-Kết
cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng, từng bước hoàn thiện đã làm thay đổi cơ bản
diện mạo vùng đồng bào DTTS và miền núi
•
98,6%
số xã có đường ô tô đến trụ sở UBND xã
•
99,8%
số xã và 95,5% số thôn có điện lưới quốc
gia
•
99,5%
số xã có trường tiểu học, 93,2% số xã có trường trung học cơ sở, 12,9% số xã có
trường trung học phổ thông và 96,6% số xã có trường mẫu giáo, mầm non
•
99,39
% số xã có trạm y tế, 77,8% xã đạt chuẩn quốc
gia về y tế
-Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các DTTS vùng sâu, vùng xa,
vùng khó khăn được cải thiện ( DHXIII, báo cáo nhiệm kỳ tr45)
- Thành tựu phát triển kinh tế
•
Hình thành các vùng cây công nghiệp: Cà phê, chè, cao
su, hạt tiêu, điều,…
•
Các vùng cây ăn quả: Cam (Hòa Bình, Hà Giang), vải
thiều (Bắc Giang), nhãn (Sông Mã, Sơn La),…
•
Công nghiệp khai khoáng: Than (Quảng Ninh), Apatit (Lào
Cai), Đồng (Lào Cai), Thiếc (Cao Bằng), Bô xit (Tây Nguyên),…
•
Thủy điện: Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu,…
+ Giảm nghèo
•
Thu nhập bình quân các vùng dân tộc tăng nhanh: Tây
Nguyên tăng 1,5 lần; Đông Bắc bộ 1,4; Tây Bắc 1,3 lần
•
Tỷ lệ giảm nghèo các tỉnh Đông Bắc 3,62%, Tây Bắc 4,4%, Tây Nguyên 3,04%; trong DTTS 3,55%/năm
(BQ cả nước 1,83%)
•
Khoảng cách nghèo trong dân tộc thiểu số giảm từ 24,3
xuống còn 19,2.
•
Mức độ trầm trọng của hộ nghèo giảm từ 11,3% xuống còn
8,2%.
•
98,6% ý kiến của cán bộ cơ sở và người dân đánh giá đời
sống đồng bào DTTS khá hơn
+ Giáo dục và đào tạo
- 300 trường PTDTNT, 88 ngàn HS
theo học
- 876 trường PTDT bán trú, 140
ngàn HS theo học
- 782 trường, 124 ngàn HS học
tiếng DTTS
- 5 năm qua, vùng dân tộc cử
tuyển 18 ngàn SV DTTS vào học
các trường CĐ, ĐH
- Hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập
giáo dục tiểu học và THCS
+ Y tế
Nhờ thực hiện các CTMTQG về y tế và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho toàn bộ người
nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng khó khăn, một số dịch bệnh trước
đây phổ biến ở vùng dân tộc như sốt rét, bướu cổ, phong, lao được ngăn chặn và
đẩy lùi.
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm
xuống dưới 25%.
+ Về văn hóa - thông
tin
•
Văn
hóa các DTTS được tôn trọng và giữ gìn
•
NN
thường xuyên tổ chức các lễ hội văn hóa, thể thao DTTS khu vực
•
81,5%
số xã có hệ thống loa truyền thanh, 92% người dân được nghe đài phát thanh, 85%
được xem truyền hình,
•
Hệ
thống phát thanh, truyền hình phát bằng 26 ngôn ngữ dân tộc.
•
Mỗi
tuần có 362 chương trình phát bằng tiếng DTTS
-Quyền tự quyết, bình đẳng giữa các dân tộc được đảm bảo
Các dân tộc luôn được bảo đảm quyền bình đẳng
trên các lĩnh vực, quyền bình đẳng về chính trị của đồng bào dân tộc thiểu số
từng bước được nâng cao. Trong những năm qua, số lượng đại biểu là người dân
tộc thiểu số trong các khoá quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với người dân
tộc thiểu số của cả nước. Ở địa phương, người dân tộc thiểu số cũng chiếm tỷ lệ
cao hơn trong tham gia hội đồng nhân dân. Nhiều người dân tộc thiểu số đã và
đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền
lực của đất nước.
•
86
đại biểu QH là người DTTS chiếm tỷ lệ 17,4% (Khóa XIV)
•
49/53 DTTS
có đại biểu trong Quốc hội
•
Đại biểu trong HĐND các cấp khoảng 20%
•
Nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước là người DTTS (Tổng bí
thư, Ủy viên BCT, BBT, UVTƯ, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch QH, Bộ trưởng, Bí
thư, Chủ tịch tỉnh,...)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét