Đảng Cộng sản Việt Nam "là một khối thống nhất ý chí và hành
động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện lãnh đạo
tập thể và cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, thực hiện dân chủ đầy đủ
và kỷ luật chặt chẽ trong sinh hoạt đảng”. Sức mạnh tổ chức to lớn của Đảng là
ở sự thực hiện đầy đủ nguyên tắc này. Tình trạng tập trung quan liêu, gia
trưởng độc đoán, không tôn trọng ý kiến cấp dưới hay không phát huy trí tuệ tập
thể dễ dẫn đến những quyết định sai lầm hoặc tình trạng cục bộ, vô kỷ luật gây
hậu quả tai hại… đều làm suy yếu sự đoàn kết trong Đảng, đều làm cho sự lãnh
đạo của Đảng kém hiệu lực. Vì thế, mọi cán bộ, đảng viên đều phải nêu cao tinh
thần gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.
Song trên thực tế, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn là mục tiêu
công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội, xét lại và nhũng người
nhân danh dân chủ, mượn danh dân chủ để xuyên tạc, công kích, hòng phá hoại các
Đảng Cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Các nhà "ảo dân
chủ", "ngộ dân chủ" còn suy diễn rằng, trong thực hiện nguyên
tắc tập trung dân chủ, thì nếu đặt tập trung ở phía trước và dân chủ ở phía
sau, thì có nghĩa là tập trung chính là mục đích,
còn dân chủ chỉ
là phương tiện. Vì thế, dân chủ chỉ là hình thức, nửa vời, là "bánh
vẽ"… Đây chính là kiểu lập luận có chủ đích của những người nhân danh dân
chủ, khoác áo dân chủ để quy chụp, xuyên tạc.
Dù nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức
và hoạt động của một Đảng Mácxít Lêninnit, nhưng thực tế cũng cho thấy, nguyên
tắc này không phải lúc nào và ở nơi đâu cũng được thực hiện một cách nghiêm
túc. Lịch sử đã chứng kiến nguyên tắc này bị vô hiệu hóa trong quá trình tiến
hành cải cách, cải tổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản ở các nước
Đông Âu những thập niên trước. Việc từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ là một
trong những sai lầm "không thể cứu vãn" khiến cho các Đảng này tan
rã, mất vai trò lãnh đạo xã hội. Việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô
M.Goócbachốp vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ khi quyết định giải tán Ban
Chấp hành Trung ương Đảng… làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô tan vỡ là một bài học
xương máu.
Rút kinh nghiệm sâu sắc bài học của Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam nghiêm ngặt thực hiện nguyên tắc tập
trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động; gắn mở rộng dân chủ đi đôi với củng
cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.
Trong toàn Đảng, những vấn đề cơ bản, quan trọng (chủ trương, nghị
quyết của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị về thực hiện nhiệm vụ chính trị; công
tác cán bộ, công tác nhân sự cấp ủy, cơ quan…) đều phải được dân chủ thảo luận
trong tập thể cấp ủy/lãnh đạo cơ quan/tổ chức đảng từ cao đến thấp theo phạm
vi, quyền hạn được xác định. Quyết định của cấp ủy được quyết định theo đa số
và ý kiến thiểu số vẫn được bảo lưu để trình cấp trên xem xét, nhưng khi nghị
quyết đã ban hành, thì mọi đảng viên đều phải đồng lòng nói và làm theo nghị
quyết. Trong toàn Đảng, mọi cấp ủy đều thực hiện sự lãnh đạo tập thể (được bàn
bạc và quyết định tập thể) đi đôi với tăng cường trách nhiệm cá nhân; "mọi
cấp ủy viên có quyền và có trách nhiệm phát biểu ý kiến, tranh luận thẳng thắn,
tham gia các quyết định của cấp ủy. Chống mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng,
áp đặt ý kiến cá nhân, hoặc nể nang, né tránh”.
Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện, Đảng xác định tập
thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; trong đó,
"tập thể lãnh đạo không phủ nhận trách nhiệm cá nhân, trái lại phải trên
cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm cá nhân. Mọi cá nhân trên cương vị của mình
phải chủ động đóng góp ý kiến với tập thể để tập thể có được quyết định chính
xác, và dám chịu trách nhiệm trong việc chấp hành các nghị quyết của tập thể,
dám tự phê bình và thành khẩn nhận khuyết điểm của mình trong việc chấp hành các
nghị quyết ấy”. Đồng thời, mọi cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đều quán
triệt sâu sắc rằng, bất cứ người đứng đầu nào cũng không được lợi dụng/lạm dụng
quyền lực của mình (được bầu/ được trao) để mưu cầu lợi ích cá nhân/nhóm lợi ích
và "bất cứ người lãnh đạo nào cũng không được tự đặt mình ra ngoài tổ
chức, tự cho mình quyền nói và làm khác quyết định của tập thể. Cấp dưới, dù
cho người đứng đầu là ủy viên Trung ương, cũng không thể tự cho mình quyền
không thi hành hoặc làm trái chỉ thị của cấp trên. Tăng cường sự lãnh đạo tập
thể, mở rộng sinh hoạt dân chủ”.
Vì vậy, mọi hiện tượng, biểu hiện “bằng mặt nhưng không bằng
lòng”, "nói một đằng nhưng làm một nẻo", "nói trong hội nghị
khác nhưng phản ánh lên cấp trên khác" hoặc lợi dụng tập trung dân chủ vì
mục đích không chính đáng… đều là những hạn chế cần phải khắc phục trong quá
trình thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; đều là trái với nguyên tắc tập
thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Những hạn chế này vừa không khuyến khích người
đứng đầu nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, lại
vừa tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ hoặc lạm dụng quyền lực một
cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân; đồng thời, cũng dễ tạo kẽ hở cho các
phần tử phản động, cơ hội xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng.
Thực tế ở Việt Nam, việc mở rộng sinh hoạt dân chủ trong Đảng,
nâng cao chất lượng sinh hoạt của các cấp ủy, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình,
kiểm tra và giám sát gắn liền với việc không ngừng hoàn thiện, thực hiện tốt
hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc tập trung dân chủ; tiếp tục xử lý đúng đắn mối
quan hệ giữa lãnh đạo tập trung và phát huy dân chủ, bảo đảm để nguyên tắc tập
trung dân chủ không chỉ được thực hiện nghiêm trong Đảng mà đã và
đang trở thành nguyên tắc quản lý của một xã hội văn minh, hiện đại,
nhằm xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, phát triển bền vững.
Trong những năm qua, dân chủ xã hội chủ nghĩa đã ngày càng trở
thành hiện thực sinh động, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc
tế. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực thi; nhân dân là người làm chủ xã hội,
được thụ hưởng những thành quả của mình tạo ra đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định: "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao
nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của
dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã
đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ
chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”…
Cùng với thời gian, chế độ dân chủ, xây dựng nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân ở Việt Nam ngày càng
hoàn thiện hơn gắn với kỷ luật, kỷ cương; được thể chế hóa bằng pháp luật, được
pháp luật bảo đảm và được phổ biến sâu rộng đến mọi người dân. Việc thực hành
dân chủ trong Đảng có ý nghĩa quyết định đối với phát triển dân chủ trong tổ
chức, hoạt động của cả hệ thống chính trị gắn với dân chủ hóa đời sống xã hội,
bởi dân chủ tạo sự đồng thuận xã hội và đồng thuận xã hội tạo nên sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát
triển năm 2011) tiếp tục nhất quán mục tiêu xã hội xã hội chủ
nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Gần đây nhất, bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng ngày 16/5/2021 cũng đã tiếp tục khẳng định và làm rõ: Dân chủ là bản
chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung, ở Việt Nam nói riêng. Dân chủ vừa là bản
chất vừa là động lực; đồng thời, cũng chính là mục tiêu của chế độ xã hội chủ
nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân kiên định xây dựng trong suốt
9 thập niên qua. Đó là sự thật đã được kiểm chứng bởi lịch sử Việt Nam hiện
đại; bởi sự tin tưởng, ủng hộ, đi theo của các tầng lớp nhân dân; bởi sự ghi
nhận của các tổ chức quốc tế. Lịch sử cách mạng Việt Nam là minh chứng khẳng
định rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, “nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân
dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ.
Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung. Từ hội đồng nhân dân và
ủy ban kháng chiến hành chính xã đến Quốc hội và Chính phủ Trung ương, số ít
phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục
tùng Trung ương. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung”.
Vì thế, có thể khẳng định chắc chắn rằng: Nghiêm ngặt thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ là để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đoàn kết,
thống nhất trong tư tưởng và hành động; đảm bảo lãnh đạo và tổ chức thực hiện
thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
vào cuộc sống. Nguyên tắc tập trung dân chủ chắc chắn không phải là sự chuyên
quyền, độc đoán, mất dân chủ như các thế lực thù địch xuyên tạc, thêu dệt, cho
nên, bất cứ sự buông lỏng nào trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ cũng
sẽ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, tạo ra phe phái, lực lượng đối lập với
Đảng, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng! Vì thế, những luận điệu phản
động cho rằng thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhằm mục đích "bảo
vệ vị trí độc tài" của Đảng và "thao túng quyền lực" của một
nhóm người trong Đảng; việc Đảng thực hành tập trung dân chủ trong Đảng và
trong xã hội chỉ là sự "ảo tưởng" "mị dân"… đều là sự xuyên
tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, nguyên tắc tập trung
dân chủ trong tổ chức, hoạt động của Đảng nói riêng, cần phải bác bỏ!.