Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

Hơn 2.600 cuộc tấn công mạng tại Việt Nam trong 2 tháng đầu năm

 

Hơn 2.600 cuộc tấn công mạng tại Việt Nam trong 2 tháng đầu năm

Trong 2 tháng đầu năm 2022, tổng số sự cố tấn công mạng tại Việt Nam lên tới 2.643 với 2.022 vụ tấn công mã độc, 378 tấn công lừa đảo, 243 tấn công thay đổi giao diện…

Cũng theo thông tin từ Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông), trong tháng 2 đã ghi nhận, cảnh báo và hướng dẫn xử lý 1.260 cuộc tấn công mạng gây ra sự cố vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam. Trong đó, số sự cố tấn công cài mã độc nhiều nhất với 961 sự cố. Tiếp theo, sự cố tấn công lừa đảo (Phishing) và tấn công thay đổi giao diện (Deface) vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam trong tháng 2 lần lượt là 181 và 118 sự cố.

So với tháng 1, tổng số cuộc tấn công mạng vào các hệ thống trong nước dẫn đến sự cố đã giảm 8,89%. Theo lý giải của các chuyên gia Cục An toàn thông tin, sở dĩ tháng 2/2022 giảm là do thời gian nghỉ lễ Tết đầu năm âm lịch 2022, nên Chính phủ và các bộ, ngành địa phương đều nâng cao cảnh giác, tăng cường bảo đảm an toàn thông tin mạng cũng như an ninh, trật tự xã hội. Vì thế, các đối tượng tấn công mạng cũng khó khăn hơn trong việc tấn công, phát tán, lây nhiễm mã độc, lừa đảo để chiếm đoạt, phá hoại thông tin của người dùng cũng như của tổ chức. 

Tuy nhiên, nếu tính cả 2 tháng đầu năm nay, tổng số sự cố tấn công mạng vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam tương đối lớn, lên tới 2.643 sự cố, với 2.022 cuộc tấn công cài mã độc, 378 cuộc tấn công lừa đảo và 243 cuộc tấn công thay đổi giao diện.

Như vậy, nếu tính trung bình trong 2 tháng đầu năm 2022, mỗi ngày có 44,7 sự cố tấn công mạng vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam, tăng 1,6 lần so với năm 2021. Trong năm ngoái, số sự cố tấn công mạng mà các hệ thống thông tin trong nước phải hứng chịu mỗi ngày là 26,6.

43% DOANH NGHIỆP CHƯA BẢO VỆ NỀN TẢNG IOT

Theo IoT Analytics, số lượng thiết bị IoT (Internet vạn vật) được kết nối trên toàn cầu dự kiến sẽ tăng 9%, đạt 27 tỷ kết nối IoT vào năm 2025. Sự gia tăng đáng kể của các thiết bị được kết nối cũng làm tăng nhu cầu bảo mật. Trên thực tế, Gartner nhấn mạnh rằng, trong ba năm qua, gần 20% các tổ chức đã quan sát thấy các cuộc tấn công mạng trên các thiết bị IoT trong mạng của họ. 

“Các chuyên gia trên khắp thế giới đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hiệu quả cho các dự án IoT, bao gồm từ các nhà sản xuất thiết bị, nhà phát triển phần mềm cho đến các nhà cung cấp dịch vụ cũng như các công ty triển khai và sử dụng các giải pháp.”

Trong khi 2/3 tổ chức (64%) trên toàn cầu sử dụng các giải pháp IoT, 43% không bảo vệ chúng hoàn toàn. Điều này có nghĩa là đối với một số dự án IoT - có thể là bất kỳ thứ gì từ trạm sạc EV đến thiết bị y tế được kết nối thì các doanh nghiệp không sử dụng bất kỳ công cụ bảo vệ nào.

Trong báo cáo gần đây của Kaspersky “Thúc đẩy các giới hạn: Cách giải quyết các nhu cầu an ninh mạng cụ thể và bảo vệ IoT”, đã tiết lộ rằng cơ sở hạ tầng IoT của 43% doanh nghiệp vẫn chưa có bất kỳ biện pháp bảo vệ nào. Trong khi đó, rào cản chính đối với việc triển khai các dự án IoT của nhiều doanh nghiệp là nguy cơ vi phạm an ninh mạng và xâm phạm dữ liệu.

Theo các chuyên gia an ninh mạng, lý do có thể là sự đa dạng của các thiết bị và hệ thống IoT không phải lúc nào cũng tương thích với các giải pháp bảo mật. Gần một nửa doanh nghiệp lo sợ rằng các sản phẩm an ninh mạng có thể ảnh hưởng đến hiệu suất của IoT (46%) hoặc quá khó để tìm ra giải pháp phù hợp (40%).

Các vấn đề phổ biến khác mà các doanh nghiệp gặp phải khi triển khai các công cụ an ninh mạng là chi phí cao (40%), không thể giải trình dự án đầu tư với hội đồng quản trị (36%) và thiếu nhân viên hoặc chuyên gia bảo mật IoT (35%).

Ngoài ra, hơn một nửa số tổ chức (57%) cho rằng rủi ro an ninh mạng là rào cản chính để triển khai IoT. Điều này có thể xảy ra khi các công ty cố gắng giải quyết các rủi ro mạng ở giai đoạn thiết kế và sau đó phải cân nhắc cẩn thận tất cả các ưu và nhược điểm trước khi thực hiện.

Ông Andrey Suvorov, Giám đốc điều hành Adaptive Production Technology (viết tắt Aprotech, một công ty con của Kaspersky) chia sẻ: Bất chấp tất cả những thách thức, IoT mang đến rất nhiều cơ hội không chỉ cho các doanh nghiệp mà còn cho tất cả người dùng. IoT được sử dụng rộng rãi trong các thành phố thông minh (62%), ngành bán lẻ (62%) và công nghiệp (60%)…

“Các chuyên gia trên khắp thế giới đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hiệu quả cho các dự án IoT, bao gồm từ các nhà sản xuất thiết bị, nhà phát triển phần mềm cho đến các nhà cung cấp dịch vụ cũng như các công ty triển khai và sử dụng các giải pháp”, Andrey Suvorov nhấn mạnh.

 

cùng nhận diện Chiến tranh bất quy tắc

 


Trong chiến tranh hỗn hợp, các lực lượng quy ước và không quy ước, các tay súng và dân thường, những hành động phá hoại bằng bạo lực và thao túng thông tin bắt đầu quyện chặt vào nhau một cách triệt để. Tại Li Băng năm 2006, Hezbollah đánh nhau với Israel thông qua những nhóm nhỏ được huấn luyện kỹ càng, kết hợp chiến lược tuyên truyền, cộng thêm các chiến thuật quân sự và phóng rốc két từ những khu dân cư đông đúc, và đạt được điều mà nhiều người trong khu vực xem là thắng lợi về mặt chính trị.

Dạng chiến tranh nói trên chủ yếu nổi lên để chống lại lợi thế áp đảo về quân sự của Mỹ sau khi Liên Xô tan rã, thể hiện qua chiến thắng trong cuộc chiến Iraq năm 1991 (chỉ có 148 lính Mỹ thiệt mạng), và sự can thiệp mà không tổn thất nhân mạng của Mỹ trong cuộc xung đột Kosovo năm 1999. Trước tình trạng bất đối xứng trên, các đối thủ của Mỹ, dù ở bình diện quốc gia hoặc phi quốc gia, bắt đầu tập trung vào các chiến thuật bất quy ước.

Về phần mình, các tổ chức khủng bố nhận ra họ không thể nào đánh thắng một quân đội quy ước trong cuộc chiến trực diện, nên nỗ lực lợi dụng chính sức mạnh của chính quyền để chống lại họ. Osama bin Laden đã chọc giận và kích động Mỹ, khiến nước này liên tục thực hiện những hành động thái quá dẫn đến hủy hoại lòng tin, làm suy yếu các liên minh trong thế giới Hồi giáo, và cuối cùng vắt kiệt sức lực của quân đội Mỹ.

Tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) giờ đây cũng áp dụng chiến lược tương tự, pha trộn những chiến dịch quân sự đẫm máu với chiến dịch truyền thông xã hội, được nhấn mạnh bằng các hình ảnh và clip quay cảnh hành quyết dã man. Những nỗ lực này thúc đẩy nhiều cá nhân và tổ chức bất mãn về đầu quân dưới trướng IS.

Sự tiến hóa không thể đoán trước của chiến tranh đang tạo nên thách thức nghiêm trọng đối với những nhà hoạch định chính sách quốc phòng. Đối với một số quốc gia yếu ớt, các mối đe dọa nội tại đã vạch ra những mục tiêu hết sức rõ ràng. Về phần mình, Mỹ buộc phải cân bằng giữa sự ủng hộ đối với các lực lượng quân đội chính quy, vốn đóng vai trò răn đe quan trọng tại châu Á và châu Âu, và việc đầu tư vào các năng lực thay thế cần thiết đối với các cuộc xung đột tại Trung Đông. Trong thời buổi đối diện với sự thay đổi chưa từng có, Mỹ và các cường quốc khác phải chuẩn bị sẵn sàng trước mọi tình huống có thể xảy ra.

 

NHỮNG HÌNH THÁI MỚI CỦA CHIẾN TRANH

 


Nửa tỉ đô la tài sản tan tành. Một quốc gia xáo động. Người dân hoang mang. Không có một tiếng súng hay cần một kíp nổ nào. Đó là hình thái mới của chiến tranh, nơi những trận đánh được thực hiện trên những bàn phím nhựa và một đường truyền cáp quang.

Chiến tranh không tiếng súng

Ngày 27-4-2007 có thể sẽ được ghi vào lịch sử chiến tranh hiện đại. Đó là thời điểm vang lên tiếng chuông báo hiệu một kỷ nguyên mới của chiến tranh - khi các nhà lãnh đạo quốc phòng và dân cư trên toàn cầu giật mình nhận ra: họ đang đối mặt với một loại hình chiến tranh mới.

Đó là thời điểm mà cả đất nước Estonia gồng mình hứng chịu một chuỗi các cuộc tấn công vào hệ thống máy tính của quốc hội, các bộ ngành, ngân hàng, nhà băng, cơ quan thông tấn sau một mâu thuẫn ngoại giao. Lần đầu tiên trong lịch sử, một cuộc tấn công điện tử diễn ra trên tầm quốc gia. Nhiều nghi vấn được đưa ra, nhưng thủ phạm không thể được tìm thấy.

Nhiều chuyên gia khắp thế giới cùng tham gia phân tích và điều tra nhưng không tìm được nơi đã “bắn đi” những viên đạn điện tử. Sau này, một tổ chức tại Tranistria, một vùng lãnh thổ thuộc Liên Xô cũ, hiện gần như không được quốc gia nào thừa nhận, đứng ra nhận trách nhiệm. Vụ việc bế tắc vì không có cơ chế nào cho phép Estonia hay kể cả là Interpol điều tra ở đó.

Sự kiện Estonia khiến giới chức quân sự NATO giật mình. Ngày 14-7 năm đó, các bộ trưởng quốc phòng NATO nhóm họp tại Bỉ để bàn về cuộc tấn công, và thống nhất về phương án hành động trước những cuộc tấn công điện tử. Ngày 25-7, tổng thống Estonia sang thăm Nhà Trắng và trao đổi với tổng thống George W. Bush về cuộc tấn công. Một năm sau đó, Trung tâm huấn luyện phòng ngự điện tử của NATO (CCDCOE) được thành lập tại chính thủ đô Tallinn của Estonia.

Các hacker và các cuộc tấn công điện tử không còn xa lạ gì với thế giới trong hơn hai thập kỷ qua. Từ năm 2003, nước Mỹ đã hứng chịu một loạt cuộc tấn công có quy mô khác nhau vào những hệ thống máy tính quan trọng của chính phủ, mà họ gọi là “Mưa Titan” - thứ mà Mỹ cáo buộc Trung Quốc đạo diễn. Nhưng ý thức về việc không gian điện tử trở thành một môi trường của chiến tranh dường như chỉ bắt đầu kể từ sau “trận đánh lịch sử” tại Estonia năm 2007.

Bảy năm sau, phương pháp chiến tranh này dường như đã bùng nổ trên quy mô toàn cầu, cả về mức độ lẫn tần suất sử dụng: năm 2014, trong báo cáo tổng kết của FireEye, hãng an ninh mạng hàng đầu của Mỹ, người ta nhìn thấy cụm từ “World War C”, tức là “Chiến tranh thế giới C”. Và chữ C là viết tắt của từ “cyber” - “điện toán”.

Năm 2014 chứng kiến cuộc tấn công ăn cắp dữ liệu lớn nhất lịch sử ngành tài chính. Thông tin về 76 triệu tài khoản hộ gia đình và 7 triệu doanh nghiệp nhỏ đã bị đánh cắp khỏi hệ thống máy tính của đại ngân hàng JP Morgan Chase. Đó là một cuộc tấn công quy mô mà các nhà điều tra Mỹ khăng khăng đổ cho hacker Nga: tổng cộng có 10 thể chế tài chính lớn nhỏ tại Mỹ bị tấn công, ngoài ra còn có nỗ lực xâm nhập bất thành vào hàng loạt đại ngân hàng khác, như Citigroup hay HSBC.

Mặc dù thiệt hại của vụ này hiện chưa được đo lường, nhưng nó khiến nước Mỹ phải giật mình vì thủ phạm đã sử dụng những phương pháp quá phức tạp, và nạn nhân lại là thể chế tài chính lớn nhất nước Mỹ - nơi mà mọi biến động có thể khiến nền kinh tế chao đảo.

Mạnh hơn tên lửa

Tới cuối năm 2014, thế giới lại chấn động một lần nữa bởi “chiến tranh điện toán”. Lần này, nạn nhân là Hãng phim Sony Pictures. Ước tính thiệt hại của vụ này lên tới hàng trăm triệu USD. Hàng loạt tài liệu, email và các thước phim chưa được công bố của Sony đã bị hacker đánh cắp và phơi ra trước công chúng. Tâm điểm là bộ phim The interview (Cuộc phỏng vấn) có kinh phí sản xuất tới 40 triệu USD, nếu tính trên ước tính doanh thu thì riêng việc bộ phim này giờ đang được “cho không biếu không” trên Internet có thể khiến Sony mất không dưới 120 triệu USD. Thiệt hại hình ảnh là khôn lường: hacker đã tung ra một loạt thư nội bộ của Sony, trong đó nói xấu nhiều ngôi sao hàng đầu Hollywood và mỉa mai cả Tổng thống Barack Obama.

Đó gần như là một cuộc tấn công đã được báo trước. Khi Sony cho quay bộ phim Cuộc phỏng vấn có nội dung châm biếm ông Kim Jong Un thì Triều Tiên đã tuyên bố sẽ “trừng phạt”. Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) và Sony lo lắng. Các rạp chiếu trên khắp nước Mỹ cũng hoang mang, bởi cuộc tấn công mạng đi kèm với một lời đe dọa sẽ trừng trị ai đi xem phim này. Sony đã phải quyết định hoãn chiếu bộ phim. Tổng thống Barack Obama lên tiếng trách hãng này rằng quyết định hủy chiếu phim là một “sai lầm”, và ám chỉ phe tấn công là “một kẻ độc tài nào đó đang tìm cách kiểm duyệt văn hóa phẩm của Mỹ”.

Cần nhớ rằng trước đây đã nhiều lần Mỹ nhận lời đe dọa tấn công từ nước ngoài, kể cả Triều Tiên với lời đe dọa “tấn công hạt nhân” (tháng 7-2014). Nhưng hiếm khi nào tình trạng sợ hãi diễn ra ở cấp độ của vụ Sony. Tên lửa Taepodong 2 của Triều Tiên có thể bắn tới Alaska - nhưng phải đến khi nước Mỹ bị tấn công điện tử thì họ mới thật sự lo lắng. Có lẽ bởi chính cáp quang Internet, chứ không phải tên lửa, mới có thể thọc sâu đến tận New York, Washington và tạo ra sự tàn phá.

Trong kỷ nguyên này, khi một quốc gia sở hữu rất nhiều tài sản “ảo” trong ổ cứng máy tính, từ những bản thiết kế công nghiệp, những bộ phim, cho đến cả những bí mật chính trị, thì “chiến tranh điện toán” có thể gây thiệt hại cho họ nhiều hơn cả chiến tranh vật lý.

Cũng trong năm 2014, nước Mỹ trở nên đặc biệt căng thẳng trước những cuộc tấn công ăn cắp bí mật thương mại mà theo họ có nguồn gốc từ Trung Quốc. Hồi tháng 5, FBI thậm chí phát lệnh truy nã một loạt nhân viên Chính phủ Trung Quốc - những người mà theo họ đã đứng sau các vụ tấn công. Trong mắt FBI thì bây giờ các hacker Trung Quốc là mối nguy hiểm số 1 của họ trên môi trường điện toán. Hàng trăm công ty Mỹ đã bị tấn công và “lấy đi nhiều bí mật thương mại rất có giá trị” - theo FBI. “Họ ăn cắp để không mất công sáng chế” - giám đốc FBI lớn tiếng cáo buộc.

“Mưa Titan”, bí danh mà các cơ quan điều tra Mỹ gọi các cuộc tấn công điện tử từ Trung Quốc trong giai đoạn 2003-2006, từng khiến dư luận nước này xôn xao một thời gian. Thời điểm đó, các hacker Trung Quốc “nã đạn” vào hệ thống máy tính của quân đội Mỹ. Chỉ trong vòng một đêm 1-11-2004, hàng trăm máy tính của các cơ quan quân đội Mỹ bị tấn công. Tuy hacker không chạm đến được hệ thống nội bộ của quân đội (vốn không kết nối Internet), nhưng cũng lấy đi nhiều tài liệu giá trị về quy trình cung cấp quân nhu, quân dụng.

So với một thập kỷ trước thì “cơn mưa Titan 2.0” từ phía Trung Quốc ngày hôm nay hướng tới mục tiêu khác. Thay vì tấn công hệ thống máy tính quân đội và chính phủ, họ hiểu rằng nguồn sức mạnh lớn nhất của nước Mỹ nằm ở các tập đoàn kinh tế, ở các bản vẽ công nghiệp và sáng chế - chúng được lưu trữ trong những hệ thống máy tính không được bảo mật cao.

Khi bom đạn “lai” bàn phím

Những cuộc tấn công thuần túy bằng bàn phím vào “tài sản ảo” của một quốc gia đã nguy hiểm. Nhưng nếu bom đạn kết hợp cùng chiến tranh điện toán, sự đáng sợ còn tăng lên. Năm 2007, chỉ ít lâu sau cuộc tấn công vào Estonia, có một chiến dịch âm thầm hơn diễn ra. Nó không gây chấn động thế giới nhưng cũng thể hiện sức mạnh của chiến tranh điện toán theo một cách khác. Đó là chiến dịch “Hoa phong lan” của Israel, tấn công Syria.

Câu chuyện được kể lại trên nhiều tờ báo lớn: quãng năm 2006, các điệp viên Israel tìm được một bức ảnh ông Chon Chibu, chuyên gia hạt nhân hàng đầu của Triều Tiên, đứng cạnh Ibrahim Othman, giám đốc chương trình năng lượng nguyên tử Syria. Quân đội Israel được báo động. Họ liên tục theo dõi lãnh thổ Syria và tới giữa năm 2007 thì tin rằng mình đã tìm được địa điểm mà Syria đang xây lò phản ứng hạt nhân (với sự giúp đỡ của Triều Tiên).

Đêm 6-9-2007, máy bay F-15 và F-16 của Israel thực hiện các cuộc không kích. Căn cứ “nghi” là lò phản ứng bị phá hủy hoàn toàn. Điều đáng nói trong câu chuyện này là phía Syria đã không hề có một nỗ lực phòng không nào trước đoàn máy bay của Israel. Chính người Mỹ cũng không hiểu. F-15 và F-16 không thể tàng hình. Sau đó, Mỹ nhận định rằng hệ thống rađa của Syria đã bị tấn công điện toán. Nó đã bị người Israel “chỉnh sửa” để không nhận ra máy bay Israel trên màn hình.

Khác với vụ tấn công Estonia, JP Morgan Chase hay Sony, chiến dịch “Hoa phong lan” cho thấy khi bom đạn đi kèm với tấn công điện toán, nó trở nên nguy hiểm hơn nhiều lần. Đó là điều mà các nhà lãnh đạo quốc phòng đã nhận ra từ lâu. Tại Estonia, sau khi thành lập trại huấn luyện chiến tranh điện toán, bây giờ NATO tổ chức những cuộc “tập trận” quy mô với máy tính. Tháng 11-2014 mới đây, tổ chức này thực hiện một cuộc “tập trận” với hơn 670 “chiến binh điện tử” từ 28 quốc gia. Ở đó, họ đối phó với đủ loại tình huống giả lập: từ việc thiết bị cầm tay của các binh lính trên chiến trường bị cài mã độc, một tài liệu ngoại giao bí mật bị lấy cắp cho đến hệ thống điều khiển bay của NATO bị hack.

Khi Mỹ và Nhật lần đầu tiên “đấu” tàu sân bay trên Thái Bình Dương, người ta nói rằng đó là trận đánh đầu tiên trong lịch sử mà đối phương không nhìn thấy nhau. Bây giờ, khắp nơi trên thế giới là những cuộc chiến như thế - những cuộc chiến mà thậm chí kẻ bị tấn công còn không biết đối phương là ai.

Sự tiến hóa của chiến tranh

Thế hệ chiến tranh hiện đại đầu tiên bao gồm những cuộc chiến với quân số đông đảo, sử dụng các đội hình dàn hàng ngang và cột kiểu Napoleon. Thế hệ thứ hai, chủ yếu triển khai bằng hỏa lực trên diện rộng, thể hiện qua một câu nói được cho là đúc kết từ trận chiến Verdun năm 1916: “Pháo binh chế ngự, bộ binh chiếm lĩnh”. Và thế hệ thứ ba, được Đức hoàn thiện với chiến thuật “chiến tranh chớp nhoáng” vào Thế chiến 2, nhấn mạnh sự di chuyển cơ động lực lượng, các quân đội sử dụng chiêu xâm nhập để vòng tránh quân địch và tiêu diệt kẻ thù từ đằng sau thay vì tấn công trực diện. Chiến tranh thế hệ thứ tư đẩy mạnh hơn nữa hướng tiếp cận theo kiểu phân tán này và chẳng có mặt trận nào cụ thể. Thay vào đó, nó tập trung vào xã hội của kẻ địch, thọc sâu vào lãnh thổ đối phương để bẻ gãy ý chí chính trị của đối thủ. Ngoài ra còn có thể kể thêm thế hệ thứ năm, trong đó các công nghệ như thiết bị bay không người lái và các chiến thuật tấn công mạng cho phép binh lính ở cách các mục tiêu dân sự cả lục địa.

Mặc dù những phác họa cụ thể về các thế hệ có phần tùy hứng, nhưng chúng phản ánh một xu hướng quan trọng: sự xóa nhòa giữa mặt trận quân sự với hậu phương dân sự. Đẩy nhanh tốc độ của quá trình chuyển đổi này là sự thay thế chiến tranh giữa các quốc gia bằng những cuộc xung đột quân sự có liên quan đến các yếu tố phi quốc gia, như các nhóm nổi dậy, những mạng lưới khủng bố và những tổ chức tội phạm. Vấn đề càng thêm rối rắm hơn với sự chồng chéo giữa những nhóm trên và một số thậm chí còn nhận được sự hỗ trợ từ các chính phủ. Chẳng hạn, Lực lượng vũ trang cách mạng Colombia, tổ chức du kích lâu đời nhất Nam Mỹ, liên kết với các tập đoàn buôn lậu ma túy. Một số nhóm Taliban tại Afghanistan và những nơi khác thắt chặt quan hệ với những tay súng al-Qaeda.

Những tổ chức trên thường tận dụng lợi thế từ những nhà nước thiếu tính chính danh hoặc không đủ năng lực quản lý hiệu quả khu vực của mình, triển khai những chiến dịch hỗn hợp giữa các hoạt động chính trị lẫn vũ trang, và theo thời gian nắm luôn quyền kiểm soát đối với các khu vực dân cư. Những cuộc chiến hỗn hợp này tận dụng nhiều nguồn lực vũ khí khác nhau, và không phải lúc nào cũng dùng đến hỏa lực.

sơ lược Lịch sử xung đột giữa Nga và Ukraine

 


Căng thẳng giữa Nga và Ukraine - 2 nước thuộc Liên Xô trước đây, leo thang cuối năm 2013 liên quan tới thỏa thuận thương mại và chính trị then chốt giữa Kiev với Liên minh châu Âu (EU). Sau khi Tổng thống thân Nga khi đó, Viktor Yanukovich, đình chỉ các cuộc đối thoại với EU, các cuộc biểu tình kéo dài nhiều tuần ở Kiev đã bùng phát thành bạo lực.

Tháng 3/2014, Nga sáp nhập bán đảo Crimea. Tiếp sau đó, lực lượng ly khai thân Nga ở Donetsk và Luhansk của Ukraine đã tuyên bố độc lập, kéo theo các cuộc giao tranh kéo dài nhiều tháng. Mặc dù Nga và Ukraine đã ký thỏa thuận hòa bình Minsk năm 2015, lệnh ngừng bắn vẫn nhiều lần bị vi phạm.

Liên minh châu Âu và Mỹ đã áp đặt nhiều biện pháp đáp trả hành động của Nga ở Crimea và miền Đông Ukraine, trong đó có cả trừng phạt kinh tế nhằm vào các cá nhân, thực thể và các lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế Nga.

Trong khi đó, Điện Kremlin cáo buộc Kiev khuấy động căng thẳng ở miền Đông Ukraine và vi phạm thỏa thuận ngừng bắn Minsk.

Quan điểm của Nga

Điện Kremlin nhiều lần bác bỏ Nga có kế hoạch xâm lược Ukraine, khẳng định Nga không dấy lên mối đe dọa với bất cứ ai và việc nước này điều động binh sỹ bên trong lãnh thổ không nên là nguyên nhân khiến châu Âu phải báo động.

Nga coi sự ủng hộ ngày càng gia tăng của NATO với Ukraine, cả về khía cạnh cung cấp vũ khí, huấn luyện và nhân sự là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia.

Tổng thống Nga Vladimir Putin kêu gọi một thỏa thuận pháp lý cụ thể nhằm đảm bảo NATO không tiếp tục mở rộng về phía Đông, tới gần biên giới Nga, đồng thời nhấn mạnh phương Tây đã không thực hiện những đảm bảo bằng lời nói trước đây.

Ông Putin cũng cảnh báo việc NATO triển khai vũ khí phức tạp ở Ukraine, như hệ thống tên lửa, sẽ vượt “lằn ranh đỏ” của Nga.

Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov mới đây cảnh báo, nếu Mỹ và các đồng minh NATO không thay đổi quan điểm trong vấn đề Ukraine, Nga “có quyền lựa chọn cách thức đảm bảo lợi ích an ninh hợp pháp của mình”.

Quan điểm của Ukraine

Chính phủ Ukraine khẳng định Nga không thể ngăn cản Ukraine xây dựng mối quan hệ thân cận hơn với NATO nếu Kiev lựa chọn như vậy.

“Bất cứ đề xuất nào của Nga về việc thảo luận với NATO hay Mỹ về các phương thức đảm bảo liên minh không mở rộng về phía Đông đều bất hợp pháp”, Bộ ngoại giao Ukraine nhấn mạnh.

Ngoại trưởng Ukraine Dmytro Kuleba cảnh báo rằng một cuộc đảo chính có thể là một phần trong kế hoạch của Nga trước bất cứ cuộc tấn công quân sự nào.

“Sức ép quân sự bên ngoài sẽ đi cùng với việc gây bất ổn bên trong đất nước”, ông Kuleba nói.

Căng thẳng giữa 2 nước trở nên trầm trọng hơn do cuộc khủng hoảng năng lượng mà Ukraine cho rằng Nga đã khiêu khích một cách chủ đích.

Mỹ và NATO nói gì?

Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg cảnh báo “Nga sẽ phải trả giá đắt” nếu xâm lược Ukraine – một đối tác của NATO.

“Chúng tôi có nhiều lựa chọn: trừng phạt kinh tế, trừng phạt tài chính hay hạn chế về chính trị”, ông Jens Stoltenberg cho biết trong cuộc phỏng vấn với CNN.

Ukraine không phải là thành viên NATO, dó đó không có sự đảm bảo an ninh tương tự như các thành viên của khối. Tuy nhiên, ông Stoltenberg để ngỏ khả năng Ukraine trở thành thành viên của liên minh quân sự này.

Trong cuộc điện đàm đầu tháng 1/2022 với Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky, Tổng thống Joe Biden tuyên bố Mỹ và các đồng minh sẽ “phản ứng kiên quyết nếu Nga xâm lược Ukraine”.

Hai nhà lãnh đạo Mỹ và Ukraine có cuộc điện đàm vài ngày sau khi Tổng thống Biden kêu gọi Tổng thống Nga Putin xoa dịu khủng hoảng ở biên giới và trước khi giới chức Nga, Mỹ có cuộc gặp trực tiếp tại Geneva, Thụy Sỹ trong tháng này.

Hai quan chức quốc phòng Mỹ nói với CNN ngày 3/1 rằng, Bộ Quốc phòng đã xây dựng các lựa chọn quân sự cho Tổng thống Biden nếu ông quyết định tăng cường khả năng ở Đông Âu để răn đe các động tháo gây hấn tiềm tàng của Nga nhằm vào Ukraine. Cả hai quan chức đều nhấn mạnh đây là một phần trong kế hoạch quân sự thông thường và hiện tại, trọng tâm vẫn là ngoại giao và các biện pháp trừng phạt kinh tế.

Chính quyền Tổng thống Barack Obama trước đây đã bất ngờ khi Nga sáp nhập bán đảo Crimea năm 2014 và ủng hộ lực lượng nổi dậy ở Donbas. Giới chức Mỹ nói rằng Washington không muốn bị bất ngờ về một chiến dịch quân sự nào khác của Nga.

“Mối lo ngại của chúng tôi là Nga có thể sẽ mắc phải sai lầm nghiêm trọng khi tái diễn những gì đã từng xảy ra năm 2014, khi họ điều động lực lượng lớn dọc biên giới Ukraine”, ngoại trưởng Blinken cho biết hồi tháng 11/2021.

Yếu tố năng lượng

Một vấn đề lớn khác liên quan đến căng thẳng Nga-Ukraine là việc cung cấp năng lượng. Ukraine coi đường ống dẫn khí đốt Dòng chảy phương Bắc 2 vận chuyển trực tiếp khí đốt từ Nga tới Đức, là một mối đe dọa đối với an ninh nước này.

Dòng chảy phương Bắc 2 là một trong hai đường ống Nga đặt dưới biển Baltic ngoài hệ thống đường ống trên bộ chạy qua các nước Đông Âu, trong đó có Ukraine.

Ukraine coi các đường ống chạy qua nước này là một yếu tố bảo vệ trước sự xâm lược tiềm tàng của Nga, bởi bất cứ hành động quân sự nào cũng có thể làm ngắt quãng dòng khí đốt thiết yếu từ Nga sang châu Âu.

Các nhà phân tích và các nhà lập pháp Mỹ đã nêu quan ngại rằng Dòng chảy phương Bắc 2 sẽ khiến châu Âu phụ thuộc nhiều hơn vào khí đốt của Nga và cho phép Moscow nhắm vào những nước cụ thể như Ukraine để ngắt dòng chảy năng lượng mà không làm gián đoạn việc cung cấp cho châu Âu. Dòng chảy phương Bắc 2 không đi qua các nước Đông Âu cũng có nghĩa là những nước này sẽ bị mất khoản tiền phí trung chuyển mà Nga trả cho họ.

Tháng 5/2021, chính quyền Biden miễn trừ trừng phạt nhằm vào công ty đứng đằng sau Dòng chảy phương Bắc 2, bật đèn xanh cho dự án này đi vào hoạt động. Giới chức Mỹ nói rằng động thái này nằm trong lợi ích an ninh quốc gia Mỹ khi Washington đang tìm cách khôi phục mối quan hệ với Đức.

Tuy nhiên, tháng 11/2021, Mỹ đã áp trừng phạt mới đối với 1 thực thể liên quan tới Nga và 1 tàu liên quan đến Dòng chảy phương Bắc 2. Một số thượng nghị sỹ Mỹ đã kêu gọi chính quyền Biden gia tăng trừng phạt để ngăn Nga sử dụng dự án này như một vũ khí gây sức ép với châu Âu./.

 

 


 

Nhìn lại 5 yếu tố khiến chiến tranh Libya có bước nhảy vọt; chiến dịch đánh chiếm Tripoli kết thúc nhanh chóng thuận lợi. Tương lai đầy thách thức và hy vọng đang chờ đợi người Libya thời kỳ hậu Gaddafi.

 

Ngày 23/8/2011, quân nổi dậy Libya tuyên bố lực lượng này đã giành chiến thắng trong trận chiến tại Tripoli. "Trận chiến đã kết thúc". Phát ngôn viên lực lượng nổi dậy Ahmed Bani thông báo tổng hành dinh của Hội đồng Dân tộc Chuyển tiếp (NTC) sẽ được chuyển về thủ đô Tripoli trong vòng hai ngày nữa. Tới thời điểm này, hơn 30 quốc gia trên thế giới công nhận NTC là đại diện hợp pháp của Libya.

Kể từ ngày 19/3/2011, khi các chiến hạm của Anh và Mỹ bắn tên lửa hành trình Tomahawk vào các hệ thống phòng không của Libya và thủ đô Tripoli, mở màn chiến dịch “Odyssey Dawn” (Bình minh Odyssey), có nhiều ý kiến cho rằng NATO và quân nổi dậy khó có khả năng chiến thắng nếu NATO không can thiệp trên bộ; thậm chí cuộc chiến tranh có thể “kéo dài 30 năm”. Nhưng nó đã cơ bản kết thúc sau 158 ngày, tính đến thời điểm lực lượng nổi dậy làm chủ tổng hành dinh của nhà lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi tại Bab Al-Aziziya, Tripoli.

Tại sao cuộc chiến tranh có một bước tiến “nhảy vọt” sau 6 tháng gần như bế tắc và Tripoli lại nhanh chóng rơi vào tay quân nổi dậy? Có thể nêu lên 5 yếu tố:

Một, có tính quyết định là sự hỗ trợ của NATO với các vụ không kích gia tăng. Các vụ không kích phối hợp với lực lượng nổi dậy trên bộ đã tăng áp lực đối với quân chính phủ Lybia. Kịch bản này giống như cuộc không kích của NATO tại Nam Tư năm 1999 kéo dài 3 tháng. Lần này máy bay không người lái của Mỹ đóng vai trò to lớn trong cuộc chiến. Cái khác là các nước Tây Âu và Mỹ tiến hành chiến tranh trong tình trạng khủng hoảng kinh tế tài chính trầm trọng, không được dân chúng trong nước ủng hộ như hồi chiến tranh Kosovo 1999, phải thực hiện chiến tranh theo cách thức giới hạn: giải quyết chiến trường với hiệu quả cao, phí tổn thấp. Chính quyền Obama bị Quốc hội Mỹ nêu nhiều ràng buộc chặt chẽ. Vì vậy, tuy bộ binh NATO không tham chiến, nhưng lực lượng đặc biệt - những “chiến binh hợp đồng” của Pháp, Anh và Mỹ đã tham gia chiến dịch Tripoli, đóng vai trò mở đường cho quân nổi dậy tiến vào thành phố.

Hai, các nhóm quân nổi dậy từ trước đã âm thầm đột nhập, cài cắm ở trong và xung quanh thành phố Tripoli, được dân chúng cũng như một bộ phận quân đội chính phủ che chở. Ngày 20/8/2011, vào lúc 20h, chiến dịch "Người cá" (còi hiệu) bắt đầu, khi hệ thống loa phát thanh trên tháp chuông các nhà thờ Hồi giáo phát tín hiệu nổi dậy, các nhóm chiến binh tiến hành tấn công vào lực lượng quân chính phủ. Lúc quân nổi dậy tiến vào thành phố, lực lượng bảo vệ của Gaddafi và người dân Tripoli không nghe theo lời kêu gọi của “nhà lãnh đạo”; chỉ huy quân đội chính phủ không ra lệnh bảo vệ thành phố; vũ khí đạn dược được bỏ lại cho quân nổi dậy.

Ba, một số bộ lạc từng ủng hộ Muammar Gaddafi quay sang gia nhập hàng ngũ quân nổi dậy, tham gia tiến đánh Tripoli.

Bốn, cuộc bao vây cấm vận chặt chẽ của phương Tây theo đúng “tinh thần” của Nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (“bảo vệ tính mạng thường dân Libya bằng mọi biện pháp”). Các chiến hạm NATO đã chặn 12 chuyến tàu chở súng đạn, nguyên liệu và lương thực tiếp tế cho Tripoli; phong tỏa tài sản tại các ngân hàng, trong khi tìm cách giải ngân cho quân nổi dậy; thiết lập thành công hành lang cấm bay để chặn tiếp tế và bổ sung quân đánh thuê tuyển mộ từ châu Phi. Trong khi đó các lực lượng nổi dậy ở miền Tây được cung cấp đủ thực phẩm,đạn dược và nhiên liệu qua các điểm biên giới giáp Tunisia và đường biển. Họ nỗ lực đánh chiếm các trục đường tiếp tế tới Tripoli.

Năm, quân nổi dậy nhận được lời khuyên và cố vấn từ phía NATO, phối hợp giữa không kích và các trận đánh trên bộ. NATO trong suốt chiến dịch đã nỗ lực xây dựng lực lượng chính trị và quân sự người bản địa; đề cao vai trò của họ. NATO thực hiện chủ trương “đánh vào lòng người” và địch vận, rải hàng vạn tờ truyền đơn, để từng bước làm tan rã sự ủng hộ của dân chúng và quân đội đối với chính quyền Gaddafi. Trong quá trình thực hiện các trận không kích, NATO cố gắng hạn chế ở mức cao nhất có thể được thiệt hại cho dân thường; không kích nhưng vẫn tạo đường thoát cho quân chính phủ để lôi kéo họ sang hàng ngũ lực lượng nổi dậy...

Điều này cũng được thể hiện trong ba nguyên tắc mà các đại sứ NATO đưa ra chiều 23/8 về  các bước tiếp theo đối với vai trò có thể có của NATO giai đoạn hậu Gaddafi: Thứ nhất, Liên hợp quốc và Nhóm Tiếp xúc quốc tế sẽ giữ vai trò hàng đầu trong việc hỗ trợ nhân dân Libya. Thứ hai, NATO sẽ không có lực lượng đóng trên lãnh thổ Libya. Thứ ba, bất kỳ vai trò nào của NATO trong tương lai, sẽ tùy thuộc vào tình hình thực tế.

London, Paris và Washington hẳn phải cảm thấy nhẹ nhõm vì tin rằng họ không bị sa lầy vào một cuộc chiến lâu dài. Cũng không quá sớm để nói rằng các cường quốc phương Tây đã thắng trong cuộc đặt cược vào chiến tranh Libya. Nhưng khi khói bụi chiến tranh tan đi, các vấn đề phức tạp mới sẽ xuất hiện, trong đó có quan hệ giữa chính quyền mới Tripoli và những nước đỡ đầu phương Tây. Dù tuyên bố công khai như thế nào, phương Tây ắt sẽ hành động để bảo vệ quyền lợi của họ. Tại nhiều thủ đô phương Tây đang ráo riết hoạch định các phương án cho thời kỳ hậu Gaddafi.

Ngọn gió của “Mùa xuân Arập” vẫnđang quét qua nhiều thủ đô Arập. Con bài domino Libya đã phải trả giá bằng máu. Thời báo New York nhận xét rằng chiến thắng “chỉ là phần việc dễ dàng nhất đối với phe nổi dậy ở Libya”. Việc khó khăn hơn là làm sao tổ chức được một chính phủ hoạt động hiệu quả trên toàn bộ lãnh thổ rộng lớn của Libya với một hệ thống liên bang hay một nhà nước tập trung? Sự kết thúc của chế độ độc tài không đồng nghĩa với kết thúc bạo loạn, phân chia quyền lực chính trị và nguồn tài nguyên vàng đen tại một quốc gia bộ lạc cát cứ.

Về phía Mỹ và phương Tây, sau Libya phải chăng cái đích tiếp theo là Syria? Tại Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ), gần đây các phần tử đối lập Syria đang vận thành lập một hội đồng gồm 120 thành viên  (giống như NTC) để lgiao thiệp với phương Tây và ãnh đạo cuộc đấu tranh lật đổ chính quyền Assad.

Libya được trời phú cho nguồn vàng đen và dự trữ ngoại tệ khá lớn nằm tại các ngân hàng phương Tây. Trước cuộc chiến, Libya sản xuất tới 1.600.000 thùng dầu mỗi ngày và xuất khẩu 1.300.000 thùng/ngày. Việc khôi phục sản lượng được dự tính mất khoảng hai năm. Quốc gia này phải nhập khẩu tới 70% lương thực. NTC cần khắc phục tình trạng gián đoạn nguồn cung cấp nhu yếu phẩm này. Mỹ đã đóng băng tài sản trị giá 37 tỷ USD của chế độ Gaddafi kể từ hồi tháng 2/2011, đang tìm cách giải quyết vấn đề này để giúp đỡ chính quyền non trẻ ở Tripoli. Đây cũng là một con bài mà phương Tây nắm giữ. Cuộc chiến tranh sặc mùi dầu lửa thì không tránh khỏi việc tranh giành lợi ích dầu lửa giữa các nước lớn liên quan trực tiếp và gián tiếp...

Trải qua 42 năm dưới ách độc tài chuyên chế của Muammar Gaddafi, nhân dân Libya có quyền hy vọng một cuộc sống tốt đẹp hơn, một đời sống  dân sự công bằng, dân chủ và phúc lợi. Nhân vật số hai của NTC Mahmud Jibril phát biểu trong một cuộc họp báo tại Qatar, hiểu được trách nhiệm đó khi khẳng định: “Chúng tôi (NTC) sẽ xây dựng một đất nước Libya mới, trong đó mọi người dân Libya đều là anh em vì một đất nước thống nhất, dân sự và dân chủ”./.

Số ca COVID-19 cộng đồng tăng nhưng tỷ lệ nguy kịch, tử vong giảm mạnh

 

Số ca COVID-19 cộng đồng tăng nhưng tỷ lệ nguy kịch, tử vong giảm mạnh

Theo Báo SKĐS - Thông tin tại cuộc họp sáng 5/3 của BCĐ Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 cho biết, ca mắc COVID-19 tăng nhiều ở nhóm chưa tiêm vaccine phòng COVID-19, nhất là nhóm dưới 12 tuổi... nhưng tỷ lệ tử vong giảm mạnh.

Sáng 5/3, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính - Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 chủ trì phiên họp lần thứ 13 của Ban Chỉ đạo. Tham dự cuộc họp tại điểm cầu trụ sở Chính phủ có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang; các đồng chí Phó Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia: Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định; lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan Trung ương.

Tham dự cuộc họp tại các điểm cầu địa phương có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP HCM Nguyễn Văn Nên; các đồng chí Bí thư, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố.

Ca mắc COVID-19 tăng nhiều ở nhóm chưa tiêm vaccine phòng COVID-19, nhất là nhóm dưới 12 tuổi

Báo cáo của Bộ Y tế cho thấy, đến nay dịch bệnh COVID-19 cơ bản đang được kiểm soát trên phạm vi cả nước. Tất cả các địa phương đều đã chuyển sang trạng thái "Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19" theo Nghị quyết 128/NQ-CP của Chính phủ.

Số mắc mới có xu hướng gia tăng nhanh tại hầu hết các tỉnh, thành phố trong tháng qua (với khoảng 50.000-75.000 ca mỗi ngày, ngày cao nhất là hơn 125.000 ca), số trường hợp mắc tăng nhiều hơn ở nhóm chưa tiêm vaccine, nhất là nhóm dưới 12 tuổi (tháng 1 là 18,4% và tháng 2 là 24,3%).

Biến chủng Omicron có xu hướng gia tăng lây nhiễm nhanh trong thời gian gần đây, phổ biến ở các tỉnh, thành phố, nhất là TP. Hà Nội và TP HCM thay thế dần biến thể Delta.

Tuy nhiên, do tỉ lệ bao phủ vaccine cao trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt là đã có sự chăm sóc đối tượng nguy cơ cao nên tỉ lệ chết/số ca mắc trên phạm vi toàn quốc giảm sâu.

Tỉ lệ tử vong/số ca mắc của 30 ngày qua là 0,2%, giảm so với tháng trước (1%), ngày 1/2 là 0,9% và ngày 03/3 là 0,1%. So với tháng trước, số ca cộng đồng cả nước tăng 197,9% nhưng số ca tử vong giảm 47,1%, số ca đang điều trị tại bệnh viện giảm 24,5%, số ca nặng, nguy kịch giảm 43,1%.

Phân bố tỉ lệ nhiễm theo độ tuổi trong tháng 2/2022 so với tháng trước: nhóm 18-49 tuổi chiếm 54,3% (871.083 ca) tăng 2,5 lần so tháng trước; nhóm 50-65 tuổi chiếm 10,8% (173.254 ca) tăng 2,2 lần so với tháng trước; nhóm trên 65 tuổi chiếm 4,5% (72.189 ca) tăng 2 lần so với tháng trước.

Bộ Y tế tiếp tục chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc tăng cường công tác phòng, chống dịch, tổ chức hiệu quả phân luồng, phân tuyến điều trị. Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19; Hướng dẫn cách ly y tế đối với ca bệnh COVID-19 và các trường hợp tiếp xúc gần. 

Hiện còn 1.612.493 ca đang theo dõi và điều trị, trong đó có 1.522.740 ca đang theo dõi, điều trị tại nhà chiếm 94,4%, 4.035 ca đang theo dõi, điều trị tại khu cách ly chiếm 0,25% và 85.718 ca đang điều trị tại 985 bệnh viện chiếm 5,3%.

Cơ bản đã bao phủ 2 liều vaccine phòng COVID-19 cho người từ 12 tuổi trở lên

Cũng theo Bộ Y tế, đến ngày 3/3, Việt Nam đã tiếp nhận 218 triệu liều vaccine phòng COVID-19; đã phân bổ 204,4 triệu liều (còn khoảng 13,6 triệu liều chưa phân bổ đang tiến hành các thủ tục kiểm định chất lượng, xuất xưởng vaccine), tiêm được hơn 196 triệu liều.

Về tỉ lệ tiêm chủng, với đối tượng từ 18 tuổi trở lên, tỉ lệ mũi 1, mũi 2, mũi 3 lần lượt là 100%, 98,4% và 37,4%. Với đối tượng từ 12-17 tuổi, tỉ lệ mũi 1, mũi 2 lần lượt là 98,8% và 93,5%.

Trong 30 ngày triển khai Chiến dịch tiêm chủng mùa Xuân (từ 29/01/2022 -28/02/2022), cả nước tiêm được hơn 14 triệu liều, chủ yếu là liều bổ sung và liều nhắc lại (hơn 12 triệu liều), góp phần vào việc tăng cường tỉ lệ tiêm chủng đầy đủ 2 liều vaccine cơ bản và tiêm mũi 3 trên toàn quốc.

Như vậy nước ta cơ bản đã bao phủ 2 liều vaccine cho người từ 12 tuổi trở lên. Đến nay, tỉ lệ tiêm mũi 3 là 37,4% (ước khoảng hơn 75% đối tượng đến lịch tiêm mũi 3 đã được tiêm chủng).

Đến hết quý I/2022, ước khoảng 60% người từ 18 tuổi trở lên đủ thời gian để tiêm mũi 3 vì có khoảng 23,4 triệu người cần tiêm liều bổ sung để hoàn thành lộ trình tiêm đủ liều cơ bản chủ yếu được tiêm từ tháng 01/2022 do đó thời gian tiêm mũi 3 cho các đối tượng này là từ tháng 4/2022.

Bộ Y tế đề nghị các địa phương tiếp tục tăng cường rà soát người chưa được tiêm chủng/chưa được tiêm đủ liều cơ bản hoặc không thể đến cơ sở tiêm chủng để tiêm bù, tiêm vét, tổ chức tiêm tại nhà (nếu cần thiết) đảm bảo không bỏ sót đối tượng, đồng thời tăng cường triển khai tiêm mũi 3. Tăng cường công tác truyền thông, nâng cao hiểu biết của người dân về lợi ích của việc tiêm vaccine phòng COVID-19.

 Bộ Y tế sẽ tiếp tục đôn đốc, chỉ đạo các địa phương, đơn vị tăng cường công tác tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19 và báo cáo kịp thời kết quả triển khai, đảm bảo hoàn thành mục tiêu tiêm chủng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; kịp thời giải quyết các khó khăn của địa phương trong quá trình triển khai và sẽ đảm bảo phân bổ đủ vaccine để tiêm chủng theo đề xuất của địa phương.

Theo Bộ Y tế trong thời gian tới, với nhu cầu đi lại và mùa lễ hội năm 2022, mở cửa trở lại hoạt động giáo dục đào tạo trực tiếp, nhất là thời gian tới Việt Nam nới nỏng cách ly y tế, giảm các hạn chế đối với hoạt động vận chuyển hành khách trên tất cả các phương tiện, lượng khách quốc tế đi, đến Việt Nam sẽ gia tăng mạnh sẽ không tránh khỏi gia tăng nguy cơ lây nhiễm, nguy cơ tiếp tục gia tăng áp lực lên hệ thống y tế.

 

BỘ MẶT THẬT CỦA LINH MỤC NGUYỄN VĂN TOẢN

Nguyễn Văn Toản là Linh mục thuộc dòng Chúa cứu thế ở Thái Hà, Hà Nội đã hùa vào cùng Đinh Hữu Thoại - linh mục phụ tá Giáo xứ Tiên Phước (huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam) kẻ đã có nhiều bài viết, bình luận trên các trang mạng xã hội với nội dung bôi nhọ, xuyên tạc công tác phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước…

AI CẦN ĐI KHÁM HẬU COVID-19?

Trước tình trạng nhiều người mắc các triệu chứng hậu COVID-19 đã xuất hiện nhiều phòng khám quảng cáo các gói khám hậu COVID-19 như gói: Chuyên sâu, cơ bản, trung bình…với giá từ 2 đến 7 triệu/đồng. Trên thực tế, nhiều người mắc COVID-19 khỏi bệnh rất lo lắng, muốn đi khám hậu COVID-19. Vậy đối tượng nào thì nên đi khám hậu COVID-19?

HẬU COVID-19 GÂY RA NHỮNG DI CHỨNG GÌ

Gần đây, số người đi khám hậu COVID-19 gia tăng, đặc biệt là ở phía Bắc. Một số gia đình không biết con mắc COVID-19, chỉ khi vào cấp cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong tình trạng sốc, suy giảm chức năng tim mạch, có dấu hiệu đông máu phải thở máy, lọc máu do mắc hội chứng viêm MISC (hội chứng viêm đa hệ thống - một bệnh hậu COVID-19 ở trẻ nhỏ) mới biết con mình từng là F0. Nhiều cơ sở y tế, phòng khám đưa ra các gói khám hậu COVID-19 giá từ 2 đến 7 triệu đồng.

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

Thời gian qua, các cơ quan chức năng tổ chức hội nghị, hội thảo lấy ý kiến các nhà khoa học, chuyên gia và quần chúng nhân dân về Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) tại cơ sở. Một số đối tượng cơ hội chính trị và các cá nhân vì động cơ sai lệch đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá dự thảo Dự án Luật.

THỦ ĐOẠN CỦA NHỮNG “TÔN GIÁO MỚI”

Để lôi kéo được nhiều người tham gia, những đối tượng cầm đầu, cốt cán ở trong và ngoài nước đã dùng mọi thủ đoạn từ tuyên truyền xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đến kích động người dân đấu tranh chống đối chính quyền. Đặc biệt thời gian gần đây, chúng tăng cường lợi dụng những “hiện tượng tôn giáo mới” để kích động, chống phá, gây rối...