Thứ Tư, 9 tháng 2, 2022

BẢN LĨNH ĐẢNG TIÊN PHONG, DÂN TỘC ANH HÙNG


Hơn 90 năm qua, trong muôn vàn khó khăn, có lúc tưởng chừng không vượt qua nổi, Đảng ta kiên định, linh hoạt, thích ứng, bản lĩnh và sáng tạo lãnh đạo toàn dân vượt qua nhiều thách thức chưa có tiền lệ trong lịch sử. Đảng tiên phong, dân tộc anh hùng là nền tảng đưa đất nước tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác...


Một mốc son chói lọi


Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh đất nước trải qua gần một trăm năm dưới chế độ thực dân và hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến là chưa có tiền lệ trong lịch sử, trở thành một mốc son chói lọi. Đảng ta có đặc điểm rất Việt Nam, vì nhân dân đã sinh thành ra Đảng. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân, Đảng ra đời có thêm yếu tố phong trào yêu nước. Đó là một nguồn lực mạnh mẽ không chỉ trong thời khắc Đảng ra đời mà cho đến tận hôm nay. Chủ nghĩa yêu nước là mạch nguồn của dân tộc Việt Nam, được hình thành, vun bồi qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo ra nguồn cảm hứng vô tận, là sức mạnh nội sinh. Mỗi khi đất nước gặp thiên tai, dịch bệnh hay địch họa thì tinh thần ấy lại sôi nổi, kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nhấn chìm lũ bán nước, cướp nước, vượt qua và chiến thắng những gì chưa có tiền lệ.


Lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp lên tới đỉnh cao trong những tháng ngày Xô viết Nghệ Tĩnh ngay sau khi ra đời, Đảng ta mở ra truyền thống đấu tranh anh dũng, tiên phong vì lợi quyền của nhân dân. Chúng ta có quyền tự hào vì chưa đầy một năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã nắm chính quyền ở địa phương và bắt đầu thi hành những chính sách dân chủ. Nhưng ngay sau đó, thực dân Pháp khủng bố dữ dội. Các tổ chức của Đảng và quần chúng tan rã hầu hết. Phong trào cách mạng sụt xuống, có lúc tưởng như không vượt qua được. Biến cái rủi thành cái may, các chiến sĩ cộng sản đã biến nhà tù thành trường học. Chính sách khủng bố đã không ngăn trở được bước tiến của cách mạng mà trở thành một thứ “lửa thử vàng”. Lòng trung thành và máu đào của những người cộng sản đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ và đồng bào đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng cùng với sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân, với tinh thần “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho kỳ được độc lập”, chúng ta đi tới Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công và nắm chính quyền toàn quốc. Niềm tự hào to lớn đó không chỉ dành cho nhân dân Việt Nam mà còn dành cho các dân tộc bị áp bức.


Sau Cách mạng Tháng Tám, nước ta ở trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. So với địch đủ hải, lục, không quân với vũ khí hiện đại, ta thiếu mọi thứ nhưng thừa lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và sự anh dũng hy sinh của toàn quân và toàn dân dưới sự lãnh đạo của một Đảng kiên quyết chủ trương kháng chiến, vừa lãnh đạo đánh giặc vừa bồi dưỡng sức dân. Sau 9 năm kháng chiến với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, chúng ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ. Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là thắng lợi của nhân dân Việt Nam, của lực lượng hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên thế giới.


Từ ngày hòa bình được lập lại, đất nước bị tạm chia làm hai miền. Đế quốc Mỹ và tay sai thống trị ở miền Nam, khủng bố cực kỳ dã man những người yêu nước, tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ, vì có một Đảng lãnh đạo luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội. Với nguồn cảm hứng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”, chúng ta đã giành chiến thắng, một thắng lợi mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.


Đổi mới mang đậm dấu ấn của trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam


Gần nửa thế kỷ trôi qua từ khi cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là qua hơn 35 năm đổi mới, chúng ta tiếp tục hứng chịu muôn vàn khó khăn, thử thách. Khôi phục kinh tế sau chiến tranh; đối mặt với bao vây cấm vận của Mỹ, chiến tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ. Các thế lực thù địch và cơ hội, bằng mọi âm mưu và thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt chống phá quyết liệt cách mạng nước ta.


Với bài học độc lập, tự chủ, sáng tạo, biết thích ứng linh hoạt, Đảng ta xác định rõ chủ nghĩa xã hội đứng trước nhiều khó khăn thử thách, lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội. Trong cơn chấn động chính trị lớn nhất thế kỷ XX khi thành trì của chủ nghĩa xã hội là Liên Xô sụp đổ, Đảng ta công khai tuyên bố với nhân dân và nhân loại tiến bộ về Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời khẳng định Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta xác định đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc ta, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.


Với đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự gặp gỡ giữa ý Đảng - lòng dân; lòng dân - ý Đảng, cùng với ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, qua hơn 90 năm Đảng lãnh đạo, trong đó có hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy, kinh tế, văn hóa - xã hội và con người đều đổi mới. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ, hiện nay Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 5,8% năm 2016 xuống dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Từ một nước thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng đầu thế giới. Người nghèo, trẻ em và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tuổi thọ trung bình của người dân năm 2020 là 73 tuổi. Hiện có khoảng 70% dân số sử dụng internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ thông tin cao nhất thế giới. Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ và thuộc nhóm có chỉ số phát triển con người (HDI) cao của thế giới so với các nước có cùng trình độ phát triển. Trong khi chúng ta cơ bản khống chế được đại dịch Covid-19, vẫn giữ vững ổn định chính trị và từng bước phục hồi kinh tế.


Hai từ “ĐỔI MỚI” mang đậm dấu ấn trí tuệ, bản lĩnh và phong cách Việt Nam, là “Made in Việt Nam”. Đổi mới với sự kiên định mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đem lại một sinh khí mới với kết quả cuối cùng là tạo ra một xã hội xã hội chủ nghĩa theo đặc điểm Việt Nam, mang đậm dấu ấn của thiên tài và cốt cách, bản lĩnh và khí phách, thông minh và sáng tạo, linh hoạt và nhạy bén của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta và của dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng.


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu quyết tâm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng), nước ta trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Dưới sự lãnh đạo của một Đảng trí tuệ, bản lĩnh, nghị lực, quyết tâm, chân chính cách mạng, đạo đức, văn minh và sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân anh hùng, chúng ta có cơ sở để tin tưởng chắc chắn rằng đất nước ta nhất định sẽ lập nên kỳ tích phát triển mới, cùng tiến bước và sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc ta.

CẦN MỞ ĐỢT SINH HOẠT CHÍNH TRỊ SÂU RỘNG!

         Để góp phần quán triệt, triển khai Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (QUTƯ) về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, từ hôm nay, Báo Quân đội nhân dân mở Chuyên mục 'Nuôi dưỡng văn hóa Bộ đội Cụ Hồ' vào các ngày thứ 2, 4, 6 hằng tuần.

Các bài viết tập trung khẳng định nỗ lực, quyết tâm chính trị của toàn quân đưa nghị quyết của QUTƯ vào cuộc sống; đồng thời đề xuất, kiến nghị những vấn đề thực tiễn nảy sinh liên quan.

Cần mở đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng

Sự ra đời của Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của QUTƯ về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (sau đây gọi là Nghị quyết 847) được cán bộ, chiến sĩ toàn quân đồng thuận, ủng hộ rất cao; nhất là tính cấp thiết và những quan điểm, chủ trương đúng đắn, sáng tạo của nghị quyết.
Tuy vậy, nghị quyết dù hay đến mấy, thiết thực bao nhiêu cũng sẽ chỉ là những văn bản vô dụng nếu công tác quán triệt, triển khai thiếu quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả. Cũng vì đó mà ngay trong nội dung của nghị quyết và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức học tập, nghiên cứu, QUTƯ chỉ rõ yêu cầu: Toàn quân phải mở đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng để quán triệt, triển khai Nghị quyết 847 vào cuộc sống.
1. Mở các đợt sinh hoạt chính trị trong toàn quân là công việc quen thuộc, từng diễn ra khá phổ biến, đạt hiệu quả thiết thực ở nhiều giai đoạn lịch sử của quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Đảng bộ Quân đội và Quân đội ta. Đây là phần việc được tổ chức để toàn quân thống nhất ý chí và hành động, tạo sự đồng thuận, nỗ lực cao nhất trước những nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng. Và lần này việc “phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” kết hợp với “chống chủ nghĩa cá nhân” đang đặt ra với những yêu cầu cấp thiết, là một nhiệm vụ chính trị hàng đầu của Quân đội ta trong tình hình mới.
Việc mở đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng cần được hiểu đầy đủ trên nhiều phương diện, nhưng tựu chung lại chính là việc các cấp ủy, chỉ huy, tổ chức quần chúng phải thống nhất nhận thức, xem đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu của năm 2022 và các năm tiếp theo. Nói cách khác, sinh hoạt chính trị thực chất là một cao trào tổ chức học tập và tự học tập, tổ chức hành động và tự hành động cách mạng với yêu cầu nghiêm túc, chặt chẽ, quyết liệt theo mục tiêu, quan điểm, nội dung, giải pháp của Nghị quyết 847.
Ở đó, các cấp ủy, người đứng đầu là chủ thể khởi xướng, lãnh đạo, dẫn dắt và chịu trách nhiệm trong việc làm cho bộ đội không chỉ nắm được tinh thần cơ bản, mà phải hiểu sâu kỹ các vấn đề cụ thể được nghị quyết xác định, như: 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; 5 quan điểm; 6 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu...
Phải trên cơ sở nhận thức đúng thì mới hành động đúng; phải thống nhất về mặt tư duy thì mới có quyết tâm chính trị cao, thái độ cách mạng kiên quyết, triệt để. Theo nghĩa đó, việc tổ chức đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng là một trong những việc cần làm ngay bằng tinh thần trách nhiệm cao nhất của mọi tổ chức, cá nhân trong quân đội.
Quán triệt sâu sắc tinh thần đó, Đảng bộ Binh chủng Đặc công chủ trương phân loại rõ các đối tượng, lực lượng, đặc thù cơ quan, đơn vị để linh hoạt, sáng tạo trong tổ chức học tập, quán triệt; kết hợp giữa giáo dục chung với giáo dục riêng; tổ chức học tập kết hợp với bồi dưỡng đối tượng đặc thù; giữa định hướng với cung cấp tài liệu tự nghiên cứu... Tính đến nay, hệ thống văn bản tài liệu nghiên cứu về nghị quyết đã được cấp phát đến 100% chi bộ.
Trước thềm Xuân Nhâm dần 2022, các cấp ủy, chỉ huy đã xác định bổ sung nhiều nội dung của Nghị quyết 847 vào đề án tuyên truyền trong nội bộ đơn vị và cấp ủy, chính quyền, nhân dân trên địa bàn đóng quân. Không chỉ tập trung quán triệt cho đối tượng là đảng viên, cán bộ, sĩ quan, mà các cấp còn linh hoạt kết hợp phổ biến, tuyên truyền về nghị quyết đến toàn thể quân nhân, các đối tượng quần chúng trong cơ quan, đơn vị.
Đặc biệt, các chi bộ, tổ chức đảng đã bám sát định hướng, chú trọng chọn lựa đúng nội dung trọng tâm, trọng điểm (có tính chất ưu tiên) để dồn sức lãnh đạo trong từng thời điểm thích hợp. Chú trọng làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu sâu, nắm chắc mối quan hệ của việc “phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” và nhiệm vụ “chống chủ nghĩa cá nhân”.
Đây là hai thành tố có mối quan hệ biện chứng, trong đó “chống chủ nghĩa cá nhân” là giải pháp có tính thời sự giúp giữ vững, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới và ngược lại phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là chủ trương xuyên suốt; cũng là giải pháp lớn nhằm sớm nhận diện, phát hiện, đẩy lùi triệt để các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.
Đảng ủy và cấp ủy các cấp xác định: Việc quán triệt nghị quyết không thể làm một lần là xong, đạt được kết quả ngay, mà phải triển khai phần việc này một cách thường xuyên liên tục, với cách làm, phương thức, hình thức sáng tạo, sát với đặc thù hoạt động của các quân, bình chủng, ngành và thực tế cơ sở.
Trong quá trình đó, công tác kiểm tra, giám sát việc học tập, quán triệt nghị quyết phải đồng thời được triển khai nghiêm túc, chặt chẽ, đúng nguyên tắc. Nơi nào kết quả học tập chưa bảo đảm, thiếu thực chất; việc tổ chức học tập chưa đúng với chỉ đạo, hay có các biểu hiện hình thức, đối phó... thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị đó phải chịu trách nhiệm cao nhất.
2. Cùng với tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết, vấn đề tiếp theo là phải đồng thời tổ chức ngay các hoạt động thực tiễn cách mạng sôi động, thực chất. Theo đó, hàng loạt các nội dung, vấn đề được nghị quyết đề cập phải sớm được các cấp ủy, chỉ huy cụ thể hóa vào nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch, chương trình hành động.
Ở mọi cấp phải khởi xướng nên trào lưu, phong trào, mô hình hoạt động cụ thể trong phát huy truyền thống, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và chống chủ nghĩa cá nhân. Đặc biệt, phải nhất quán kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ, cấp bách thường xuyên.
Theo nghĩa đó, các cấp nhất thiết phải tạo được hai trào lưu sinh hoạt chính trị bao trùm, xuyên suốt: Vừa phát hiện, bảo vệ, nhân rộng cái hay, cái đẹp; vừa đấu tranh bài trừ, đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực, cả những biểu hiện nhận thức, tư tưởng lệch lạc, hành vi sai trái trong cán bộ, chiến sĩ.
Với tinh thần chủ động, Đảng ủy, chỉ huy các cấp đề cao trách nhiệm bàn thảo kỹ lưỡng nhiều nội dung định hướng, dẫn dắt các trào lưu, phong trào hành động cách mạng của tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng ở tất cả các cấp, lĩnh vực. Việc triển khai theo ngành dọc là tất yếu, nhưng  Đảng ủy, chỉ huy các cấp cũng chủ trương khuyến khích sự sáng tạo của cơ sở, nhất là ở các ngành, lĩnh vực đặc thù.
Hay nói cách khác, việc triển khai nghị quyết được đặt ra với những yêu cầu và quyết tâm rất cao, nhưng không cứng nhắc mà “mở ra” sự chủ động, linh hoạt của từng tổ chức, cá nhân trong lựa chọn đúng, trúng các vấn đề cần ưu tiên tập trung sức lãnh đạo việc vận dụng, sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống.
Đặc biệt, đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng lần này được xác định là dịp kích hoạt, “tái khởi động” tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình một cách mạnh mẽ trong hệ thống tổ chức đảng và đoàn thể các cấp; kết hợp với đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và nhất là âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”...
Để tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình đạt hiệu quả, Đảng ủy các cấp trong toàn Quân chủ trương phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt, gắn chặt với các giải pháp đề cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.
Đảng ủy, chỉ huy các cấp yêu cầu lãnh đạo, chỉ huy cấp dưới phải thường xuyên rà soát, bổ sung và thực hiện nghiêm quy chế làm việc, quy chế lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng trên từng mặt công tác, nhất là các mặt công tác trọng yếu dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, không để sơ hở, dẫn đến sai phạm, vi phạm pháp luật, kỷ luật.
Tập trung lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, có phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm; có kiến thức, năng lực toàn diện; thực sự mẫu mực về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; không tham vọng quyền lực, tham nhũng, lãng phí, cơ hội, cửa quyền, tư duy nhiệm kỳ; luôn đề cao trách nhiệm, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ,
dám nói, dám làm, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung.
Với yêu cầu rất cao, trong đợt sinh hoạt chính trị lần này, Đảng ủy, chỉ huy các cấp đặt ra mục tiêu phải nêu cao tinh thần đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ở mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Bằng mọi giá, tập thể chi bộ, tổ chức hành chính từ cấp thấp nhất (tiểu đội, trung đội, đại đội....) phải là môi trường sàng lọc mọi biểu hiện tiêu cực từ lúc manh nha, thông qua thực tiễn sinh hoạt, công tác, huấn luyện, SSCĐ...
Phải dồn sức lãnh đạo xây dựng tổ chức đảng mạnh từ gốc, từ các tổ chức tế bào nhỏ nhất (chi bộ, tổ đảng); nuôi dưỡng và kích hoạt tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình từ những việc nhỏ nhất, trên cơ sở phòng ngừa là chính và xuyên suốt, đặt lên cao nhất mục tiêu vì sự tiến bộ của bộ đội và tổ chức.
Để đợt sinh hoạt chính trị đạt hiệu quả toàn diện, thực chất, các cấp ủy, chỉ huy cần đặc biệt chú ý đến tính chất “sâu” và “rộng” của nó. “Rộng” là cần thiết, có nghĩa phải đồng thời quán triệt, triển khai ở tất cả các cấp, các loại hình cơ quan, đơn vị... Thế nhưng cần chú ý nhiều hơn đến “chiều sâu” của đợt sinh hoạt chính trị lần này.
“Sâu” có nghĩa là làm kỹ, làm chất lượng ngay từ đầu, làm đến đâu chắc chắn đến đó; không màu mè, hình thức, thiếu thực chất. “Sâu” cũng chính là thể hiện tính chuyên nghiệp, chuyên sâu, với cách làm bài bản, có kế hoạch với lộ trình và bước đi phù hợp, không nóng vội nhưng cần khẩn trương triển khai bằng thái độ trách nhiệm cao nhất, hướng đến những mục tiêu, yêu cầu không ngừng được nâng cao./.

Theo Báo QĐND (Đã chỉnh sửa một số nội dung).
Công tác dân vận là một trong ba chức năng của Quân Đội ta. Trong ảnh: Quân Đội giúp nhân dân khắc phục hậu quả bão lụt.
Yêu nước ST.

CHỈ HUY CAO CẤP QUÂN ĐỘI NGA GIÁM SÁT TẬP TRẬN Ở BELARUS!

     Các chỉ huy quân đội Nga có mặt tại Belarus chuẩn bị tham gia cuộc tập trận chung - động thái bị phương Tây cáo buộc là bình phong cho âm mưu phát động chiến tranh với Ukraine.
Washington Post đưa tin Tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Nga Valery Gerasimov đã có mặt tại Belarus trong ngày 9/2, trước thềm cuộc tập trận chung giữa Nga và Belarus dự kiến khởi động từ 10/2.
Người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov cho biết cuộc tập trận giữa Nga và Belarus được tổ chức nhằm "đối phó những thách thức an ninh chưa từng có tiền lệ".
"Nga và Belarus đang đối mặt những đe dọa chưa từng có. Điều không may là bản chất và có lẽ mục tiêu của những đe dọa này nguy hiểm hơn trước", ông Peskov cho biết.
Trước thềm cuộc tập trận với Belarus, Moscow đã tiến hành hàng loạt hoạt động tập trận bắn đạn thật trong lãnh thổ Nga, đồng thời triển khai thêm tàu chiến tới Biển Đen.
Phát biểu ngày 9/2, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nga Sergei Ryabkov cho biết Moscow vẫn đang cân nhắc phản ứng sau khi phương Tây từ chối đáp ứng các yêu sách an ninh của Nga.
Ông Ryabkov nói phản ứng của Nga phụ thuộc vào thiện chí của phương Tây trong đàm phán các yêu sách của Moscow.
Trong khi đó, Ukraine cũng tuyên bố sẽ tổ chức tập trận bắn đạn thật kéo dài 10 ngày với thiết bị bay không người lái và tên lửa chống tăng, bắt đầu từ 10/2.
Phương Tây cáo buộc Điện Kremlin đang chuẩn bị kế hoạch xâm lược Ukraine, khi triển khai hơn 100.000 binh lính dọc biên giới hai nước, và tổ chức tập trận chung với Belarus - quốc gia tiếp giáp phía bắc Ukraine.
Moscow phủ nhận mọi cáo buộc xâm lược, yêu cầu khối quân sự NATO không kết nạp Ukraine làm thành viên, cũng như không mở rộng liên minh về phía đông - những điều mà Nga cho là đe dọa đến an ninh quốc gia./.
Ảnh: Tập trận chung giữa Nga và Belarus sẽ bắt đầu từ 10/2.
Yêu nước ST.

NHẬN DIỆN TÌNH HUỐNG BẤT THƯỜNG

Trong lịch sử phát triển của mình, con người đã và đang phải trải qua nhiều sự kiện, biến cổ bất thường. Những biến cố này để lại nhiều hậu quả nặng nề và phức tạp mà xã hội phải gánh chịu. Ở nước ta, các tình huống bất thường nảy sinh do tự nhiên như: lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, sự cố môi trường... xảy ra trong thời gian qua đã gây thiệt hại rất lớn. Bên cạnh đó, những tình huống bất thường nảy sinh do tác động của các yếu tố xã hội cũng đang có những tác động tiêu cực không nhỏ đến đời sống mọi mặt của nhân dân.[1] Bất thường là những biến cố không hề mong muốn, trong đó chứa đựng những yếu tố ngoài quy luật thông thường của đời sống tự nhiên và xã hội. Những biến cố đó thường để lại nhiều hậu quả, nhiều hệ lụy lâu dài mà trước đó con người không hề nghĩ tới.[2]

Có thể hiểu tình huống bất thường là một thuật ngữ chỉ một hiện tượng, một sự kiện, sự việc diễn ra trong đời sống xã hội có nguyên nhân từ tự nhiên khách quan hoặc xuất phát từ đời sống xã hội hoặc chủ quan do con người tạo ra (như các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, trật tự xã hội), mang đến những hậu quả xã hội ở mức độ khác nhau. Bất thường gắn liền danh từ tình huống để chỉ tính chất, đặc điểm xuất hiện và diễn biến của chúng. Tính chất bất thường ngoài sự nhận thức, sự chủ động ứng phó do diễn biến hay xuất hiện đột ngột, ngoài quy luật bình thường”, nhưng nó vẫn nằm trong dự báo, tính toán trên cơ sở quy luật khách quan.

Tính chất không lường trước của thiệt hại là yếu tố bất thường, của các tình huống cụ thể. Nó có thể không trở thành bất thường  nếu có sự tái diễn, vì con người đã cẩn trọng, cảnh giác ứng phó hoặc rút ra bài học. Tình huống bất thường có thể diễn ra ở mức độ tác động giống nhau, nhưng khác nhau ở sự tiếp cận của con người. Nếu tiếp cận thụ động (không đủ khả năng nắm bắt) thì trở thành bất thường. Chúng làm cho hoạt động quản lý phát triển xã hội không lường trước được, nằm ngoài dự kiến, vượt quá sự chuẩn bị đối phó, gây thiệt hại trầm trọng cho con người, để lại di hại không dễ khắc phục ngay được. Có loại tình huống bất thưởng không phải do tốc độ của diễn biến (đột ngột, tức thời), mà là sự mất niềm tin nghiêm trọng dưới con mắt của người dân và chế độ như sự phải sinh lợi ích nhóm trong xã hội, tình trạng tham nhũng thực sự đe dọa cơ chế và thể chế... Tính bất thường ở đây được nhận thức là mặt trái của xã hội mang hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Tình huống bất thường được xác định theo các đặc điểm như sau:

Thứ nhất, những sự kiện có thực, đã diễn ra. Chính những diễn biến đã diễn ra, tác động, ảnh hưởng, mang tới hậu quả xã hội ở một nơi, một thời điểm nhất định làm cơ sở nghiên cứu phân tích, tìm ra các yếu tố mang tính quy luật hoặc ngẫu nhiên trong nhận thức khoa học và lý thuyết nhất định về chúng.

Thứ hai, mang yếu tố khách quan hoặc chủ quan. Yếu tố khách quan được phân ra bởi các tình huống diễn ra từ sự vận động của các yếu tố trong tự nhiên mang tính quy luật tương đối ổn định, khách ngoài ý muốn chủ quan của con người (cá nhân, cộng đồng hay tổ chức). Yếu tố chủ quan thuộc về những tình huống gắn liền với nhận thức của con người.

Thứ ba, tính chất tác động, ảnh hưởng của các tình huống bất thường tới sự biến đổi tiêu cực, tới điều kiện sinh hoạt có thể từ những nguyên nhân tự nhiên khách quan hoặc xã hội, mức độ gây ra hậu quả và khả năng khắc phục.

Những tình huống bất thường có thể là các hiện tượng xã hội, có các nguyên nhân khác nhau do con người, như: chiến tranh gây ra sự khủng hoảng kinh tế, suy kiệt tiềm năng phát triển, làm chết chóc, gây đau thương về tổn thất con người; từ nguyên nhân suy thoái kinh tế dẫn đến các chính sách cực đoan; do tai nạn giao thông, hòa hoạn; sự cố ô nhiễm môi trường, ngộ độc thực phẩm, phá sản doanh nghiệp, vỡ hụi... Các tình huống bất thường có nguyên nhân từ tự nhiên, như: biến đổi khí hậu, thời tiết, sụt lún địa chất, hạn hán, núi lửa, sóng thần, ngập mặn, lũ lụt, dịch bệnh... Các nguyên nhân này có thể nằm ngoài sự tác động của con người nhưng cũng có thể do chính hoạt động của con người tạo ra. Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, khi xảy ra khủng hoảng tài chính, người dân thường đổ xô rút tiền hàng loạt, bán tháo cổ phiếu, gây sụp đổ cả hệ thống ngân hàng hoặc rung động thị trường chứng khoán. Thảm họa môi trường không chỉ đe dọa đến ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất mà cả điều kiện sinh kế lâu dài của cư dân. Khủng hoảng tài chính và thảm họa môi trường bao giờ cũng gắn với hiệu ứng đám đông, gây nên các hệ lụy xã hội nặng nề, nếu không có biện pháp xử lý sẽ gây nên các đảo lộn xã hội.[3]

Ngày nay, để chủ động ứng phó với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và kịp thời đưa ra giải pháp hữu hiệu,mỗi cá nhân, thể nhân, nhất là những người lãnh đạo cần nhận diện tình huống bất thường và đặc điểm của nó là vấn đề quan trọng và cần thiết.



[1] Xem Nguyễn Mạnh Kháng và các cộng sự: Một số vấn đề lý luận về quản lý xã hội trong những tình huống bất thường, Nxb.Tư pháp, H.2009 .

[2] Nguyễn Văn Thâm. Một số vấn đề về quản lý xã hội đối với tình huống bất thường, Tạp chí Khoa học - Công nghệ Việt Nam, số 6, tr 59, 2014,

 

 

[3] 'Nguyễn Văn Thâm: Một số vấn đề về quản lý xã hội đối với tình huống bất thường, Tạp chí Khoa học - Công nghệ Việt Nam, số 6, tr 59-60, 2014.

 

 

KHÔNG ĐỂ XẢY RA TÌNH TRẠNG ĂN TẾT KÉO DÀI, LƠ LÀ CÔNG VIỆC


Sáng 8-2, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì cuộc họp của Ban Bí thư Trung ương Đảng đánh giá tình hình thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 8/12/2021 của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết Nhâm Dần năm 2022 và Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 31-12-2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm đón Tết Nguyên đán Nhâm Dần vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm.

Kết luận Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hoan nghênh cấp ủy, chính quyền các cấp đã nghiêm túc triển khai Chỉ thị 11-CT/TW của Ban Bí thư và Chỉ thị số 35/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm đón Tết Nguyên đán Nhâm Dần, nhân dân vui Xuân đón Tết, vừa phát triển sản xuất, vừa phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo an toàn, tạo không khí vui tươi, phấn khởi.

Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ đạo ngay sau kỳ nghỉ Tết, các cơ quan, đơn vị tập trung thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhanh chóng đưa các hoạt động trở lại bình thường, đảm bảo hoạt động công vụ diễn ra thông suốt, phục vụ tốt nhu cầu của nhân dân; không để xảy ra tình trạng ăn Tết kéo dài, lơ là công việc, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp.

Các cấp, ngành tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ kịp thời cho người dân, doanh nghiệp theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tổ chức thực hiện hiệu quả Kết luận số 20-KL/TW, ngày 16-10-2021 của Trung ương về kinh tế - xã hội năm 2021-2022, các nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách năm 2022.

Các cấp ủy, chính quyền tập trung triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả chương trình phòng, chống dịch Covid-19 (năm 2022-2023) theo Kết luận số 25-KL/TW, ngày 30-12-2021 của Bộ Chính trị; trọng tâm là tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11-10-2021 của Chính phủ “Quy định tạm thời thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”; chuẩn bị các điều kiện cần thiết, phương án cụ thể để tổ chức cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học, THCS, THPT, học sinh, sinh viên trở lại trường học, bảo đảm an toàn phòng, chống dịch Covid-19; tăng cường công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; đẩy mạnh công tác phòng, chống tội phạm, nhất là tội phạm ma túy, đánh bạc và các tệ nạn xã hội khác.

Về nhiệm vụ sắp tới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý phải tiếp tục dự báo tình hình, nắm chắc các khả năng tình huống có thể xảy ra để có biện pháp đối phó, không chủ quan. Sau khi ăn Tết xong, tiếp tục triển khai chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 11 của Ban Bí thư và Chỉ thị số 35/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, phòng, chống không để dịch tái phát; tổ chức cho học sinh đến trường phải tuyệt đối an toàn. Các nhiệm vụ trọng tâm đã nêu ra phải triển khai thực hiện. Từng cơ quan, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, phải lập kế hoạch cụ thể của năm 2022 một cách bài bản, có chương trình, lộ trình, phân công, kiểm tra và yêu cầu thời hạn.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ phải phát huy vai trò của các cơ quan tham mưu, nắm được việc, tổ chức phối hợp chặt chẽ; đồng thời cần quan tâm đến công tác mặt trận, tư tưởng, văn hóa, báo chí; tăng cường đi cơ sở phải có kết quả thiết thực, giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

THANH CAO HỒ CHÍ MINH


Phong cách sống thanh cao của Hồ Chí Minh là một nét đẹp riêng biệt bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của dân tộc, từ quê hương, gia đình Hồ Chí Minh và chính những phẩm chất riêng có của Người. Từ điển tiếng Việt định nghĩa thanh cao là trong sạch và cao thượng. Chúng tôi cho rằng định nghĩa này rất phù hợp để đánh giá về Hồ Chí Minh.

Suốt đời sống vì mọi người

Trong những bài giảng tại lớp huấn luyện ở Quảng Châu, sau được in trong cuốn Đường Kách mệnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhắc nhở mỗi người cách mạng phải giải quyết hài hòa 3 mối quan hệ: Với mình, với người và với công việc. Trong đó, Người xác định tự mình phải: "Cần, kiệm, liêm, chính" và cả cuộc đời Người đã sống như thế.

Đã từng phải làm tới gần 20 nghề, miễn là nghề lương thiện để sống và để hoạt động, đến khi đã trở thành một vị lãnh đạo có quyền lực và uy tín, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên chất người lao động cần cù, có kỷ luật, có trách nhiệm, tiết kiệm, liêm chính. Từ chuyện gói lại đồ ăn thừa để chuyển cho người nghèo khi làm phụ bếp ở nước Anh xa xôi, đến khi làm Chủ tịch nước ăn cơm nắm muối vừng đi công tác, hay dự bữa tiệc chiêu đãi sang trọng của lãnh đạo nước bạn, Người vẫn trân trọng từng người lao động và nâng niu từng sản phẩm do con người làm ra.

Người dành cả cuộc đời để lo giải phóng dân tộc, đấu tranh cho con người thoát khỏi áp bức, bất công. Người tâm sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo-là vì mục đích đó". Là một lãnh tụ mà “lời nói luôn đi đôi với việc làm”, Người là tấm gương sáng về lòng “tận trung với nước, tận hiếu với dân” nhất quán, trước sau như một.

Ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, hướng tới mục tiêu độc lập cho Tổ quốc, cơm no áo ấm cho đồng bào, Người đã vượt qua bao khó khăn, thử thách. Sự truy sát ráo riết và đe dọa của kẻ thù không làm Người nhụt chí. Trong lao tù của kẻ thù, lòng kiên trung bất khuất của Người, quyết tâm giải phóng dân tộc, mong muốn mang lại cơm no áo ấm cho đồng bào càng được bồi đắp thêm. Ngay cả khi bị cấp trên (Quốc tế Cộng sản) và cấp dưới chưa hiểu, Người vẫn trung trinh một niềm tin để đặt sự nghiệp của Đảng cao hơn cuộc sống cá nhân, để luôn sống và làm việc vì Đảng, như nhận xét của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Lê Hồng Phong.

Khi Tổ quốc được độc lập, Người “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào” không muốn “dính líu gì với vòng danh lợi” mà “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”...

Trong suốt những năm “phải gánh chức Chủ tịch vì đồng bào ủy thác”, tình yêu thương Tổ quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện hữu trong từng công việc. Dù ở đâu, làm gì, Người cũng chỉ nhằm một mục đích là “phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc”... để rồi trước lúc đi xa, về với "thế giới người hiền", trong Di chúc thiêng liêng, Người tự vấn lòng mình và thấy rằng: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”...  

Suốt đời yêu thương, quý trọng con người

Trong quá trình tìm đường cứu nước, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn đấu tranh của các dân tộc, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận quan trọng: Trên đời này có hai hạng người: Người thiện và người ác; hai thứ việc: Việc chính và việc tà. Theo đó, tình yêu thương con người không thể chung chung, trừu tượng, mà thiết thực, cụ thể, trước hết dành cho người mất nước, người cùng khổ. Chính vì vậy, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình yêu thương con người là không biên giới. Người lo cho dân tộc mình và lo cho tất cả những kiếp người trên hành tinh còn bị đày đọa, đau khổ, bởi vì: “Lọ là thân thích ruột rà/ Công nông thế giới đều là anh em". 

Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người để lại “muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng” và “gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.

Người ân cần nhắc nhở toàn Đảng phải tiếp tục chăm lo cho con người, trước hết là những người đã hy sinh một phần xương máu cho công cuộc kháng chiến, tiếp đến là cha mẹ, vợ con thương binh, liệt sĩ, là bà con nông dân, là thanh niên, phụ nữ... lo cho hiện tại, lo đào tạo cho tương lai. Ngay cả “với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu... thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”.

Tình yêu thương con người được thể hiện rất cụ thể, từ việc lớn như lo giải phóng cho con người, khuyến khích: "Phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, và phần xấu bị mất dần đi", đến việc chăm lo từng con người cụ thể, không chỉ: Lụa tặng cụ già, sữa tặng bà mẹ sinh ba, mà là từng bát cơm, manh áo, từ chỗ ở, việc làm để an cư lạc nghiệp đến chuyện tương cà mắm muối hằng ngày cho nhân dân.

Người lo cho toàn dân tộc và chăm lo cho từng chiến sĩ bảo vệ, phục vụ quanh Người. Vai trò của nhân dân được vô cùng trân trọng: "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân". Người tôn trọng từ các nhà khoa học, các bậc hiền tài cho tới những người lao công, bởi theo Người, từ Chủ tịch nước tới người lao động bình thường, nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đều được coi trọng, đều vẻ vang như nhau. 

Suốt đời sống trong sạch

24 năm liên tục nắm giữ đỉnh cao quyền lực: Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, có thời kỳ dài là Chủ tịch Chính phủ, có thời kỳ kiêm chức Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam, Người luôn luôn giữ cho mình trong sạch, luôn giữ vững tư cách đạo đức. 

Người suốt đời tránh xa những biểu hiện của đầu óc lãnh tụ, lúc nào cũng chỉ tâm niệm làm một người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào, làm tròn trọng trách nhân dân ủy thác, không chấp nhận sự đề cao, tung hô. Tháng 7-1969, Bộ Chính trị họp ra nghị quyết về việc tổ chức 4 ngày kỷ niệm lớn của năm: Ngày thành lập Đảng, ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin và ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi biết tin này, Người đề nghị: “Bác chỉ đồng ý ba phần tư nghị quyết. Bác không đồng ý đưa ngày 19-5 là ngày kỷ niệm lớn trong năm sau. Hiện nay, các cháu học sinh đã sắp bước vào năm học mới, giấy mực, tiền bạc dùng để tuyên truyền về ngày sinh của Bác thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”.

Đoàn đại biểu các nước đến thăm Việt Nam hay khi Bác đi công tác nước ngoài, Người thường được biếu các đồ lưu niệm. Những tặng phẩm đó, Bác đều chuyển cho Văn phòng vào sổ và bảo quản. Chính vì vậy, sau ngày Người qua đời, Văn phòng Phủ Chủ tịch đã bàn giao cho Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Hồ Chí Minh hàng nghìn hiện vật là đồ tặng phẩm của Bác Hồ. Đi công tác các địa phương, Người thường từ chối nhận quà, cho dù đấy chỉ là yến gạo, bộ quần áo. 

Năm 1959, đi công tác Liên Xô, trước ngày về nước, Bác đã viết thư và gửi trả lại 5.000 rúp do Đảng bạn tặng Bác và Thư ký Vũ Kỳ. Thực ra, đây không phải đặc quyền của riêng Bác Hồ, mà theo thông lệ hợp tác giữa các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, khi đón đoàn nước bạn đến thăm, nước chủ nhà ngoài việc lo phương tiện đi lại, kinh phí ăn ở, lễ tân, thường có thêm một khoản gọi là “tiền tiêu vặt” cho các vị khách. Tất nhiên, mức tiền khác nhau theo từng chức vụ và thời gian lưu trú. Song ngay cả với số tiền thông lệ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từ chối nhận. Bởi với Người, việc không nhận quà biếu đã trở thành một nguyên tắc sống.

NGƯỜI ĐẢNG VIÊN TỪ TRONG TƯ TƯỞNG


Trước những diễn biến mới của tình hình và nhiệm vụ cách mạng, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, phản bác những luận điệu xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch ngày càng diễn biến phức tạp. Nhưng bằng sự chủ động, tích cực của toàn Đảng, toàn dân, công tác đấu tranh phản bác thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại trong cuộc đấu tranh này vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập. Điều này được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, chỉ rõ: “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”. Ngoài những yếu tố khách quan từ những tác động tiêu cực của tình hình thế giới và trong nước, một nguyên nhân mà mỗi chúng ta cần nhận rõ, đó là sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. 


Chúng thường lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc tình hình; tung ra những quan điểm sai trái hòng gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong khi đó, có lúc, có nơi việc nhận thức chưa đầy đủ, chưa chủ động, nhạy bén và thiếu các giải pháp phù hợp để định hướng thông tin, trên cơ sở đó tổ chức đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị. 


Có thể thấy các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động. Chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục của các tổ chức, đoàn thể là rất cần thiết nhưng quan trọng và quyết định hơn vẫn là sự chủ động trong rèn luyện bản lĩnh chính trị, tích cực học tập nâng cao trình độ, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân. 


Bởi đó chính là yếu tố cơ sở nền tảng để mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân chủ động, tích cực, tự giác tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch vốn ngày càng phức tạp, khó khăn, lâu dài và cam go.

Nhận diện sự chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa

 

Thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là tổng hợp các phương thức, biện pháp được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng - văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao... Trong đó, các thế lực thù địch xác định tấn công trên mặt trận tư tưởng - văn hóa là “mũi đột phá”, “thọc sâu” làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Nội dung chủ yếu của cuộc chiến tranh ý thức hệ do chủ nghĩa đế quốc phát động là tấn công vào lòng người, đánh vào trận địa chính trị, tư tưởng - văn hóa của các nước xã hội chủ nghĩa. Các nhà tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc đã tổng kết: “một đài phát thanh cũng có thể bình định xong một đất nước”, “một đô-la chi cho tuyên truyền có tác dụng ngang với 5 đô-la chi cho quốc phòng”; “kích động vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo là bốn đòn đột phá khẩu, bốn mũi xung kích để chọc thủng mặt trận tư tưởng chính trị”. Trong cuốn sách “Năm 1999 - chiến thắng không cần chiến tranh”, nguyên Tổng thống Mỹ R. Ních-xơn đã tuyên bố: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất”, “toàn bộ vũ khí của Mỹ, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”, “Cái sẽ có tác dụng quyết định đối với lịch sử là tư tưởng, chứ không phải là vũ khí”,...

Các thế lực thù địch cho rằng, để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam, cần phải điều chỉnh các biện pháp và phương thức, thay đổi các thủ đoạn tiến hành “diễn biến hòa bình” cho thích hợp, vì tình hình Việt Nam không giống như bối cảnh các nước Đông Âu hay Liên Xô trước đây. Chúng chủ trương phá hoại trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, xã hội, ngoại giao, quốc phòng - an ninh, khoa học, giáo dục... Và, khi cần thì dùng cả biện pháp quân sự. Song, trọng tâm then chốt vẫn là phá hoại về tư tưởng - văn hóa. Chúng xác định rằng, tước bỏ vũ khí tư tưởng của nhân dân là khâu đột phá quan trọng trong “diễn biến hòa bình”.

“Diễn biến hòa bình” là một thủ đoạn phi quân sự, chú trọng chiến tranh tâm lý, đặc biệt nhấn mạnh sức mạnh của tư tưởng - ý thức hệ. Trong đó, chủ yếu là “mặt trận tư tưởng - văn hóa”. Các thế lực thù địch xác định, xâm nhập được tư tưởng - văn hóa của đối phương sẽ thu được hiệu quả phi thường. Xâm nhập tư tưởng - văn hóa, trên thực tế, là mở cuộc tấn công ý thức hệ vào nước Việt Nam XHCN. Chúng gọi đó là “tiến công vào lòng người” để làm sụp đổ tinh thần chiến đấu của đối phương; làm tan rã đối phương về nội tâm, tinh thần và tư tưởng; gây hỗn loạn về tư tưởng, gây tâm lý sợ hãi; kích động tâm trạng bất mãn, thù địch với chủ nghĩa xã hội (CNXH) và chủ nghĩa cộng sản; truyền bá mô thức chính trị, mô thức kinh tế, quan niệm giá trị và lối sống của chủ nghĩa tư bản, đòi đa nguyên hóa và thị trường hóa nền kinh tế.

Có nhà nghiên cứu cho rằng, chiến lược của chủ nghĩa đế quốc được tiến hành chủ yếu trên hai phương diện: Một là, xâm lược nước khác bằng quân sự và kinh tế. Hai là, làm tan rã nước khác bằng tư tưởng và văn hóa. Nếu phương diện thứ nhất dựa vào sức mạnh của kẻ xâm lược, thì phương diện thứ hai dựa trên chiến lược làm tan rã nội bộ đối phương, hết sức xảo quyệt. Chính các nhà tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc đã tổng kết: “có những việc 100 máy bay chiến đấu không thực hiện nổi, nhưng chỉ cần 10 sứ giả lại có thể thành công”. Ngày nay “làn sóng điện đang thay thế thanh gươm; cây bút là phương tiện đi vào trái tim, khối óc con người”.

Từ khi nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, nhưng có sự thay đổi về thủ đoạn và sách lược. Chúng tiến công ta mạnh mẽ hơn về tư tưởng - văn hóa, coi đây là mặt trận hàng đầu, là mũi nhọn đột phá, thọc sâu, vừa dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển các lực lượng và phương tiện ở trong nước ta, tạo ra sự chống đối mạnh mẽ từ nội bộ Đảng, nội bộ xã hội ta, từng bước làm cho nhân tố chống đối bên trong phát triển để phá ta từ trong nước, trong lòng chế độ. Chiến lược “Vượt trên ngăn chặn” và “Bao vây cấm vận” được thay bằng chiến lược “Triệt tiêu kẻ thù”. Tư tưởng chỉ đạo của chiến lược này là áp dụng các biện pháp “can dự”, “tiếp cận”, lôi kéo đối phương từ đối đầu sang đối thoại, tăng cường hợp tác hoặc hoà nhập với phương Tây, theo sự chỉ huy hoặc khống chế của một trung tâm quyền lực cụ thể. Tức là, chúng không đứng ngoài hò hét chống phá mà xâm nhập vào ta để đánh ta từ trong đánh ra, làm cho ta “tự diễn biến”, “tự sụp đổ”, “Cộng sản tự diệt cộng sản”. Các thế lực thù địch thực hiện chính sách lôi kéo, thông qua các nước đồng minh, các tổ chức phi chính phủ, qua các hình thức giao lưu, hợp tác về văn hóa, khoa học, giáo dục... để thâm nhập, thu thập tin tức tình báo, làm chuyển hóa tư tưởng, chuyển hóa chính trị, mua chuộc cán bộ, cài cắm nội gián; móc nối với những người bất mãn, cơ hội chính trị, những người nắm được bí mật quốc gia, những người đi công tác, học tập ở nước ngoài; tìm cách can thiệp cho một số văn nghệ sĩ, những người mà họ cho là có quan điểm “cấp tiến” ra nước ngoài dự hội thảo, học tập; đưa giáo viên và lưu học sinh vào Việt Nam học tập, nghiên cứu, tiếp xúc, giao lưu. Đại sứ quán của một số nước phương Tây đã có những hoạt động can thiệp sâu vào công việc nội bộ nước ta, như gửi phiếu đăng ký cung cấp thông tin cho nhiều tổ chức và cá nhân trong nước để nắm nội bộ ta, gây nhiễu thông tin; cử nhân viên sứ quán đến một số trường đại học tìm hiểu tư tưởng, thái độ của giáo viên, sinh viên; quan hệ với một số nhà xuất bản và một số tờ báo với ý đồ lôi kéo. Họ lợi dụng các diễn đàn công khai để tuyên truyền “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” theo kiểu tư sản; tuyên truyền quan điểm cá nhân ích kỷ cực đoan, xuyên tạc chúng ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, tung ra luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” để tạo cớ can thiệp vào nước khác có xu hướng độc lập, không chịu lệ thuộc.

Các trung tâm phá hoại tư tưởng, văn hóa tăng cường hoạt động tuyên truyền thù địch chống phá Việt Nam. Chúng rất coi trọng các phương tiện truyền thông đại chúng và tuyên truyền kiểu “rỉ tai”, kích động; sử dụng trên 40 đài phát thanh và truyền hình, gần 400 tờ báo và tạp chí tiếng Việt (trong đó có 10 tờ rất phản động), 66 nhà xuất bản để tuyên truyền chống Việt Nam; đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình, băng nhạc,... có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam; chỉ đạo bọn “bồi bút”, cơ hội viết nhiều bài xuyên tạc, bôi nhọ tình hình Việt Nam.

Hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch thông qua “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với nước ta trong những năm vừa qua được thể hiện qua các thủ đoạn và nội dung chủ yếu sau: Xuyên tạc, bôi nhọ, đả kích bản sắc văn hóa dân tộc; đặc biệt là truyền thống văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống XHCN - những giá trị tinh thần của chế độ XHCN; truyền bá văn hóa, lối sống tư sản phương Tây vào nước ta - lối sống thực dụng, vụ lợi cá nhân, sùng bái đồng tiền, dâm ô, trụy lạc phi nhân tính...; kích thích sự phục hồi, phát triển lối sống mê tín dị đoan, tôn thờ chủ nghĩa hữu thần; tìm hiểu, móc nối, mua chuộc, lôi kéo, kích động trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, hữu khuynh cực đoan, sa đọa về phẩm chất đạo đức,... vào con đường phản bội, chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân; tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan, tổ chức văn hóa, văn nghệ làm cho văn hóa, văn nghệ đi chệch định hướng XHCN.

Tác động của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa ở nước ta trong những năm qua được thể hiện trên những phương diện chủ yếu sau:

Phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chế độ XHCN ở Việt Nam

Lợi dụng sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch đã tấn công quyết liệt vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đả kích đường lối cách mạng của Đảng, bài xích định hướng XHCN. Chúng phát hiện những người bất mãn trong nội bộ Đảng, Quân đội, bộ máy nhà nước để tìm cách lôi kéo, lái những người này đi theo quan điểm của chúng làm nòng cốt để chuyển hóa từ bên trong; kích động tâm lý hoài nghi dẫn tới phủ định CNXH. 

Thực tế đã có một bộ phận nhân dân, trong đó có một số cán bộ, đảng viên đã dao động, giảm lòng tin đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Một số kẻ cơ hội, xét lại, phản bội đã tung ra những bài viết xuyên tạc, vu khống, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Những việc làm ấy đã gieo hoang mang, hoài nghi cho không ít người. Bằng cách đó, họ muốn tạo nên một sự “tự diễn biến” từ bên trong xã hội ta, trước hết là “tự diễn biến” về nhận thức, tư tưởng, từ đó dẫn đến những “tự diễn biến” về các mặt khác. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, sinh viên, học sinh phai nhạt lý tưởng cách mạng, thờ ơ chính trị, giảm sút và mất lòng tin vào thắng lợi của CNXH, vào khả năng lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới, dẫn tới những nhận thức lệch lạc, ngả nghiêng về bản lĩnh chính trị, lập trường quan điểm, đã phụ họa với những quan điểm sai trái, phát ngôn theo luận điệu của các thế lực thù địch, phủ định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch sử dụng “vấn đề nhân quyền” để phá hoại về tư tưởng đối với Việt Nam, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của chúng ta, đặt điều kiện hòng ép ta thoả hiệp, nhượng bộ về chính trị, thay đổi đường lối của ta, đi theo quỹ đạo của chúng, núp dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để tuyên truyền, kích động dư luận thế giới cô lập Việt Nam, gieo rắc sự nghi ngờ trong các công dân Việt Nam đối với Nhà nước, kích động và khơi dậy sự phản kháng của những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất, những người trước đây cộng tác với chế độ cũ, hiện đang còn ở lại Việt Nam. Các thế lực thù địch còn vu khống, xuyên tạc chính sách của Nhà nước ta về tôn giáo, dân tộc, chính sách đối với văn nghệ sĩ.

Đó là những đòn tấn công của các thế lực thù địch để tạo ra những lực lượng chống đối ngầm trong nội bộ nhân dân ta. Nếu không được vạch trần, ngăn chặn, nó có khả năng làm rối loạn xã hội, tạo cơ hội cho “diễn biến hoà bình” phát triển thành công ở Việt Nam.

Tác động chống phá về văn hóa

Trong tác động phá hoại về văn hóa, các thế lực thù địch tập trung phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa cách mạng, các chuẩn mực đạo đức, lối sống XHCN. Các thế lực thù địch rất coi trọng tác dụng “diễn biến hòa bình” của các loại “chất độc tinh thần” tư sản. Do vậy, chúng tìm mọi phương thức để các sản phẩm văn hóa độc hại xâm nhập vào nước ta. Chúng sử dụng các sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động để đầu độc quần chúng nói chung, đặc biệt là thế hệ thanh niên ở nước ta nói riêng, làm chuyển đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị của xã hội theo chiều hướng xấu; âm mưu biến thế hệ trẻ thành công cụ và lực lượng xã hội chủ yếu của “diễn biến hòa bình”. 

Tác động phá hoại về đạo đức, lối sống

Đó là tệ sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa của dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ, ham muốn làm giàu, ham muốn quyền lực cực đoan... đã và đang làm băng hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc. Khuynh hướng này hết sức nguy hiểm, có sức phá hoại mạnh, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của các tầng lớp xã hội. Đáng lưu ý là lối sống thực dụng đang có chiều hướng gia tăng. Điều đó được biểu hiện ở chỗ: từ chạy theo lợi ích vật chất dẫn đến sự lạm dụng địa vị, quyền lực đang đảm nhiệm để mưu cầu lợi ích cá nhân; đặt giá trị vật chất ở vị trí cao trong thang giá trị cuộc sống. Đó là một nguyên nhân dẫn đến suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền. Đó là tệ tham nhũng, lãng phí; nạn quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân, kèn cựa, địa phương chủ nghĩa, bè phái, mất đoàn kết. Đây là những vấn đề bức xúc làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người ngày một tăng. Đó là “giặc nội xâm”, có nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ mà chúng ta phải kiên quyết ngăn chặn và quét sạch.

Tính chất nguy hiểm của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa thể hiện ở chỗ: Một là, các thế lực thù địch đánh phá nền tảng tư tưởng, xuyên tạc quá khứ, bôi đen lãnh đạo để phá rã niềm tin của quần chúng vào Đảng và chế độ, làm cho toàn xã hội hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, mất định hướng chính trị, tạo thế đứng cho các lực lượng phản động trong nước, gây áp lực chính trị của quần chúng đòi thay đổi chế độ XHCN. Hai là,với chiến thuật “mưa dầm thấm lâu” thông qua tác động trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa bằng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, với những luận điểm mị dân, lừa bịp, dễ làm cho đối phương mất cảnh giác, dễ bị cám dỗ, mất phương hướng chính trị, không phân biệt đúng sai, thật giả, tạo ra “khoảng trống” về chính trị, tinh thần để dễ dàng truyền bá các quan điểm tư sản và đánh thẳng vào nội bộ ta, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kích động lật đổ và bạo loạn chính trị. Ba là, với nhiều thủ đoạn khác nhau, các thế lực thù địch làm mê muội con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên Việt Nam bằng các loại văn hóa phẩm độc hại, cổ xúy lối sống hưởng lạc, thực dụng, quên quá khứ, bàng quan chính trị, xa rời lý tưởng; tạo ra được một tầng lớp đông đảo “phi chính trị hóa”, để khi có điều kiện thì tập hợp lực lượng xấu, gây áp lực chính trị, dùng bạo loạn lật đổ và cướp chính quyền. Bốn là, thực hiện chính sách lôi kéo, thông qua các nước đồng minh, các tổ chức phi chính phủ, qua giao lưu hợp tác về văn hóa, giáo dục, khoa học, nghệ thuật, báo chí... để thâm nhập, thu thập tin tức tình báo, mua chuộc cán bộ, chuyển hóa tư tưởng, cài cắm người vào các tổ chức của ta, móc nối với các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Năm là, với hình thức tung tin đồn nhảm, tạo dư luận và áp lực xã hội, dưới chiêu bài “chống tham nhũng”, “bảo vệ tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, chúng đưa ra những lời hứa mị dân để gây tâm trạng mơ hồ, mất cảnh giác, cả tin của một số người; từ đó cô lập các lực lượng cách mạng trung kiên, phân hóa những người dao động, thiếu chính kiến, thiếu thông tin; lôi kéo, kích động những người có tâm trạng bất mãn, những lực lượng xấu trong xã hội để gây bạo loạn lật đổ chính quyền.

Cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa là cuộc đấu tranh giữa hệ tư tưởng XHCN và hệ tư tưởng tư sản. Cuộc đấu tranh này ở nước ta hiện nay đang diễn ra rất phức tạp, gay go và quyết liệt. Các thế lực thù địch đã, đang và sẽ dùng mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó chống phá trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa ngày càng quyết liệt. Đó là một nguy cơ đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ ta, không thể xem thường. Do đó, nếu chúng ta chủ quan, mất cảnh giác hoặc nhận thức không đầy đủ về những tác động phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội càng có nhiều cơ hội để tiến hành âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” nhằm chống Đảng, Nhà nước ta. Kiên quyết đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, phê phán, vạch trần, bác bỏ các quan điểm thù địch, sai trái là một nhiệm vụ hàng đầu trong tình hình mới./.