Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2022

Cung cấp thông tin về nguyên nhân cuộc khủng hoảng Ukraine và những bất ổn hiện nay

 


 Cuộc khủng hoảng chính trị ở Ukraine được châm ngòi từ sự kiện chính phủ của Tổng thống Yanukovych hồi cuối năm ngoái bất ngờ hủy bỏ việc ký kết các thoả thuận chính trị, thương mại mang tính lịch sử với EU, thay vào đó, Kiev chọn con đường thiết lập quan hệ gắn bó hơn với Moscow. Sau những cuộc biểu tình đẫm máu tại Quảng trường Maidan, Tổng thống Yanukovych bị lật đổ và chính phủ mới được thành lập chính quyền mới và tuyên bố ly khai, thành lập những quốc gia riêng, đối đầu với Kiev, đẩy Ukraine vào một cuộc nội chiến đẫm máu. Theo tổ chức nhân quyền của Liên Hợp quốc, số người thiệt mạng trong cuộc khủng hoảng tại Ukraine đến thời điểm này đã vượt quá con số 3.000, và cũng có khoảng 1 triệu người phải đi lánh nạn. Mặc dù ngày 5/9 vừa qua, hai bên đã có thỏa thuận ngừng bắn nhưng xem ra cuộc khủng hoảng Ukraine đến nay vẫn chưa có hồi kết.

Để hiểu rõ nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng Ukraine hiện nay, chúng ta cần xem xét tình hình Ukraine một cách toàn cảnh từ lịch sử, địa lý, văn hóa, sắc tộc, tôn giáo đến các vấn đề kinh tế, chính trị.

1. Nguyên nhân lịch sử - địa lý

Lãnh thổ Ukraine hiện nay có một lịch sử phức tạp. Trong lịch sử, Ukraine và Nga đã từng là một quốc gia, tuy nhiên theo thời gian, lãnh thổ Ucraina và Nga liên tục bị chia cắt và sáp nhập bởi các đế quốc láng giềng, đặc biệt là vùng phía Tây Ukraina, đã từng thuộc lãnh thổ của Ba Lan, Litva, Mông cổ, Thổ Nhĩ Kỳ, Tatar, đế quốc Hung - Áo. Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, người dân phía Tây Ukraine nhập vào đội quân đế quốc Hung - Áo, trong khi người dân phía Đông gia nhập quân đội Nga. Cùng với sự ra đời nước Nga Xô-viết, một số tỉnh miền Đông và Nam Ukraine hiện nay như Donetsk, Odessa cũng thành lập các nước Cộng hòa Xô-viết. Năm 1919, chính quyền Xô viết và Ba Lan ký hiệp ước Hòa bình Riga, theo đó phần phía Tây Ukraine chính thức sáp nhập vào Ba Lan. Đến tháng 9/1939, sau khi Đức xâm lược Ba Lan, một hiệp định giữa Đức và Liên Xô đã phân chia lại lãnh thổ Ba Lan, phần phía Tây trước đây của Ukraine được tái thống nhất với phần còn lại của đất nước. Năm 1922, Ukraine là một thành viên sáng lập Liên bang Xô-viết. Dưới thời Liên Xô, trong những năm 1923 - 1933 vùng Donbas và Novorossi của Nga đã được sáp nhập vào Ukraine và đến năm 1954 bán đảo Crimea cũng được chính quyền Xô-viết “tặng” cho Ukraine.

Với lịch sử phức tạp như vậy, trong nhiều thập kỷ qua, Ukraine luôn là sự tương phản giữa hai vùng rõ rệt. Khu miền Tây và miền Trung giáp với châu Âu, chịu ảnh hưởng nhiều của nền chính trị phương Tây. Người dân ở đây theo quan điểm ủng hộ tăng cường liên kết với Liên minh châu Âu và NATO. Phần còn lại là vùng duyên hải dọc Biển Đen và miền Đông với nhiều yếu tố gắn với nước Nga và những hoài niệm về thời Liên bang Xô-viết. Vì thế, những người ở miền Đông ủng hộ liên kết với Nga và ước muốn tham gia Liên minh kinh tế Á – Âu (gồm Nga, Belarus và Kazakhstan).

Như vậy, chính hình thái “hai nhà nước” trong một đất nước đã đưa đến hai xu hướng phát triển đối lập ở Ukraine. Đó chính là một nguyên nhân dẫn tới những mâu thuẫn nội bộ và xu hướng ly khai. Bằng chứng là bán đảo Crimea đã sáp nhập vào Nga, còn các tỉnh miền Đông và Nam như Donetsk, Luhansk, Kharkov, Odessa… đã ly khai và thành lập các nhà nước cộng hòa nhân dân với chính quyền độc lập với Kiev.

2. Nguyên nhân về sắc tộc, văn hóa, tôn giáo

Về sắc tộc, lãnh thổ Ukraine hiện nay là nơi sinh sống của nhiều dân tộc, trong đó người Ukraine chiếm 77,8% dân số, người Nga chiếm 17,3% (2011), còn lại là các dân tộc khác chiếm thiểu số như người Tatar Crimea, người Belarus, người Bulgari, người Hungary, người Ba Lan, người Do Thái,… Đặc biệt, có nơi như bán đảo Crimea có tới 60% dân số là người Nga.

Về ngôn ngữ, theo Hiến pháp, ngôn ngữ nhà nước của Ukraina là tiếng Ukraina, nhưng do những yếu tố lịch sử, tiếng Nga được sử dụng rộng rãi, đặc biệt tại phía Đông và phía Nam Ukraina. Theo cuộc điều tra dân số năm 2001, 67,5% dân số tuyên bố tiếng Ukraina là tiếng mẹ đẻ và 29,6% tuyên bố là tiếng Nga. Đa số người dùng tiếng Ukraina như tiếng mẹ đẻ biết tiếng Nga như một ngôn ngữ thứ hai. Đặc biệt, ở Crimea, những người nói tiếng Nga chiếm đại đa số dân cư Crimea (77%), tiếng Ukraina chỉ chiếm 10,1%, và người nói tiếng Tatar Crimea chiếm 11,4%. Nhưng trong đời sống hàng ngày đa số người Tatar Crimea và người Ukraina ở Crimea sử dụng tiếng Nga.

Về văn hóa, Ukraine nằm giữa hai nền văn minh lớn là Ki-tô giáo phương Tây và Chính thống giáo phương Đông và nằm cạnh một quốc gia lớn đang vươn trở dậy thành một cường quốc của khu vực có nền văn minh Hồi giáo, đó là Thổ Nhĩ Kỳ. Vì thế, nền văn hóa Ukraine cũng thể hiện sự phân hóa Đông Tây khá rõ rệt. Khu vực phía Tây do nằm ngay sát phương Tây và có nền văn hóa bị ảnh hưởng của các nước láng giềng phương Tây, vì vậy đa số người dân khu vực này thường có thái độ ủng hộ chính quyền thân phương Tây và bài Nga. Trong khi đó người dân sống trong vùng phía Đông Ukraine đa số đi theo Chính Thống giáo; sự gắn bó về văn hóa làm cho cư dân khu vực này có thái độ ủng hộ chính quyền thân Nga. Như vậy, sự khác biệt văn hóa giữa hai miền Đông và Tây Ukraine đã làm cho nền chính trị Ukraine luôn luôn căng thẳng.

3. Nguyên nhân kinh tế

Cùng với những nguyên nhân về lịch sử, văn hóa, khủng hoảng kinh tế, xã hội trong những năm gần đây làm sự bất mãn của người dân với chính quyền của Tổng thống thân Nga Yanukovich tăng lên cực điểm. Đó là một nguyên nhân quan trọng dẫn tới khủng hoảng chính trị kéo dài.

Xét về GDP bình quân đầu người, Ukraine tỏ ra thua kém các nước Đông Âu lân cận. Năm 2011, Tạp chí Forbes của Mỹ công bố danh sách 10 nền kinh tế yếu kém nhất trên thế giới, trong đó có Ukraine. Hiện các doanh nghiệp Ukraine nợ các ngân hàng Nga khoảng 20 tỷ USD. Thêm vào đó, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát cao, chênh lệch giàu nghèo ngày càng giãn rộng, càng gây nên sự bất ổn xã hội. Nguyên nhân là do Ukraine đã không có những cải cách sâu rộng để hiện đại hóa ngành sản xuất công nghiệp, với những sản phẩm truyền thống như sắt, thép và hóa chất. Hệ thống kinh tế nhà nước bị các tập đoàn và các cá nhân chi phối, dẫn đến tình trạng ngày càng gia tăng các cuộc xung đột quyền lực, làm cho các chương trình phát triển quốc gia không thể thực hiện được. Thực trạng khu vực hóa đời sống kinh tế trong thời gian dài, làm Ukraina thiếu sự phát triển một thị trường chung toàn quốc.

Bên cạnh đó, Ukraine phụ thuộc tới 60% lượng khí đốt từ Nga. Hiện nay, Ukraine phải chi 485,5 USD để mua 1.000 m3 khí đốt của Nga, trong khi Armenia chỉ phải trả 189 USD. Mỗi năm, chính phủ nước này phải chi tới 7,5% GDP đề trợ giá cho khí đốt. Hậu quả là thâm hụt ngân sách ngày một lớn và chính phủ buộc phải đi vay để bù đắp. Theo một bản báo cáo của Ngân hàng thế giới WB, nền kinh tế Ukraine còn bị phá hoại bởi tình trạng tham nhũng tràn lan. Bảng xếp hạng của tổ chức Minh bạch quốc tế năm 2013 đã đặt Ukraine ở hạng 144/175 quốc gia trong bảng chỉ số cảm nhận tham nhũng của tổ chức này.

Những khó khăn ấy buộc lãnh đạo Ukraine phải dựa vào sự trợ giúp từ bên ngoài, đặt nền kinh tế đứng trước sự lựa chọn hóc búa. Mặc dù EU là một thị trường xuất khẩu giàu có nhưng Ukraine rất khó len chân vào đây do chất lượng hàng hóa thấp. Để nhận được khoản hỗ trợ tài chính 500 triệu euro mỗi năm của EU, Ukraine phải cam kết giảm bội chi ngân sách, nâng cấp nền kinh tế yếu kém cho đạt với tiêu chuẩn châu Âu. Trong khi đó, nếu gia nhập Liên minh Thuế quan của Nga, Ukraine lập tức được hưởng ngay nhiều ưu đãi mà nền kinh tế nước này đang rất cần, trước tiên đó là một mức giá khí đốt giá rẻ từ Nga. Trong bối cảnh đó, Tổng thống Yanukovich dừng ký hiệp định gia nhập EU của Ukraine và quay sang Nga nhằm nhận được tài trợ từ Nga. Quyết định này đẩy những bất đồng kinh tế lên mức cực điểm dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng về chính trị như đang diễn ra.

4. Nguyên nhân về chính trị

Ngoài những nguyên nhân trên, cuộc khủng hoảng Ukraine hiện nay là hệ quả của những bất cập trong đời sống chính trị Ukraine trong một thời gian dài và là biểu hiện của sự tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và phương Tây.

4.1. Những bất cập trong đời sống chính trị Ukraine

Trong giai đoạn đầu mới thành lập vào năm 1991, mục tiêu hàng đầu của các nhà lãnh đạo mới là xây dựng Ukraine trở thành một quốc gia thống nhất, nếu không, đất nước này phải đối mặt với sự tan rã. Để thực hiện mục tiêu đó các nhà lãnh đạo đã lựa chọn chủ nghĩa dân tộc Ukraine làm động lực đoàn kết xã hội, tăng cường việc sử dụng tiếng Ukraine, trong khi không khuyến khích tiếng Nga, vốn đã bị cấm hay hạn chế trên truyền thông và phim ảnh. Chủ trương xa rời Nga của chính quyền đã dẫn tới những bất bình trong một bộ phận người dân, nhất là ở các vùng phía Đông và Nam Ukraine vốn có quan hệ gần gũi với Nga về lịch sử và văn hóa.

Bên cạnh đó là những tuyên truyền sai lạc của chính quyền Ukraine về thời kỳ Xô-viết và về quan hệ với Nga, phủ nhận tất cả các thành quả mà chính quyền Liên bang Xô-viết đạt được, thậm chí bóp méo cả lịch sử trong chiến tranh vệ quốc chống phát-xít Đức. Điều này đã gây ra sự kỳ thị của người dân Ukraine đối với người Nga.

Sau quá trình cải cách chuyển đổi giai đoạn cuối thập kỷ 90, đầu những năm 2000, Ukraine đã không thể hiện đại hóa hệ thống chính trị do mâu thuẫn nội bộ. Hệ thống chính trị đã gần như bất lực và kém hiệu quả. Cơ quan chính quyền hành pháp liên tục xẩy ra xung đột nội bộ và trình độ quản lý chưa cao, cơ quan tư pháp yếu kém, tòa án tham nhũng và không công bằng, các chính đảng kém phát triển, xã hội dân sự kém phát triển.

Thêm vào đó, sự lũng đoạn của các tập đoàn tài chính và các gia tộc trong các đảng phái dẫn đến tình trạng cả hai phe thân Nga hoặc chống lại sự phụ thuộc vào Nga sau mỗi cuộc chính biến chính trị thì nội bộ lại lục đục, do các đảng phái trong nội bộ liên tục tranh giành quyền lực. Kết quả nền chính trị Ukraina không lúc nào yên ả.

4.2. Sự tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và phương Tây

Với ví trị địa lý chiến lược nhạy cảm, cùng những phức tạp trong đời sống kinh tế - văn hóa, người dân Ukraine đã tự biến mình thành vùng đệm tự nhiên giữa Đông và Tây, và kết quả là bị kẹt cứng trong cuộc chiến giành giật ảnh hưởng kéo dài nhiều năm qua. Người ta tin rằng, những diễn biến ở Ukraine trong thời gian vừa qua được xem là “cuộc đấu” giữa Nga với Mỹ và châu Âu nhằm tranh giành quốc gia Đông Âu.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, Nga tìm mọi cách để thắt chặt quan hệ với các nước cộng hòa trong Liên bang Xô-viết, đặc biệt là Ukraine, thông các khoản tín dụng và các hợp đồng kinh tế có lợi cho các đồng minh, cung cấp dầu khí giá rẻ, nhằm ngăn chặn xu hướng ngả theo phương Tây. Nhà chính trị học Emmanuelle Armandon, chuyên gia về Ukraine, nhận định trên tờ Le Monde (Pháp): “Từ khi Liên Xô sụp đổ, một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách ngoại giao của Mátxcơva là giữ Ukraine trong tầm kiểm soát. Nga luôn xem Ukraine và các nước thuộc Liên Xô cũ đương nhiên thuộc vùng ảnh hưởng của mình. Điều này giải thích vì sao Mátxcơva không chấp nhận cho EU mở rộng biên giới về phía Đông”.

Ở “mặt trận” bên kia, Mỹ và phương Tây cũng tranh thủ mọi biện pháp để lôi kéo Ukraine và các nước SNG ly tâm khỏi Nga. Trong những phát biểu mới nhất tại Hội nghị an ninh Munich diễn ra ở Đức, Chủ tịch Hội đồng châu Âu Herman Van Rompuy đã thẳng thừng tuyên bố “tương lai của Ukraine thuộc về EU”. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cũng hòa giọng khi nói rằng “không có nơi đâu cuộc chiến cho tương lai dân chủ của châu Âu lại quan trọng hơn ở Ukraine hiện nay” và rằng “Hoa Kỳ và EU đứng cùng với người dân Ukraine trong cuộc chiến cho nền dân chủ”. Bên cạnh những hứa hẹn về kinh tế, phương Tây còn sử dụng những chiêu bài chính trị mà phương pháp phổ biến là tiến hành những cuộc “cách mạng sắc màu” để lật đổ chính quyền Ukraine như đã diễn ra hiện nay cũng như năm 2004.   

Trong khi đó, ngày 8/3, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov tuyên bố, nguyên nhân dẫn đến tình huống phức tạp hiện nay tại Ukraine chính là do phương Tây đã không thực hiện các thỏa thuận ký ngày 21/2 giữa Tổng thống Viktor Yanukovych và đại diện phe đối lập, trước sự chứng kiến của các Đặc phái viên Liên minh châu Âu. Đáp trả chiêu bài cách mạng dân chủ của phương Tây, Nga lại cổ vũ cho phong trào ly khai, kết cục là một loạt các nước “Cộng hòa nhân dân” ra đời ở miền Đông và Nam Ukraine.

Như vậy, có thể nói, cũng giống như nước Đức bị chia cắt trước đây, cuộc khủng hoảng Ukraine hiện nay cho thấy cuộc chiến giành giật ảnh hưởng sẽ ngày càng trở nên khốc liệt và làm tái hiện phiên bản của sự đối đầu Đông – Tây, vốn là bản chất của thời chiến tranh Lạnh.

Tóm lại, cuộc khủng hoảng Ukraine hiện nay là hệ quả của những khó khăn kinh tế kéo dài, những bất cập trong đời sống chính trị, những phức tạp về lịch sử và văn hóa và là biểu hiện của sự tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và phương Tây. Do đó, để lý giải cho tình hình Ukraine hiện nay, cần thiết phải xem xét một cách toàn diện những nguyên nhân trên, chứ không chỉ dừng lại ở một nguyên nhân nào đó./.NVS

Covid hôm nay sáng 21-2: F0 cả nước tiếp tục tăng vọt; TP Hồ Chí Minh không ghi nhận ca tử vong

 

Số ca mắc mới tại Hà Nội và các tỉnh, thành phố phía Bắc liên tiếp tăng cao. Trong khi đó, số bệnh nhân Covid-19 tử vong trong ngày giảm. Đáng chú ý, số ca tử vong tại TP Hồ Chí Minh ngày 20-2 về 0.

Giữ "phương diện quốc gia"

 

“Nghĩ mình phương diện quốc gia/ Quan trên trông xuống người ta trông vào...”. Tại cuộc họp Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực diễn ra ngày 18-11-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban chỉ đạo, đã lẩy Kiều để nhắc nhở cán bộ phải tỉnh táo, giữ mình trong sạch.

Ba kịch bản tương lai của khủng hoảng Ukraine


MISTEN - Khủng hoảng Ukraine có thể hạ nhiệt khi Nga đạt được một số lợi ích và xuống thang, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ xung đột nếu các bên bế tắc về Thỏa thuận Minsk.

Bộ Quốc phòng Nga ngày 15/2 thông báo các đơn vị thuộc Quân khu phía Tây và phía Nam đang trở về căn cứ sau khi hoàn thành diễn tập gần biên giới Ukraine. Đây được coi là một động thái bày tỏ thiện chí của Nga trong đàm phán và hạ nhiệt tình hình.

Tuy nhiên, Ukraine và các nước phương Tây nói chưa nhận thấy dấu hiệu rút quân rõ ràng của Nga trên thực địa và kêu gọi Moskva có những bước đi "giảm leo thang thực sự".

Quan chức cấp cao Nhà Trắng hôm qua cáo buộc Nga điều thêm 7.000 lính đến biên giới giáp Ukraine những ngày gần đây và cho rằng Moskva đang tìm cớ tấn công nước láng giềng. Đáp lại, Bộ Quốc phòng Nga hôm nay thông báo rút thêm các đơn vị đã hoàn tất diễn tập trên bán đảo Crimea về căn cứ thường trực.

Giới phân tích cho rằng trong bối cảnh này, cuộc khủng hoảng Ukraine có thể diễn tiến theo một trong ba kịch bản chính.

Giảm leo thang

Một số chuyên gia cho rằng khi đã gây áp lực tối đa bằng chiến lược "bên miệng hố chiến tranh" với phương Tây, Tổng thống Nga Vladimir Putin giờ đây rất có thể sẽ củng cố thành quả đã đạt được, chấp nhận một số nhượng bộ của đối phương trước khi từng bước giảm leo thang căng thẳng.

Phát biểu với các nhà ngoại giao Nga hồi tháng 11/2021, Putin tuyên bố "căng thẳng gia tăng với phương Tây là tốt" và "điều quan trọng là các nhà ngoại giao phải duy trì trạng thái này càng lâu càng tốt". Ông cũng yêu cầu họ gây sức ép để phương Tây đưa ra các "đảm bảo an ninh" cùng cam kết mang tính ràng buộc rằng Ukraine sẽ không bao giờ được kết nạp vào NATO.

Nhưng Putin bất ngờ thay đổi chiến lược hôm 15/2, cho phép Bộ Quốc phòng Nga ra thông báo rút quân gần biên giới Ukraine.

"Trong cuộc họp tuần này, ngôn ngữ cơ thể của Tổng thống Putin và Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov cho thấy họ muốn giảm leo thang ở mức độ nào đó. Tôi cho rằng đây là kịch bản hợp lý và có khả năng xảy ra nhất trong tương lai", Pavel Podvig, chuyên gia Nga kiêm nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện Giải trừ Quân bị Liên Hợp Quốc, nói.

Sau nhiều tháng điều binh áp sát biên giới Ukraine, Nga đã khiến Mỹ và NATO phải xem xét nghiêm túc các lo ngại an ninh của Moskva, thay vì phớt lờ chúng như trước đây.

"Nỗi tức giận của Putin đã khiến phương Tây chú ý và giúp đạt được một số tiến bộ trong Thỏa thuận Minsk. Ông ấy có khả năng tuyên bố chiến thắng và bắt đầu xuống thang, khi Nga từ lâu đã khẳng định sẽ không tấn công Ukraine", Podvig nói. "Đó là con đường khả thi nhất, vì dư luận Nga chắc chắn không ủng hộ một chiến dịch quân sự vào Ukraine".

Theo quan điểm của Điện Kremlin, chiến lược bên miệng hố chiến tranh đã giúp Nga đạt được những nhượng bộ đáng kể, gồm cả áp lực từ các các cường quốc châu Âu với Ukraine để thực hiện đầy đủ Thỏa thuận Minsk ký năm 2015. Thỏa thuận được cho sẽ giúp chấm dứt cuộc chiến giữa phe ly khai miền đông Ukraine và quân đội chính phủ, vốn đã kéo dài 8 năm qua và khiến gần 14.000 người thiệt mạng.

Trong chuyến thăm Kiev đầu tháng này, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron kêu gọi các bên, trong đó có chính phủ Ukraine, quyết tâm thực hiện đầy đủ các điều khoản Thỏa thuận Minsk.

Phát biểu bên lề cuộc gặp Thủ tướng Đức Olaf Scholz tuần này, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky thậm chí thừa nhận mong muốn được kết nạp làm thành viên NATO của Kiev, điều dường như dẫn tới cuộc khủng hoảng hiện tại, có thể "chỉ là mơ ước".

Kurt Volker, cựu đại sứ Mỹ tại NATO, nói Putin đang có vị thế mạnh mẽ. "Ông ấy đã đạt được nhiều mục tiêu", Volker nói. "Tổng thống Nga đã cho Ukraine thấy rằng phương Tây sẽ không điều quân tới bảo vệ Kiev và lưu ý rằng họ không có tương lai với NATO".

Putin cũng khiến hình ảnh Mỹ và đồng minh trở nên yếu đuối khi phải rút nhân viên khỏi đại sứ quán ở Kiev, theo Volker.

"Nhiều lãnh đạo, quan chức châu Âu đã phải tới Moskva gặp Putin, tôi cho rằng những lãnh đạo đó đang âm thầm đảm bảo NATO sẽ không để Ukraine gia nhập. Đó chính là thông điệp của Tổng thống Macron khi ông nói rằng có những bước đi đơn giản, thiết thực để giải quyết khủng hoảng", Volker nói.

Khi Thỏa thuận Minsk được khôi phục và thực hiện đầy đủ theo cách diễn giải của Nga, điều này sẽ buộc Ukraine phải cấp quyền tự trị cho hai vùng ly khai và tổ chức bầu cử khi khu vực này vẫn dưới quyền kiểm soát của những người được Nga hậu thuẫn.

Kiểm soát một phần

Với nhiều đơn vị quân đội vẫn hiện diện quanh biên giới Ukraine, Putin cũng có thể hướng tới kịch bản đưa lực lượng vào khu vực do phe ly khai miền đông Ukraine kiểm soát.

Khi NATO tuyên bố năm 2008 rằng Gruzia và Ukraine "có thể trở thành thành viên NATO", quân đội Nga bắt đầu chiến dịch can thiệp quân sự vào Gruzia để hỗ trợ khu vực ly khai Nam Ossetia và Abkhazia. Sau cuộc chiến 5 ngày, quân đội Nga chiến thắng và triển khai lực lượng ở Nam Ossetia và Abkhazia, nơi họ vẫn ở lại đến ngày nay.

Nếu Putin không đạt được những nhượng bộ như kỳ vọng trong Thỏa thuận Minsk, ông có thể dễ dàng điều hai cánh quân từ vùng Donbass ở phía đông bắc và Crimea ở phía đông nam để kiểm soát dải đất ven biển nối liền hai khu vực.

Tuần này, Hạ viện Nga đã báo hiệu sự ủng hộ bằng cách thúc giục Tổng thống Putin công nhận hai tỉnh ly khai miền đông Ukraine, gồm Donetsk và Luhansk, là "các quốc gia độc lập có chủ quyền". Tuy nhiên, Putin cho biết ông chưa xem xét phương án này.

"Tôi vẫn nghĩ mục tiêu chính của Putin trong cuộc khủng hoảng Ukraine là thách thức NATO và để xem liệu liên minh có chùn bước hay không", tướng về hưu Martin Dempsey, cựu chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, nói. "Nhưng nếu ông ấy quyết định hành động, đưa quân kiểm soát khu vực duyên hải phía đông Ukraine để tạo cầu nối đến bán đảo Crimea và cửa ngõ ra Biển Đen là phương án hợp lý về mặt quân sự".

Chiến tranh tổng lực

Đây là kịch bản khiến nhiều người lo ngại nhất, nhưng cũng bị đánh giá là ít có khả năng xảy ra nhất.

Giới chức Mỹ từng nhận định nếu Putin quyết định động binh, lực lượng Nga có thể nhanh chóng giành thắng lợi trong cuộc tấn công toàn diện và chóng vánh vào Ukraine trong vài tuần, thậm chí vài ngày, với thương vong dân thường có thể lên tới 25.000-50.000 người.

Tuy nhiên, cuộc chiến tổng lực như vậy tiềm ẩn nhiều rủi ro với Nga, ngay cả khi họ giành chiến thắng nhanh chóng. Nga sẽ phải đối mặt với một đất nước hơn 43 triệu dân bị tổn thương và phẫn nộ, cũng như nguy cơ về một cuộc nổi dậy lớn. Chi phí khổng lồ cho chiến dịch quân sự như vậy cùng tác động từ những biện pháp trừng phạt kinh tế sẽ càng làm tăng thêm gánh nặng cho nền kinh tế cũng như đời sống của người Nga.

"Tôi nghĩ Putin chắc chắn có đủ sức mạnh quân sự để tấn công Ukraine. Tôi cũng biết có tin tình báo về ý định này", tướng về hưu Joseph Ralston, cựu tư lệnh lực lượng NATO, nói. "Nhưng tôi cũng biết người Nga rất giỏi tung hỏa mù và tôi vẫn không tin kịch bản này sẽ diễn ra".

Ralston giải thích rằng một cuộc chiến tổng lực sẽ dẫn tới những trận giao tranh khủng khiếp gây thương vong cao cho cả hai bên. "Thay vì đạt mục tiêu chính là gây chia rẽ trong liên minh NATO, nó sẽ tạo ra hiệu ứng ngược khi kéo NATO xích lại gần nhau", ông nói.

Nga cũng nhiều lần lên tiếng bác bỏ khả năng tấn công Ukraine, khẳng định mọi hoạt động quân sự ở biên giới là vấn đề nội bộ và chỉ nhằm mục tiêu diễn tập trước mối đe dọa từ kịch bản NATO mở rộng sang phía đông, đồng thời chỉ trích Mỹ và đồng minh phóng đại nguy cơ chiến tranh.

"Xuyên suốt cuộc khủng hoảng, tính toán của Putin không phải là giải quyết vấn đề bằng chiến tranh, mà là đặt phương Tây vào bàn đàm phán về các nguyên tắc dàn xếp an ninh châu Âu", Fyodor Lukyanov, người đứng đầu Hội đồng Chính sách Quốc phòng và Đối ngoại ở Moskva, nhận định.

qdnd

Tư duy mới về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

 

Quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh trong Văn kiện Đại hội XIII là những định hướng chiến lược xác định vị trí, vai trò, mục tiêu, sức mạnh, phương thức, giải pháp thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; đồng thời, là quan điểm xuyên suốt, nhất quán, có sự kế thừa từ các kỳ Đại hội trước và được Đại hội XIII bổ sung, phát triển, làm sâu sắc thêm nhiều nội dung quan trọng.

Trong tổng thể đường lối phát triển đất nước mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, việc tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, là “kim chỉ nam” trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tư duy về quốc phòng, an ninh, đối tác, đối tượng, bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển mới và ngày càng hoàn thiện, là nguyên nhân chủ yếu góp phần làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tạo nên vị thế, uy tín, tiềm lực, sức mạnh mới cho đất nước. Đó còn là kết quả của quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm, truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới. Mặt khác, tư duy đó hình thành trên cơ sở nhận định, đánh giá, dự báo chính xác, khách quan, khoa học sự vận động phát triển của tình hình thế giới, khu vực, trong nước; gắn bảo vệ Tổ quốc với xây dựng, đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế và phát triển đất nước.

Xuyên suốt chặng đường 35 năm đổi mới đất nước, đường lối, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc đã không ngừng được bổ sung, phát triển qua các kỳ Đại hội, kể từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986), đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 28-NQ/TW tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội XIII của Đảng đã dành nhiều tâm huyết, trí tuệ để thảo luận, thống nhất giải quyết một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc hơn, tiếp tục khẳng định rõ hơn; đồng thời, bổ sung và phát triển nhiều nội dung quan trọng, trực tiếp hoàn thiện tư duy mới về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tập trung ở những vấn đề cơ bản:

Một là, tiếp tục khẳng định rõ vị trí, vai trò trọng yếu, thường xuyên của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Kế thừa quan điểm từ các kỳ Đại hội trước, Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục nhấn mạnh: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” (1). Sự khẳng định vị trí này là định hướng chính trị đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị trong củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh theo chức năng, nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Mặt khác, đó là cơ sở quan trọng để thống nhất nhận thức và hành động trong toàn xã hội, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, chống phá, mưu toan hạ thấp vai trò quốc phòng, an ninh của các thế lực thù địch. Cùng với sự khẳng định đó, Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ: “Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” (2). Đây là căn cứ để định vị mối quan hệ và mức độ ưu tiên giải quyết đối với từng lĩnh vực. Theo đó, trong những năm tới, phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trung tâm, được ưu tiên nhưng không vì thế mà xem nhẹ nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Bởi vì củng cố quốc phòng, an ninh trực tiếp tạo lập môi trường hòa bình, ổn định chính trị, là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế - xã hội. Ngược lại, kinh tế - xã hội phát triển, thế và lực của đất nước được nâng lên mới có đủ các điều kiện cần thiết để đầu tư, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh. Đây cũng chính là nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng, phát triển đất nước với bảo vệ Tổ quốc của Đảng ngày càng sâu sắc hơn, khăng khít hơn trong tiến trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam.

Hai là, mục tiêu của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được bổ sung toàn diện hơn, cụ thể hơn và sâu sắc hơn. Kế thừa tư duy của Đảng về xác định mục tiêu bảo vệ Tổ quốc từ các kỳ Đại hội trước và xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đó là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (3). Như vậy, tư duy của Đảng về xác định nội hàm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc tiếp tục khẳng định và đặt các phương diện tự nhiên - lịch sử với chính trị - văn hóa, xã hội và lợi ích quốc gia - dân tộc, môi trường hòa bình, ổn định… trong một chỉnh thể thống nhất biện chứng, không tách rời nhau; thực hiện nội dung này là cơ sở, điều kiện, tiền đề, kết quả để thực hiện nội dung khác và ngược lại. Tuy nhiên, trong tình hình mới, nhằm ứng phó kịp thời với các mối đe dọa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đang nổi lên ngày càng gay gắt, nhất là nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và bảo đảm xã hội ổn định, Đại hội XIII đã coi trọng và nhấn mạnh vấn đề bảo vệ an ninh, an toàn là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của đất nước và trong cuộc sống của người dân. Do đó, Đại hội XIII đã bổ sung, phát triển toàn diện và sâu sắc hơn nội hàm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, gồm cả bảo vệ “an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh”. Đây là quan điểm nhân văn, tiến bộ của Đảng, luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn thời gian qua, nhất là trong ứng phó với thảm họa thiên tai, lũ lụt, phòng, chống đại dịch COVID - 19 với tinh thần “không để ai tụt lại phía sau” là những minh chứng rõ nét cho sự phát triển tư duy này.

Ba là, phương châm, phương thức bảo vệ Tổ quốc được bổ sung, phát triển hoàn thiện phù hợp với tình hình thực tiễn. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, những khó khăn, thách thức trong bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển” (4). Điều này một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam là luôn kiên định, giữ vững nguyên tắc chiến lược, không nhân nhượng, thỏa hiệp về độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc trong bất cứ điều kiện nào, hoàn cảnh nào, với bất cứ đối tượng nào. Tuy nhiên, về sách lược luôn linh hoạt, mềm dẻo, kiên trì giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở bảo đảm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế; có đối sách thích ứng với từng đối tượng, từng tình huống cụ thể trên tinh thần “thêm bạn, bớt thù”, “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”. Đây là tư duy biện chứng, linh hoạt, sáng tạo và để thực hiện phương châm đó, phải kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với đấu tranh quốc phòng, an ninh ngay trong thời bình để ngăn chặn từ sớm, đẩy lùi từ xa những nhân tố có thể dẫn đến đột biến, bất lợi mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng, tạo cớ gây xung đột, chiến tranh. Theo đó, về phương thức, phải kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh phi vũ trang, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, toàn diện, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, Đảng ta nhấn mạnh phải coi trọng phương thức đấu tranh phi vũ trang và phát triển, hoàn thiện quan điểm “tự bảo vệ” trong điều kiện mới, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với bảo vệ Tổ quốc, lấy xây dựng để bảo vệ, bảo vệ để xây dựng, xây dựng đến đâu phải tự bảo vệ và được bảo vệ vững chắc đến đó.

Bốn là, lực lượng, sức mạnh quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được khẳng định toàn diện, phù hợp và được quan tâm đầu tư xây dựng vững mạnh. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế” (5). Sự phát triển tư duy về lực lượng, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trên không chỉ là sự kế thừa, phát triển truyền thống quý báu của dân tộc: luôn phát huy cao độ ý chí, lòng tự hào, tự tôn dân tộc tạo nên sức mạnh vô địch đánh đuổi ngoại xâm, mà còn phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong bối cảnh có những diễn biến phức tạp mới; đồng thời, đó là sự cụ thể hóa quyết tâm chính trị mà Đại hội XIII của Đảng xác định là “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại” (6) để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Trước hết, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định rõ cội nguồn sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc được huy động từ nguồn lực của toàn dân, được tổ chức chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt; xây dựng sức mạnh tổng hợp cả về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Trong đó, sức mạnh bên trong, sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng; sự quản lý, điều hành có hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước; sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc; sự trung thành, vững mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân là những nhân tố quyết định. Kết hợp chặt chẽ sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tạo thành sức mạnh tổng hợp. Trong đó, việc khai thác nguồn lực bên ngoài và tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi để bảo vệ Tổ quốc có ý nghĩa rất quan trọng, đặt ra yêu cầu đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong việc tích cực, chủ động triển khai đường lối, chiến lược đối ngoại nhằm tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền để nhân dân trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu rõ, hiểu đúng về đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Việt Nam.

Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đặt ra yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện cả về lực lượng, tiềm lực và thế trận trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cả ở trong và ngoài nước. Trong xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh, coi trọng xây dựng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang nhân dân. Tập trung xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh vững mạnh, chú trọng các tiềm lực chính trị tinh thần, văn hóa, xã hội, kinh tế, khoa học - công nghệ, quân sự, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt, luôn coi trọng quy tụ “ý Đảng, lòng dân”, “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân” (7) tạo thành sức mạnh, thực hiện “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách” để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để giữ vững và phát huy vai trò là nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, Đại hội XIII của Đảng xác định phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,... vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ” (8). Tập trung xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội và công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Thực hiện phương hướng đó, trong công cuộc đổi mới, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đã có sự trưởng thành vững chắc, được xây dựng vững mạnh toàn diện theo đúng kế hoạch, lộ trình để từng bước tiến lên hiện đại. Trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghiệp 4.0), nhiều nước trong khu vực và trên thế giới gia tăng đầu tư cho quốc phòng và những diễn biến mới của tình hình đã tạo áp lực không nhỏ đối với nước ta về tăng cường quốc phòng, an ninh, hiện đại hóa quân đội, công an nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Vì vậy, Đại hội XIII của Đảng xác định phương hướng trên là đúng đắn, phù hợp với khả năng của nền kinh tế và trình độ khoa học - công nghệ của đất nước, vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước mắt và lâu dài, vừa đáp ứng sự mong mỏi, nguyện vọng chính đáng và giải đáp những băn khoăn, vướng mắc trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an và nhân dân ta.

Cùng với xây dựng lực lượng quân đội, công an, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng còn nhấn mạnh: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự ở cơ sở” (9). Đây là việc cụ thể hóa quan điểm của Đảng về sức mạnh tổng hợp và lực lượng toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc; phản ánh sâu sắc tính chất toàn dân, toàn diện của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; thể hiện tư duy sáng tạo, bước đột phá của Đảng, đáp ứng yêu cầu khách quan về xây dựng lực lượng, phát huy sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Năm là, bổ sung, hoàn thiện hệ thống giải pháp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa theo hướng tăng tính chủ động và khả thi, không để đất nước bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn phải đương đầu với sự thôn tính, xâm lăng của các thế lực ngoại bang lớn mạnh. Chính vì vậy, “lo giữ nước từ khi nước chưa nguy, trị nước từ khi chưa loạn” là tư tưởng lớn và là truyền thống quý báu của dân tộc. Kế thừa kinh nghiệm, truyền thống ấy và xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, phát triển và nâng lên tầm cao mới thành kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tinh thần đó thể hiện tập trung trong hệ thống các chiến lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; luôn thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến”, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến, kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt, giữ trong ấm, ngoài êm, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy” (10). Trên cơ sở đó, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục làm sâu sắc hơn bằng việc xác định chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố có thể gây đột biến, bất lợi; đồng thời, luôn chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống. Như vậy, đến Đại hội XIII của Đảng, tư duy chiến lược của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, hành động xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm nghĩa là về thời gian phải bảo vệ từ trước, chủ động phòng ngừa, tích cực chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ vững chắc Tổ quốc ngay trong thời bình, khi đất nước chưa có chiến tranh, nguy biến. Bảo vệ Tổ quốc từ xa nghĩa là về không gian phải chủ động bảo vệ từ bên ngoài biên giới lãnh thổ của đất nước. Do đó, phải không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống; giải quyết tốt những vấn đề bức xúc nảy sinh trong dư luận, củng cố sự đồng thuận xã hội, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh… là những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Sáu là, phát triển, hoàn thiện lý luận, nghệ thuật, khoa học, cơ chế, chính sách, thực hiện các chiến lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, quân sự, an ninh, nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội trong tình hình mới. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống” (11). Cùng với đó, phải “xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội” (12). Đồng thời, “tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác” (13). Trong thời gian tới, cần đặc biệt coi trọng bổ sung, hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh. Luôn bám sát yêu cầu nhiệm vụ để tiếp tục đổi mới, phát triển tư duy phù hợp và hiệu quả hơn nhằm nâng cao hiệu quả thu hút, đào tạo nhân lực, cơ chế huy động các nguồn lực cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quán triệt và thực hiện tư duy mới của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định các giải pháp: Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc bất di, bất dịch, là cơ sở nền tảng để Quân đội nhân dân, Công an nhân dân giữ vững bản chất cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, không chỉ biết đánh thắng kẻ thù trong chiến tranh xâm lược mà còn giỏi đấu tranh phi vũ trang, sắc bén trên mặt trận chính trị, tư tưởng, thực hiện tốt chức năng và “nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” quân đội, công an. Hai là, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; ở từng địa phương, vùng, miền, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể. Ba là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ, công chức, viên chức và cho toàn dân, phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Chú trọng giáo dục, nâng cao nhận thức thống nhất về đối tác, đối tượng; nắm vững đường lối, quan điểm, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trên cơ sở đó, nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác cách mạng trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết dân tộc, vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong bảo vệ Tổ quốc. Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, có chất lượng cao và luôn sẵn sàng chiến đấu thắng lợi. Thường xuyên quan tâm chăm lo, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, công an. Năm là, tích cực, chủ động nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, an ninh, nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung. Tăng cường hợp tác quốc phòng, quân sự với các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp công việc nội bộ của nhau. Mở rộng phạm vi, quy mô tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, an ninh mạng và các hoạt động khác./.      

Trần Đức Tiến

Thượng tá, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

-----------------------

(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (11), (12), (13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà nội, 2021, t. I, tr. 156, 110, 156, 156-157, 155-156, 14, 157, 157-158, 158, 159, 158-159, 160
(10) Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16-4-2018, của Bộ Chính trị, về Chiến lược quốc phòng Việt Nam

Tapchicongsan.org.vn

Đấu tranh với cái nhìn phiến diện, sai lệch về chính sách quốc phòng Việt Nam


Trong các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước ta đều khẳng định nhất quán chính sách quốc phòng Việt Nam mang tính chất chính nghĩa, hòa bình và tự vệ. Mọi luận điệu xuyên tạc, đi ngược lại lợi ích, nguyện vọng chính đáng của đất nước, nhân dân Việt Nam đều phải bị lên án, bác bỏ.

Điều 4, Luật Quốc phòng chỉ rõ: “… không tham gia lực lượng, liên minh quân sự của bên này chống bên kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”1. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 tiếp tục khẳng định: “Chính sách Quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế,…”2. Trên thực tế, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đắn chính sách quốc phòng đã đề ra với đường lối quốc phòng, quân sự độc lập, tự chủ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, tạo sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đồng thời, tích cực thực hiện cam kết trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định nhất quán quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về chính sách quốc phòng phù hợp với lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, có tính nhân văn sâu sắc; được công khai, minh bạch nhằm tăng cường sự hiểu biết, xây dựng lòng tin của các quốc gia với Việt Nam.

Song, với dã tâm thâm độc, âm mưu nham hiểm, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không từ thủ đoạn nào để chống phá, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Họ sử dụng nhiều hình thức, phương tiện, như: viết tin, bài, bình luận; quay, cắt ghép, phát tán các video clip trên YouTube và livestream trên các trang mạng xã hội; núp bóng dưới chiêu trò cái gọi là “Người yêu nước”, “Chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”, phản biện “Sách trắng Quốc phòng”,... để suy diễn, bịa đặt, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Chúng cho rằng, chính sách quốc phòng Việt Nam đã lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp; chủ trương “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là Việt Nam đã “từ bỏ dùng vũ lực trong bảo vệ đất nước”, là “tự trói tay, chân mình”, “ tự cô lập mình”, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn trong bảo vệ Tổ quốc, không phù hợp với tình hình thực tế, đi ngược lại xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Họ lợi dụng các điểm mới trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 để đưa ra bình luận, quy chụp thiếu căn cứ về nguyên tắc “bốn không”; đưa ra tư vấn, góp ý, kiến nghị Việt Nam thiết lập, tham gia liên minh quân sự. Xảo trá, trắng trợn hơn, chúng còn quy chụp việc Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh là khơi mào cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, là để chống lại một nước thứ ba. Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp trên Biển Đông tác động đến nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biển, đảo, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, v.v. Từ đó, hô hào, cổ súy tư tưởng sai trái, kêu gọi dựa vào nước ngoài, nhất là các nước lớn và tham gia liên minh quân sự để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ đất nước.

Vậy, sự thật phía sau cái nhìn sai lệch, phiến diện, chống phá quyết liệt chính sách quốc phòng Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động là gì? Trước hết, cần khẳng định rằng, bản chất, mục đích chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động là không hề thay đổi, nhưng âm mưu, thủ đoạn, sách lược ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách dẫn dắt, hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, dần đi sâu vào quỹ đạo lệ thuộc, tiến tới thay đổi chế độ chính trị, xã hội. Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; “phi chính trị hóa” Quân đội, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa, làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Thứ tư, kích động, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong nhân dân, lừa bịp, dẫn dắt dư luận, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để đấu tranh phản bác những luận điệu chống phá, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ vững chắc Tổ quốc cần thực hiện tốt một số giải pháp sau.

Một là, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, làm rõ sự cần thiết, tính khoa học của chính sách quốc phòng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá chính sách quốc phòng Việt Nam là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị. Các cấp, ngành, cơ quan, đơn vị tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền với hình thức, phương pháp đa dạng, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn đất nước và bối cảnh quốc tế nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết, cách tiếp cận đúng cho nhân dân, kiều bào ta ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế về chính sách quốc phòng Việt Nam. Luận giải, làm rõ cơ sở khoa học, nội dung cơ bản, khẳng định chính sách quốc phòng Việt Nam mang tính chất chính nghĩa, hòa bình và tự vệ được xây dựng trên nền tảng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Việt Nam luôn “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”3. Thông qua đó, tiếp tục củng cố vững chắc lòng tin của các quốc gia về đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Đồng thời, tích cực, chủ động tuyên truyền, cung cấp thông tin chính thống, định hướng dư luận, phân biệt rõ đúng sai, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, sức đề kháng, tự miễn dịch trước những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước đối với công tác quốc phòng trong tình hình mới. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc được Đảng ta xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 1991, bổ sung, phát triển năm 2011; Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong đó chỉ rõ ở bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng luôn lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; đề cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đòi đa nguyên, đa đảng, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch. Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong Hiến pháp, pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Cần xác định rõ cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, cán bộ chuyên trách quốc phòng ở các bộ, ngành; trách nhiệm phối hợp của từng cấp, ngành, địa phương trong các hoạt động liên quan đến quốc phòng. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng; xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách về quốc phòng có phẩm chất, năng lực tham mưu trong thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

Ba là, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không phải xuất phát từ việc tham gia các liên minh quân sự mà chính là từ sức mạnh nội lực của dân tộc Việt Nam. Đó là sức mạnh của độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”4. Vì vậy, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó có một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là tất yếu khách quan. Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc cũng như kinh nghiệm quốc tế cho thấy: phải bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy; phải chuẩn bị đồng bộ về mọi mặt, ngay từ thời bình, sẵn sàng đánh thắng các hình thái chiến tranh xâm lược. Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chủ động xử lý có hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Trước mắt, đẩy mạnh thực hiện các giải pháp điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại.

Bốn là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định phát triển đất nước. Hội nghị Đối ngoại toàn quốc năm 2021 đã khẳng định, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về công tác đối ngoại trong tình hình mới và chỉ rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng, cố tình xuyên tạc sai lệch đường lối đối ngoại, chính sách quốc phòng Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động. Do đó, tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng, phát triển quan hệ hợp tác với tất cả các nước, góp phần bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển. Sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị, trình độ phát triển và không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế. Tiếp tục đóng góp thực chất và mở rộng hơn nữa quy mô, phạm vi tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Sẵn sàng tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh phù hợp với khả năng của đất nước. Tăng cường hợp tác, xây dựng, củng cố lòng tin giữa các nước, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị là việc làm cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, góp phần xây dựng, củng cố niềm tin, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại tá, PGS, TS. HOÀNG VĂN PHAI, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn Quân sự
__________________

1 - Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Luật Quốc phòng, Nxb QĐND, H. 2018, tr. 11.

2 - Bộ Quốc phòng – Quốc phòng Việt Nam 2019, Nxb CTQGST, H. 2019, tr. 25.

3 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 161 - 162.

4 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 156.

Tapchiqptd.vn

Chữa “bệnh” ngại học lý luận chính trị ở sinh viên

 

LTS: Vì nhiều lý do khác nhau không ít sinh viên còn ngại học tập, nghiên cứu các môn lý luận chính trị (LLCT). Vì sao lại có hiện tượng này? Có cách nào để sinh viên hứng thú học tập, nghiên cứu LLCT? Cần nhìn thẳng vào sự thật, bắt đúng “bệnh” và đưa ra giải pháp “chữa bệnh”.

Chỉ khi chất lượng, hiệu quả học tập LLCT nâng lên, đội ngũ sinh viên hôm nay là tầng lớp trí thức ngày sau mới thực sự vừa “hồng” vừa “chuyên”, toàn tâm toàn ý đóng góp công sức, trí tuệ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bài 1: Kim chỉ nam cho sinh viên lập thân, lập nghiệp

LLCT được xem là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng. Với sinh viên-những người trẻ tuổi đang tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, hình thành nhân cách, rèn luyện bản lĩnh chính trị thì các môn học LLCT càng đặc biệt quan trọng. Chỉ khi có LLCT vững vàng mới tạo bệ phóng vững chắc cho sự phát triển năng lực cá nhân và sự nghiệp trong tương lai.

“Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”

Đây là nhận định minh triết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của lý luận được Người viết trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947). Lý luận nói chung và LLCT nói riêng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận; rồi lại đem nó chứng minh với thực tế mới thực sự chắc chắn, chân chính.

Nhiều lần Bác căn dặn mọi người, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên khắc phục tình trạng kém lý luận, khinh lý luận và cũng đừng rơi vào lý luận suông. Những lời chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến LLCT thật gần gũi, dễ đi vào lòng người bởi chính Bác là tấm gương sáng về học tập, nghiên cứu và vận dụng LLCT để hậu thế noi theo. Người đã bôn ba khắp năm châu bốn biển tìm hiểu thực tế, tiếp xúc với bao học thuyết chính trị mới tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn.

Trở lại thời điểm đầu thế kỷ XX, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào yêu nước, từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm của lịch sử đều lần lượt thất bại. Chỉ đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc với lý luận cách mạng của thời đại là Chủ nghĩa Mác-Lênin, Người mới nhận ra con đường cách mạng Việt Nam phải đi, đó là tiến hành cách mạng vô sản giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với tư duy độc lập, sáng tạo không rơi vào lý luận suông, không áp dụng lý luận cứng nhắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhiều lần vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đặc thù Việt Nam; đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập, thống nhất đất nước, mang lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. 

Ngày nay, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đảng ta kiên trì lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Cho nên việc học tập, nghiên cứu LLCT là để hiểu sâu sắc, đầy đủ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, người lao động có tư tưởng tiến bộ. Chỉ có trang bị đầy đủ về LLCT mới có thể tạo ra hành động cách mạng tích cực, hiệu quả như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Lý luận sở dĩ quan trọng là vì nó dạy ta hành động”.

Như vậy, việc học tập LLCT trước tiên là để cán bộ, đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Chỉ có nghiên cứu, học tập LLCT thực chất, với động cơ tích cực, trong sáng mới giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư duy khoa học, có phương pháp làm việc biện chứng; từ đó vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, hoàn thành công việc được giao phó.

Với tầm quan trọng của LLCT giải thích vì sao trong các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị nhiều năm qua luôn nhấn mạnh phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng LLCT. Đồng thời, nhận định biểu hiện nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập LLCT, lười học tập LLCT là một trong những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị.

Sự cần kíp trong học tập LLCT của sinh viên

Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện nay nước ta có hơn 1,6 triệu sinh viên. Họ là những trí thức tương lai của đất nước, là tầng lớp kế cận đóng vai trò chủ chốt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần hiện thực hóa mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội lần XIII của Đảng đề ra đó là đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Mặt khác, một bộ phận sinh viên trong tương lai sẽ trưởng thành, rồi trở thành cán bộ, đảng viên nắm giữ các vị trí quan trọng, chủ chốt trong hệ thống chính trị và bộ máy Nhà nước.

Quan điểm nhất quán trong sự nghiệp giáo dục của Đảng ta là đào tạo thế hệ trí thức mới không chỉ giỏi chuyên môn nghiệp vụ, mà trước hết phải có đạo đức, có lòng yêu nước thiết tha, gắn bó với nhân dân, với chế độ, sẵn sàng góp sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Như vậy, bên cạnh đào tạo chuyên môn, học tập các môn LLCT (Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam) có vai trò quan trọng trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng, củng cố niềm tin của sinh viên vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới đất nước. Từ đó, góp phần đào tạo sinh viên phát triển một cách toàn diện. Theo PGS, TS Phạm Văn Linh, Phó chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương: “Việc nắm vững nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước là điều hệ trọng với công dân Việt Nam nói chung, đặc biệt là sinh viên, những người mai sau sẽ trở thành đội ngũ cán bộ có trình độ cao. Lịch sử đã chứng minh, đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên” luôn là một nhân tố đảm bảo thắng lợi của cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau”.

Thời gian ngồi trên giảng đường đại học cực kỳ quan trọng đối với sinh viên trong việc tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp tư duy và bản lĩnh chính trị. Từ điểm xuất phát này, sinh viên sẽ trưởng thành và bước sang chương mới cuộc đời với khát vọng lập thân, lập nghiệp. Nếu điểm xuất phát tốt, họ sẽ đạt được những bước đi vững chắc, có khả năng phát triển năng lực, sở trường trong tương lai.

Không ít sinh viên vẫn có suy nghĩ chỉ những ai muốn phấn đấu trở thành cán bộ, đảng viên trong tương lai thì mới cần học tốt các môn LLCT; nếu không thì xác định học “cho xong”. Đây là nhận thức sai lầm! Bởi lẽ, dù làm công việc gì đi nữa, cũng cần có kiến thức về chính trị, xã hội, nắm vững được chính sách, pháp luật, vận dụng trong công việc và đời sống. Chẳng hạn, một nghệ sĩ nếu nắm vững quan điểm chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về văn hóa văn nghệ sẽ có bản lĩnh chính trị, chắc chắn không sáng tác, phổ biến những tác phẩm nhạy cảm chính trị, vi phạm thuần phong mỹ tục; ứng xử văn hóa, có đạo đức nghề nghiệp, không làm ảnh hưởng tiêu cực đến danh tiếng của bản thân. Hay như một doanh nhân sẽ tìm thấy những yếu tố tích cực từ tư tưởng Hồ Chí Minh về thu hút, trọng dụng nhân tài để vận dụng vào thực tiễn tuyển trạch và quản trị nhân sự doanh nghiệp.

Không chỉ mang lại lợi ích để lập nghiệp mai sau, học tập LLCT còn giúp sinh viên lập thân, trở thành công dân gương mẫu, có trách nhiệm với cộng đồng, luôn tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Từ đó, trong suy nghĩ và hành động đều hướng đến các giá trị nhân văn cao đẹp; có lòng yêu nước nồng nàn; có tinh thần kiên định, vững vàng trước những biến động phức tạp của cuộc sống.

Đặc trưng của sinh viên là tuổi đời còn trẻ, khoảng từ 18 đến 25 tuổi. Bên cạnh ưu điểm có tri thức, năng động, dễ tiếp thu cái mới song tâm lý chưa ổn định, thiếu kinh nghiệm, chưa nhạy cảm với các vấn đề chính trị xã hội, dễ sa vào tệ nạn xã hội, bắt chước văn hóa lai căng nước ngoài. Nắm bắt điều này, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên kích động, lôi kéo, dụ dỗ sinh viên tiếp xúc các thông tin xấu độc, nhất là trên môi trường internet, nhằm làm giảm niềm tin của sinh viên đối với Đảng, Nhà nước; thậm chí một số sinh viên đã bị lợi dụng, tích cực hoạt động chống phá chế độ, gây bất ổn chính trị, an ninh trật tự. Cho nên, việc học tập các môn LLCT sẽ giúp sinh viên có lập trường tư tưởng kiên định, bản lĩnh chính trị vững vàng, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Đất nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, nhiều tư tưởng, học thuyết, hệ giá trị, quan điểm cũng sẽ theo các cánh cửa giao thương, không gian mạng... mà ùa vào, tác động đến tâm tư, tình cảm và hành động của sinh viên. Do vậy, việc giáo dục LLCT cho sinh viên đại học nhằm tạo ra nền tảng kiến thức chính trị-xã hội vững vàng ngay từ giảng đường đại học là vô cùng quan trọng. Thông qua học tập các môn LLCT, sinh viên có nhận thức đúng đắn; có niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Từ đó, sẽ quyết định khuynh hướng, mục đích và hiệu quả hoạt động của sinh viên trong học tập, lao động; xây dựng lý tưởng cách mạng trong sáng, làm chủ bản thân, giàu lòng yêu quê hương, đất nước, xây dựng và củng cố vững chắc mục tiêu lý tưởng.

 Để phục vụ cho loạt bài này, trong tháng 12-2021, nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã tiến hành một cuộc khảo sát với 3.020 sinh viên trên cả nước. Trả lời câu hỏi về lợi ích của các môn LLCT, hầu hết sinh viên sau khi học xong đều thể hiện nhận thức tích cực về lợi ích của các môn học đối với bản thân, đó là: Góp phần hình thành thế giới quan khoa học, nhân cách và lý tưởng sống (66,8%); giúp nâng cao ý thức, trách nhiệm với đất nước (64,2%); vận dụng để giải quyết các vấn đề thực tiễn (44,1%)... Song, nghịch lý là khi được hỏi về mức độ yêu thích với từng môn học cụ thể, câu trả lời “Bình thường” đều chiếm tỷ lệ hơn 50%.

(còn nữa)

HOÀNG HOÀNG - THU HÀ

Qdnd.vn

TẬP TRUNG DÂN CHỦ LÀ MỘT NGUYÊN TẮC CĂN BẢN CỦA MỘT ĐẢNG CÁCH MẠNG CHÂN CHÍNH


          Khi nói về cách tổ chức của Liên đoàn những người cộng sản - chính đảng cách mạng đầu tiên của giai cấp công nhân, Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Bản thân tổ chức cũng hoàn toàn dân chủ, với những người lãnh đạo được bầu ra và luôn luôn có thể bị bãi miễn”. Sau này, V.I.Lênin cũng nhấn mạnh, “chế độ tập trung dân chủ, một mặt, thật khác xa chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa, và, mặt khác, thật khác xa chủ nghĩa vô chính phủ”. Điều đó cũng có nghĩa là, “không có gì sai lầm bằng việc lẫn lộn chế độ tập trung dân chủ với chủ nghĩa quan liêu và với lối rập khuôn máy móc”. Thực tế, lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng cho thấy, là liên minh tự nguyện của những người cùng chung chí hướng, cùng đồng chí, đồng lòng đấu tranh để xây dựng chủ nghĩa xã hội/một chế độ xã hội tự do, dân chủ, công bằng vì con người và cho con người, tất yếu Đảng Cộng sản - bộ phận tiên phong của giai cấp công nhân phải được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật và thống nhất, sinh hoạt và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng Cộng sản phải là một tổ chức thống nhất về ý chí và hành động, không dung thứ sự tồn tại của các phe nhóm, bè phái; lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển của Đảng.

          Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ được hiểu giản dị là, "tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung"; và theo đó, “lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”. Cho nên, tập trung dân chủ là nguyên tắc rường cột chỉ đạo toàn bộ, xuyên suốt quá trình xây dựng, tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của một Đảng Cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng; đồng thời, chi phối các nguyên tắc khác, để xây dựng Đảng thành một tổ chức thống nhất, chặt chẽ, kỷ luật; bảo đảm Đảng luôn thống nhất trong tư tưởng và hành động chứ không phải là một câu lạc bộ.

          Thực tế cũng cho thấy, tập trung dân chủ là một nguyên tắc căn bản (trong tổ chức và hoạt động) của Đảng, để phân biệt một chính Đảng Mácxít Lêninnit với một đảng phái chính trị khác. Tập trung và dân chủ là hai mặt không mâu thuẫn với nhau mà luôn thống nhất biện chứng, không thể tách rời, vì tập trung không trên cơ sở dân chủ sẽ thành tập trung quan liêu, độc tài; còn dân chủ đúng đắn phải dựa trên cơ sở tập trung, dân chủ mà tách rời tập trung sẽ thành vô chính phủ. Tập trung được thực hiện trên cơ sở dân chủ, hỗ trợ, bảo đảm để dân chủ được kiểm soát trong khuôn khổ, chứ không phải là tập trung độc đoán, chuyên quyền. Tập trung là để toàn thể đảng viên tư tưởng và hành động đều thống nhất, tránh tình trạng "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". Còn dân chủ được thực hiện và là bảo đảm của tập trung, giúp cho tập trung được thực hiện linh hoạt, hiệu quả, để tránh dân chủ theo kiểu tùy tiện, phân tán, vô tổ chức, hình thức. Dân chủ nghĩa là mọi cán bộ, đảng viên đều có quyền tham gia vào việc quyết định công việc của Đảng (được bày tỏ chính kiến, thông tin, thảo luận, tranh luận, bảo lưu ý kiến trong tổ chức) để bàn bạc và đi đến thống nhất về quan điểm, chủ trương… không chỉ trong xây dựng nghị quyết, đưa nghị quyết vào cuộc sống mà còn thể hiện rõ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, khi tổ chức đảng đã có nghị quyết thì tất cả đảng viên đều phải nói và làm theo nghị quyết.

          Được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc một Đảng Mácxít Lêninnit chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản; trong đó, thiểu số phục tùng đa số (nội dung cốt lõi, đặc trưng của dân chủ trong Đảng), cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức; các tổ chức đảng trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc, Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Trên thực tế, xuất phát từ bản chất giai cấp công nhân của Đảng; từ yêu cầu, nhiệm vụ lịch sử của Đảng; từ kinh nghiệm của các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế, suốt quá trình xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định và kiên trì thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ - coi đó là nguyên tắc số một, bất di bất dịch. Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn, Đảng "luôn luôn nắm vững lãnh đạo tập thể là nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng thời kết hợp với phân công phụ trách. Đảng chống mọi hiện tượng phân tán, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tự do vô kỷ luật cũng như chống mọi hiện tượng tập trung quan liêu, sự vụ, gia trưởng, độc đoán, coi thường tập thể, coi thường cấp dưới” để thống nhất trong tư tưởng và hành động; để “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn.

          Theo đó, các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương đều "thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo đi đôi với phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu”; đồng thời, luôn có cơ chế để nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện nghiêm trên tinh thần "thực hiện triệt để nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong cấp ủy. Tạo mọi điều kiện cần thiết để mỗi cấp ủy viên có thể tham gia đầy đủ vào việc bàn bạc, quyết định các chủ trương; định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của từng người”, nhằm "tránh lối cá nhân độc đoán chuyên quyền" hoặc "tránh lối ỷ lại vào tập thể, sợ trách nhiệm" mà không dám quyết đoán khi cần phải ra quyết định. Đồng thời, việc phát triển và mở rộng dân chủ trong Đảng luôn đi đôi với tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng và giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật Đảng.

          Dân chủ càng phát triển thì tập trung càng vững chắc, sức mạnh của Đảng càng được khẳng định và vì thế, nguyên tắc tập trung dân chủ cũng chính là biểu hiện của tính tiền phong, chiến đấu của Đảng. Vì thế, bất cứ quan điểm/luận điệu nào cho rằng tập trung và dân chủ là hai mặt đối lập; cho rằng, nếu thực hiện tập trung sẽ tất yếu dẫn đến thu hẹp dân chủ, triệt tiêu dân chủ và ngược lại, nếu muốn thực hiện dân chủ, ắt phải từ bỏ tập trung thì đều là trái với nguyên tắc tập trung dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin, đều là phản động. Chính vì thế, việc xuyên tạc bản chất nguyên tắc tập trung dân chủ nói chung, việc cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ nói riêng là sự "chuyên quyền của một nhóm quyền lực trong Đảng" là một trong các thủ đoạn chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nhằm từng bước hạ thấp vị thế, uy tín, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị như đã hiến định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.