiên quyết hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đây là quá trình kép, thống nhất biện chứng của quá trình giữ gìn, kế thừa và phát triển các giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc và quá trình phát huy vai trò, tác dụng của các giá trị đó vào ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội. Xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội phải sử dụng tổng hợp nhiều tiền đề mà trong đó giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc là một yếu tố hết sức quan trọng.


Với mục đích trên, nội dung phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội là toàn bộ những nhận thức và hành động hay từng việc làm cụ thể của chủ thể trong suốt quá trình phát huy. Đó là sự nhận thức về giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc, về xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội; là nhận thức và hành động trong khai thác, kế thừa và phát triển những giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc hướng tới đích xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội. Mỗi nội dung của quá trình phát huy này lại bao chứa các nội dung cụ thể, trong đó việc xác định phát huy nội dung gì của giá trị văn hóa giữ nước vào nội dung nào trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội, có ý nghĩa quan trọng là cơ sở, tiền đề để tiến hành các nội dung khác của quá trình phát huy.


Nội dung giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc cần phát huy chính là những đặc trưng giá trị về lòng yêu nước nồng nàn; ý thức cộng đồng, cố kết dân tộc; nghệ thuật đánh giặc độc đáo; tính nhân văn cao cả. Nhận thức đầy đủ sâu sắc các giá trị này để từ đó hướng vào khai thác, kế thừa và giáo dục đầy đủ cho các chủ thể. Chỉ có trên cơ sở nhận thức đầy đủ, nắm chắc bản chất của các giá trị này mới phát huy có hiệu quả vai trò của nó vào trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội, từ đó làm chuyển biến sâu sắc về tri thức, tình cảm và ý chí, tạo thành động lực tinh thần to lớn, thúc đẩy thanh niên quân đội sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ.


Hiệu quả quá trình phát huy giá trị văn hóa giữ nước của thanh niên quân đội không chỉ phụ thuộc vào việc xác định rõ mục tiêu, yêu cầu, lựa chọn nội dung chính xác, cụ thể mà còn phụ thuộc một phần rất quan trọng vào việc sử dụng các phương thức phát huy giá trị văn hóa giữ nước. Đây là quá trình tích cực, tự giác bao hàm cơ chế vận hành và con đường chuyển hóa rất sâu sắc. Lôgic của quá trình đi từ khai thác, chuyển hóa các giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc vào nhận thức của các chủ thể, từ nhận thức chuyển hóa thành thái độ, động cơ, ý chí đến hành vi trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội. Để thực hiện được mục đích và chuyển tải nội dung của quá trình phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội, các chủ thể cần thường xuyên đổi mới và đa dạng hóa các phương thức phát huy. Theo đó, quá trình phát huy có thể được thực hiện thông qua hoạt động giáo dục, bồi dưỡng các giá trị văn hóa giữ nước, trong đó thường xuyên và chủ yếu nhất là thông qua công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho thanh niên quân đội, lồng ghép với nội dung các bài giảng chính trị, các chương trình bồi dưỡng chính thức, các buổi sinh hoạt ngày đảng, các buổi nói chuyện thời sự, tham quan các di tích lịch sử, văn hóa, các cuộc thi tìm hiểu truyền thống… Bên cạnh đó, phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội có thể được thực hiện thông qua thực tiễn, các nhiệm vụ của họ ở đơn vị cơ sở và sự tham gia vào các phong trào hành động cách mạng chung của tuổi trẻ đất nước, hay thông qua phương thức tạo động lực từ việc giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích của thanh niên quân đội... Tuy nhiên, phải tùy tình hình cụ thể mà chủ thể phát huy sử dụng hoặc kết hợp các phương thức phát huy cho phù hợp.


Hiện nay, trước những biến động nhanh chóng, tình hình phức tạp của thế giới, sự phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, xây dựng quân đội trong tình hình mới đã và đang đặt ra cho quá trình phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội hiện nay những yêu cầu mới. Bên cạnh phải xác định đúng và phân tích một cách sâu sắc những vấn đề có tính quy luật của quá trình phát huy giá trị văn hóa giữ nước của thanh niên quân đội hiện nay cần phải đánh giá một cách khách quan, khoa khọc thực trạng quá trình phát huy, dự báo và nhận diện đúng những nhân tố tác động, nhất là những nhân tố mới xuất hiện để đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quá trình phát huy này. Theo đó, để phát huy có hiệu quả các giá trị văn hóa giữ nước nhằm xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội hiện nay, khẳng định giá trị của văn hóa “thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc tổ quốc”, các chủ thể cần thường xuyên tiến hành đồng thời, thống nhất và chặt chẽ một số yêu cầu, biện pháp cơ bản đó là: nâng cao chất lượng kế thừa, phát triển và giáo dục, bồi dưỡng giá trị văn hóa giữ nước của thanh niên quân đội; thường xuyên quan tâm giải quyết tốt các lợi ích cơ bản, tạo động lực phát huy giá trị văn hóa giữ nước của thanh niên quân đội; kết hợp giữa tôn vinh giá trị văn hóa giữ nước và tích cực hóa vai trò của các chủ thể nhằm chuyển hóa giá trị văn hóa giữ nước của thanh niên quân đội hiện nay.


Các giải pháp đó là một chỉnh thể thống nhất, vừa có tính độc lập tương đối, vừa có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Do vậy, trong quá trình phát huy không nên coi nhẹ hoặc tuyệt đối hóa một giải pháp nào; cần tiến hành đồng bộ và phối hợp chặt chẽ các giải pháp, tùy theo tình hình, nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị trong mỗi giai đoạn nhất định, nhất là căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi, thành phần xuất thân, vùng miền của thanh niên quân đội để vận dụng khoa học và hiệu quả các giải pháp. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp đó có ý nghĩa quyết định để nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội hiện nay./. 

Biến động chính trị - xã hội tại Bắc Phi - Trung Đông - Sau 10 năm nhìn lại (tiếp )

 

    Với trật tự khu vực, khủng hoảng nổ ra khiến chính quyền nhiều nước cũng như chế độ quân chủ và cộng hòa chuyên chế bị lật đổ, tập hợp lực lượng trong khu vực, vốn đã có nhiều chia rẽ và hạn chế nay càng trở nên khó khăn hơn; có thể dẫn đến quá trình tái thiết, hình thành nên những nhà nước mới, gây xáo trộn không nhỏ trên bản đồ chính trị khu vực; nhiều khả năng tiến trình hòa bình ở Bắc Phi - Trung Đông sẽ diễn biến ngày càng khó khăn hơn bởi quốc gia đóng vai trò quan trọng trong tiến trình này là Ai Cập đã bị sụp đổ sau cuộc khủng hoảng./.

Nh.MLN

Biến động chính trị - xã hội tại Bắc Phi - Trung Đông - sau 10 năm nhìn lại (tiêp theo)

 

Cuộc khủng hoảng này đã tác động đến tình hình thế giới và khu vực.

 Tác động về kinh tế: đẩy giá dầu thế giới tăng cao, ảnh hưởng đến thị trường năng lượng, tài chính và thương mại, toàn cầu, làm chậm quá trình phục hồi nền kinh tế thế giới sau cuộc khủng hoảng; khiến lực lượng lao động nước ngoài ở đây phải trở về nước, gây ra những thiệt hại không nhỏ về kinh tế; 

Làn sóng người tị nạn từ các quốc gia chịu khủng hoảng sẽ tạo thêm gánh nặng kinh tế - xã hội cho nhiều nước xung quanh, đặc biệt là châu Âu. 

Tác động đến quan hệ quốc tế: làm  thay đổi chính sách của từng nước và trong các cặp quan hệ; gia tăng cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước xung quanh tình hình Libya, Syria...; các nước đã có những điều chỉnh nhất định trong chính sách khu vực, mà đặc biệt là Mỹ và châu Âu./.

Nh.MLN

Biến động chính trị - xã hội tại Bắc Phi - Trung Đông - sau 10 năm nhìn lại

 

Nguyên nhân của biến động chính trị - xã hội ở Bắc Phi - Trung Đông: khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới năm 2008 và cuộc khủng hoảng lương thực năm 2010 dẫn tới thất nghiệp, nghèo đói, mâu thuẫn xã hội. Chế độ chính trị độc tài, tập quyền, thiếu dân chủ, vi phạm nhân quyền, mất dân chủ, quyền lợi, cuộc sống của người dân hầu như không được quan tâm. Tình trạng tham nhũng gây nên bất bình đẳng về thu nhập, phân hóa giàu. Xu thế dân chủ hóa, nhà nước hạn chế trong kiểm soát gia tăng kết nối từ mạng xã hội. Sự can thiệp từ bên ngoài, đặc biệt là Mỹ và các nước châu Âu./.

Nh.MLN

Thời kỳ đầu chiến tranh và những vấn đề đặt ra đối với quốc phòng

 

Từ thực tế thời kỳ đầu chiến tranh đẫ đặt  ra những vấn đề đối với quốc phòng Việt Nam từ lý luận và thực tiễn thời kỳ đầu chiến tranh. Xuất phát từ tư duy mới về quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân BVTQ  xã hội chủ nghĩa những vấn đề lý luận, thực tiễn của thời kỳ đầu chiến tranh, tác giả đã khẳng phải chuẩn bị cho thời kỳ đầu chiến tranh trên tất cả các lĩnh vực như:

Xây dựng tiềm lực quốc phòng;

Xây dựng thế trận quốc phòng;

Vấn đề xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân;

Xây dựng phương thức vận hành nền quốc phòng toàn dân;

Chuẩn bị tác chiến phòng thủ chiến lược của binh đoàn chủ lực./.

Nh.MLN

Thời kỳ đầu chiến tranh và những vấn đề đặt ra đối với quốc phòng (tiếp theo)

 

Thời kỳ đầu chiến tranh trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược: luôn nắm vứng âm mưu, thủ đoạn và khả năng đánh phá của địch để tìm giải pháp đối phó thích hợp, giành thắng lợi; tổ chức tốt lực lượng phòng không nhân dân; vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, nâng cao vai trò của hệ thống chính trị các cấp, phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân để đánh thắng kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự hơn Việt Nam  gấp nhiều lần./.

Nh.MLN

Thời kỳ đầu chiến tranh và những vấn đề đặt ra đối với quốc phòng (tiếp theo)

 

Thời kỳ đầu chiến tranh trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng. Khẳng định thời kỳ đầu chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng đã hoàn thành được các mục tiêu chiến lược cơ bản, tạo tiền đề để đưa toàn dân vào giai đoạn mới. Đó là kết quả của việc giải quyết tốt các vấn đề: Thường xuyên giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ; Nêu cao cảnh giác cách mạng, phân hóa kẻ thù, kết hợp chống thù trong giặc ngoài; Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nêu cao ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”; Hình thành và phát triển nghệ thuật chiến tranh nhân dân, vừa chiến đấu vừa bảo toàn và phát triển lực lượng vũ trang; Xác định và vận dụng sáng tạo nghệ thuật mở đầu chiến tranh./.

Nh.MLN