Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2022

Tổng kết 20 năm đổi mới - cơ sở đề ra quyết sách đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển

 


Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn của 20 năm đổi mới (1986-2005), Đảng ta chỉ rõ: “Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

- Đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp”4.

 - Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản”5.

- Bổ sung và phát triển một số nội dung trong Cương lĩnh trên cả hai mặt: đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng và những phương hướng để đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

+ Đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh;

Do nhân dân làm chủ;

Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất;

Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện;

Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ;

Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;

Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”6.

- Phương hướng chủ yếu xây dựng CNXH

+ Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;

+ Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá;

+ Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội;

+ Xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc;

+ Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;

+ Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh;

+ Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia;

+ Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”7.

- Đại hội XI, tiếp tục bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm (2011)

+ Đảng đã rút ra những bài học kinh nghiệm lớn:

Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã

Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;

Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết:

Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế.

Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

 + Đặc trưng xã hội XHCN mà VN xây dựng

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:

Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;

do nhân dân làm chủ;

Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp;

Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;

Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;

Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;

Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

+ Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

+ Các phương hướng cơ bản sau đây:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

+ Nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: 

Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển;

Giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị;

Giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa;

Giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa;

Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội;

Giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa;

Giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế;

Giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ...

TIẾP NHẬN THÔNG TIN - CHIA SẺ THÔNG TIN

 

Thế giới này được tạo ra bởi lời nói. Câu nói này nghe hơi kỳ kỳ. Thật ra nó cũng đúng mà chỉ đúng một góc nhỏ.

Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; chủ nghĩa yêu nước chân chính gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân

 


Hồ Chí Minh đã sớm xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam chỉ có thể giành được thắng lợi khi đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới.

Trong những năm chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người đã nêu rõ: “Phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”[1]. Tư tưởng của Người về đoàn kết quốc tế ngày càng phát triển trong thực tiễn cách mạng nước ta. Người đặc biệt coi trọng xây dựng  khối đoàn kết Việt - Miên - Lào.

Trong hai cuộc kháng chiến, tư tưởng Hồ Chí Minh đã định hướng cho việc hình thành ba tầng mặt trận: Mặt trận đại đoàn kết toàn dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt - Miên - Lào; Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược.



[1] Sdd: tập 2, tr267- 268

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con đường đi lên CNXH

 


- Về mặt phương pháp luận, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ: Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vừa có tính phổ biến vừa mang tính đặc thù, các quốc gia, dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội không hoàn toàn giống nhau mà mang theo đặc điểm của dân tộc mình.

Tính phổ biến của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thể hiện trước hết ở tính tất yếu thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, đặc điểm lịch sử của từng quốc gia dân tộc đòi hỏi phải căn cứ vào thực tiễn để xác định con đường, giải pháp cho phù hợp.

- Tiến hành cách mạng XHCN nhằm tạo ra cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội và đời sống tinh thần của CNXH

+ C.Mác, Ph.Ăngghen khẳng định, sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu thông qua cách mạng XHCN, C.Mác, Ph.Ăngghen đồng thời khẳng định tính tất yếu của cách mạng vô sản, thực chất là cách mạng XHCN.

+ Cuộc cách mạng này được tiến hành qua hai bước: Bước thứ nhất, giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, giành lấy dân chủ; bước thứ hai, giai cấp vô sản dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào tay nhà nước. Từ thực tiễn xây dựng CNXH ở nước Nga, V.I.Lênin đã nêu lên hàng loạt nhiệm vụ, biện pháp để tạo ra cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội và đời sống tinh thần của CNXH.

- Xác định rõ thực chất, nội dung, nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH

+ C.Mác, Ph.Ăngghen khi dự báo sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội  cộng sản chủ nghĩa đã xác định tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, thực chất là “thời kỳ quá độ chính trị”, nhà nước là nhà nước chuyên chính vô sản.

+ V.I.Lênin đã bổ sung và cụ thể hóa lý luận của Mác về thời kỳ quá độ bằng thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH, tập trung phân tích sự quá độ về kinh tế. Người chỉ ra rằng trong thời kỳ quá độ có nhiều thành phần kinh tế đan xen nhau. Để xây dựng CNXH ở nước Nga, V.I.Lênin chủ trương thực hiện thực hiện “những bước quá độ nhỏ”, bắc những “chiếc cầu nhỏ” để đi lên CNXH.

- Không ngừng mở rộng dân chủ XHCN gắn với xây dựng và hoàn thiện nhà nước XHCN, dựa trên nền tảng là liên minh công - nông và các tầng lớp lao động khác dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

+ Dân chủ XHCN là dân chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Dân chủ về chính trị được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin coi là tiền đề, điều kiện để mở rộng dân chủ XHCN.

+ Mở rộng dân chủ bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ gián tiếp gắn với việc xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước. Như vậy, con đường xây dựng CNXH đòi hỏi phải thực hiện dân chủ hóa đồng thời với hoàn thiện nhà nước và pháp luậ tXHCN.

+ Động lực của cách mạng XHCN là liên minh công - nông và các tầng lớp lao động khác dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đều thống về tầm quan trọng của liên minh công - nông, với tư cách là nguyên tắc cao nhất của chuyên chính vô sản. Đồng thời, từ thực tế xây dựng CNXH ở nước Nga, V.I.Lênin còn đề cao vai trò của tầng lớp trí thức, tạo cơ sở phương pháp luận để mở rộng liên minh công - nông với các tầng lớp lao động khác, nhất là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. V.I.Lênin khẳng định: “Chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiền phong của những người lao động, với động đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức)”[1].

- Đi lên CNXH cần kế thừa những giá trị quý báu trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa và của nhân loại

+ Từ quan điểm phủ định biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, phát triển là quá trình phủ định biện chứng, mang tính kế thừa. Do đó, đi lên CNXH tất yếu phải kế thừa những giá trị quý báu trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa và của nhân loại

+ V.I.Lênin khẳng định: phải tiếp thu toàn bộ khoa học, kỹ thuật, kiến thức, nghệ thuật và kế thừa mọi thành tựu khoa học kỹ thuật của loài người, coi đó là những viên gạch, những vật liệu quý báu mà những người cộng sản phải biết sử dụng nó vào quá trình xây dựng CNXH.

+ Tuy nhiên, những đỉnh cao về khoa học, công nghệ, văn hóa nằm trong tay của CNTB. Vì vậy, những người cộng sản phải biết biến toàn bộ sự phong phú về văn hóa, tri thức, kỹ thuật mà CNTB đã tích lũy được vốn là cộng cụ của CNTB thành công cụ của CNXH để phát triển LLSX, tăng năng xuất lao động, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Những thành tựu khoa học kỹ thuật mag CNTB đạt được cũng chính là kết quả lao động sáng tạo của nhân loại, không có nó thì không thể nói đến CNXH.

Vì vậy, Khi bàn về CNXH, năm 1918 V.I.Lênin yêu cầu: Phải “dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt của nước ngoài: Chính quyền Xôviết + trật tự đường sắt Phổ + kỹ thuật và cách tổ chức các tờrớt ở Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ…= CNXH”[2]. Công thức này về thực chất là nghệ thuật kế thừa, tiếp thu những tinh hoa của thời đại, của nhân loại để nhanh chóng xây dựng thành công CNXH. Sau này trong thực hiện chính sách kinh tế mới, V.I.Lênin đã thực hiện công thức đó bằng chủ trương thuê và trả lương cao cho các chuyên gia tư sản để xây dựng CNXH, đồng thời đã phát triển lý luận về chủ nghĩa tư bản nhà nước - một trong những đóng góp to lớn về lý luận thời kỳ quá độ lên CNXH.

- Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thành công con đường đi lên CNXH

+ Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác, Ph.Ăngghen đã phân tích về quan hệ giữa những người vô sản với những người cộng sản, chỉ rõ vai trò lãnh đạo của những người cộng sản đối với cuộc cách mạng XHCN: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”[3].

+ V.I.Lênin là người có công to lớn trong việc bảo vệ, phát triển lý luận của Mác về Đảng Cộng sản. Ông luôn khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, trong sự nghiệp xây dựng CNXH: “Chỉ có Đảng Cộng sản, nếu nó thực sự là đội tiền phong của giai cấp cách mạng, nếu nó bao gồm những đại biểu ưu tú nhất của giai cấp đó, nếu nó gồm tất cả những chiến sĩ cộng sản hoàn toàn có ý thức và trung thành…chỉ có một đảng như vậy mới có thể lãnh đạo được giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh cuối cùng, kiên quyết nhất, thẳng tay nhất chống lại tất cả mọi thế lực của chủ nghĩa tư bản”[4].



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t38, tr452

[2] V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t36, tr684

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t4, tr614

[4] V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t41, tr227

Chính sách dân tộc phải bảo vệ và thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội

 

       

 Xây dựng hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc, bảo đảm cho việc bảo vệ và thúc đẩy, phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013 và các công ước quốc tế mà Việt nam tham gia.

Yêu cầu tăng cường hoạt động lập pháp của Quốc hội như là điều kiện tiên quyết để bảo đảm các mục tiêu phát triển. Trong đó tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm các quyền con người về dân sự, chính trị; các quyền về KT-XH và văn hóa nói chung và quyền của nhóm đối tượng dân tộc thiểu số nói riêng

 Bảo đảm các quyền cho đồng bào DTTS phải được coi là đối tượng ưu tiên

Bảo đảm các quyền cho đồng bào DTTS phải được coi là đối tượng ưu tiên trong việc bảo vệ, yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật, chính sách bảo vệ quyền lợi của nhóm đối tượng này. Không được có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào trong các quy định của pháp luật và quyền lợi của họ phải được bảo đảm trên thực tế ở các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, ván hóa- xã hội; thực hiện trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc, bình đẳng trước pháp luật của công dân.

 Việc bảo đảm các quyền của người dân phải được thể chế hóa bằng luật pháp

 Việc bảo đảm các quyền của người dân phải được thể chế hóa bằng luật pháp, chính sách, được luật pháp tôn trọng, bảo vệ và có giá trị thực tiễn. Bảo đảm tính thống nhất giữa pháp luật chung với những quy định mang tính đặc thù. Việc thể chế hóa các nội dung quyền cụ thể phải căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh KT-XH cụ thể của đất nước phù hợp trong từng giai đoạn theo chủ trương, nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ

Cương lĩnh Chính trị năm 1991 và quá trình thực hiện qua các nhiệm kỳ Đại hội VII, VIII và IX của cách mạng Việt Nam

 


 Đại hội VII của Đảng (6-1991) là một bước phát triển đặc biệt quan trọng của quá trình đổi mới, với việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. 

+ Quan niệm tổng quát nhất về xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng và những phương hướng cơ bản để phấn đấu đạt tới xã hội đó.

 + Khẳng định Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động;

+ Khẳng định xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng Cộng sản lãnh đạo;

+ Khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân;

+ Khẳng định xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một phương hướng chiến lược lớn;

+ Khẳng định chính sách đối ngoại hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị, xã hội khác nhau trên cơ sở những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình.

 Đại hội VIII của Đảng (6-1996) khẳng định nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiếp tục làm rõ hơn quan niệm về chặng đường đầu tiên và chặng đường tiếp theo trong thời kỳ quá độ; chỉ rõ mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020; xem đổi mới kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; làm rõ hơn định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; tiếp tục khẳng định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; tiếp tục coi phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu.

 Đại hội IX của Đảng (4-2001)

Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đại hội nêu lên ba nội dung có tính chất đột phá:

1- Đánh giá sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, toàn diện hơn vị trí, vai trò tư tưởng Hồ Chí Minh, coi “tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam...”, khẳng định “tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”;

2- Khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội;

3- Coi việc “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là một nhân tố rất cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội”, theo đó, “động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế của toàn xã hội”.

Đôi nét về NATO

Ngày 4-4-1949: Mỹ, Ca-na-đa và mười nước Tây Âu ký Hiệp ước Oa-sinh-tơn thành lập NATO (gồm: Bỉ, Ca-na-đa, Ðan Mạch, Pháp, Ai-xơ-len, I-ta-li-a, Luých-xăm-bua, Hà Lan, Na Uy, Bồ Ðào Nha, Anh và Mỹ). Ðiều 5 của Hiệp ước này nêu rõ các nước thành viên “đồng ý rằng một cuộc tiến công quân sự chống một hoặc nhiều nước của NATO ở châu Âu hoặc Bắc Mỹ sẽ được coi là một cuộc tiến công chống tất cả các nước thành viên”. Ngày 6-5-1955: Tây Ðức gia nhập NATO (sau khinước Đức thống nhất tư cách thành viên mở rộng cả các vùng Cộng hoà dân chủ Đức cũ,năm1990). (Tám ngày sau, ngày 14-5-1955, Liên Xô cùng với tám nước Ðông Âu thành lập Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va). Ngày 10-3-1966: Tổng thống Sác Ðờ Gôn rút Pháp ra khỏi cơ cấu chỉ huy hợp nhất của NATO. Năm sau, NATO chuyển trụ sở từ Pa-ri sang Brúc-xen (Bỉ). Từ ngày 9 đến 10-12-1976: NATO bác bỏ những đề nghị của Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va về việc từ bỏ sử dụng đầu tiên vũ khí hạt nhân và hạn chế thành viên. Trong 20 năm đầu, NATO đã chi hơn ba tỷ USD để xây dựng cơ sở hạ tầng cho lực lượng của tổ chức này, gồm các căn cứ quân sự, sân bay, đường ống dẫn dầu, mạng lưới thông tin và kho tàng. Mỹ đóng góp khoảng một phần ba số tiền này. Ngày 19-12-1990:Sau khi cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt, NATO và Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va ra một tuyên bố chung không xâm lược lẫn nhau. Tám tháng sau, Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va chính thức giải thể. Ngày 16-12-1995: NATO phát động chiến dịch quân sự lớn nhất cho đến nay nhằm ủng hộ hiệp định hòa bình Bô-xni-a. Ngày 24-3-1999: NATO bắt đầu các cuộc không kích chống Nam Tư ở Cô-xô-vô, lần đầu liên minh quân sự này dùng lực lượng tiến công một nước có chủ quyền mà không được Liên hợp quốc thông qua. Ngày 12-9-2001: Lần đầu NATO viện dẫn Ðiều 5, sau cuộc tiến công khủng bố nhằm vào Mỹ ngày 9-11-2001, triển khai Hệ thống kiểm soát và cảnh báo phòng không ở Mỹ. Ngày 11-8-2003: NATO đảm nhiệm lực lượng gìn giữ hòa bình ở Áp-ga-ni-xtan đặt tại Ca-bun. Ðây là lần đầu NATO triển khai lực lượng của mình “ngoài khu vực”. Ngày 31-6-2006: Lực lượng NATO đảm nhiệm an ninh từ liên minh do Mỹ đứng đầu ở miền Nam Áp-ga-ni-xtan, bắt đầu một trong những chiến dịch khó khăn nhất trong lịch sử của khối quân sự này. Từ ngày 2 đến 4-4-2008: NATO tuyên bố các nước cộng hòa thuộc Liên Xô (trước đây) như Gru-di-a và U-crai-na một ngày nào đó sẽ gia nhập NATO.

Năm 2009: Ngày 5-3, NATO đồng ý nối lại các mối quan hệ cấp cao với Nga, bị cắt đứt vào cuối năm 2008, sau khi Mát-xcơ-va xâm nhập Gru-di-a một thời gian ngắn; Ngày 11-3, Tổng thống Pháp N.Xác-cô-di cho biết, Pa-ri sẽ tham gia trở lại cơ cấu chỉ huy hợp nhất của NATO; Ngày 3 và 4-4, NATO kỷ niệm 60 năm ngày thành lập do Pháp và Ðức tổ chức. Crô-a-ti-a và An-ba-ni gia nhập NATO; Ngày 1-8, cựu Thủ tướng Ðan Mạch An-đơ-xơ Pho-gơ Ra-xmút-xen nhậm chức Tổng Thư ký NATO thứ 12; Ngày 18-9, NATO đề nghị một thời kỳ hợp tác mới với Mỹ và Nga, kêu gọi cùng triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa, sau khi Oa-sinh-tơn hủy bỏ hệ thống chống tên lửa trong kế hoạch; Ngày 4-12, NATO đề xuất kế hoạch thành viên chính thức đối với Mông-tê-nê-grô nhưng vẫn giữ lời mời Bô-xni-a gia nhập tổ chức này.

Năm 2010: Ngày 6-4, Tổng thống U-crai-na V.Y-a-nu-cô-vích hủy bỏ việc xem xét nước này gia nhập NATO; Ngày 23-7, Nga cho biết, nước này sẵn sàng thiết lập lại hợp tác quân sự với NATO, sau gần hai năm, các mối quan hệ này bị ngưng trệ trong thời gian diễn ra cuộc xung đột vũ trang ở Gru-di-a; Ngày 1-10, Tổng Thư ký NATO Ra-xmút-xen tuyên bố cánh cửa thành viên NATO vẫn mở đối với Gru-di-a, bất chấp những nỗ lực của Tbi-li-xi cải thiện các mối quan hệ với Mát-xcơ-va; Ngày 7-10, NATO thông báo kế hoạch chi tiêu 930 triệu ơ-rô (1,3 tỷ USD) trong năm 2011-2012 cho các dự án bao gồm an ninh mạng và công nghệ phòng thủ tên lửa...; Ngày 29-10, NATO cho biết, sẽ giảm quân đội của tổ chức này ở Cô-xô-vô từ mười nghìn xuống còn năm nghìn người trong những tháng tới do an ninh ở đây đã được cải thiện; Ngày 3-11, sau cuộc gặp giữa Tổng thống Nga Ð.Mét-vê-đép và Tổng Thư ký NATO Ra-xmút-xen, Nga cam kết sẽ tăng cường hợp tác với NATO tại Áp-ga-ni-xtan và xem xét hệ thống lá chắn phòng thủ tên lửa chung.

Hiện NATO gồm 28 nước thành viên (năm 2008) với lực lượng và ngân sách quốc phòng (năm 2009) như sau (theo Roitơ và xếp theo thứ tự chữ cái tiếng Anh): An-ba-ni (lực lượng: 14.295 quân; ngân sách quốc phòng: 0,25 tỷ USD), Bỉ (38.425; 4,23), Bun-ga-ri (34.975; 1,11), Ca-na-đa (65.722; 20,19), Crô-a-ti-a (18.600; 1,02), CH Séc (17.932; 3,19), Ðan Mạch (26.585; 4,58), Ê-xtô-ni-a (4.750; 0,38), Pháp (352.771; 47,89), Ðức (250.613; 46,50), Hy Lạp (156.000; 6,45), Hung-ga-ri (29.450; 1,86), Ai-xơ-len -thành viên duy nhất của NATO không có quân đội riêng (Lực lượng quân đội Hoa Kỳ thường trực tạiAi-xơ-lenđảm nhiệm vai trò Lực lượng phòng vệAi-xơ-len), gia nhập với điều kiện là họ không bị buộc thành lập quân đội riêng, I-ta-li-a (293.202; 23), Lát-vi-a (5.745; 0,35), Lít-va (8.850; 0,50), Luých-xăm-bua (năm 2008: 900; 0,17), Hà Lan (46.882; 13), Na Uy (24.025; 5,94), Ba Lan (100.000; 8,63), Bồ Ðào Nha (43.330; 2,72), Ru-ma-ni (73.350; 3,39), Xlô-va-ki-a (16.531; 1,46), Xlô-vê-ni-a (7.200; 0,88), Tây Ban Nha (128.013; 11,70), Thổ Nhĩ Kỳ (510.600; 9,90), Anh (175.690; 62,40) và Mỹ.

Chính sách bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoài

Những hoạt động tích cực của các cơ quan chức năng Việt Nam thể hiện xuyên suốt, từ chủ trương, chính sách đến hành động bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoài. Điều đó được biểu hiện ở các nội dung:

Một là, Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định công dân Việt ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập sâu rộng với thế giới. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định chính sách nhất quán “nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân”. Nhằm cụ thể hóa tinh thần này của Đại hội XIII, Hội nghị Ngoại giao lần thứ 31 nhấn mạnh cần “triển khai toàn diện, mạnh mẽ, kịp thời, hiệu quả công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và bảo hộ công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt Nam ở nước ngoài”; “chăm lo, hỗ trợ đồng bào ta, nhất là ở những địa bàn khó khăn”. Đối với các điểm nóng, xung đột trên thế giới như tại Ukraine hiện nay, Chính phủ đã gửi Công điện 201 ngày 26/2/2022 về việc “Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam và một số vấn đề cần lưu ý trước tình hình tại Ukraine”, yêu cầu các bộ, ngành, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Ukraine và các nước lân cận Ba Lan, Nga, Rumania, Hungaria, Slovakia phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai các phương án bảo hộ công dân, đảm bảo an ninh, an toàn, các điều kiện cần thiết để sơ tán công dân Việt Nam khỏi vùng chiến sự, đến các nước lân cận và về nước nếu có nguyện vọng.

Hai là, dưới góc độ luật pháp, Việt Nam cam kết thực hiện chính sách bảo hộ công dân tại nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bảo hộ” (Khoản 3, Điều 17). Luật Quốc tịch Việt Nam ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài. Các cơ quan nhà nước ở trong nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế để thực hiện sự bảo hộ đó” (Điều 6, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014). Việt Nam cũng đã chủ động sửa đổi Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài năm 2009 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nhằm phù hợp với Công ước quốc tế như Nghị định thư bổ sung Công ước Geneva về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột quốc tế; Công ước Viên về quan hệ ngoại giao năm 1961.

Ba là, xuất phát từ thực tế thực hiện chính sách bảo hộ công dân Việt Nam ở các nước trên thế giới luôn được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm và xác định đó không chỉ là lợi ích của mỗi cá nhân mà còn thể hiện trách nhiệm của Chính phủ Việt Nam đối với công dân khi công tác, học tập làm ăn ở nước ngoài theo tinh thần “không ai bị bỏ lại đằng sau”. Ngày 6/3/2022, trong cuộc làm việc với Bộ Ngoại giao liên quan đến sơ tán công dân Việt từ Ukraine khỏi vùng chiến sự, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh: Công tác bảo hộ công dân cần được đặc biệt quan tâm; quá trình tổ chức cần thực hiện những chuyến bay miễn phí đưa trường hợp khó khăn về nước, đồng thời phải thực hiện nhất quán “ưu tiên phụ nữ, trẻ em, người già”. Đó là minh chứng cho những lời hứa thực hiện bảo hộ công dân Việt tại nước ngoài nhằm thực hiện cam kết của Chính phủ với người dân trước những diễn biến phức tạp tại Ukraine.

Mặt khác, trong những năm qua, Việt Nam đã từng tổ chức nhiều phương án, biện pháp thiết thực như lập cầu hàng không sơ tán người lao động ở Libya năm 2011 và 2014; đưa hành khách ra khỏi châu Âu do núi lửa phun trào năm 2010; giải cứu hành khách bị kẹt tại Thái Lan do khủng hoảng chính trị năm 2008; vận chuyển công dân Việt Nam trở về từ Malaysia, Trung Đông các năm 2005-2007... Năm 2021, Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan tổ chức gần 600 chuyến bay đưa hơn 130.000 công dân từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ về Việt Nam.

Thực tế đó thể hiện rõ chủ trương, chính sách và hành động thiết thực của Việt Nam trong công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài; là bằng chứng sinh động phủ nhận những luận điệu sai trái, vu cáo của các thế lực xấu.

Xuyên tạc, bôi nhọ chính sách bảo hộ công dân Việt Nam tại Ukraine

 Chính phủ Việt Nam luôn thực thi chính sách bảo hộ công dân tại nước ngoài với tinh thần “tương thân tương ái” hỗ trợ tối đa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là các điểm nóng xung đột, chiến tranh như Trung Đông, Bắc Phi và hiện nay là xung đột giữa Nga và Ukraine.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch và những thành phần tự xưng đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền luôn rêu rao các quan điểm sai lệch về chính sách bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài nhằm gây hoang mang dư luận, làm suy giảm niềm tin của công dân trong và ngoài nước đối với Đảng, Nhà nước Việt Nam. Luận điệu này thể hiện trên một số điểm sau:

- Phủ nhận vai trò của các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Nga và Ukraine trong hỗ trợ người dân sơ tán khỏi vùng chiến sự. Truyền thông hải ngoại như đài RFA, BBC tiếng Việt, VOA, facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân… đã vẽ ra bức tranh quy kết chính quyền Việt Nam “đứng ngoài lề, dửng dưng với những người dân đang kẹt lại tại khu vực xung đột Nga – Ukraine”. RFA ngày 11/3/2022 đăng tải bài viết về thực trạng người dân Việt Nam tại Ukraine và vu cáo “Không thấy vai trò của toà đại sứ Việt tại các quốc gia đó ở đâu! Lại cái cảnh “dân giúp dân” như tại Việt Nam thời COVID-19 hoành hành!”. Qua đó, nội dung bài viết phủ nhận những nỗ lực của các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở Nga và Ukraine trong việc đưa ra các phương án bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khoẻ những người dân và cho rằng, khi chiến sự nổ ra đã không quan tâm sơ tán người dân. Đây là luận điệu nguy hiểm, đánh vào tâm lý những người dân đang kẹt lại các điểm nóng và gây hoang mang cho người dân trong nước về tình hình cộng đồng người Việt tại Ukraine.

- Làm giảm niềm tin của người dân trong nước đối với hoạt động quản lý của cơ quan chức năng liên quan đến hỗ trợ người dân tại các quốc gia đang xung đột, chiến tranh. Sau khi vụ án liên quan đến hành vi nhận hối lộ của một số cá nhân tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao được cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, các thế lực thù địch, giới dân chủ tự xưng đã khoét sâu vào những sai phạm này để quy chụp, bôi nhọ. Nhiều bài viết các đối tượng vu cáo chính quyền Việt Nam bao che, dung túng sai phạm, đồng thời rêu rao, kích động người dân không tin tưởng vào những hoạt động hỗ trợ của chính quyền đối với kiều bào Việt Nam ở nước ngoài. Họ nhắc lại những chiến dịch sơ tán người dân tại Bắc Phi, Trung Đông giai đoạn 2011-2014, đưa các clip, hình ảnh, bài viết sai lệch về việc người Việt “phải tự mình xoay xở” với hoàn cảnh khó khăn, từ đó suy diễn, vu cáo cơ quan ngoại giao của Việt Nam không thực hiện chính sách bảo hộ công dân Việt ở nước ngoài.

- Bôi lem hình ảnh, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, mục đích để thế giới nhìn nhận Việt Nam là quốc gia thiếu trách nhiệm trong giải quyết các vấn đề nóng trên thế giới. Việt Nam đã tham gia ký kết các Công ước về ngoại giao theo luật pháp quốc tế nên các cơ quan ngoại giao Việt Nam có cơ sở để lên tiếng yêu cầu các quốc gia đang có xung đột, chiến tranh phải có trách nhiệm đối với cộng đồng người Việt Nam. Thực tế, các cơ quan đại diện ngoại giao luôn đi đầu trong nắm diễn biến tình hình và thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản, tính mạng cho công dân theo chính sách bảo hộ của pháp luật. Tuy nhiên, nhiều cá nhân, tổ chức quốc tế có những góc nhìn thiếu khách quan, trung thực trong đánh giá hoạt động của cơ quan ngoại giao của Việt Nam. Một số tổ chức thiếu thiện chí đưa ra thông tin, hình ảnh sai lệch nhằm bôi lem, hạ uy tín Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế, các hội thảo đa phương, thậm chí lên án Việt Nam tại các phiên điều trần của nghị viện Mỹ, EU… Một số cơ quan truyền thông phương Tây tô vẽ góc nhìn lệch lạc, trái với bản chất, tạo ra dư luận xấu về hình ảnh của Việt Nam, mục đích làm cho quốc tế nhìn nhận Việt Nam là quốc gia thiếu tin cậy, thiếu trách nhiệm, thậm chí hướng lái thành “đứng ngoài cuộc” trong tham gia giải quyết các điểm nóng, xung đột trên thế giới.

Nhân vật cầu nối "được lòng" cả Nga và Ukraine

 

Với mong muốn chân thành nhất là khép lại cuộc xung đột hiện nay, nhân vật này đã âm thầm giúp Ukraine kết nối với Điện Kremlin để truyền đạt các thông điệp, góp phần không nhỏ trong việc tổ chức các cuộc hoà đàm từ trực tiếp đến trực tuyến giữa hai bên, thiết lập các hành lang nhân đạo và trao đổi tù binh.  

Hôm 29/3, cảnh quay từ bên trong cung điện Dolmabahce ở Istanbul, nơi diễn ra cuộc hoà đàm giữa Moscow và Kiev, cho thấy sự tham dự của tỷ phú Nga Roman Abramovich (55 tuổi) - người được biết tới là chủ sở hữu của câu lạc bộ bóng đá Chelsea (Anh). 

Sự xuất hiện bí ẩn của Roman Abramovich đặt ra nhiều câu hỏi cho giới quan sát chính trị quốc tế về vai trò của nhà tài phiệt này trong hoà đàm Nga - Ukraine khi ông không phải thành viên chính thức của phái đoàn đến từ Moscow. Ngay sau đó, cả Nga và Ukraine đã lên tiếng xác nhận về vai trò "cầu nối" của ông Abramovich trong hòa đàm, vốn được chấp thuận bởi cả Tổng thống Putin và Tổng thống Zelensky. Thậm chí, nhân vật trung gian này dường như cũng được Mỹ công nhận khi Washington chưa áp lệnh phong toả tài sản của ông Abramovich như các nhà tài phiệt Nga khác.  

Ông Abramovich dành khá nhiều thời gian cho việc hỗ trợ đàm phán hòa bình. Máy bay riêng của ông đã di chuyển qua lại giữa Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Israel trong những tuần qua, theo các nền tảng theo dõi hàng không. Nhưng ông Abranmovich khẳng định sẽ không tham gia vào việc tạo dựng chính sách và chỉ là người đưa tin trung gian.

\Các nhà đàm phán Ukraine đều đánh giá cao ông Abramovich. Ông là người giúp Kiev truyền đạt thông tin tới Tổng thống Putin một cách xác thực nhất và góp công không nhỏ trong việc thiết lập các hành lang nhân đạo di dời dân thường ra khỏi vùng chiến sự, thúc đẩy hoạt động trao đổi tù binh, cũng như thuyết phục phía Nga thực hiện các cuộc đàm phán trực tuyến để đẩy nhanh tốc độ. 

Tỷ phú Roman Abramovich là một trong những nhà tài phiệt nổi tiếng nhất của Nga. Ông là người gốc Do Thái và sở hữu ba quốc tịch Nga, Bồ Đào Nha và Israel. Theo Forbes, tỷ phú Abramovich hiện sở hữu khối tài sản trị giá 12,5 tỷ USD, là người giàu thứ 142 trên thế giới, đồng thời là người giàu thứ 10 nước Nga.

Ông có được nguồn thu khổng lồ thông qua các ngành công nghiệp dầu mỏ, và kim loại bắt đầu từ những năm 1990 sau khi Liên Xô cũ tan rã. Ông cũng từng dành gần một thập kỷ dấn thân vào chính trị với vai trò là thống đốc khu tự trị Chukotka (Nga) giai đoạn 2000 - 2008.

Xã hội XHCN là xã hội bảo đảm công bằng, bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc; kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế

 


Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên luận điểm: Xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng bị xóa bỏ. Bổ sung, phát triển những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, trong tác phẩm Về quyền dân tộc và tự quyết, V.I.Lênin đã chỉ rõ những nội dung mang tính nguyên tắc cần thực hiện trong giải quyết vấn đề dân tộc dưới CNXH. V.I.Lênin viết: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại: đó là cương lĩnh dân tộc mà chủ nghĩa Mác, kinh nghiệm toàn thế giới và kinh nghiệm của nước Nga dạy cho công nhân”[1].

Những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về dân tộc, quyền tự quyết dân tộc là những chỉ dẫn rất có giá trị để các đảng cộng sản và công nhân vận dụng trong giải quyết vấn đề dân tộc dưới CNXH.

 Cả C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đều thống nhất khẳng định: CNXH, chủ nghĩa cộng sản có tính chất quốc tế. Bởi lẽ, cuộc cách mạng mà giai cấp công nhân tiến hành không chỉ thu hẹp trong phạm vi lợi ích dân tộc, mà phải hướng tới sự nghiệp giải phóng toàn thể nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công. C.Mác, Ph.Ăngghen từng nêu lên đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân là giai cấp có bản chất quốc tế.

Chủ nghĩa yêu nước chân chính phù hợp với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!” được C.Mác, Ph.Ăngghen nêu lên thể hiện tinh thần đoàn kết và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin đã nêu lên khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”, thể hiện phương châm giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, mở rộng khối đoàn kết quốc tế.



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t25, tr375

Khái quát một số thành tựu công tác dân tộc nhiệm kỳ qua

 


-Kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng, từng bước hoàn thiện đã làm thay đổi cơ bản diện mạo vùng đồng bào DTTS và miền núi

         98,6% số xã có đường ô tô đến trụ sở UBND xã

         99,8% số xã và 95,5% số  thôn có điện lưới quốc gia

         99,5% số xã có trường tiểu học, 93,2% số xã có trường trung học cơ sở, 12,9% số xã có trường trung học phổ thông và 96,6% số xã có trường mẫu giáo, mầm non

         99,39 % số xã có trạm y tế, 77,8% xã đạt chuẩn quốc  gia về y tế

-Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các DTTS vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được cải thiện ( DHXIII, báo cáo nhiệm kỳ tr45)

     - Thành tựu phát triển kinh tế

         Hình thành các vùng cây công nghiệp: Cà phê, chè, cao su, hạt tiêu, điều,…

         Các vùng cây ăn quả: Cam (Hòa Bình, Hà Giang), vải thiều (Bắc Giang), nhãn (Sông Mã, Sơn La),…

         Công nghiệp khai khoáng: Than (Quảng Ninh), Apatit (Lào Cai), Đồng (Lào Cai), Thiếc (Cao Bằng), Bô xit (Tây Nguyên),…

         Thủy điện: Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu,…

+  Giảm nghèo

         Thu nhập bình quân các vùng dân tộc tăng nhanh: Tây Nguyên tăng 1,5 lần; Đông Bắc bộ 1,4; Tây Bắc 1,3 lần

         Tỷ lệ giảm nghèo các tỉnh Đông Bắc 3,62%, Tây Bắc 4,4%, Tây Nguyên 3,04%; trong DTTS 3,55%/năm (BQ cả nước 1,83%)

         Khoảng cách nghèo trong dân tộc thiểu số giảm từ 24,3 xuống còn 19,2.

         Mức độ trầm trọng của hộ nghèo giảm từ 11,3% xuống còn 8,2%.

         98,6% ý kiến của cán bộ cơ sở và người dân đánh giá đời sống đồng bào DTTS khá hơn

+ Giáo dục và đào tạo

- 300 trường PTDTNT, 88 ngàn HS theo học

- 876 trường PTDT bán trú, 140 ngàn HS theo học

- 782 trường, 124 ngàn HS học tiếng DTTS

- 5 năm qua, vùng dân tộc cử tuyển 18 ngàn SV DTTS vào học các trường CĐ, ĐH

- Hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và THCS

+ Y tế

Nhờ thực hiện các CTMTQG về y tế  và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho toàn bộ người nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng khó khăn, một số dịch bệnh trước đây phổ biến ở vùng dân tộc như sốt rét, bướu cổ, phong, lao được ngăn chặn và đẩy lùi.

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 25%.

+ Về văn hóa - thông tin

         Văn hóa các DTTS được tôn trọng và giữ gìn

         NN thường xuyên tổ chức các lễ hội văn hóa, thể thao DTTS khu vực

         81,5% số xã có hệ thống loa truyền thanh, 92% người dân được nghe đài phát thanh, 85% được xem truyền hình,

         Hệ thống phát thanh, truyền hình phát bằng 26 ngôn ngữ dân tộc.

         Mỗi tuần có 362 chương trình phát bằng tiếng DTTS

-Quyền tự quyết, bình đẳng giữa các dân tộc được đảm bảo

Các dân tộc luôn được bảo đảm quyền bình đẳng trên các lĩnh vực, quyền bình đẳng về chính trị của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được nâng cao. Trong những năm qua, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số trong các khoá quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với người dân tộc thiểu số của cả nước. Ở địa phương, người dân tộc thiểu số cũng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tham gia hội đồng nhân dân. Nhiều người dân tộc thiểu số đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước.

         86 đại biểu QH là người DTTS chiếm tỷ lệ 17,4% (Khóa XIV)

         49/53 DTTS có đại biểu trong Quốc hội

         Đại biểu trong HĐND các cấp khoảng 20%

         Nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước là người DTTS (Tổng bí thư, Ủy viên BCT, BBT, UVTƯ, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch QH, Bộ trưởng, Bí thư, Chủ tịch tỉnh,...)