Nam Bộ là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Lịch
sử hình thành vùng đất Nam Bộ thể hiện rõ những luận cứ khoa học, phù hợp thông
lệ quốc tế chứng minh quá trình thụ đắc lãnh thổ của dân tộc ta. Để hiểu rõ về
vấn đề chủ quyền vùng đất Nam Bộ chúng ta cần hiểu rõ về 3 thời kỳ lịch sử lớn
của vùng đất này: Vùng đất Nam Bộ dưới thời Phù Nam; Vùng đất Nam Bộ dưới thời
Chân Lạp; Vùng đất Nam Bộ của Việt Nam.
I- Vùng đất Nam Bộ dưới thời Phù Nam
Căn cứ các thư tịch cổ và di vật thuộc nền văn
hoá Óc Eo (là di tích văn hoá vật thể của Phù Nam1), các nhà khoa học đã khẳng
định nước Phù Nam xuất hiện vào khoảng đầu Công nguyên, với trung tâm là vùng
đất Nam bộ Việt Nam hiện nay.
Trong thời kỳ hưng thịnh, nước Phù Nam phát
triển thành một đế chế gồm: toàn bộ phần phía nam bán đảo Đông Dương (Nam Bộ
Việt Nam, Campuchia, một phần nam Lào), một phần Thái Lan và bán đảo Malacca,
trung tâm vẫn là vùng Nam bộ Việt Nam. Cư dân chủ thể là nhóm người Mã Lai- Đa
Đảo ven biển có truyền thống hàng hải, thương nghiệp khá phát triển, có kinh
nghiệm và tài nghệ trong làm thuỷ lợi, khai phá và canh tác ở đồng bằng trũng
thấp.
Đế chế Phù Nam bắt đầu quá trình suy yếu vào
cuối thế kỷ VI. Nhân cơ hội này, vào đầu thế kỷ VII, Chân Lạp- một thuộc quốc
của Phù Nam, do người Khmer xây dựng, lúc bấy giờ ở vùng trung lưu sông Mê Kông
và khu vực phía Bắc Biển Hồ, lấy nông nghiệp là nghề chính để sinh sống, đánh
chiếm một phần lãnh thổ của Phù Nam ở vùng hạ lưu sông Mê-Kong- vùng Nam Bộ
Việt Nam.
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định những điểm
chính yếu ở thời kỳ này như sau:
-Vùng đất Nam Bộ ngày xưa là trung tâm của
nước Phù Nam.
-Di vật thuộc văn hoá Óc Eo là di tích văn hoá
vật thể của nước Phù Nam.
-Chân Lạp do người Khmer xây dựng là một thuộc
quốc của đế chế Phù Nam.
II-Vùng đất Nam Bộ dưới thời Chân Lạp
Chân Lạp phát triển thành một vương quốc độc
lập vào thế kỷ VI và sau đó đánh chiếm một phần lãnh thổ của đế chế Phù Nam vào
đầu thế kỷ VII. Như vậy, từ chỗ một vùng đất thuộc Phù Nam, sau năm 627 vùng
đất Nam Bộ bị phụ thuộc vào Chân Lạp và được gọi là Thuỷ Chân Lạp để phân biệt
với vùng đất Lục Chân Lạp- vùng đất gốc của nước Chân Lạp.
Trên thực tế, việc cai quản vùng Thuỷ Chân Lạp
gặp nhiều khó khăn. Trước hết, với truyền thống quen khai thác các vùng đất
cao, với dân số ít, người Khmer khi đó không có khả năng tổ chức khai thác vùng
đồng bằng rộng lớn mới bồi lấp, còn ngập nước và sình lầy. Hơn nữa, việc khai
khẩn đất đai trên vùng đất gốc- Lục Chân Lạp đang đòi hỏi rất nhiều thời gian
và sức lực.
Vào nửa sau thế kỷ VIII, quân đội nước
Srivijaya của người Java liên tục tấn công và chiếm Thủy Chân Lạp. Cả vương
quốc Chân Lạp gần như bị lệ thuộc vào Srivijaya. Cục diện này mãi đến năm 802
mới kết thúc.
Một trở ngại nữa trong việc cai quản và khai
phá vùng Thủy Chân Lạp là tình trạng chiến tranh diễn ra thường xuyên giữa Chân
Lạp với Chămpa. Chân Lạp chỉ dồn sức phát triển ở khu vực Biển Hồ, trung lưu
sông Mêkông và mở rộng ảnh hưởng sang phía Tây. Từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ
XI, Chân Lạp cường thịnh, mở rộng lãnh thổ tận Nam Lào. Trong khi đó, dấu ấn
Chân Lạp trên vùng đất phía Nam không nhiều và ảnh hưởng văn minh Angkor ở vùng
này cũng không đậm nét.
Cho đến thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ
còn thưa thớt. Chu Đạt Quan, một người có dịp đến vùng đất Nam Bộ vào năm 1296
– 1297, đã mô tả vùng đất này như sau: “hầu hết là rừng thấp cây rậm. Sông dài
cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim
muông chen lẫn nhau ở trong đó. Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi,
tuyệt không có một tấc cây. Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rờn mà thôi. Trâu rừng
họp nhau thành từng đàn trăm ngàn con, tụ tập ở đấy. Lại có giồng đất đầy tre
dài dằng dặc mấy trăm dặm. Loại tre đó, đốt có gai, măng rất đắng”.
Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIV, nước Chân Lạp phải
đối phó với sự bành trướng của các vương triều Xiêm từ phía Tây, đặc biệt là từ
sau khi Vương triều Ayuthaya hình thành vào giữa thế kỷ XIV. Trong suốt 78 năm
(từ 1353 đến 1431), Ayuthaya liên tiếp tiến công Chân Lạp.
Sang thế kỷ XVI, và nhất là thế kỷ XVII, do sự
can thiệp của nước Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc. Chân lạp bước
vào thời kỳ suy vong.
Trong bối cảnh như vậy, nước Chân Lạp hầu như
không có khả năng kiểm soát, quản lý vùng đất còn ngập nước ở phía Nam, vốn là
địa phận của vương quốc Phù Nam.
Chúng ta có thể khẳng định những điểm cốt lõi
trong thời kỳ lịch sử này như sau:
-Chân Lạp đã chiếm vùng đất Nam Bộ bằng cách
gây chiến tranh với Phù Nam.
-Vùng đất Nam Bộ ngày xưa được gọi là Thuỷ
Chân Lạp để phân biệt với vùng đất gốc Lục Chân Lạp của người Khmer.
-Từ nửa sau thế kỷ VIII (đến năm 802)cũng bằng
chiến tranh vùng đất Nam Bộ ngày xưa nằm dưới quyền kiểm soát của nước
Srivijaya (của người Java).
-Do phải tập trung khai phá vùng đất gốc Lục
Chân Lạp, lo chiến tranh với Chămpa, đồng thời phải đối phó với với quân Xiêm
xâm lấn nên vùng đất Nam Bộ ngày xưa hầu như không được Chân Lạp quan tâm quản
lý, khai phá.
III-Vùng đất Nam Bộ của Việt Nam
1-Việt Nam khai phá vùng đất Nam Bộ
Từ đầu thế kỷ XVII, trong bối cảnh Chân Lạp
không đủ sức quản lý vùng đất phía Nam, đã có lưu dân người Việt ở vùng đất
Thuận - Quảng đến Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) khai khẩn đất hoang,
lập ra những làng người Việt trên vùng này.
Năm 1620, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái
cho Quốc vương Chân Lạp Chey Chettha II. Chúa Nguyễn trở thành chỗ dựa cho vua
Chân Lạp để đối phó với nước Xiêm. Đồng thời cư dân Việt ở vùng đất Nam bộ tự
do khai khẩn đất, làm ăn sinh sống.
Năm 1623, Chúa Nguyễn đã lập thương điếm ở vị
trí tương ứng với Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) để thu thuế. Vào thời
điểm đó, cư dân Việt đã có mặt hầu khắp miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn.
Sau cái chết của Chey Chetta II vào năm 1628,
chính quyền Chân Lạp bị chia rẽ, nhiều cuộc chiến diễn ra giữa các phe phái với
sự trợ giúp quân sự của một bên là nước Xiêm và một bên là chúa Nguyễn. Bối
cảnh này giúp cho người Việt tiến hành khai phá những vùng đất hoang hoá ở đồng
bằng sông Cửu Long, tạo điều kiện cho chúa Nguyễn thiết lập quyền kiểm soát
chính thức của mình trên những vùng đất cư dân Việt đã dựng nghiệp. Theo Đại
Nam thực lục tiền biên, tháng 9 năm Mậu Tuất (năm 1658), vua nước Chân Lạp là
Nặc Ông Chân (Chan Ramathipati) xâm lấn đất đai của Chúa Nguyễn ở vùng Mô Xoài
(Bà Rịa), đã bị quan quân địa phương bắt giải về Phú Xuân. Chúa Nguyễn Phúc Tần
“tha tội cho và sai hộ tống về nước, khiến làm phiên thần hàng năm nộp cống”.
Tư liệu trên xác nhận những hoạt động quan trọng đầu tiên của Chúa Nguyễn trên
con đường hình thành và bảo vệ chủ quyền của mình đối với vùng đất Nam Bộ.
Cùng với các nhóm cư dân người Việt, trong
thời gian này cũng xuất hiện một số người trung thành với nhà Minh chống nhà Thanh
đến khai khẩn đất hoang và sinh sống làm ăn ở vùng đất Nam Bộ, đẩy nhanh quá
trình khai phá vùng đất đồng bằng Nam Bộ.
Từ năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần tạo điều
kiện để nhóm Dương Ngạn Địch (người vùng Quảng Tây) tổ chức việc khai phá và
phát triển kinh tế vùng lưu vực sông Tiền Giang (Mỹ Tho); cho nhóm Trần Thượng
Xuyên và những đồng hương Quảng Đông chiêu dân tiếp tục mở mang vùng Biên Hoà-
Đồng Nai. Vùng đất trải dài từ Bà Rịa đến sông Tiền Giang, vốn đã được cư dân
người Việt đến sinh cư lập nghiệp trước, nhanh chóng trở thành trung tâm kinh
tế quan trọng với nhiều làng mạc trù phú, phố phường sầm uất, hải cảng nhộn
nhịp có thuyền buôn Nhật Bản, Tây Dương, Bồ Đà (Java)… tới buôn bán.
Cùng thời gian này, Mạc Cửu là người Quảng
Đông cũng vì việc nhà Minh sụp đổ nên chiêu tập dân, xiêu dạt đến vùng Mang
Khảm (sau đổi thành Hà Tiên) lập thành 7 xã, thôn, cải tạo vùng đất hoang vu
thành nơi buôn bán sầm uất. Mạc Cửu cát cứ vùng đất Hà Tiên- Long Xuyên - Bạc
Liêu- Cà Mau (được gọi chung là Hà Tiên) thành khu vực của dòng họ mình, không
lệ thuộc vào chính quyền Chân Lạp.
Sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là vào
năm 1708, để bảo vệ cư dân vùng đất Hà Tiên lúc đó trước sự tiến công cướp bóc
của người Xiêm nên Mạc Cửu đã xin và được nội thuộc vào triều đình chúa Nguyễn.
Đến năm 1757, khi đất Tầm Phong Long (tương
đương với vùng Tứ Giác Long Xuyên) được vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng cho chúa
Nguyễn để đền ơn cứu giúp lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua, quá trình xác lập
chủ quyền lãnh thổ của người Việt trên vùng đất Nam Bộ cơ bản đã hoàn thành.
Từ những sự kiện lịch sử trên, chúng ta có thể
khẳng định:
-Nước Chân lạp đã không có điều kiện để quản
lý và khai thác vùng đất phía Nam.
-Sự sầm uất, trù phú của Nam Bộ là công lao
khai phá của các nhóm cư dân chủ yếu là người Việt từ thế kỷ XVII.
-Chúa Nguyễn bảo hộ cho quá trình khai phá
vùng đất Nam Bộ nên khẳng định quyền quản lý lãnh thổ đối với vùng đất này là
một hệ quả tự nhiên.
-Quá trình thụ đắc vùng đất Nam Bộ của chúa
Nguyễn chủ yếu thông qua khai phá hoà bình kết hợp với đàm phán ngoại giao để
khẳng định chủ quyền. Đó là phương thức phù hợp với thông lệ lịch sử và các văn
bản quốc tế hiện hành.
2- Việt Nam thực thi và bảo vệ chủ quyền trên
vùng đất Nam Bộ
Từ thế kỷ XVII để thực thi chủ quyền, các chúa
Nguyễn đã tổ chức các đơn vị hành chính, sắp đặt quan cai trị, lập sổ sách quản
lý dân đinh, ruộng đất và lập ra các loại thuế. Phủ Gia Định thành lập năm 1698
gồm hai dinh Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định) quản lý hơn 4 vạn
hộ. Sau năm 1774, vùng đất Nam Bộ chia thành 4 dinh (Trấn Biên, Phiên Trấn,
Long Hồ, Hà Tiên), mỗi dinh quản hạt một phủ, dưới phủ có huyện, tổng hay xã.
Từ đó, về cơ bản tổ chức hành chính của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ đã được
kiện toàn.
Triều Nguyễn (thành lập năm 1802) tiếp tục sự
nghiệp của các chúa Nguyễn, hoàn thiện hệ thống hành chính và thống nhất quản
lý trong cả nước. Năm 1836 vua Minh Mạng cho lập sổ địa bạ toàn bộ Lục tỉnh Nam
kỳ (vùng đất Nam Bộ ngày nay). Bên cạnh chính sách chính trị, quân sự, triều
đình khuyến khích phát triển kinh tế- xã hội, mở mang phát triển dinh điền, đồn
điền, xây dựng thuỷ lợi, phát triển giao thông.
Với ý thức về trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ,
chính quyền các chúa Nguyễn đã từng đánh bại các cuộc tiến công xâm phạm lãnh
thổ của quân Xiêm. Các vua Nguyễn xây dựng hệ thống trường luỹ, đồn bảo trấn
thủ dọc biên giới để bảo vệ vững chắc lãnh thổ.
Tháng 12 năm 1845, ba nước An Nam (Việt Nam),
Xiêm (Thái Lan) và Miên (Campuchia) đã ký một Hiệp ước, trong đó thừa nhận 6
tỉnh Nam Kỳ thuộc Việt Nam.
Khi thực dân pháp xâm lược, chiếm 6 tỉnh Nam
Kỳ, triều đình nhà Nguyễn đã kháng pháp, nhưng thất bại, phải ký các Hiệp định
nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông (năm 1862) và 3 tỉnh miền Tây (năm 1874).
Năm 1889, Pháp và Campuchia đã ký một loạt các
văn bản pháp lý về hoạch định phân giới cắm mốc biên giới giữa Nam Kỳ và
Campuchia, khẳng định vùng Nam kỳ thuộc Việt Nam.
Nhân dân Việt Nam đã không tiếc xương máu liên
tục đứng lên đấu tranh kháng Pháp. Trước những thắng lợi liên tiếp của Việt
Nam, ngày 4 tháng 6 năm 1949 tổng thống Pháp Vincent Aurol ký Sắc luật số
49-733 trả lại Nam Kỳ cho “Nhà nước liên hiệp Việt Nam”. Đây là văn bản có giá
trị pháp lý quan trọng xác nhận chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ.
Tóm lại, chúng ta có thể khẳng định sau năm
1774, tổ chức hành chính của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ đã được xác lập và
kiện toàn. Các Hiệp ước ký kết giữa 3 nước Đông Dương, Các Hiệp ước An Nam
nhượng cho Pháp các tỉnh Nam Kỳ, đặc biệt là Sắc Lệnh số 49-733 ngày 4 tháng 6
năm 1949 của Chính phủ Pháp trả lại Nam Kỳ cho Việt Nam là những văn bản có giá
trị pháp lý quốc tế, khẳng định vùng đất Nam Bộ thuộc chủ quyền của Việt Nam./.
Hoa Hướng dương