Cuộc khủng hoảng chính trị ở Ukraine được châm ngòi từ sự kiện chính phủ của Tổng
thống Yanukovych hồi cuối năm ngoái bất ngờ hủy bỏ việc ký kết các thoả thuận
chính trị, thương mại mang tính lịch sử với EU, thay vào đó, Kiev chọn con đường
thiết lập quan hệ gắn bó hơn với Moscow. Sau những cuộc biểu tình đẫm máu tại
Quảng trường Maidan, Tổng thống Yanukovych bị lật đổ và chính phủ mới được
thành lập chính quyền mới và tuyên bố ly khai, thành lập những quốc gia riêng,
đối đầu với Kiev, đẩy Ukraine vào một cuộc nội chiến đẫm máu. Theo tổ chức nhân
quyền của Liên Hợp quốc, số người thiệt mạng trong cuộc khủng hoảng tại Ukraine
đến thời điểm này đã vượt quá con số 3.000, và cũng có khoảng 1 triệu người phải
đi lánh nạn. Mặc dù ngày 5/9 vừa qua, hai bên đã có thỏa thuận ngừng bắn nhưng
xem ra cuộc khủng hoảng Ukraine đến nay vẫn chưa có hồi kết.
Để hiểu rõ nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng
Ukraine hiện nay, chúng ta cần xem xét tình hình Ukraine một cách toàn cảnh từ
lịch sử, địa lý, văn hóa, sắc tộc, tôn giáo đến các vấn đề kinh tế, chính trị.
1. Nguyên nhân lịch sử - địa lý
Lãnh thổ Ukraine hiện nay có một lịch sử phức tạp.
Trong lịch sử, Ukraine và Nga đã từng là một quốc gia, tuy nhiên theo thời
gian, lãnh thổ Ucraina và Nga liên tục bị chia cắt và sáp nhập bởi các đế quốc
láng giềng, đặc biệt là vùng phía Tây Ukraina, đã từng thuộc lãnh thổ của Ba
Lan, Litva, Mông cổ, Thổ Nhĩ Kỳ, Tatar, đế quốc Hung - Áo. Trong chiến tranh thế
giới lần thứ nhất, người dân phía Tây Ukraine nhập vào đội quân đế quốc Hung -
Áo, trong khi người dân phía Đông gia nhập quân đội Nga. Cùng với sự ra đời nước
Nga Xô-viết, một số tỉnh miền Đông và Nam Ukraine hiện nay như Donetsk, Odessa
cũng thành lập các nước Cộng hòa Xô-viết. Năm 1919, chính quyền Xô viết và Ba
Lan ký hiệp ước Hòa bình Riga, theo đó phần phía Tây Ukraine chính thức sáp nhập
vào Ba Lan. Đến tháng 9/1939, sau khi Đức xâm lược Ba Lan, một hiệp định giữa Đức
và Liên Xô đã phân chia lại lãnh thổ Ba Lan, phần phía Tây trước đây của
Ukraine được tái thống nhất với phần còn lại của đất nước. Năm 1922, Ukraine là
một thành viên sáng lập Liên bang Xô-viết. Dưới thời Liên Xô, trong những năm
1923 - 1933 vùng Donbas và Novorossi của Nga đã được sáp nhập vào Ukraine và đến
năm 1954 bán đảo Crimea cũng được chính quyền Xô-viết “tặng” cho Ukraine.
Với lịch sử phức tạp như vậy, trong nhiều thập kỷ
qua, Ukraine luôn là sự tương phản giữa hai vùng rõ rệt. Khu miền Tây và miền
Trung giáp với châu Âu, chịu ảnh hưởng nhiều của nền chính trị phương Tây. Người
dân ở đây theo quan điểm ủng hộ tăng cường liên kết với Liên minh châu Âu và
NATO. Phần còn lại là vùng duyên hải dọc Biển Đen và miền Đông với nhiều yếu tố
gắn với nước Nga và những hoài niệm về thời Liên bang Xô-viết. Vì thế, những
người ở miền Đông ủng hộ liên kết với Nga và ước muốn tham gia Liên minh kinh tế
Á – Âu (gồm Nga, Belarus và Kazakhstan).
Như vậy, chính hình thái “hai nhà nước” trong một đất
nước đã đưa đến hai xu hướng phát triển đối lập ở Ukraine. Đó chính là một
nguyên nhân dẫn tới những mâu thuẫn nội bộ và xu hướng ly khai. Bằng chứng là
bán đảo Crimea đã sáp nhập vào Nga, còn các tỉnh miền Đông và Nam như Donetsk,
Luhansk, Kharkov, Odessa… đã ly khai và thành lập các nhà nước cộng hòa nhân
dân với chính quyền độc lập với Kiev.
2. Nguyên nhân về sắc tộc, văn hóa, tôn giáo
Về sắc tộc, lãnh thổ Ukraine hiện nay là nơi sinh sống
của nhiều dân tộc, trong đó người Ukraine chiếm 77,8% dân số, người Nga chiếm
17,3% (2011), còn lại là các dân tộc khác chiếm thiểu số như người Tatar
Crimea, người Belarus, người Bulgari, người Hungary, người Ba Lan, người Do
Thái,… Đặc biệt, có nơi như bán đảo Crimea có tới 60% dân số là người Nga.
Về ngôn ngữ, theo Hiến pháp, ngôn ngữ nhà nước của
Ukraina là tiếng Ukraina, nhưng do những yếu tố lịch sử, tiếng Nga được sử dụng
rộng rãi, đặc biệt tại phía Đông và phía Nam Ukraina. Theo cuộc điều tra dân số
năm 2001, 67,5% dân số tuyên bố tiếng Ukraina là tiếng mẹ đẻ và 29,6% tuyên bố
là tiếng Nga. Đa số người dùng tiếng Ukraina như tiếng mẹ đẻ biết tiếng Nga như
một ngôn ngữ thứ hai. Đặc biệt, ở Crimea, những người nói tiếng Nga chiếm đại
đa số dân cư Crimea (77%), tiếng Ukraina chỉ chiếm 10,1%, và người nói tiếng
Tatar Crimea chiếm 11,4%. Nhưng trong đời sống hàng ngày đa số người Tatar
Crimea và người Ukraina ở Crimea sử dụng tiếng Nga.
Về văn hóa, Ukraine nằm giữa hai nền văn minh lớn là
Ki-tô giáo phương Tây và Chính thống giáo phương Đông và nằm cạnh một quốc gia
lớn đang vươn trở dậy thành một cường quốc của khu vực có nền văn minh Hồi
giáo, đó là Thổ Nhĩ Kỳ. Vì thế, nền văn hóa Ukraine cũng thể hiện sự phân hóa
Đông Tây khá rõ rệt. Khu vực phía Tây do nằm ngay sát phương Tây và có nền văn
hóa bị ảnh hưởng của các nước láng giềng phương Tây, vì vậy đa số người dân khu
vực này thường có thái độ ủng hộ chính quyền thân phương Tây và bài Nga. Trong
khi đó người dân sống trong vùng phía Đông Ukraine đa số đi theo Chính Thống
giáo; sự gắn bó về văn hóa làm cho cư dân khu vực này có thái độ ủng hộ chính
quyền thân Nga. Như vậy, sự khác biệt văn hóa giữa hai miền Đông và Tây Ukraine
đã làm cho nền chính trị Ukraine luôn luôn căng thẳng.
3. Nguyên nhân kinh tế
Cùng với những nguyên nhân về lịch sử, văn hóa, khủng
hoảng kinh tế, xã hội trong những năm gần đây làm sự bất mãn của người dân với
chính quyền của Tổng thống thân Nga Yanukovich tăng lên cực điểm. Đó là một
nguyên nhân quan trọng dẫn tới khủng hoảng chính trị kéo dài.
Xét về GDP bình quân đầu người, Ukraine tỏ ra thua
kém các nước Đông Âu lân cận. Năm 2011, Tạp chí Forbes của Mỹ công bố danh sách
10 nền kinh tế yếu kém nhất trên thế giới, trong đó có Ukraine. Hiện các doanh
nghiệp Ukraine nợ các ngân hàng Nga khoảng 20 tỷ USD. Thêm vào đó, tỷ lệ thất
nghiệp và lạm phát cao, chênh lệch giàu nghèo ngày càng giãn rộng, càng gây nên
sự bất ổn xã hội. Nguyên nhân là do Ukraine đã không có những cải cách sâu rộng
để hiện đại hóa ngành sản xuất công nghiệp, với những sản phẩm truyền thống như
sắt, thép và hóa chất. Hệ thống kinh tế nhà nước bị các tập đoàn và các cá nhân
chi phối, dẫn đến tình trạng ngày càng gia tăng các cuộc xung đột quyền lực,
làm cho các chương trình phát triển quốc gia không thể thực hiện được. Thực trạng
khu vực hóa đời sống kinh tế trong thời gian dài, làm Ukraina thiếu sự phát triển
một thị trường chung toàn quốc.
Bên cạnh đó, Ukraine phụ thuộc tới 60% lượng khí đốt
từ Nga. Hiện nay, Ukraine phải chi 485,5 USD để mua 1.000 m3 khí đốt của Nga,
trong khi Armenia chỉ phải trả 189 USD. Mỗi năm, chính phủ nước này phải chi tới
7,5% GDP đề trợ giá cho khí đốt. Hậu quả là thâm hụt ngân sách ngày một lớn và
chính phủ buộc phải đi vay để bù đắp. Theo một bản báo cáo của Ngân hàng thế giới
WB, nền kinh tế Ukraine còn bị phá hoại bởi tình trạng tham nhũng tràn lan. Bảng
xếp hạng của tổ chức Minh bạch quốc tế năm 2013 đã đặt Ukraine ở hạng 144/175
quốc gia trong bảng chỉ số cảm nhận tham nhũng của tổ chức này.
Những khó khăn ấy buộc lãnh đạo Ukraine phải dựa vào
sự trợ giúp từ bên ngoài, đặt nền kinh tế đứng trước sự lựa chọn hóc búa. Mặc
dù EU là một thị trường xuất khẩu giàu có nhưng Ukraine rất khó len chân vào
đây do chất lượng hàng hóa thấp. Để nhận được khoản hỗ trợ tài chính 500 triệu
euro mỗi năm của EU, Ukraine phải cam kết giảm bội chi ngân sách, nâng cấp nền
kinh tế yếu kém cho đạt với tiêu chuẩn châu Âu. Trong khi đó, nếu gia nhập Liên
minh Thuế quan của Nga, Ukraine lập tức được hưởng ngay nhiều ưu đãi mà nền
kinh tế nước này đang rất cần, trước tiên đó là một mức giá khí đốt giá rẻ từ
Nga. Trong bối cảnh đó, Tổng thống Yanukovich dừng ký hiệp định gia nhập EU của
Ukraine và quay sang Nga nhằm nhận được tài trợ từ Nga. Quyết định này đẩy những
bất đồng kinh tế lên mức cực điểm dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng về chính
trị như đang diễn ra.
4. Nguyên nhân về chính trị
Ngoài những nguyên nhân trên, cuộc khủng hoảng
Ukraine hiện nay là hệ quả của những bất cập trong đời sống chính trị Ukraine
trong một thời gian dài và là biểu hiện của sự tranh giành ảnh hưởng giữa Nga
và phương Tây.
4.1. Những bất cập trong đời sống chính trị Ukraine
Trong giai đoạn đầu mới thành lập vào năm 1991, mục
tiêu hàng đầu của các nhà lãnh đạo mới là xây dựng Ukraine trở thành một quốc
gia thống nhất, nếu không, đất nước này phải đối mặt với sự tan rã. Để thực hiện
mục tiêu đó các nhà lãnh đạo đã lựa chọn chủ nghĩa dân tộc Ukraine làm động lực
đoàn kết xã hội, tăng cường việc sử dụng tiếng Ukraine, trong khi không khuyến
khích tiếng Nga, vốn đã bị cấm hay hạn chế trên truyền thông và phim ảnh. Chủ
trương xa rời Nga của chính quyền đã dẫn tới những bất bình trong một bộ phận
người dân, nhất là ở các vùng phía Đông và Nam Ukraine vốn có quan hệ gần gũi với
Nga về lịch sử và văn hóa.
Bên cạnh đó là những tuyên truyền sai lạc của chính
quyền Ukraine về thời kỳ Xô-viết và về quan hệ với Nga, phủ nhận tất cả các
thành quả mà chính quyền Liên bang Xô-viết đạt được, thậm chí bóp méo cả lịch sử
trong chiến tranh vệ quốc chống phát-xít Đức. Điều này đã gây ra sự kỳ thị của
người dân Ukraine đối với người Nga.
Sau quá trình cải cách chuyển đổi giai đoạn cuối thập
kỷ 90, đầu những năm 2000, Ukraine đã không thể hiện đại hóa hệ thống chính trị
do mâu thuẫn nội bộ. Hệ thống chính trị đã gần như bất lực và kém hiệu quả. Cơ
quan chính quyền hành pháp liên tục xẩy ra xung đột nội bộ và trình độ quản lý
chưa cao, cơ quan tư pháp yếu kém, tòa án tham nhũng và không công bằng, các
chính đảng kém phát triển, xã hội dân sự kém phát triển.
Thêm vào đó, sự lũng đoạn của các tập đoàn tài chính
và các gia tộc trong các đảng phái dẫn đến tình trạng cả hai phe thân Nga hoặc
chống lại sự phụ thuộc vào Nga sau mỗi cuộc chính biến chính trị thì nội bộ lại
lục đục, do các đảng phái trong nội bộ liên tục tranh giành quyền lực. Kết quả
nền chính trị Ukraina không lúc nào yên ả.
4.2. Sự tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và phương Tây
Với ví trị địa lý chiến lược nhạy cảm, cùng những phức
tạp trong đời sống kinh tế - văn hóa, người dân Ukraine đã tự biến mình thành
vùng đệm tự nhiên giữa Đông và Tây, và kết quả là bị kẹt cứng trong cuộc chiến
giành giật ảnh hưởng kéo dài nhiều năm qua. Người ta tin rằng, những diễn biến ở
Ukraine trong thời gian vừa qua được xem là “cuộc đấu” giữa Nga với Mỹ và châu
Âu nhằm tranh giành quốc gia Đông Âu.
Sau khi Liên Xô sụp đổ, Nga tìm mọi cách để thắt chặt
quan hệ với các nước cộng hòa trong Liên bang Xô-viết, đặc biệt là Ukraine,
thông các khoản tín dụng và các hợp đồng kinh tế có lợi cho các đồng minh, cung
cấp dầu khí giá rẻ, nhằm ngăn chặn xu hướng ngả theo phương Tây. Nhà chính trị
học Emmanuelle Armandon, chuyên gia về Ukraine, nhận định trên tờ Le Monde
(Pháp): “Từ khi Liên Xô sụp đổ, một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính
sách ngoại giao của Mátxcơva là giữ Ukraine trong tầm kiểm soát. Nga luôn xem
Ukraine và các nước thuộc Liên Xô cũ đương nhiên thuộc vùng ảnh hưởng của mình.
Điều này giải thích vì sao Mátxcơva không chấp nhận cho EU mở rộng biên giới về
phía Đông”.
Ở “mặt trận” bên kia, Mỹ và phương Tây cũng tranh thủ
mọi biện pháp để lôi kéo Ukraine và các nước SNG ly tâm khỏi Nga. Trong những
phát biểu mới nhất tại Hội nghị an ninh Munich diễn ra ở Đức, Chủ tịch Hội đồng
châu Âu Herman Van Rompuy đã thẳng thừng tuyên bố “tương lai của Ukraine thuộc
về EU”. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cũng hòa giọng khi nói rằng “không có nơi
đâu cuộc chiến cho tương lai dân chủ của châu Âu lại quan trọng hơn ở Ukraine
hiện nay” và rằng “Hoa Kỳ và EU đứng cùng với người dân Ukraine trong cuộc chiến
cho nền dân chủ”. Bên cạnh những hứa hẹn về kinh tế, phương Tây còn sử dụng những
chiêu bài chính trị mà phương pháp phổ biến là tiến hành những cuộc “cách mạng
sắc màu” để lật đổ chính quyền Ukraine như đã diễn ra hiện nay cũng như năm
2004.
Trong khi đó, ngày 8/3, Ngoại trưởng Nga Sergei
Lavrov tuyên bố, nguyên nhân dẫn đến tình huống phức tạp hiện nay tại Ukraine
chính là do phương Tây đã không thực hiện các thỏa thuận ký ngày 21/2 giữa Tổng
thống Viktor Yanukovych và đại diện phe đối lập, trước sự chứng kiến của các Đặc
phái viên Liên minh châu Âu. Đáp trả chiêu bài cách mạng dân chủ của phương
Tây, Nga lại cổ vũ cho phong trào ly khai, kết cục là một loạt các nước “Cộng
hòa nhân dân” ra đời ở miền Đông và Nam Ukraine.
Như vậy, có thể nói, cũng giống như nước Đức bị chia
cắt trước đây, cuộc khủng hoảng Ukraine hiện nay cho thấy cuộc chiến giành giật
ảnh hưởng sẽ ngày càng trở nên khốc liệt và làm tái hiện phiên bản của sự đối đầu
Đông – Tây, vốn là bản chất của thời chiến tranh Lạnh.
Tóm lại, cuộc khủng hoảng Ukraine hiện nay là hệ quả
của những khó khăn kinh tế kéo dài, những bất cập trong đời sống chính trị, những
phức tạp về lịch sử và văn hóa và là biểu hiện của sự tranh giành ảnh hưởng giữa
Nga và phương Tây. Do đó, để lý giải cho tình hình Ukraine hiện nay, cần thiết
phải xem xét một cách toàn diện những nguyên nhân trên, chứ không chỉ dừng lại ở
một nguyên nhân nào đó./.NVS
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét