Nửa tỉ đô la tài sản tan tành. Một
quốc gia xáo động. Người dân hoang mang. Không có một tiếng súng hay cần một
kíp nổ nào. Đó là hình thái mới của chiến tranh, nơi những trận đánh được thực
hiện trên những bàn phím nhựa và một đường truyền cáp quang.
Chiến tranh không tiếng súng
Ngày 27-4-2007 có thể sẽ được ghi vào lịch sử chiến
tranh hiện đại. Đó là thời điểm vang lên tiếng chuông báo hiệu một kỷ nguyên
mới của chiến tranh - khi các nhà lãnh đạo quốc phòng và dân cư trên toàn cầu
giật mình nhận ra: họ đang đối mặt với một loại hình chiến tranh mới.
Đó là thời điểm mà cả đất nước Estonia gồng mình hứng
chịu một chuỗi các cuộc tấn công vào hệ thống máy tính của quốc hội, các bộ ngành,
ngân hàng, nhà băng, cơ quan thông tấn sau một mâu thuẫn ngoại giao. Lần đầu
tiên trong lịch sử, một cuộc tấn công điện tử diễn ra trên tầm quốc gia. Nhiều
nghi vấn được đưa ra, nhưng thủ phạm không thể được tìm thấy.
Nhiều chuyên gia khắp thế giới cùng tham gia phân tích
và điều tra nhưng không tìm được nơi đã “bắn đi” những viên đạn điện tử. Sau
này, một tổ chức tại Tranistria, một vùng lãnh thổ thuộc Liên Xô cũ, hiện gần
như không được quốc gia nào thừa nhận, đứng ra nhận trách nhiệm. Vụ việc bế tắc
vì không có cơ chế nào cho phép Estonia hay kể cả là Interpol điều tra ở đó.
Sự kiện Estonia khiến giới chức quân sự NATO giật mình.
Ngày 14-7 năm đó, các bộ trưởng quốc phòng NATO nhóm họp tại Bỉ để bàn về cuộc
tấn công, và thống nhất về phương án hành động trước những cuộc tấn công điện
tử. Ngày 25-7, tổng thống Estonia sang thăm Nhà Trắng và trao đổi với tổng
thống George W. Bush về cuộc tấn công. Một năm sau đó, Trung tâm huấn luyện
phòng ngự điện tử của NATO (CCDCOE) được thành lập tại chính thủ đô Tallinn của
Estonia.
Các hacker và các cuộc tấn công điện tử không còn xa lạ
gì với thế giới trong hơn hai thập kỷ qua. Từ năm 2003, nước Mỹ đã hứng chịu
một loạt cuộc tấn công có quy mô khác nhau vào những hệ thống máy tính quan
trọng của chính phủ, mà họ gọi là “Mưa Titan” - thứ mà Mỹ cáo buộc Trung Quốc
đạo diễn. Nhưng ý thức về việc không gian điện tử trở thành một môi trường của
chiến tranh dường như chỉ bắt đầu kể từ sau “trận đánh lịch sử” tại Estonia năm
2007.
Bảy năm sau, phương pháp chiến tranh này dường như đã
bùng nổ trên quy mô toàn cầu, cả về mức độ lẫn tần suất sử dụng: năm 2014,
trong báo cáo tổng kết của FireEye, hãng an ninh mạng hàng đầu của Mỹ, người ta
nhìn thấy cụm từ “World War C”, tức là “Chiến tranh thế giới C”. Và chữ C là
viết tắt của từ “cyber” - “điện toán”.
Năm 2014 chứng kiến cuộc tấn công ăn cắp dữ liệu lớn
nhất lịch sử ngành tài chính. Thông tin về 76 triệu tài khoản hộ gia đình và 7
triệu doanh nghiệp nhỏ đã bị đánh cắp khỏi hệ thống máy tính của đại ngân hàng
JP Morgan Chase. Đó là một cuộc tấn công quy mô mà các nhà điều tra Mỹ khăng
khăng đổ cho hacker Nga: tổng cộng có 10 thể chế tài chính lớn nhỏ tại Mỹ bị
tấn công, ngoài ra còn có nỗ lực xâm nhập bất thành vào hàng loạt đại ngân hàng
khác, như Citigroup hay HSBC.
Mặc dù thiệt hại của vụ này hiện chưa được đo lường,
nhưng nó khiến nước Mỹ phải giật mình vì thủ phạm đã sử dụng những phương pháp
quá phức tạp, và nạn nhân lại là thể chế tài chính lớn nhất nước Mỹ - nơi mà
mọi biến động có thể khiến nền kinh tế chao đảo.
Mạnh hơn tên lửa
Tới cuối năm 2014, thế giới lại chấn động một lần nữa
bởi “chiến tranh điện toán”. Lần này, nạn nhân là Hãng phim Sony Pictures. Ước
tính thiệt hại của vụ này lên tới hàng trăm triệu USD. Hàng loạt tài liệu,
email và các thước phim chưa được công bố của Sony đã bị hacker đánh cắp và
phơi ra trước công chúng. Tâm điểm là bộ phim The interview (Cuộc phỏng vấn) có
kinh phí sản xuất tới 40 triệu USD, nếu tính trên ước tính doanh thu thì riêng
việc bộ phim này giờ đang được “cho không biếu không” trên Internet có thể
khiến Sony mất không dưới 120 triệu USD. Thiệt hại hình ảnh là khôn lường:
hacker đã tung ra một loạt thư nội bộ của Sony, trong đó nói xấu nhiều ngôi sao
hàng đầu Hollywood và mỉa mai cả Tổng thống Barack Obama.
Đó gần như là một cuộc tấn công đã được báo trước. Khi
Sony cho quay bộ phim Cuộc phỏng vấn có nội dung châm biếm ông Kim Jong Un thì
Triều Tiên đã tuyên bố sẽ “trừng phạt”. Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) và Sony
lo lắng. Các rạp chiếu trên khắp nước Mỹ cũng hoang mang, bởi cuộc tấn công
mạng đi kèm với một lời đe dọa sẽ trừng trị ai đi xem phim này. Sony đã phải
quyết định hoãn chiếu bộ phim. Tổng thống Barack Obama lên tiếng trách hãng này
rằng quyết định hủy chiếu phim là một “sai lầm”, và ám chỉ phe tấn công là “một
kẻ độc tài nào đó đang tìm cách kiểm duyệt văn hóa phẩm của Mỹ”.
Cần nhớ rằng trước đây đã nhiều lần Mỹ nhận lời đe dọa
tấn công từ nước ngoài, kể cả Triều Tiên với lời đe dọa “tấn công hạt nhân”
(tháng 7-2014). Nhưng hiếm khi nào tình trạng sợ hãi diễn ra ở cấp độ của vụ
Sony. Tên lửa Taepodong 2 của Triều Tiên có thể bắn tới Alaska - nhưng phải đến
khi nước Mỹ bị tấn công điện tử thì họ mới thật sự lo lắng. Có lẽ bởi chính cáp
quang Internet, chứ không phải tên lửa, mới có thể thọc sâu đến tận New York,
Washington và tạo ra sự tàn phá.
Trong kỷ nguyên này, khi một quốc gia sở hữu rất nhiều
tài sản “ảo” trong ổ cứng máy tính, từ những bản thiết kế công nghiệp, những bộ
phim, cho đến cả những bí mật chính trị, thì “chiến tranh điện toán” có thể gây
thiệt hại cho họ nhiều hơn cả chiến tranh vật lý.
Cũng trong năm 2014, nước Mỹ trở nên đặc biệt căng thẳng
trước những cuộc tấn công ăn cắp bí mật thương mại mà theo họ có nguồn gốc từ
Trung Quốc. Hồi tháng 5, FBI thậm chí phát lệnh truy nã một loạt nhân viên
Chính phủ Trung Quốc - những người mà theo họ đã đứng sau các vụ tấn công.
Trong mắt FBI thì bây giờ các hacker Trung Quốc là mối nguy hiểm số 1 của họ
trên môi trường điện toán. Hàng trăm công ty Mỹ đã bị tấn công và “lấy đi nhiều
bí mật thương mại rất có giá trị” - theo FBI. “Họ ăn cắp để không mất công sáng
chế” - giám đốc FBI lớn tiếng cáo buộc.
“Mưa Titan”, bí danh mà các cơ quan điều tra Mỹ gọi các
cuộc tấn công điện tử từ Trung Quốc trong giai đoạn 2003-2006, từng khiến dư
luận nước này xôn xao một thời gian. Thời điểm đó, các hacker Trung Quốc “nã
đạn” vào hệ thống máy tính của quân đội Mỹ. Chỉ trong vòng một đêm 1-11-2004,
hàng trăm máy tính của các cơ quan quân đội Mỹ bị tấn công. Tuy hacker không
chạm đến được hệ thống nội bộ của quân đội (vốn không kết nối Internet), nhưng
cũng lấy đi nhiều tài liệu giá trị về quy trình cung cấp quân nhu, quân dụng.
So với một thập kỷ trước thì “cơn mưa Titan 2.0” từ phía
Trung Quốc ngày hôm nay hướng tới mục tiêu khác. Thay vì tấn công hệ thống máy
tính quân đội và chính phủ, họ hiểu rằng nguồn sức mạnh lớn nhất của nước Mỹ
nằm ở các tập đoàn kinh tế, ở các bản vẽ công nghiệp và sáng chế - chúng được
lưu trữ trong những hệ thống máy tính không được bảo mật cao.
Khi bom đạn “lai” bàn phím
Những cuộc tấn công thuần túy bằng bàn phím vào “tài sản
ảo” của một quốc gia đã nguy hiểm. Nhưng nếu bom đạn kết hợp cùng chiến tranh
điện toán, sự đáng sợ còn tăng lên. Năm 2007, chỉ ít lâu sau cuộc tấn công vào
Estonia, có một chiến dịch âm thầm hơn diễn ra. Nó không gây chấn động thế giới
nhưng cũng thể hiện sức mạnh của chiến tranh điện toán theo một cách khác. Đó
là chiến dịch “Hoa phong lan” của Israel, tấn công Syria.
Câu chuyện được kể lại trên nhiều tờ báo lớn: quãng năm
2006, các điệp viên Israel tìm được một bức ảnh ông Chon Chibu, chuyên gia hạt
nhân hàng đầu của Triều Tiên, đứng cạnh Ibrahim Othman, giám đốc chương trình
năng lượng nguyên tử Syria. Quân đội Israel được báo động. Họ liên tục theo dõi
lãnh thổ Syria và tới giữa năm 2007 thì tin rằng mình đã tìm được địa điểm mà
Syria đang xây lò phản ứng hạt nhân (với sự giúp đỡ của Triều Tiên).
Đêm 6-9-2007, máy bay F-15 và F-16 của Israel thực hiện
các cuộc không kích. Căn cứ “nghi” là lò phản ứng bị phá hủy hoàn toàn. Điều
đáng nói trong câu chuyện này là phía Syria đã không hề có một nỗ lực phòng
không nào trước đoàn máy bay của Israel. Chính người Mỹ cũng không hiểu. F-15
và F-16 không thể tàng hình. Sau đó, Mỹ nhận định rằng hệ thống rađa của Syria
đã bị tấn công điện toán. Nó đã bị người Israel “chỉnh sửa” để không nhận ra
máy bay Israel trên màn hình.
Khác với vụ tấn công Estonia, JP Morgan Chase hay Sony,
chiến dịch “Hoa phong lan” cho thấy khi bom đạn đi kèm với tấn công điện toán,
nó trở nên nguy hiểm hơn nhiều lần. Đó là điều mà các nhà lãnh đạo quốc phòng
đã nhận ra từ lâu. Tại Estonia, sau khi thành lập trại huấn luyện chiến tranh
điện toán, bây giờ NATO tổ chức những cuộc “tập trận” quy mô với máy tính.
Tháng 11-2014 mới đây, tổ chức này thực hiện một cuộc “tập trận” với hơn 670
“chiến binh điện tử” từ 28 quốc gia. Ở đó, họ đối phó với đủ loại tình huống
giả lập: từ việc thiết bị cầm tay của các binh lính trên chiến trường bị cài mã
độc, một tài liệu ngoại giao bí mật bị lấy cắp cho đến hệ thống điều khiển bay
của NATO bị hack.
Khi Mỹ và Nhật lần đầu tiên “đấu” tàu sân bay trên Thái
Bình Dương, người ta nói rằng đó là trận đánh đầu tiên trong lịch sử mà đối
phương không nhìn thấy nhau. Bây giờ, khắp nơi trên thế giới là những cuộc
chiến như thế - những cuộc chiến mà thậm chí kẻ bị tấn công còn không biết đối
phương là ai.
Sự tiến
hóa của chiến tranh
Thế hệ chiến
tranh hiện đại đầu tiên bao gồm những cuộc chiến với quân số đông đảo, sử dụng
các đội hình dàn hàng ngang và cột kiểu Napoleon. Thế hệ thứ hai, chủ yếu triển
khai bằng hỏa lực trên diện rộng, thể hiện qua một câu nói được cho là đúc kết
từ trận chiến Verdun năm 1916: “Pháo binh chế ngự, bộ binh chiếm lĩnh”. Và thế
hệ thứ ba, được Đức hoàn thiện với chiến thuật “chiến tranh chớp nhoáng” vào
Thế chiến 2, nhấn mạnh sự di chuyển cơ động lực lượng, các quân đội sử dụng
chiêu xâm nhập để vòng tránh quân địch và tiêu diệt kẻ thù từ đằng sau thay vì
tấn công trực diện. Chiến tranh thế hệ thứ tư đẩy mạnh hơn nữa hướng tiếp cận
theo kiểu phân tán này và chẳng có mặt trận nào cụ thể. Thay vào đó, nó tập
trung vào xã hội của kẻ địch, thọc sâu vào lãnh thổ đối phương để bẻ gãy ý chí
chính trị của đối thủ. Ngoài ra còn có thể kể thêm thế hệ thứ năm, trong đó các
công nghệ như thiết bị bay không người lái và các chiến thuật tấn công mạng cho
phép binh lính ở cách các mục tiêu dân sự cả lục địa.
Mặc dù những
phác họa cụ thể về các thế hệ có phần tùy hứng, nhưng chúng phản ánh một xu
hướng quan trọng: sự xóa nhòa giữa mặt trận quân sự với hậu phương dân sự. Đẩy
nhanh tốc độ của quá trình chuyển đổi này là sự thay thế chiến tranh giữa các
quốc gia bằng những cuộc xung đột quân sự có liên quan đến các yếu tố phi quốc
gia, như các nhóm nổi dậy, những mạng lưới khủng bố và những tổ chức tội phạm.
Vấn đề càng thêm rối rắm hơn với sự chồng chéo giữa những nhóm trên và một số
thậm chí còn nhận được sự hỗ trợ từ các chính phủ. Chẳng hạn, Lực lượng vũ
trang cách mạng Colombia, tổ chức du kích lâu đời nhất Nam Mỹ, liên kết với các
tập đoàn buôn lậu ma túy. Một số nhóm Taliban tại Afghanistan và những nơi khác
thắt chặt quan hệ với những tay súng al-Qaeda.
Những tổ chức
trên thường tận dụng lợi thế từ những nhà nước thiếu tính chính danh hoặc không
đủ năng lực quản lý hiệu quả khu vực của mình, triển khai những chiến dịch hỗn
hợp giữa các hoạt động chính trị lẫn vũ trang, và theo thời gian nắm luôn quyền
kiểm soát đối với các khu vực dân cư. Những cuộc chiến hỗn hợp này tận dụng
nhiều nguồn lực vũ khí khác nhau, và không phải lúc nào cũng dùng đến hỏa lực.