Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2022

THỰC HIỆN TẬP TRUNG DÂN CHỦ KHÔNG PHẢI LÀ SỰ ĐỘC QUYỀN CỦA "NHÓM QUYỀN LỰC"


          Đảng Cộng sản Việt Nam "là một khối thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện lãnh đạo tập thể và cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, thực hiện dân chủ đầy đủ và kỷ luật chặt chẽ trong sinh hoạt đảng”. Sức mạnh tổ chức to lớn của Đảng là ở sự thực hiện đầy đủ nguyên tắc này. Tình trạng tập trung quan liêu, gia trưởng độc đoán, không tôn trọng ý kiến cấp dưới hay không phát huy trí tuệ tập thể dễ dẫn đến những quyết định sai lầm hoặc tình trạng cục bộ, vô kỷ luật gây hậu quả tai hại… đều làm suy yếu sự đoàn kết trong Đảng, đều làm cho sự lãnh đạo của Đảng kém hiệu lực. Vì thế, mọi cán bộ, đảng viên đều phải nêu cao tinh thần gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.

          Song trên thực tế, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn là mục tiêu công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội, xét lại và nhũng người nhân danh dân chủ, mượn danh dân chủ để xuyên tạc, công kích, hòng phá hoại các Đảng Cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Các nhà "ảo dân chủ", "ngộ dân chủ" còn suy diễn rằng, trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thì nếu đặt tập trung ở phía trước và dân chủ ở phía sau, thì có nghĩa là tập trung chính là mục đích, còn dân chủ chỉ là phương tiện. Vì thế, dân chủ chỉ là hình thức, nửa vời, là "bánh vẽ"… Đây chính là kiểu lập luận có chủ đích của những người nhân danh dân chủ, khoác áo dân chủ để quy chụp, xuyên tạc.

          Dù nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của một Đảng Mácxít Lêninnit, nhưng thực tế cũng cho thấy, nguyên tắc này không phải lúc nào và ở nơi đâu cũng được thực hiện một cách nghiêm túc. Lịch sử đã chứng kiến nguyên tắc này bị vô hiệu hóa trong quá trình tiến hành cải cách, cải tổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản ở các nước Đông Âu những thập niên trước. Việc từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những sai lầm "không thể cứu vãn" khiến cho các Đảng này tan rã, mất vai trò lãnh đạo xã hội. Việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô M.Goócbachốp vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ khi quyết định giải tán Ban Chấp hành Trung ương Đảng… làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô tan vỡ là một bài học xương máu.

          Rút kinh nghiệm sâu sắc bài học của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam nghiêm ngặt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động; gắn mở rộng dân chủ đi đôi với củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.

          Trong toàn Đảng, những vấn đề cơ bản, quan trọng (chủ trương, nghị quyết của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị về thực hiện nhiệm vụ chính trị; công tác cán bộ, công tác nhân sự cấp ủy, cơ quan…) đều phải được dân chủ thảo luận trong tập thể cấp ủy/lãnh đạo cơ quan/tổ chức đảng từ cao đến thấp theo phạm vi, quyền hạn được xác định. Quyết định của cấp ủy được quyết định theo đa số và ý kiến thiểu số vẫn được bảo lưu để trình cấp trên xem xét, nhưng khi nghị quyết đã ban hành, thì mọi đảng viên đều phải đồng lòng nói và làm theo nghị quyết. Trong toàn Đảng, mọi cấp ủy đều thực hiện sự lãnh đạo tập thể (được bàn bạc và quyết định tập thể) đi đôi với tăng cường trách nhiệm cá nhân; "mọi cấp ủy viên có quyền và có trách nhiệm phát biểu ý kiến, tranh luận thẳng thắn, tham gia các quyết định của cấp ủy. Chống mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, áp đặt ý kiến cá nhân, hoặc nể nang, né tránh”.

          Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện, Đảng xác định tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; trong đó, "tập thể lãnh đạo không phủ nhận trách nhiệm cá nhân, trái lại phải trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm cá nhân. Mọi cá nhân trên cương vị của mình phải chủ động đóng góp ý kiến với tập thể để tập thể có được quyết định chính xác, và dám chịu trách nhiệm trong việc chấp hành các nghị quyết của tập thể, dám tự phê bình và thành khẩn nhận khuyết điểm của mình trong việc chấp hành các nghị quyết ấy”. Đồng thời, mọi cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đều quán triệt sâu sắc rằng, bất cứ người đứng đầu nào cũng không được lợi dụng/lạm dụng quyền lực của mình (được bầu/ được trao) để mưu cầu lợi ích cá nhân/nhóm lợi ích và "bất cứ người lãnh đạo nào cũng không được tự đặt mình ra ngoài tổ chức, tự cho mình quyền nói và làm khác quyết định của tập thể. Cấp dưới, dù cho người đứng đầu là ủy viên Trung ương, cũng không thể tự cho mình quyền không thi hành hoặc làm trái chỉ thị của cấp trên. Tăng cường sự lãnh đạo tập thể, mở rộng sinh hoạt dân chủ”.

          Vì vậy, mọi hiện tượng, biểu hiện “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, "nói một đằng nhưng làm một nẻo", "nói trong hội nghị khác nhưng phản ánh lên cấp trên khác" hoặc lợi dụng tập trung dân chủ vì mục đích không chính đáng… đều là những hạn chế cần phải khắc phục trong quá trình thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; đều là trái với nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Những hạn chế này vừa không khuyến khích người đứng đầu nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, lại vừa tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân; đồng thời, cũng dễ tạo kẽ hở cho các phần tử phản động, cơ hội xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng.

          Thực tế ở Việt Nam, việc mở rộng sinh hoạt dân chủ trong Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt của các cấp ủy, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát gắn liền với việc không ngừng hoàn thiện, thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc tập trung dân chủ; tiếp tục xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung và phát huy dân chủ, bảo đảm để nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ được thực hiện nghiêm trong Đảng mà đã và đang trở thành nguyên tắc quản lý của một xã hội văn minh, hiện đại, nhằm xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, phát triển bền vững.

          Trong những năm qua, dân chủ xã hội chủ nghĩa đã ngày càng trở thành hiện thực sinh động, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực thi; nhân dân là người làm chủ xã hội, được thụ hưởng những thành quả của mình tạo ra đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”…

          Cùng với thời gian, chế độ dân chủ, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn gắn với kỷ luật, kỷ cương; được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm và được phổ biến sâu rộng đến mọi người dân. Việc thực hành dân chủ trong Đảng có ý nghĩa quyết định đối với phát triển dân chủ trong tổ chức, hoạt động của cả hệ thống chính trị gắn với dân chủ hóa đời sống xã hội, bởi dân chủ tạo sự đồng thuận xã hội và đồng thuận xã hội tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục nhất quán mục tiêu xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

          Gần đây nhất, bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 16/5/2021 cũng đã tiếp tục khẳng định và làm rõ: Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung, ở Việt Nam nói riêng. Dân chủ vừa là bản chất vừa là động lực; đồng thời, cũng chính là mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân kiên định xây dựng trong suốt 9 thập niên qua. Đó là sự thật đã được kiểm chứng bởi lịch sử Việt Nam hiện đại; bởi sự tin tưởng, ủng hộ, đi theo của các tầng lớp nhân dân; bởi sự ghi nhận của các tổ chức quốc tế. Lịch sử cách mạng Việt Nam là minh chứng khẳng định rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, “nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ. Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung. Từ hội đồng nhân dân và ủy ban kháng chiến hành chính xã đến Quốc hội và Chính phủ Trung ương, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung”.

          Vì thế, có thể khẳng định chắc chắn rằng: Nghiêm ngặt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động; đảm bảo lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Nguyên tắc tập trung dân chủ chắc chắn không phải là sự chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ như các thế lực thù địch xuyên tạc, thêu dệt, cho nên, bất cứ sự buông lỏng nào trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ cũng sẽ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, tạo ra phe phái, lực lượng đối lập với Đảng, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng! Vì thế, những luận điệu phản động cho rằng thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhằm mục đích "bảo vệ vị trí độc tài" của Đảng và "thao túng quyền lực" của một nhóm người trong Đảng; việc Đảng thực hành tập trung dân chủ trong Đảng và trong xã hội chỉ là sự "ảo tưởng" "mị dân"… đều là sự xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động của Đảng nói riêng, cần phải bác bỏ!.

 

Hòa bình là vô giá

 

Mỗi ngày, chỉ cần mở ti vi hay lướt internet, chúng ta chứng kiến bao thảm cảnh của con người ở những quốc gia có nội chiến. Tại những vùng chiến sự ở Xy-ri, Li-bi, Y-ê-men hay U-crai-na…, cuộc sống của người dân và đặc biệt là trẻ em không khác nào địa ngục, tương lai vô cùng mờ mịt. Nhiều em bé đã chết vì bom đạn, vì đói khát. Những sinh linh bé bỏng ấy có thể được lớn lên xinh đẹp, giỏi giang nếu như được ra đời trong một môi trường hòa bình, một đất nước phát triển. Chiến tranh đã cướp đi những cơ hội sống, những niềm vui sống bình dị nhất của con người.

Mỗi lần chứng kiến những cảnh tượng đau thương trên, tôi lại nghĩ, dân tộc ta, đất nước ta cũng đã có giai đoạn lịch sử bị chia cắt, bị phân ly, phải chịu nhiều đau thương, tang tóc trong khói lửa chiến tranh. Và từ đó, tôi lại càng thấy ý nghĩa to lớn của ngày 30-4-1975-Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, hòa hợp dân tộc, tạo ra hòa bình, ấm no, hạnh phúc. Đây là đỉnh cao chiến thắng của cả dân tộc sau 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đất nước từ chỗ bị chia cắt bởi vĩ tuyến 17 sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đến ngày 30-4-1975 đã được thống nhất. Giang sơn, bờ cõi do tổ tiên khai phá, gây dựng đã được thế hệ người Việt Nam thế kỷ thứ 20 bằng tài năng, trí tuệ, bằng quyết tâm sắt đá, bằng mồ hôi và bằng máu xương của mình giành lại và giữ vững để trao cho thế hệ sau. Như còn mãi vang vọng trong không gian lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người nói chuyện với các chiến sĩ của Đại đoàn Quân Tiên Phong: “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Lời dạy ấy sẽ luôn luôn phải "khắc cốt ghi tâm" với mọi người con Việt Nam yêu nước.

Cảnh nước mất nhà tan, bao thế hệ người Việt Nam đã nếm trải và thấu hiểu. Thử hỏi, liệu Việt Nam có thể phát triển, nhân dân có thể bình yên, hạnh phúc khi đất nước bị chia cắt, khi mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đem hàng triệu tấn bom, đạn và hàng triệu lít chất độc hóa học đến để trút lên đất nước ta, giết hại nhân dân ta? Đất nước ta, nhân dân ta đã được gì từ thực dân, đế quốc ngoài nghèo khổ, bị áp bức, bị bóc lột, bị tù đày, chết chóc, đau thương? Hàng triệu người Việt Nam đã ngã xuống do dã tâm của thực dân, phát xít, đế quốc ngoại bang. 

Vì thế, lối suy nghĩ của một số người cho rằng Việt Nam không cần độc lập, không cần thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, có thể dựa vào thực dân và đế quốc để phát triển là lối suy nghĩ thiển cận, ảo tưởng, vô trách nhiệm, là luận điệu cố tình bóp méo sự thật, xúc phạm đến xương máu của cha ông, có tội với nhân dân, có tội với tổ tiên và có tội với cả các thế hệ mai sau! 

 

 

Dân ta phải biết sử ta...

         

          Lịch sử là quá khứ của một dân tộc. Bác Hồ đã nói, lịch sử là “gốc tích nước nhà”. Lịch sử làm nên văn hóa dân tộc, quy định bản sắc văn hóa, tâm hồn tính cách dân tộc. Người ta nói quá khứ cắt nghĩa hiện tại, hiện tại cắt nghĩa tương lai là theo nghĩa này. Đúng vậy, quá khứ luôn là điểm tựa, là bệ phóng cho hiện tại. Bài học từ quá khứ sẽ là hành trang tinh thần cho thế hệ hôm nay cất cánh bay vào tương lai.

Trong tác phẩm nổi tiếng “Lịch sử nước ta”, Bác Hồ có hai câu thơ này: Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Đây không đơn thuần chỉ là lời kêu gọi mà còn là chân lý, là khoa học, là mỹ học. Bác nói “cho tường” nôm na nhưng thật sâu sắc: Phải biết lịch sử một cách tường tận, rõ ràng, cụ thể. Không dạy cho thế hệ tương lai biết tường tận về lịch sử là có lỗi với lịch sử.

Lịch sử, xét đến cùng là những gì đã đi qua, được con người hiện tại ý thức lại. Qua những bài học lịch sử sẽ làm đọng lại ở mỗi người hôm nay niềm kính trọng cha ông đã dựng xây nên non nước này, đã dũng cảm bảo vệ nền độc lập tự chủ, đã sáng tạo nên cả một nền văn hóa Việt… Từ đó từng cá nhân sẽ được tiếp thêm niềm tin, niềm tự hào để mà sống mạnh mẽ hơn, trung thực hơn, chân chính hơn. Vì vậy, hiểu biết về lịch sử là trách nhiệm tự thân của mỗi cá nhân, bên cạnh đó là trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, giảng viên, giáo viên dạy lịch sử các cấp, của các cơ quan lãnh đạo, quản lý và truyền thông…

 

Tin nóng về tình hình bất ổn tại Ukraine

 


Theo Avia.Pro, sáng 20/2 (theo giờ địa phương), Ukraine đã triển khai lực lượng xâm nhập vào lãnh thổ nước cộng hòa tự xưng Donetsk (DPR), tuy nhiên, lực lượng dân quân DPR đã phát hiện và nhanh chóng bao vây toán quân này.

Thông tin cập nhật mới nhất cho biết, giao tranh giữa hai phía đã diễn ra ác liệt, trong đó đã có ít nhất 2 dân quân của phía DPR bị thương. Tuy nhiên, toán quân của Ukraine đã bị bắt giữ.

"Toán quân của Ukraine đã bị giam giữ ở Donetsk - Bộ An ninh quốc gia của nước cộng hòa tự xưng Donetsk cho hay. Lực lượng xâm nhập và trinh sát này đang chuẩn bị cho nổ tung các trạm điện và một số cơ sở hạ tầng khác.

Trong quá trình bắt giữ, lực lượng phía Ukraine đã chống trả, một cuộc giao tranh nổ ra ngay sau đó. Kết quả của cuộc đụng độ là 2 người của phía Donetsk bị thương, trong khi tổn thất về phía Ukraine chưa được công bố" - Avia.Pro dẫn nguồn tin từ WarGonzo cho hay.

Người dân Donetsk cho biết, tại nơi mà toán quân của Ukraine bị bao vây, họ nghe thấy những tiếng nổ, hỏa lực dường như xuất phát từ vũ khí cỡ lớn.

Hiện tại, vẫn chưa biết chính xác bằng cách nào mà toán quân của Ukraine xâm nhập được vào Donetsk, tuy nhiên, điều này cho thấy có một bước đột phá tại tuyến phòng thủ của nước cộng hòa tự xưng này.

Trước đó, Sputnik đưa tin, lực lượng Ukraine đã tìm cách tấn công vào các vị trí của lực lượng dân quân Lugansk rạng sáng 20/2. Tuy nhiên, dưới sự phản kháng dữ dội của phía Lugansk, lực lượng của Ukraine đã hứng chịu nhiều tổn thất và buộc phải rút lui.

"Khoảng 5 giờ sáng ngày 20/2, lực lượng trực thuộc Lữ đoàn tấn công đường không số 79 của Ukraine đã tìm cách tấn công vào các vị trí của dân quân ở khu định cư Pionerskoye, băng qua sông Seversky Donets. Song, họ đã hứng chịu nhiều thiệt hại và buộc phải rút lui" - Sputnik dẫn thông báo từ phía Lugansk cho hay./. NVS

Thứ Bảy, 19 tháng 2, 2022

BẢN ÁN THÍCH ĐÁNG CHO KẺ CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

 

Sáng 14-01-2022, TAND TP Thủ Đức, TP.HCM đã xét xử và tuyên phạt bị cáo Lê Chí Thành (39 tuổi, ngụ tỉnh Bình Thuận) 2 năm tù về tội chống người thi hành công vụ.

Theo cáo trạng, khoảng 11h30 ngày 20-3-2021, tổ công tác của Đội CSGT Rạch Chiếc (thuộc Phòng CSGT đường bộ, đường sắt Công an TP.HCM) phát hiện Lê Chí Thành vi phạm quy định giao thông. Tổ công tác yêu cầu Thành xuống xe xuất trình giấy tờ và thông báo lỗi vi phạm của Thành là đi vào làn đường có biển báo hiệu dành cho xe môtô hai, ba bánh và ưu tiên cho xe buýt nhưng Thành tranh cãi đây là làn xe hỗn hợp, không có biển báo cấm nên được quyền đi. Thành xuất trình các giấy tờ gồm giấy phép lái xe hạng B2, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe ôtô, một hợp đồng thuê ôtô viết tay, bản photo có công chứng giấy chứng nhận xe. Tổ công tác yêu cầu xuất trình giấy CMND nhưng Thành không xuất trình, tiếp tục tranh cãi. Lực lượng chức năng lập biên bản vi phạm đối với Thành bao gồm các lỗi không chấp hành hiệu lệnh biển báo giao thông đường bộ, lái xe không có giấy chứng nhận đăng ký xe theo quy định, không xuất trình CMND khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền, và lập biên bản tạm giữ xe vi phạm. Lúc này, Thành vẫn tiếp tục không đồng ý lỗi vi phạm và yêu cầu tổ công tác đưa ra chuyên đề kiểm tra hành chính để Thành kiểm tra. Đồng thời, Thành quay phim và phát trực tiếp trên mạng xã hội kêu gọi mọi người chia sẻ, ủng hộ Thành. Tổ công tác điều xe cẩu đến để kéo xe vi phạm về nơi tạm giữ nhưng Thành đòi phải có hợp đồng thuê xe cẩu. Thành không hạ thắng tay xe với lý do nếu đứt cáp xe cẩu kéo sẽ làm hư xe của Thành. Thành không đồng ý cho cẩu xe và yêu cầu phải có xe chuyên dùng của CSGT, phải niêm phong các bánh xe, bình xăng xe. Tổ công tác tiến hành niêm phong các phần trên của xe nhưng không đồng ý niêm phong 5 bánh xe vì làm vậy sẽ gây khó khăn cho việc kéo xe về nơi tạm giữ. Thành ngồi ngay trước đầu ôtô tiếp tục quay phim phát trực tiếp, không cho tổ công tác kéo xe, kêu gọi cộng đồng mạng chia sẻ thông tin vụ việc trên. Vụ việc kéo dài đến hơn 15h cùng ngày, tổ công tác mới nâng được xe vi phạm lên xe chuyên dụng. Trong lúc đang nâng xe thì Thành trèo lên xe cẩu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực hiện công vụ tuần tra kiểm soát, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương.

Tại phiên tòa, Lê Chí Thành không thừa nhận hành vi phạm tội, mà cho rằng mình đang thực hiện quyền giám sát của công dân.

HĐXX cho rằng không có căn cứ chấp nhận ý kiến đang thực hiện quyền giám sát của công dân bởi cơ quan chức năng đã thực hiện đúng thông tư quy định về hình thức tham gia ý kiến, giám sát của công dân. Việc giám sát phải đảm bảo nguyên tắc trong khuôn khổ pháp luật. Từ đó, HĐXX đã tuyên mức án trên./.

TỔNG THỐNG PUTIN ĐÃ QUÁ RÀNH "9 CÂU VỌNG CỔ" CỦA MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY VỚI NGA!

         Trong cuộc hội đàm với người đồng cấp Belarus Alexander Lukashenko hôm 18/2. Tổng thống Putin cho biết: "Họ sẽ làm đủ mọi cách để gây khó khăn, có thể sẽ là các lệnh trừng phạt và các lệnh trừng phạt sẽ được áp đặt trong bất kỳ trường hợp nào. Bất kể lý do nào họ đưa ra ngày hôm nay, chẳng hạn có liên quan tới các diễn biến ở Ukraina, hoặc không phải như vậy, thì mục tiêu đều là nhằm làm chậm lại sự phát triển của Nga và Belarus”, hãng tin TASS dẫn lời ông Putin nói.


Ông chủ Điện Kremlin nhận định, sẽ luôn có lý do để phương Tây đưa ra một số hạn chế bất hợp pháp, và “đây không khác gì một cuộc cạnh tranh không lành mạnh”. “Điều này là sự vi phạm nghiêm trọng về luật pháp quốc tế, nhưng những người đang nói về các biện pháp trừng phạt chỉ quan tâm đến luật pháp quốc tế khi nó có lợi cho họ. Còn khi nó không có lợi, họ liền ‘vui vẻ’ quên đi tất cả các chuẩn mực về quyền của công chúng quốc tế”, ông Putin nói thêm.


Theo ông Putin, chỉ có một cách duy nhất để khắc phục tình trạng này đó là tăng cường sức mạnh từ bên trong, trên hết là sức mạnh về kinh tế. Nga và Belarus cần tự giúp đỡ nhau. “Đó chính xác là những điều mà tôi và ông Lukashenko đều hướng tới trong cuộc gặp ngày hôm nay”, Tổng thống Nga nhấn mạnh./.



Yêu nước ST.

“Thuyết âm mưu chính trị” – Thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch

 

Hiện nay, các thế lực thù địch không ngừng chống phá nước ta trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng – an ninh, đối ngoại... với nhiều thủ đoạn, phương phương thức khác nhau, bản chất là Thuyết âm mưu chính trị, sử dụng thông tin sai lệch để chống phá Việt Nam. Đặc biệt, với sự phát triển của khoa học công nghệ nói chung, Internet nói riêng, đã và đang tồn tại hàng trăm kênh đài, trang mạng khác nhau như: kênh RFA, VOA, BBC, RFI, YouTube…

Những thông tin sai lệch của các đối tượng thù địch, phản động được đăng tải, phát tán tập trung tuyên truyền vào một số nội dung trọng điểm như: phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH của nước ta. Chúng thường xuyên phê phán, đả kích hệ tư tưởng của Đảng và xã hội ta lạc hậu lỗi thời; bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam. Tiếp đến, tung tin bôi nhọ, xuyên bạc, bịa đặt nhằm gây mất lòng tin của nhân dân vào phẩm chất, uy tín và năng lực lãnh đạo của những người lãnh đạo cấp cao trong Đảng, Nhà nước ta. Các trang mạng thường xuyên đăng tải những bài viết xuyên tạc, bịa đặt với mục đích chia rẽ tinh thần đoàn kết nội bội trong Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chúng xuyên tạc công cuộc chống tham nhũng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng ta.

          Vì vậy, để khắc chế âm mưu, thủ đoạn của các thế lực chống phá trong việc sử dụng thông tin sai lệch, đồng thời đánh bại thuyết âm mưu chính trị đó, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp như quán triệu sâu sắc, thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam về phòng chống chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống đối nước ta.

Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận và nghiệp vụ về phòng chống quan điểm sai trái, thù địch nói chung, xử lý thông tin sai lệch nói riêng. Huy động các chuyên gia, nhà khoa học, phóng viên, đảng viên ưu tú,... nghiên cứu làm rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, phương thức thực hiện của thuyết âm mưu và thuyết âm mưu chính trị. Từ đó đăng tải những tin bài phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, bọn phản động, cơ hội chính trị. Đồng thời, vạch trần bản chất xấu, độc trong thuyết âm mưu chính trị của chúng. Kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ những thông tin sai lệch, xấu độc của các thế lực chống đối nước ta.

Có thể thấy, những quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống đối, phản động, cơ hội chính trị nhằm vào nước ta trong thời gian qua về bản chất giống như một Thuyết âm mưu chính trị, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng CNXH của nước ta. Chúng lựa chọn “thông tin sai lệch” làm “át chủ bài” trong quá trình hiện thực hóa Thuyết âm mưu chính trị đó. Với việc in ấn, phát tán và đăng tải thông tin sai lệch, xấu độc, các thế lực chống đối đã và đang gây ra không ít khó khăn cho chúng ta trong công cuộc bảo vệ Đảng, Nhà nước và Tổ quốc Việt Nam. Tuy nhiên, với sự đoàn kết, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, chúng ta từng bước bóc tách, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của chúng, đồng thời “khai tử” Thuyết âm mưu chính trị của chúng đối với Việt Nam./. 

Chống phá Tư tưởng chính trị là trọng tâm của các thế lực thù địch

 Tư tưởng chính trị ở đây là tư tưởng về vấn đề chính trị mà Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, xây dựng xã hội của dân, do dân và vì dân. Đó là học thuyết vĩ đại của xã hội loài người-học thuyết khoa học về chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đó cũng chính là tư tưởng chính trị then chốt; là yếu tố quan trọng hàng đầu cần được xác lập một cách vững vàng trong mỗi chủ thể của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Tư tưởng chính trị là nhân tố hàng đầu tạo niềm tin, sự đồng thuận xã hội. Vì thế, các thế lực chống phá, thù địch luôn xác định đây là mắt xích, mũi đột phá quan trọng cần tập trung tấn công. Những chiêu bài về “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hay “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”… mà các thế lực thù địch vẫn không ngừng “lớn tiếng” lâu nay cũng chỉ nhằm hướng tới một mục tiêu: phủ nhận những vấn đề căn cốt - nền tảng tư tưởng chính trị của chúng ta.

Các thế lực thù địch, phản động, chống phá vẫn luôn tự cho họ “cái quyền” đòi Đảng ta, nhân dân ta từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn với “lỹ lẽ” rằng đó là “con đường sai lầm, dẫn dân tộc đến đường cùng, ngõ cụt”. 

Các thế lực thù địch vẫn “quanh đi quẩn lại” với những “diễn giải” như, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ phù hợp với trình độ, lực lượng sản xuất phương Tây thế kỷ XIX; ở thế kỷ XXI, chủ nghĩa này đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua... Cùng với đó, họ không ngừng xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như cuộc đời và sự nghiệp của Người; bóp méo sự thật công cuộc đổi mới ở Việt Nam...

Các phần tử, tổ chức phản động, thù địch vẫn không ngừng ra rả những luận điệu “rườm tai” như “Đảng Cộng sản chưa bao giờ chứng tỏ có khả năng quản trị đất nước”; “chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền, khiến xã hội không có tự do, dân chủ”; “từ bỏ độc quyền lãnh đạo là then chốt của chế độ dân chủ”...

Tất cả những “kiểu cách” nêu trên, dù được ngụy trang bằng những mỹ từ nào đi nữa, thì bản chất và mục đích vẫn là nhằm làm phân tâm, tạo hoài nghi trong xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong cán bộ đảng viên, để từ đó phủ nhận nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng, làm “nhiễu loạn” mọi hệ giá trị, tiến tới phủ nhận chế độ, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng.

Để đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng một cách đúng đắn, khách quan và khoa học, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và thường xuyên củng cố nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường tuyên truyền “phổ cập” tới mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Qua đó tạo lập một mặt bằng chung trong toàn xã hội về ý thức tư tưởng chính trị; nâng cao khả năng “tự miễn dịch” trước những âm mưu xâm nhập, lây lan của những tư tưởng đi ngược lợi ích nhân dân, trái với lý tưởng và mục tiêu XHCN./.

Chống phá trên lĩnh vực kinh tế của các thế lực thù địch

 Hiện nay, để chống phá cách mạng Việt Nam,  chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã sử dụng tổng hợp các âm mưu, thủ đoạn trên tất cả các lĩnh vực, trong đó, “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế luôn được chủ nghĩa đế quốc xem là mũi nhọn. Thủ đoạn mà các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta trên lĩnh vực kinh tế như sau:

Một là, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận những tư tưởng kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để thực hiện âm mưu đó chúng triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, các loại hình sách, báo, phim ảnh, đào tạo cán bộ, giảng dạy kinh tế ở các trường đại học do chuyên gia nước ngoài thực hiện, chúng tìm cách xuyên tạc, phê phán, đòi xem xét lại những quan điểm, tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách kinh tế của Đảng với mục đích xóa bỏ nền tảng tư tưởng kinh tế ở Việt Nam, chuyển hóa nền kinh tế phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Hai là, thông qua các hoạt động viện trợ, đầu tư, liên doanh, liên kết làm biến đổi dần cơ sở kinh tế - xã hội của chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta; trong tình hình hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch coi đây là thời cơ để thực hiện “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế, nhằm làm thay đổi cơ cấu kinh tế, cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Bằng các hoạt động đầu tư, viện trợ, đào tạo, các thế lực thù địch cố tình tạo sự phát triển chênh lệch giữa các vùng, miền, các ngành kinh tế, sự mất cân đối của nền kinh tế quốc dân, đồng thời đặt ra những điều kiện ràng buộc về mặt chính trị gắn với gây sức ép về chính trị để từng bước can thiệp nội bộ và tạo sự chuyển hóa theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Ba là, thực hiện phá hoại nền kinh tế nước ta bằng nhiều hình thức, biện pháp vừa tinh vi, vừa trắng trợn trên các lĩnh vực. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch sử dụng đồng tiền, vật chất để mua chuộc làm tha hóa một bộ phận cán bộ, đảng viên, tạo ra tâm lý hưởng thụ, lối sống thực dụng, từ đó làm mất uy tín đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Các thế lực thù địch còn dùng tiền bạc, hàng hóa mua chuộc, lôi kéo, kích động một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số chống đối chính quyền. Các tổ chức người Việt phản động ở nước ngoài tìm cách gửi tiền, hàng hóa về cho thân nhân, gia đình, tuyên truyền về đời sống sung sướng ở các nước phương Tây. Điều này làm cho một bộ phận dân cư trong nước không quan tâm làm ăn mà chỉ trông chờ tiền gửi về từ nước ngoài, một số người hy vọng sang các nước phương Tây để được sung sướng và khi có điều kiện họ sẵn sàng ra đi, kể cả vượt biên trái phép./. 

Bảo vệ sức khỏe người cao tuổi và trẻ nhỏ khi mưa rét kéo dài

 

Liên tiếp những ngày qua, trời rét đậm kéo dài nên nhiều người cao tuổi và trẻ nhỏ đã phải nhập viện. Dự báo thời gian tới, mưa rét còn kéo dài, các bác sĩ khuyến cáo người cao tuổi và trẻ nhỏ cần có chế độ dinh dưỡng phù hợp, bảo vệ sức khỏe của chính mình để không phải nhập viện khi tình hình dịch Covid-19 còn đang diễn biến phức tạp.

Ca nhiễm Covid tối 19-2: Thêm 41.980 F0; Hà Nội ca mắc mới tăng kỷ lục

 

Ngày 19-2, Bộ Y tế cho biết, cả nước ghi nhận 41.980 ca nhiễm mới tại 61 tỉnh, thành phố (có 29.831 ca trong cộng đồng); 6.840 bệnh nhân được công bố khỏi bệnh; 65 ca tử vong do Covid-19. Hà Nội tiếp lục ghi nhận ca mắc mới cao kỷ lục.

Thứ Sáu, 18 tháng 2, 2022

QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM - TỪ CHÍNH SÁCH ĐẾN THỰC TIỄN

 

Chính sách nhất quán tôn trọng quyền tự do tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. C.Mác từng khẳng định “đặc quyền tín ngưỡng là một quyền phổ biến của con người”2. Kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những đã cụ thể hóa nội dung quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn bổ sung, nâng tầm ý nghĩa của tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Theo Người, tự do tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu của nhân dân, là quyền con người không ai được xâm phạm. Bởi vậy, năm 1945, chỉ một ngày sau khi nước nhà độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định việc thực hiện chính sách tôn trọng tự do tôn giáo, đoàn kết lương giáo là một trong sáu vấn đề cấp bách nhất cần giải quyết. Người nói: “Thực dân và phong kiến tìm cách chia rẽ đồng bào lương với đồng bào giáo để cai trị, tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”3.

Một năm sau, Hiến pháp năm 1946 khẳng định mọi “công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”4. Đến Sắc lệnh 223/SL ngày 14 - 6 - 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy”5. Các Hiến pháp sau này tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 có bước tiến mới khi khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của mọi người, được Nhà nước thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”6.

Trong suốt hơn 30 năm kể từ công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được tôn trọng. Ngày 16 - 10 - 1990, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 24/NQ-TW về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”, tạo bước ngoặt trong công tác tôn giáo. Sau 13 năm thực hiện Nghị quyết số 24, ngày 12 - 3 - 2003, tại Hội nghị Trung ương lần thứ VII (khoá IX), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/2003/TW về công tác tôn giáo, tiếp tục hoàn thiện các quan điểm về tôn giáo và công tác tôn giáo. Đặc biệt, trong các văn kiện qua các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán khẳng định sự tôn trọng đối với quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân. Gần đây nhất, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta đã xác định: “Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”7.

Nhằm thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, ngày 18 - 11 - 2016, đã thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng. Văn bản này đã đánh dấu một bước ngoặt cho quá trình hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam, cụ thể hóa chủ trương nhất quán của Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo phù hợp với chủ trương cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay ở Việt Nam, bảo đảm lợi ích của dân tộc và của các tổ chức tôn giáo. Như vậy, có thể thấy, quan điểm, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân được thực hiện quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng; đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật.

Thực tiễn tự do tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

Cùng với công cuộc đổi mới, phát triển của đất nước, tôn giáo ở Việt Nam trong thời gian qua có sự phục hồi, phát triển mạnh mẽ. Nếu như trước năm 1986, ở Việt Nam chỉ có 6 tôn giáo, 3 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận thì từ năm 2003, đã có 15 tổ chức tôn giáo thuộc 6 tôn giáo đủ điều kiện để được Nhà nước đã công nhận, với khoảng 19 triệu tín đồ (chiếm 23,5% dân số). Đến năm 2020, Nhà nước đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo với hơn 27 triệu tín đồ, chiếm khoảng 28% dân số cả nước8. Việc nhiều tôn giáo và tổ chức tôn giáo được công nhận một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác, là minh chứng rõ nét khẳng định Việt Nam không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.

Về chức sắc, năm 1990, nước ta có khoảng 38.000 chức sắc, nhà tu hành, đến nay tăng lên 61.200 chức sắc, 147.000 chức việc (tổng số chức sắc, chức việc khoảng 208.300 người), trong đó tăng nhiều nhất là chức sắc của Phật giáo và của đạo Tin Lành9. Nếu như trước năm 2003, trung bình mỗi năm có khoảng 7.000 lượt người tốt nghiệp các khóa đào tạo chức sắc do các tôn giáo tổ chức, thì từ năm 2003 đến nay, trung bình mỗi năm có khoảng 15.000 lượt người. Đặc biệt, hiện nay số cơ sở đào tạo của tôn giáo so với năm 1990 đã tăng gấp 3 lần, lên đến 56 cơ sở. Các loại hình đào tạo linh hoạt, đa dạng hơn, các hình thức đào tạo ngắn hạn được tăng cường, chức sắc tôn giáo được đào tạo cả ở trong nước và ở nước ngoài. Vì vậy, hàng ngũ chức sắc, chức việc của các tôn giáo ở Việt Nam ngày càng được đào tạo bài bản, trình độ được nâng cao, do đó uy tín, ảnh hưởng đối với quần chúng tín đồ ngày càng lớn, không chỉ trong đời sống tôn giáo mà cả trong đời sống xã hội.

Bên cạnh đó, từ năm 2013 đến nay, đã xuất bản gần 6.000 xuất bản phẩm tôn giáo, hơn 19 triệu bản in; nhiều xuất bản phẩm được in bằng nhiều ngôn ngữ như tiếng Anh, Pháp, tiếng các DTTS; 15 tờ báo, tạp chí của các tổ chức tôn giáo đang hoạt động; nhiều tổ chức tôn giáo đã có website riêng để phục vụ việc sinh hoạt đạo, truyền bá tôn giáo của mình. Kinh sách của các tổ chức tôn giáo đã được phép xuất bản bằng 13 thứ tiếng của các dân tộc. Năm 2020, có 5.000 bản in Kinh thánh bằng tiếng Ê Đê, 3.000 bản in Kinh thánh tiếng Gia Rai, hàng triệu đĩa DVD, CD bằng nhiều ngôn ngữ được phổ biến rộng rãi10. Các tổ chức tôn giáo đã được nhà nước công nhận luôn được đối xử công bằng, bình đẳng trước pháp luật. Chức sắc các tôn giáo được tự do truyền đạo theo quy định và được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm theo quy định.

Trong những năm qua, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức ở Việt Nam như Đại lễ Phật đản Vesak vào các năm 2008, 2014 và 2019, 500 năm ra đời đạo Tin Lành... Đặc biệt, quyền tự do tôn giáo ở các vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam luôn được bảo đảm: năm 2017, Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ được xây dựng để phục vụ việc đào tạo đội ngũ chức sắc, chức việc; ở Bình Phước và Tây Nguyên có trên 50 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin Lành đang sinh hoạt tại 304 chi hội và hơn 1.300 điểm nhóm; ở Tây Bắc có 693 điểm nhóm Tin Lành, 8 Hội thánh cơ sở được thành lập; nhiều điểm nhóm của người dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành đã đăng ký sinh hoạt tập trung...

Cùng với sự gia tăng các tôn giáo được công nhận, sự tăng lên của số lượng tín đồ tôn giáo thì ở khắp nơi trên cả nước. Các ngày lễ quan trọng của các tôn giáo được tổ chức với quy mô ngày càng hoành tráng, thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia như Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin Lành, Lễ Phật đản của Phật giáo, Đại lễ Vía Đức Chí Tôn của đạo Cao Đài... Nhiều cơ sở thờ tự của các tôn giáo được chính quyền quan tâm tạo điều kiện cấp phép xây mới và trùng tu, cải tạo, nâng cấp khang trang, đáp ứng nhu cầu chính đáng về nơi sinh hoạt đạo của của tín đồ và tổ chức tôn giáo. Thông qua các hoạt động tôn giáo, hoạt động xã hội, chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo được nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, phát huy những giá trị đạo đức của tôn giáo và đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, nhiều chức sắc và tín đồ tôn giáo có tiếng nói đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc và luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền.

Có thể thấy, hoạt động đối ngoại tôn giáo là một trong những hoạt động quan trọng và thường xuyên của Nhà nước Việt Nam. Trong thời gian qua, Việt Nam đã tích cực tham gia các cơ chế đối thoại dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hằng năm với các đối tác EU, Hoa Kỳ... Năm 2019, Việt Nam đã bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III, Báo cáo quốc gia về thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Năm 2020, vòng đối thoại thứ 24 giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã được tổ chức với hình thức trực tuyến, được đánh giá là vòng đối thoại nhân quyền thành công nhất từ trước tới nay giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Thời gian qua, chính phủ Việt Nam đã chủ động chia sẻ thông tin cho các đoàn nghị sĩ các nước vào làm việc, đại sứ quán các nước về những thành tựu trong việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Không những thế, Việt Nam còn thành lập các đoàn tới một số nước thuộc Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ để đối thoại trực tiếp, trao đổi về vấn đề tôn giáo; tăng cường công tác tuyên truyền về chủ trương, chính sách, những thành tựu về đảm bảo quyền tự do tôn giáo, đồng thời phản bác những thông tin sai sự thật về tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Ban Tôn giáo Chính phủ đã phối kết hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã kiên trì đấu tranh dưới nhiều hình thức đối với việc tổ chức USCIRF kiến nghị đưa Việt Nam trở lại “Danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo - CPC”. Do vậy, năm 2020, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã không đưa Việt Nam vào “Danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo” và “Danh sách các nước cần theo dõi đặc biệt - SWL”.

Với số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, trường đào tạo, số lượng kinh sách được xuất bản của các tôn giáo tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua, những hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng và thực tế hoạt động sôi động của các tổ chức tôn giáo hiện nay là những minh chứng rõ nhất cho những thành tựu của việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam. Thực tiễn này đã bác bỏ mọi nhận xét thiếu khách quan về việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta.

Đối với các luận điệu vu cáo rằng, Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, cấm đoán các tổ chức tôn giáo hoạt động, có thể thấy đây là những vu cáo vô căn cứ, không có cơ sở. Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin Lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các đạo lạ mang danh nghĩa Tin Lành truyền vào Việt Nam như Tân Thiên địa, Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ, .. Hoạt động của phần lớn các tổ chức này trái với văn hóa truyền thống của dân tộc, nhuốm màu mê tín dị đoan, có dấu hiệu trục lợi, nhiều tổ chức vi phạm pháp  luật. Tuy nhiên, đối với các hoạt động vi phạm pháp luật của các tổ chức này, lực lượng chức năng Việt Nam chủ yếu nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật. Như vậy, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo chỉ là chiêu trò mà các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng để nhằm phục vụ âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Hơn nữa, cần phải thấy rằng, không thể có tự do tôn giáo tuyệt đối. Bởi xét về bản chất, tôn giáo là một tổ chức tập hợp những người tin theo một đối tượng tôn thờ. Mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Do vậy, các tôn giáo cũng phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của pháp luật và điều này hoàn toàn phù hợp với Khoản 3 Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Do đó, việc ban hành các văn bản pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy, những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ.

Như vậy, một lần nữa có thể khẳng định, Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

TS Trần Thị Hằng

THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 

Thời gian qua, các thế lực cực đoan thường xuyên lợi dụng tôn giáo để chống phá Nhà nước, với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Trong đó, các thủ đoạn chính thường được sử dụng gồm:

Một là, đưa ra các báo cáo, phúc trình có nội dung sai lệch, không phản ánh  đúng thực tế về việc thực hiện quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam

Liên tục những năm qua, một số tổ chức thiếu thiện chí ở Mỹ và các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) đã tổ chức những cuộc hội thảo, họp báo, điều trần, ban hành nghị quyết, các bản phúc trình sai sự thật, bóp méo tình hình nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam, mà đặc biệt là tại các vùng có đông đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống. Một số cơ quan, tổ chức như Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF), Nghị viện châu Âu, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá Quốc tế (AI)... đã tổ chức nhiều phái đoàn vào Việt Nam và đi đến các vùng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ nắm tình hình về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo. Tuy nhiên, những nội dung mà các tổ chức này phản ánh rất thiếu thiện chí, bóp méo sự thật về tình hình tôn giáo ở Việt Nam nói chung và ở vùng đồng bào các DTTS nước ta nói riêng.

Các đối tượng thù địch đưa ra các luận điệu cho rằng, nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề dân tộc, tôn giáo không tương đồng với Công ước quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người. Thậm chí, họ còn trắng trợn xuyên tạc Luật Tín ngưỡng, tôn giáo “là bước thụt lùi về tự do tôn giáo”, “tạo ra cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”… Không dừng lại ở đó, các đối tượng này còn rêu rao Việt Nam đề ra chính sách pháp luật nhưng trên thực tế không thực hiện. Có thể thấy, các báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế do Cục Dân chủ, nhân quyền và lao động, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố trong những năm qua đều có nội dung: “Hiến pháp Việt Nam quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo”, “một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu…”1.

Các đối tượng còn tuyên truyền, chỉ trích, vu cáo “chính quyền Việt Nam đàn áp, cấm đoán nhiều tổ chức, hệ phái tôn giáo hoạt động” và “kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận”… Vào ngàу 21 - 4 - 2021 vừa qua, USCIRF lại công bố bản phúc trình về tự do tôn ցiáo tại Việt Nɑm năm 2020. Có thể thấy, báo cáo của USCIRF về Việt Nɑm năm 2021 không có gì khác biệt so với năm 2020, vẫn không phản ánh đúng tình hình thực tế, thậm chí cố tình phớt lờ nhiều thành tựu củɑ Việt Nɑm trong tôn trọng, bảo đảm quуền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Ngoài điểm qua một số ít điểm tiến triển tích cực trong việc đảm bảo quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam thì phần lớn nội dung còn lại tiếp tục những luận điệu vu cáo tình hình tự do tôn giáo củɑ Việt Nɑm năm 2020 nhìn chung là “tiêu cực” như trong năm 2019, USCIRF tiếp tục đề nghị Bộ Ngoại giɑo Mỹ đưɑ Việt Nɑm vào dɑnh sách các nước cần quɑn tâm đặc ƅiệt về tự do tôn ցiáo. Với nội dung gần như sao chép toàn bộ bản báo cáo năm 2020 khiến dư luận khônց khỏi nghi ngờ về sự trung thực củɑ USCIRF trong việc thực hiện bản báo cáo này.

 Một điều dễ nhận thấy, những âm mưu thâm độc về chính trị của các thế lực thù địch vẫn luôn ẩn nấp sau ngọn cờ tôn giáo. Tôn giáo trở thành phương tiện, công cụ để can thiệp vào tình hình nội bộ của nước khác. Đối với Việt Nam, các thế lực cực đoan, chống đối luôn tìm mọi thủ đoạn để tách rời tôn giáo ra khỏi sự quản lý của nhà nước, từ đó để dễ dàng lợi dụng các tôn giáo vào những mục đích chống phá. Thực tế cho thấy, việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và một số quốc gia phương Tây thường xuyên tổ chức các cuộc điều trần về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia “không có tự do tôn giáo” cũng chỉ nhằm mục đích tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, từ đó thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” làm thay đổi bản chất của chế độ, đưa Việt Nam vào sự lệ thuộc.

Hai là, các thế lực thù địch, chống đối âm mưu hình thành các tổ chức chính trị đối lập dưới vỏ bọc tôn giáo, đặc biệt là tại các vùng dân tộc thiểu số của nước ta như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ

Một thủ đoạn được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng hiện nay là tiến hành thành lập, xây dựng lực lượng, hình thành những tổ chức chống đối dưới vỏ bọc tôn giáo, làm bình phong để tập hợp, thu hút lực lượng tham gia. Có thể thấy, gần đây, các đối tượng ráo riết tiến hành các hoạt động này ở những địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ; thực hiện ý đồ “tôn giáo hóa vùng DTTS”. Đáng chú ý, các thế lực này đã tuyên truyền, lôi kéo lập ra một số hình thức “tôn giáo” riêng cho người dân tộc thiểu số như “Phật giáo riêng của người Khơme”; “Tin Lành Đềga” ở Tây Nguyên; “Tin Lành riêng của người Mông”. Một số cá nhân, tổ chức phản động người DTTS lưu vong được sự hỗ trợ của Mỹ và các nước phương Tây liên tục có những hoạt động “đấu tranh” tôn giáo, nhân quyền đối với Việt Nam, thực hiện mưu đồ quốc tế hóa vấn đề “quyền của người bản địa” gắn với vấn đề tôn giáo, dân chủ, nhân quyền nhằm tạo sức ép từ bên ngoài và kích động chống đối chính quyền từ bên trong. Các tổ chức phản động lưu vong đã tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình, ủng hộ cái gọi là “tiếng nói đấu tranh đòi dân chủ”. Các đối tượng cơ hội chính trị trong nước cấu kết với “Đảng Cấp tiến xuyên quốc gia” (TRP) đưa tổ chức “Quỹ người Thượng” do Ksor Kok thành lập đến các diễn đàn của Liên Hợp Quốc vu cáo, phản đối Việt Nam “đàn áp người Thượng”… Bên cạnh đó, lực lượng chống đối người Chăm đang lưu vong tại Hoa Kỳ và Pháp lập ra các tổ chức như: “Văn phòng Chămpa quốc tế - IOC”, “Liên minh người Chăm tị nạn tại Hoa Kỳ”, “Cộng đồng Muslim Chămpa” để thực hiện các hoạt động chống phá.

Có thể thấy, các thế lực cực đoan, chống đối âm mưu sử dụng tôn giáo như một công cụ để lôi kéo, khống chế đồng bào các DTTS, hình thành lực lượng đối lập với chính quyền, kích động, gây mâu thuẫn, xung đột giữa đồng bào các DTTS với chính quyền và đẩy tới “giải tôn giáo, giải lãnh thổ” ở các vùng DTTS của nước ta. Khi những thủ đoạn này bị chính quyền phát hiện và can thiệp, các đối tượng chống đối sẽ tuyên truyền vu cáo Nhà nước Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền.

Ba là, lôi kéo, cổ súy, hậu thuẫn cho một số chức sắc tôn giáo ở trong nước tuyên truyền, xuyên tạc về chế độ, chính quyền các cấp và sự phát triển của đất nước, xuyên tạc về việc thực hiện quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam

Có thể thấy, trong hàng ngũ chức sắc tôn giáo ở Việt Nam, bên cạnh đa số đồng hành cùng sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước thì có những cá nhân được sự cổ súy, hậu thuẫn, xúi giục của các thế lực thù địch dẫn đến có cái nhìn sai lệch về Nhà nước, về chế độ, thậm chí hình thành tư tưởng thù địch, chống đối với chính quyền. Từ đó, thông qua các buổi sinh hoạt đạo, giảng giáo lý…, các đối tượng này cố tình lồng ghép các tư tưởng, thông tin sai lệch, xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo những sự kiện ở trong nước, kích động các tín đồ chống đối chính quyền, xuyên tạc việc thực hiện quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam. Các đối tượng này đi sâu vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta, thậm chí cố tình lợi dụng về đức tin và sự gắn kết của tín đồ các tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá hay tìm mọi cách chia rẽ các tôn giáo với nhau, chia rẽ người có tôn giáo với người không có tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận nhân dân với hệ thống chính trị. Điển hình là các linh mục Nguyễn Đình Thục, Nguyễn Hữu Nam, Nguyễn Văn Toản, Nguyễn Ngọc Phong… lợi dụng vấn đề Fomasa và dịch bệnh Covid-19 để tuyên truyền sai sự thật… triệt để lợi dụng đại dịch như một cái cớ để xuyên tạc, công kích, đả phá Đảng, Nhà nước và chế độ, vu cáo Nhà nước vi phạm tự do tôn giáo, nhân quyền.

                                                                             TS Trần Thị Hằng


TÁC HẠI CỦA MÊ TÍN DỊ ĐOAN

 

Mê tín dị đoan là một hủ tục ở Việt Nam đã có từ nhiều thế kỷ trước. Điều đáng quan ngại là cùng với sự phát triển không ngừng của đất nước trên mọi lĩnh vực, thì hiện tượng mê tín dị đoan vẫn còn tồn tại, biến tướng dưới nhiều hình thức tinh vi, đánh vào tâm lý nhẹ dạ, cả tin và sự thiếu hiểu biết của nhiều người.   

 Trên bình diện quốc gia, tác hại của tệ nạn mê tín dị đoan còn nghiêm trọng hơn nhiều khi có những thế lực thù địch, phản động, lợi dụng mâu thuân tôn giáo, tín ngưỡng để thực hiện hành vi truyền bá tư tưởng, truyền đạo trái phép, làm nhũng nhiễu suy nghĩ, chính kiến của mỗi người, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn, văn minh của xã hội...mà đối tượng dễ bị dụ dỗ, lôi kéo nhất chính là những người công nhân lao động ít hiểu biết, dễ vì những lợi ích nhỏ nhặt trước mắt mà vô tình vi phạm pháp luật.

Dân tộc nào cũng có tín ngưỡng, văn hóa, niềm tin tôn giáo của riêng mình. Các tôn giáo hay tín ngưỡng dân gian, dù tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều có lịch sử hình thành và phát triển qua nhiều thế kỷ. Cho dù một số tôn giáo, tín ngưỡng có những yếu tố huyền ảo, mang tính truyền thuyết, thì mục đích chung hướng tới vẫn là niềm tin bất diệt về một đấng thiêng liêng, siêu nhiên, có quyền năng ban thưởng cho những hành động đẹp, những con người tốt bụng, hay trừng phạt những việc làm xấu, những kẻ độc ác... Qua đó, đức tin đã giúp con người tự răn mình, điều chỉnh hành vi, cách ứng xử; hay noi theo những tấm gương sáng; phản bác, lên án những kẻ xấu. Tựu trung là tôn giáo hay tín ngưỡng nào cũng đều nhằm hướng tới những giá trị tốt đẹp "Chân- Thiện- Mỹ".

Tuy nhiên, lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để hoạt động mê tín dị đoan thì câng phải bài trừ. Có một nghịch lý là khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, thì "phú quý sinh lễ nghĩa", các lễ hội, mà đi kèm theo đó là không ít những tệ nạn mê tín dị đoan cũng nở rộ như nấm sau mưa. Các hình thức: bói toán, đồng cốt, gọi hồn... tưởng như đã được dẹp bỏ, giờ lại có chiều hướng gia tăng, khó kiểm soát và nhanh chóng lây lan trong mọi tầng lớp xã hội.

Những việc làm mang ý nghĩa tốt đẹp ban đầu giờ bị biến tướng tinh vi dưới nhiều hình thức. Thờ cúng tổ tiên, ông bà vốn là truyền thống vô cùng tốt đẹp từ bao đời nay của dân tộc ta, nhằm ghi nhớ công ơn những thế hệ tiền bối, hướng về cội nguồn, đặc biệt là vào dịp Tết đến Xuân về. Nhưng lấy lý do ngày Tết mà mâm cao cỗ đầy, mời thày về cúng lễ rình rang hay thi nhau đốt vàng mã trong khi đời sống còn nhiều khó khăn, đặc biệt trong năm dịch bệnh Covid-19 đang hoành hành, thu nhập người lao động giảm sút thì thực sự rất lãng phí.

Nếu như Covid là thứ bệnh dịch đe dọa sức khỏe con người thì vấn nạn mê tín dị đoan cũng là một loại dịch bệnh, đe dọa đời sống văn hóa, tinh thần kéo theo những hệ lụy về kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh trật tự... Nếu như trong cuộc chiến với Covid-19, chúng ta phải nhanh chóng, thần tốc, quyết liệt, thì trận chiến với mê tín dị đoan lại là cuộc chiến thầm lặng, dài lâu, đòi hỏi sự kiên trì, nhẫn nại và khéo léo. Cuộc chiến cam go ấy rất cần đến sự chung tay góp sức của các cấp trong hệ thống và toàn thể nhân dân, trong đó, công đoàn cần là tổ chức đi đầu trong nêu gương, tuyên truyền, vận động công nhân lao động và gia đình có niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng lành mạnh và văn minh.

Trong trận chiến đặc biệt này, chúng ta vừa có sứ mệnh bảo vệ, vừa có nhiệm vụ đấu tranh. Chúng ta trân trọng, bảo vệ, phát huy những giá trị thiêng liêng, bản chất tốt đẹp, nhân văn của tôn giáo, tín ngưỡng dân gian, đồng thời góp phần quản lý, giám sát, bài trừ, ngăn chặn các tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan và những ảnh hưởng tiêu cực của nó đến mọi mặt đời sống xã hội, vì một đất nước Việt Nam phát triển hiện đại, văn minh, vừa theo kịp với dòng chảy của thế giới, vừa vẹn nguyên bản sắc đậm nét của dân tộc

Mê tín, dị đoan có liên quan đến nhận thức của con người. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức về nhiều mặt trong nhân dân là một trong những biện pháp quan trọng, góp phần bài trừ, loại bỏ tệ nạn xã hội này./.


ĐỪNG ĐỂ ĐỨC TIN BỊ LỢI DỤNG!

 

Có thể dẽ dàng nhận thấy rằng, trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, dễ thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Đây cũng là lĩnh vực dễ bị lợi dụng vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị – xã hội. Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo.

Hoạt động lợi dụng tôn giáo và vấn đề tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị – xã hội là hoạt động hết sức nguy hiểm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây chia rẽ giữa các tôn giáo, giữa tôn giáo với chính quyền, giữa quần chúng giáo dân và những người không theo tôn giáo, tạo ra những yếu tố phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ thành xung đột xã hội. Trên thực tế, đã xảy ra một số vụ mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ nhân dân có liên quan tới tôn giáo do tác động bởi hoạt động nói trên. Sự ổn định chính trị – xã hội ở một số nơi, một số lúc đã bị ảnh hưởng. Do đó, chủ động phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động này có vai trò quan trọng trong toàn bộ công tác tôn giáo cũng như bảo đảm sự ổn định chính trị – xã hội ở Việt Nam.

Với chủ trương “tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo” của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thời gian qua, tình hình tôn giáo ổn định, đời sống tôn giáo có những biến đổi sâu sắc cả về số lượng lẫn phạm vi hoạt động, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được tôn trọng, bảo đảm. Các tổ chức tôn giáo được công nhận xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo phù hợp với văn hóa truyền thống, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Cơ quan chức năng làm tốt công tác hướng dẫn, quản lý, từng bước đưa hoạt động tôn giáo đi vào nền nếp, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cần khẳng định rằng, bản chất của Tôn giáo chân chính là luôn hướng con người đến chân – thiện – mỹ, tức là đến những giá trị tốt đẹp nhất của con người. Đức Phật, Đức Giê-su hay Đức Chúa Trời… không bao giờ răn dạy các tín đồ của mình phải làm điều ác, trái với đạo đức, luân thường, đi ngược lại với các quy định của pháp luật. Các đức tin của các Tôn giáo đều có chung khát vọng dẫn đường cho con người tu tập, thực hành giáo lý, xây dựng cuộc sống hạnh phúc, xã hội phồn vinh, hướng con người đến với sự tốt đẹp, sống đoàn kết, lương thiện và thương yêu nhau.

Ngay trong Giáo luật Công giáo cũng đã khẳng định: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Hay trong Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng nhấn mạnh: “Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là điều hòa, hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì hoằng dương phật pháp và tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới”. Nhìn tổng thể thì trong suốt chặng đường lịch sử đã qua, tín đồ, chức sắc chân chính của các Tôn giáo ở Việt Nam đã, đang đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quyên góp hàng ngàn tỷ đồng xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Qua các phong trào này đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu là tăng ni, phật tử có thành tích xuất sắc được Đảng, Nhà nước tặng thưởng các phần thưởng cao quý.

Mỗi tín đồ tôn giáo cũng đồng thời là công dân Việt Nam, khi thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cần phải thực hiện nghĩa vụ công dân trên cơ sở pháp luật, không tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh chính trị, TTATXH, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân hay lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để trục lợi phi pháp, trái thuần phong mỹ tục, trái đạo đức, trái giáo lý. Và chắc chắn những kẻ lợi dụng tôn giáo để thực hiện hành vi phi tôn giáo, làm ô danh tôn giáo, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị nghiêm trị theo pháp luật. Mỗi chức sắc, tín đồ và người dân hãy đề cao cảnh giác, kịp thời tố giác, ngăn chặn hành vi của các đối tượng lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật; đó cũng là phương cách để bảo vệ chính mình, bảo vệ xã hội và chính là bảo vệ các tôn giáo chân chính đang hoạt động bình thường trên đất nước Việt Nam.

Hoài Nhung


VIỆT NAM LUÔN ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA NHÂN DÂN

 

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo với hơn 26,5 triệu tín đồ các tôn giáo (chiếm 27% dân số), hơn 58.000 chức sắc, 148.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự, 53 cơ sở đào tạo tôn giáo và 16 tôn giáo.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Các quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP của Chính phủ đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể:

Hiến pháp năm 2013 quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Như vậy, việc theo hay không theo tín ngưỡng hoặc tôn giáo nào là quyền tự do của mỗi cá nhân, mỗi công dân Việt Nam được Hiến pháp 2013 thừa nhận.

Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và cần thiết phải điều chỉnh pháp luật về tôn giáo trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tình hình tôn giáo tiếp tục có những biến động, mở rộng không chỉ hoạt động tôn giáo mà cả các hoạt động xã hội, ngày 18/11/2016, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Theo đó, ngày 30/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo, tiếp tục tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã đánh dấu son cho quá trình hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam. Cụ thể hóa chủ trương nhất quán của Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Có ý nghĩa quan trọng cả về đối nội và đối ngoại, phù hợp với chủ trương cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay ở Việt Nam, đảm bảo lợi ích của quốc gia, dân tộc và các tổ chức tôn giáo. Đồng thời, thông qua đó cũng khẳng định với quốc tế, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong việc bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đây cũng chính là minh chứng rõ nét nhất để chống lại luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền dân chủ nhân quyền tôn giáo./.


NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG TÔN GIÁO KÍCH ĐỘNG GÂY MẤT ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI, CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để công kích, xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước. Chúng đưa ra luận điệu “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, “vi phạm quyền tự do tôn giáo” của người dân; yêu cầu các tôn giáo phải được hoạt động tự do, không cần đặt dưới sự quản lý của Nhà nước… Chúng vu cáo rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo”; “Pháp luật Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng chỉ là hình thức, thực chất là cơ sở để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”; “Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo, thậm chí có hành động đàn áp các tín đồ tôn giáo”… Chúng còn lập nhiều tài khoản trên các trang mạng xã hội như: Youtube, Facebook, Blog… để phát tán, đăng tải các bài viết, video, hình ảnh đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng “vạch lá tìm sâu”, cố tình xoáy vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước; thậm chí lợi dụng đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo để lôi kéo, tập hợp lực lượng, truyền đạo trái phép, tổ chức biểu tình, thách thức, chống phá chính quyền, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội… Tất cả nhằm mục đích thêu dệt nên một bức tranh màu xám, méo mó về vấn đề tôn giáo tại Việt Nam, từ đó kêu gọi quốc tế “gây sức ép”, “can thiệp” vào nước ta.

Lợi dụng tính nhạy cảm của vấn đề tôn giáo, một số phần tử cực đoan trong tôn giáo cấu kết với các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Đảng và Nhà nước Việt Nam tổ chức các cuộc “hội luận”, “họp báo”, soạn thảo và tán phát các tài liệu có nội dung xuyên tạc, bịa đặt để tuyên truyền chống Đảng và Nhà nước Việt Nam, nhất là trên các lĩnh vực dân chủ và nhân quyền. Họ đẩy mạnh xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, Việt Nam “không có tự do tôn giáo”. Họ cho rằng Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (trước đây) và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay là sự “đàn áp tôn giáo” bằng pháp luật của Nhà nước Việt Nam, không tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển; từ đó, khoét sâu mâu thuẫn giữa các tôn giáo với chính quyền các cấp. Đồng thời, móc nối, câu kết với một số tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài thành lập hoặc tích cực tham gia các hội, nhóm trái pháp luật, mang danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, phát triển lực lượng chống đốiMột số chức sắc cực đoan lợi dụng các vấn đề chính trị – xã hội phức tạp để kích động tín đồ xuống đường biểu tình, gây mất ổn định chính trị – xã hội. Đáng chú ý, với lý do “bảo vệ tự do tôn giáo”, một số thế lực nước ngoài đã ban hành báo cáo, phúc trình, thậm chí là đạo luật, nghị quyết “lên án” tình hình bảo đảm quyền con người của Việt Nam, nhất là trên lĩnh vực tôn giáo, từ đó gây sức ép về ngoại giao, đồng thời gắn các vấn đề dân chủ và nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo với các vấn đề về viện trợ kinh tế, đầu tư phát triển, nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Lợi dụng đường lối, chính sách đổi mới, mở cửa và tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, các tôn giáo đều gia tăng các hoạt động mở rộng cơ sở vật chất, dẫn đến phát sinh nhiều vụ tranh chấp, khiếu kiện đất đai liên quan đến tôn giáo. Đáng chú ý, số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo cũng như các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam ở trong nước và nước ngoài đã triệt để lợi dụng các vụ tranh chấp, khiếu kiện về đất đai liên quan đến tôn giáo để kích động các hoạt động chống đối, gây tâm lý bức xúc và phản ứng của tín đồ đối với chính quyền; gây chia rẽ giữa chính quyền với tôn giáo. Nghiêm trọng hơn, họ còn cố tình chính trị hóa sự việc, xuyên tạc, vu cáo chính quyền “lấy đất đai của tôn giáo, bỏ quên quyền lợi nhân dân, bao che cho doanh nghiệp, tàn phá môi trường”, kích động tâm lý so bì, cho rằng Nhà nước đối xử không bình đẳng giữa các tôn giáo. Một số tổ chức, cá nhân tôn giáo không hợp tác với chính quyền trong việc kê khai, làm các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhằm lấn chiếm đất để mở rộng cơ sở thờ tự.

Bên cạnh hoạt động vi phạm pháp luật về đất đai, trong hoạt động tôn giáo cũng xảy ra các vụ, việc chưa tuân thủ các quy định của pháp luật, như thuyên chuyển, bổ nhiệm chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong các tôn giáo; việc thành lập các cơ sở tôn giáo trực thuộc chưa được sự chấp thuận của chính quyền. Một số cơ sở đào tạo của tôn giáo chưa nghiêm túc triển khai môn học về lịch sử Việt Nam và pháp luật Việt Nam, là môn chính thức trong chương trình giảng dạy. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại việc “đào tạo kép”, cụ thể là đào tạo chức sắc ở trong nước kết hợp với cử chức sắc ra nước ngoài đào tạo trái phép vẫn diễn ra ở một số tôn giáo.Các hoạt động vi phạm nói trên luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các thế lực xấu khai thác, lợi dụng để gây chia rẽ giữa tôn giáo với chính quyền, giữa người theo đạo và người không theo đạo, cũng như tiến hành các hoạt động chống phá, gây bất ổn chính trị – xã hội.

Đáng chú ý, tại địa bàn các tỉnh Tây Nguyên nói riêng, vùng DTTS trong cả nước nói chung, lợi dụng vấn đề tôn giáo trong vùng đồng bào một số dân tộc thiểu số; sự sa sút tính chân truyền trong các tôn giáo đã được Nhà nước công nhận; điều kiện khó khăn về kinh tế, xã hội…, một số đối tượng đã thành lập các hội, nhóm mang danh nghĩa tôn giáo, hoạt động vi phạm pháp luật, gây mất đoàn kết dân tộc. Bên cạnh đó, còn có nhiều loại hình mang danh tín ngưỡng, tôn giáo, hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện ở nhiều địa phương, xa rời văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như không thờ cúng tổ tiên, gọi bố mẹ là anh, chị, em; khám, chữa bệnh bằng cầu cúng; tuyên truyền, hứa hẹn về tương lai tốt đẹp để mê muội quần chúng. Điển hình là các tổ chức “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”, Pháp Luân Công, Dương Văn Mình, “Nhất quán đạo”, “Thanh Hải Vô Thượng Sư”… Hoạt động của các tổ chức này không chỉ gây mâu thuẫn trong quần chúng, ảnh hưởng tới khối đoàn kết toàn dân tộc, mà còn tạo ra những tác động tiêu cực tới sự ổn định chính trị – xã hội của đất nước, tạo cớ cho các thế lực thù địch xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam “không có tự do tôn giáo”. Tại một số cơ sở tôn giáo xuất hiện hiện tượng thương mại hóa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cụ thể là lợi dụng lòng tin của người dân để trục lợi, phát triển các hoạt động tâm linh mang màu sắc mê tín, như hoạt động dâng sao giải hạn, bói toán, xem quẻ, cúng oan gia trái chủ, chữa bệnh bằng tâm linh… Các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí đã triệt để lợi dụng các vấn đề đó để công kích, bịa đặt, xuyên tạc, gây mất đoàn kết trong nội bộ một số tôn giáo, kích động tín đồ tạo phe phái để chống đối lẫn nhau, ly khai, thành lập tổ chức khác. Đây đều là các yếu tố tiềm ẩn nguy cơ đe dọa sự đoàn kết nội bộ các tôn giáo cũng như khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.


ÂM MƯU THÂM ĐỘC PHÍA SAU CÁC GIẢI THƯỞNG TỰ XƯNG

 

Nhiều năm gần đây, những cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” thường xuyên được các thế lực thù địch sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm gây tổn hại và tìm cớ can thiệp vào nội bộ của các nước XHCN, trong đó có Việt Nam. Chúng tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành một số nghị quyết, báo cáo… vu cáo xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, đòi gắn viện trợ nhân đạo song phương, đa phương với những đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do báo chí ngôn luận… Chúng kêu gọi và được sự hậu thuẫn của các tổ chức phi chính phủ thông qua việc triển khai các dự án để “thúc đẩy”, “cải thiện nhân quyền”, khích lệ bọn phản động người Việt lưu vong, số đối tượng chống đối hoạt động chống phá Việt Nam. Nhiều cơ quan, tổ chức như:  Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế của Mỹ, Nghị viện Châu Âu, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (AL)… trong báo cáo hàng năm, một mặt thừa nhận Việt Nam có chuyển biến tích cực nhưng vẫn cố ý đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền Việt Nam.

Để phục vụ cho hoạt động chống phá, chúng lôi kéo và dựng lên các nhân vật có tư tưởng bất mãn hoặc tham lam lợi ích vật chất rồi trao các giải thưởng tự xưng như: Giải thưởng nhân quyền, giải “Tầm Ảnh hưởng”, giải Homo Homini,… Từ đó, chúng vận động một số nghị sĩ cực đoan trong quốc hội, chính phủ một số nước kêu gọi gây quỹ đấu tranh vì nhân quyền. Để hợp thức hóa sự ủng hộ tài chính, kinh phí của các nhà tài trợ, chúng đưa ra các bản “báo cáo”, “phúc trình”… bôi nhọ tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Chúng lợi dụng triệt để sự suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng và vi phạm pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên để tuyên truyền đả kích vai trò lãnh đạo của Đảng, phá hoại niềm tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng nhằm tác động chuyển hóa nội bộ từ bên trong, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ tại Việt Nam.

Qua hình thức gây quỹ để trao giải, các tổ chức nhân quyền đã nhận được rất nhiều sự tài trợ từ các tổ chức phản động, chống phá Việt Nam. Để “báo đáp”, các tổ chức này đã có những đánh giá, nhận xét thiếu khách quan, phi thực tiễn về tình hình nhân quyền, dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí tại Việt Nam. Mục đích là để bôi nhọ, khiến các quốc gia, tổ chức hiểu sai về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam. Đây chính là mưu đồ hết sức thâm độc, nham hiểm và trắng trợn của các thế lực thù địch.

Tuy nhiên, thực tế đất nước trong những thập niên qua là minh chứng hùng hồn, sống động nhất đập tan những luận điệu của các thế lực thù địch. 35 năm đổi mới (1986 - 2021) là giai đoạn quan trọng của sự nghiệp phát triển đất nước, đánh dấu sự trưởng thành mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Công cuộc đổi mới đã thật sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người Việt Nam và được bạn bè quốc tế đánh giá rất cao. Họ biết đến Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình và cũng là một quốc gia có nhiều thành tựu trong quá trình đổi mới, đặc biệt là phát triển kinh tế - xã hội, trở thành điểm đến của các nhà đầu tư và đối tác thương mại trên thế giới. 2 năm qua, trong điều kiện khó khăn nhưng Việt Nam chúng ta đã hỗ trợ về nhân lực, thiết bị và chia sẻ kinh nghiệm trong phòng, chống dịch Covid-19 với các nước.

Mới đây nhất, tối 20/1/2022, giới nghiên cứu khoa học trên toàn thế giới đã biết đến Việt Nam qua Lễ trao giải VinFuture tại Nhà hát lớn Hà Nội. Đây là giải thưởng khoa học và công nghệ toàn cầu, được thành lập 20/12/2020 với sứ mệnh "tạo ra những thay đổi tích cực trong cuộc sống hàng ngày của hàng triệu người bằng việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ". Giải thưởng do Chủ tịch Tập đoàn Vingroup Phạm Nhật Vượng và phu nhân Phạm Thu Hương sáng lập và được trao giải hàng năm tại Việt Nam. Hội đồng giải thưởng là những nhà khoa học hàng đầu thế giới, nhiều thành viên từng đạt giải Nobel… Một lần nữa, thế giới biết đến một dân tộc Việt Nam hiếu học, luôn vươn lên làm chủ công nghệ và sẵn sàng có những đóng góp tích cực cho cuộc sống của con người trở nên tốt đẹp hơn, cải thiện môi trường sống bền vững cho những thế hệ tương lai.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói: “90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thế và lực của nước ta đã được tăng cường, nhiều tổ chức quốc tế đánh giá Việt Nam là một quốc gia kinh tế - văn hóa phát triển, chính trị - xã hội ổn định, có nhiều triển vọng tốt... Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ to lớn, vai trò và vị thế cao như ngày nay”. Và, nghĩa vụ của mỗi công dân chúng ta là không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức, chính trị; bài trừ các tư tưởng độc hại và thường xuyên học tập nâng cao trình độ để nối tiếp thế hệ cha ông xây dựng cơ đồ Việt Nam. 

Trần Lâm

KỆCH CỠM GIẢI THƯỞNG TỰ XƯNG CỦA QUỸ “MARTIN ENNALS”

 

Trên trang web của tổ chức này công bố: “Phạm Thị Đoan Trang là nhà báo hàng đầu và là nhà vận động cho dân chủ ở Việt Nam… Cô ủng hộ việc bảo đảm các quyền tự do dân sự như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp… Cô đồng sáng lập một số hãng truyền thông hàng đầu như Tạp chí Luật Khoa, Những cây xanh, và Nhà xuất bản Tự do".

Trước hết, phải nói về cái gọi là Giải Martin Ennals do quỹ Martin Ennals đặt ra. Giải lập ra vào năm 1993 nhằm vinh danh và bảo vệ các cá nhân trên khắp thế giới đã tỏ ra đặc biệt can đảm trong việc bảo vệ và làm tăng tiến nhân quyền. Giải này lấy tên là Martin Ennals - cựu Tổng Thư ký tổ chức Ân xá quốc tế

Thực chất, đây là giải tự xưng do một số tổ chức dưới danh nghĩa nhân quyền lập nên để tạo tầm ảnh hưởng nhằm gây quỹ trên toàn thế giới. Ban giám khảo là thành viên của các tổ chức nhân quyền như: HRW, WOAT, HRF, HURIDOCS…  Theo dõi trong suốt quá trình hoạt động, giải thưởng này được trao cho những người có hoạt động chống lại lợi ích quốc gia và dân tộc ở quốc gia của họ. Nhiều người được trao giải đang phải ngồi tù vì lợi dụng tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá.

Việc giải thưởng Martin Ennals được trao cho Phạm Thị Đoan Trang - đối tượng vừa bị tuyên phạt 9 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, một lần nữa thể hiện sự thiếu khách quan, phi thực tế và quy chụp. Rõ ràng, Phạm Thị Đoan Trang là tội phạm bị đưa ra ánh sáng. Phiên tòa xét xử Phạm Thị Đoan Trang diễn ra công khai theo các quy định của pháp luật. Đoan Trang cũng không phải là "nhà báo nổi tiếng" như cách quỹ Martin Ennals gọi, mà chỉ từng là phóng viên một số tờ báo điện tử trong nước. Sau khi Trang sa ngã, không một cơ quan báo chí nào “dung nạp” người đàn bà này vào làm việc.

Ấy vậy mà quỹ Martin Ennals lại dùng rất nhiều “mỹ từ” để mô tả về Đoan Trang khi công bố giải thưởng nói trên. Rằng: Bà ta là “nhà bảo vệ nhân quyền có ảnh hưởng nhất, được kính trọng”, “là nguồn cảm hứng cho xã hội dân sự Việt Nam”, “là nhà báo hàng đầu”,…

Ngay khi quỹ Martin Ennals công bố “giải thưởng Martin Ennals”, các trang web như: RFA, VOA tiếng Việt, BBC tiếng Việt đã dẫn lại thông tin để a dua. RFA giật tiêu đề: “Tù nhân lương tâm Phạm Đoan Trang được trao giải Martin Ennals”. Còn BBC tiếng Việt trong bài: “Giải thưởng Martin Ennals 2022 được tặng cho bà Phạm Đoan Trang” lại dẫn lời của một số tổ chức nhân quyền để qua trường hợp Đoan Trang nhằm nói xấu Việt Nam. Cụ thể như, bài viết dẫn lời Phil Robertson, Phó Giám đốc khu vực châu Á của tổ chức Human Rights Watch: "Phạm Đoan Trang là một người truyền lửa cho rất nhiều nhà hoạt động và nhà báo ở Việt Nam, nơi mà tự do biểu đạt bị xem là mối đe dọa"... Những luận điểm và phát ngôn của các tổ chức, cá nhân nói trên đều vô căn cứ, thiếu khách quan và xuyên tạc trắng trợn tình hình Việt Nam./.